1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔ tả các tổn THƯƠNG DO xâm hại TÌNH dục QUA GIÁM ĐỊNH y PHÁP tại TRUNG tâm PHÁP y VĨNH PHÚC năm 2013 2014

48 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ởViệt Nam, tội phạm tình dục đối với nạn nhân nữ và trẻ em trong nhiều nămgần đây đã nổi lên như một vấn nạn xã hội, tuy không phải là vấn đề mớinhưng có chiều hướng gia tăng, nhiều vụ c

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước những tác động nhiều mặt của đời sống xã hội, số vụ tội phạmtình dục hiện đang tăng nhanh và ngày càng đa dạng trên phạm vi toàn cầucũng như ở Việt Nam Các hình thức xử phạt với loại tội phạm này tùy thuộcvào thể chế chính trị, đặc điểm kinh tế - xã hội - văn hóa của mỗi quốc gia.Tại Hàn Quốc, hình thức xử phạt đối với loại tội phạm này ngày càng đượcsiết chặt, “thiến hóa học” là một hình thức xử phạt tương đối đặc biệt vớingười phạm tội, được nhiều quốc gia áp dụng như Mỹ, Thụy Điển, Đức ởViệt Nam, tội phạm tình dục đối với nạn nhân nữ và trẻ em trong nhiều nămgần đây đã nổi lên như một vấn nạn xã hội, tuy không phải là vấn đề mớinhưng có chiều hướng gia tăng, nhiều vụ có tính chất đặc biệt nghiêm trọng,

trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội

Từ thực trạng về tình hình tội phạm tình dục trong cả nước, cùng vớimay mắn có cơ hội quan sát và tìm hiểu thực tế tại Trung tâm Pháp Y Vĩnh

Phúc, tôi lựa chọn đề tài: “Mô tả các tổn thương do xâm hại tình dục qua giám định y pháp tại trung tâm Pháp Y Vĩnh Phúc năm 2013-2014” làm

đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn nghiên cứu của tôi sẽđóng góp một phần vào những nghiên cứu về lĩnh vực này- một lĩnh vựckhông mới nhưng là chủ đề nhạy cảm và chưa được nghiên cứu phổ biến tạiViệt Nam

Với khả năng và góc độ chuyên môn chúng tôi thực hiện đề tài này

nhằm mục tiêu: “Mô tả các tổn thương do bị xâm hại tình dục của các đối tượng trẻ em gái và phụ nữ bị xâm hại tình dục được giám định tại Trung tâm Pháp Y Vĩnh Phúc trong 02 năm 2013 – 2014”.

Trang 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm tội phạm tình dục

Do những tác động nhiều mặt của đời sống xã hội, quan niệm về tội phạmtình dục hiện nay rất đa dạng và mở rộng Về thuật ngữ, cũng có sự phát triển

và lồng ghép, đan xen giữa các quan niệm của pháp luật, của đạo đức xã hội.Nhìn chung, tội phạm tình dục có nhiều tên gọi như: cưỡng dâm, hiếp dâm,cưỡng hiếp, bạo lực tình dục, cưỡng bức tình dục Khác với một số hình thứckhác chưa phải tội phạm tình dục nhưng thường gây nhầm lẫn như quấy rốitình dục, lạm dụng tình dục, bệnh hoạn tình dục không phạm tội

1.1.1 Định nghĩa của nhóm tác giả Saltzman, L.Fanslow, J.Mc Mahon, O.Shelley đưa ra năm 1999 được WHO công nhận: theo các tác giả này bạo

lực tình dục (sexual violence) là:

“ Dùng sức lực ép buộc một người (nam hoặc nữ) tham gia vào hành vi

tình dục chống lại ý muốn của người đó dù hành vi đó có hoặc không thực hiện được hoàn toàn.

Sự xâm phạm tình dục hoặc hành vi tình dục đã hoàn thành với một người không có khả năng nhận biết bản chất hoặc tình cảnh của hành vi đó, hoặc với một người suy sụp sức khỏe không có khả năng tham gia hoạt động tình dục, hoặc với một người đã thông báo không bằng lòng hoạt động tình dục (ví dụ: bị ốm, mất giảm khả năng tình dục, bị ảnh hưởng của rượu, thuốc men khác), hoặc với người bị dọa dẫm, đe dọa, chịu áp lực, sức ép ”.

Trang 3

1.1.2 Định nghĩa của tổ chức Georgia Southern Health Education: là bất

cứ hành vi tình dục nào do một người thực hiện với người khác mà không được người đó chấp nhận Đó có thể là hậu quả của sự đe dọa hoặc dùng bạo lực ép buộc hoặc nạn nhân mất khả năng chấp nhận một cách thích hợp.

1.1.3 Định nghĩa của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999:

- Hiếp dâm là hành vi phạm tội của một người dùng vũ lực hoặc lợi dụng

tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ.

- Cưỡng dâm là hành vi phạm tội của một người dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu.

1.2 Phân loại tội phạm tình dục

Theo phân loại của WHO năm 2012, tội phạm tình dục được phân thành 9loại như sau: [1]

1- Hiếp dâm bởi người quen (acquaintance rape/ Date rape)

2- Hiếp dâm giữa vợ chồng (Spousal rape)

3- Hiếp dâm ở các trường cao đẳng đại học (College campus rape)4- Hiếp dâm tập thể (Gang rape)

5- Hiếp dâm trẻ em (Rape of children)

6- Hiếp dâm theo luật định (Statutory rape)

7- Hiếp dâm trong tù (Prison rape)

8- Hiếp dâm trong chiến tranh (War rape)

9- Hiếp dâm trong quân đội (Rape within the military)

Trang 4

1.3 Tình hình tội phạm tình dục tại Việt Nam

Ở Việt Nam, tình trạng xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gáitrong những năm gần đây đã xảy ra nhiều và ở mức độ đáng báo động trongphạm vi cả nước Chỉ tính từ ngày 01/01/2008 đến ngày 31/12/2013, Tòa áncác cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 9.683 vụ với 11.444 bị cáo

Trong số các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em mà Tòa án các cấpđưa ra xét xử, có 1.812 vụ với 2.641 bị cáo bị xét xử về tội “Hiếp dâm”, 3.276

vụ với 3.759 bị cáo bị xét xử về tội “Hiếp dâm trẻ em”, 31 vụ với 61 bị cáo bịxét xử về tội “Cưỡng dâm”; 25 vụ với 30 bị cáo bị xét xử về tội “Cưỡng dâmtrẻ em”; 2.749 vụ với 2.878 bị cáo bị xét xử về tội “Giao cấu với trẻ em” và

879 vụ với 896 bị cáo bị xét xử về tội “Dâm ô với trẻ em” Số liệu này cho thấynạn nhân của các vụ án xâm phạm tình dục là trẻ em chiếm tỷ lệ lớn (6.929 vụvới 7.563 bị cáo, chiếm tỷ lệ 78,99% số vụ và chiếm 73,68% số bị cáo bị xétxử) Đặc biệt, tình trạng xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em có xu hướngtăng lên trong những năm gần đây, cụ thể: Năm 2008: 1.494 vụ với 1.789 bịcáo; năm 2012: 1.736 vụ với 2.039 bị cáo và năm 2013: 2.050 vụ với 2.330 bịcáo (Số liệu từ Phòng xây dựng văn bản- Vụ Thống kê tổng hợp - Tòa án nhândân Tối cao)

Mức độ vi phạm của tội phạm tình dục vô cùng nghiêm trọng nhưngxuất phát từ đặc trưng của các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án xâm hạidanh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nên trong quá trình giải quyết các loại

vụ án này gặp không ít những khó khăn

Thứ nhất, khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em,

để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội danh gì thì cần phải có kếtluận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳngđịnh ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử vềtội gì trong các tội xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em (từ Điều 111 đến Điều

Trang 5

116 Bộ luật hình sự), tuy nhiên trên thực tế đã có nhiều vụ xâm hại tình dục đốivới phụ nữ, trẻ em nhưng lại không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trướcpháp luật Có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đãlưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữvật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đãtạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấuvết Có trường hợp sau khi bị xâm hại một thời gian dài, người bị hại mới tốcáo hành vi của người phạm tội do sợ danh dự, nhân phẩm của bản thân và giađình bị ảnh hưởng.

Thứ hai, khó khăn phát sinh từ phía người bị hại, trong nhiều vụ án mặc

dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng vàkhẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ Nhưng do trongquá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏathuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đedọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhậnlời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiệnhành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện…qua đó

đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử

vụ án đó Bên cạnh đó, một số loại tội phạm liên quan đến bạo lực tình dục xảy

ra trong nội bộ gia đình nên việc phát hiện, tố giác và xử lý gặp nhiều khókhăn Nguyên nhân chính do nhận thức của người bị xâm hại còn hạn chế,không tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục

Thứ ba, nhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt là vùng sâu,

vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế Nhiều người chưa nhậnthức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhânphẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em

Trang 6

1.4 Đặc điểm giải phẫu bộ phận sinh dục nữ [2]

1.4.1 Các cơ quan sinh dục trong của nữ

1.4.1.1 Buồng trứng

Buồng trứng là tuyến sinh dục của nữ Có 2 buồng trứng: phải và trái.Khi bé gái ra đời buồng trứng đã có rất nhiều nang noãn nguyên thủy, phầnlớn bị thoái hóa dần Sau dậy thì, một số nang noãn phát triển hàng tháng tiếntới chín, vỡ ra gây hiện tượng rụng trứng, nhờ vậy người phụ nữ có khả năngthụ thai và sinh đẻ

1.4.1.2 Vòi tử cung (vòi trứng)

Gồm hai ống ở hai bên sừng tử cung, có nhiệm vụ dẫn trứng từ buồngtrứng tới buồng tử cung

1.4.1.3 Tử cung

Tử cung là một khối cơ rỗng, thành dày Buồng tử cung được lót bởiniêm mạc tử cung thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt Đây cũng là nơi trứngthụ tinh đến làm tổ và phát triển thành thai

Âm đạo bám vào xung quanh cổ tử cung, chia cổ tử cung thành 2 phần:phần trên âm đạo và phần âm đạo Phần âm đạo của cổ tử cung thò vào trong

âm đạo, chính giữa là lỗ vào cổ tử cung Ở người chưa sinh đẻ, lỗ này có hìnhtròn Ở người đã đẻ thì lỗ bè ngang

Vòm âm đạo quây xung quanh phần âm đạo của cổ tử cung tạo thànhvòm âm đạo, phần sau sâu nhất và có liên quan với túi cùng trực tràng – tửcung Khi thăm khám có thể cho ngón tay tới phần sau vòm âm đạo để thămkhám tình trạng túi cùng trực tràng – tử cung Các sang chấn tác động có thểlàm tổn thương rách đến túi cùng này

Trang 7

Hình 1 Cơ quan sinh dục trong của nữ

1.4.1.4 Âm đạo

Âm đạo là một ống cơ mạc rất đàn hồi đi từ cổ tử cung đến tiền đình âm

hộ, chạy chếch xuống dưới ra trước Hai thành âm đạo áp sát nhau Âm đạo lànơi trực tiếp chịu ảnh hưởng của việc xâm hại tình dục và rất dễ bị tổnthương Thành trước âm đạo liên quan với bàng quang, niệu quản, niệu đạo,khi có sang chấn gây rách thành trước âm đạo có thể gây tổn thương rách đếnbàng quang, gây rò bàng quang – âm đạo Thành sau liên quan với trực tràng,

do vậy sang chấn gây rách thành sau âm đạo có thể làm tổn thương tới váchtrực tràng

Đầu dưới âm đạo mở vào tiền đình âm hộ Ở trinh nữ, lỗ của đầu dưới

âm đạo được đậy bởi một nếp niêm mạc thủng ở giữa gọi là màng trinh Có

nhiều loại màng trinh, phổ biến là loại màng trinh hình vành khăn có một lỗ ở

Trang 8

trung tâm Bờ tự do của màng trinh là chu vi của lỗ màng trinh, có bề dàykhông thay đổi, và có thể có một vài khe nông Gốc của màng trinh là nơimàng trinh dính vào âm đạo Các loại màng trinh khác có thể thấy như màngtrinh có một lỗ dọc hình bán nguyệt, màng trinh có hai lỗ dọc, màng trinh cókhe dọc, màng trinh có một lỗ hình hoa, màng trinh có nhiều lỗ nhỏ như sàng,màng trinh vách kín không lỗ Sau khi sinh đẻ, chỉ còn thấy được di tích củamàng trinh.

Hình 2 Các loại màng trinh

Ở mặt trong âm đạo, niêm mạc tạo nên những nếp ngang gọi là các nếpnhăn âm đạo Niêm mạc dính chặt vào lớp cơ và được cấu tạo bởi lớp biểu môvảy lát tầng không sừng hóa Sau tuổi dậy thì, biểu mô này dày lên và chứanhiều glycogen, glycogen tăng lên sau khi rụng trứng và giảm dần cho tớicuối kỳ kinh Đây là cơ sở để áp dụng kỹ thuật nhuộm sử dụng xanh toluidinetương phản để làm nổi bật các tổn thương rách và dập mất lớp biểu mô tronggiám định pháp y

1.4.2 Cơ quan sinh dục ngoài của nữ

1.4.2.1 Âm hộ

Âm hộ gồm một chỗ lõm ở giữa, đáy có lỗ đổ của niệu đạo, âm đạo Nơi

âm đạo mở vào gọi là tiền đình âm đạo, có các tuyến tiền đình lớn và nhỏ.Mỗi bên tiền đình có 2 môi: môi lớn và môi bé Hai môi lớn gặp nhau ở trước

và sau tương ứng tại mép trước môi, mép sau môi Môi bé nhỏ hơn, ở trong,

Trang 9

đầu trước tách ra bọc lấy âm vật và tạo hãm âm vật, đầu sau gặp nhau tại hãmmôi âm hộ

1.4.3 Tầng sinh môn

Đáy chậu là thành dưới của ổ bụng, gồm tất cả các phần mềm đáy chậuhông nhỏ ở dưới hoành chậu Đáy chậu có hình thoi, được chia bởi đường nốiqua phía trước hai ụ ngồi thành 2 phần: đáy chậu trước và đáy chậu sau Đáychậu sau là tam giác hậu môn Đáy chậu trước là tam giác niệu – sinh dục,còn được gọi là tầng sinh môn, có cấu tạo phức tạp bởi nhiều lớp cơ mạc vàcác cơ quan sinh dục ngoài, khác nhau giữa nam và nữ Đây là nơi có thể thấycác tổn thương do va chạm trực tiếp từ xâm hại tình dục, các tổn thương cóthể là xước, trầy, bầm dập, tụ máu, rách chảy máu…

Hình 3 : Cơ quan sinh dục ngoài của nữ

Trang 10

1.5 Các tổn thương thường gặp trong giám định y pháp

1.5.1 Tổn thương tại cơ quan sinh dục

Người còn trinh khi bị hiếp có thể có những thương tích nặng ở đườngsinh dục dưới dạng các vết xây xát và vết rách ở lỗ âm đạo, dãn âm đạo vàrách màng trinh Âm hộ và vú là vị trí rất dễ bị tổn thương do xâm hại tìnhdục, đa số có thể quan sát bằng mắt thường như trầy xước, chảy máu, rách, tụmáu….cần thăm khám cẩn thận và chi tiết, tránh bỏ sót

Hình 4 Lấy dịch âm đạo Màng trinh rách cũ có những đặc điểm sau: bờ tự do của màng trinh dàymỏng không đều do sẹo cũ Vết rách là một khe bờ không đều chạy từ bờ tự

do tới gốc của màng trinh và niêm mạc âm đạo

Màng trinh mới rách, bờ ngấm máu, có thể có phản ứng viêm phù nề,nhiễm trùng mủ, hoặc đóng vẩy chưa bong Vết rách bờ sắc và hồi phục trongkhoảng 7 – 10 ngày, phụ thuộc vào độ rách Do vậy việc thăm khám phát hiệnsớm các tổn thương là rất quan trọng trong giám định y pháp tình dục

Trang 11

Ở trẻ em, đặc biệt trẻ dưới 13 tuổi đôi khi không thấy rõ thương tích ở bộphận sinh dục, bởi vì hung thủ có thể dụ dỗ trẻ hoặc chỉ có những hành vidâm ô, chưa thực hiện nên không gây thương tích nặng ở bộ phận sinh dục.Tuy nhiên nếu hung thủ cố thực hiện hành vi giao cấu thì có thể gây hậu quảnghiêm trọng như rách tầng sinh môn, rách cùng đồ ….

Có thai và mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục là những hậu quảthường thấy sau khi bị xâm hại tình dục và có thể phát hiện được qua giámđịnh y pháp Các nạn nhân của xâm hại tình dục trong độ tuổi từ sau dậy thìđến khi mãn kinh đều có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn Nếu sau khi bịxâm hại, trứng được thụ tinh và làm tổ tại vòi tử cung thì nạn nhân của xâmhại tình dục sẽ phải đối mặt với bệnh lý chửa ngoài tử cung, gây hậu quảlớn có thể đe dọa tính mạng Việc bị cưỡng ép quan hệ dù chỉ một lần cũng

có thể làm lây bệnh truyền nhiễm từ hung thủ sang nạn nhân, có nhiềutrường hợp nạn nhân đến giám định khi đã có các biểu hiện của bệnh lâylan qua đường tình dục (lậu, giang mai…) hoặc bệnh lây truyền tại chỗthông thường như nấm

Nếu khám ngay sau khi bị hiếp có thể thấy máu và tinh dịch trên ngườihay quần áo nạn nhân Vết máu và vết tinh dịch phải gởi ngay xét nghiệm xácđịnh nhóm để so sánh với nhóm máu và tinh dịch của hung thủ Nếu đã quanhiều ngày từ khi xảy ra hiếp dâm, vết thương đường sinh dục có thể mất đi,nhưng nạn nhân có thể có dấu hiệu của bệnh hoa liễu như bệnh lậu hay giangmai Nếu bị cáo có bệnh hoa liễu hoặc có thai, thì đó là một bằng chứngchống lại hung thủ

1.5.2 Tổn thương ngoài cơ quan sinh dục

Vết bầm máu và vết xây xát có thể thấy trên cánh tay, đùi và bất kỳ nơinào khác trên người Đối với phụ nữ đã có chồng, có khả năng bộ phận sinhdục ít thấy thương tích, nhưng có những thương tích khác trên cơ thể có thể

Trang 12

cho biết có sự xâm hại Những thương tích rách nặng nhất không phải do

dương vật mà do tay của hung thủ gây ra

Tổn thương trên cơ thể thường gặp những nơi chịu tác động trực tiếp của

sự tấn công như tay, chân, mặt… hoặc ở những nơi gần với bộ phận sinh dục

như mông, đùi, vai… Các dạng tổn thương có thể từ nhẹ như trày xước, tụ

máu nhỏ cho đến các mức độ nặng hơn như bầm máu, rách, chảy máu… Các

tổn thương có thể phối hợp với nhau và có thể gặp đồng thời ở nhiều vị trí

trên cơ thể

Cũng giống như tổn thương tại cơ quan sinh dục, các tổn thương tại mọi

vị trí trên cơ thể đều có thể hồi phục theo thời gian sau khi bị xâm hại, vì vậy

trong bất kỳ tình huống nào cũng phải thăm khám không chậm trễ

1.6 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tội phạm tình dục

1.6.1 Nghiên cứu trên thế giới

- Nghiên cứu “Các nạn nhân nữ bị hiếp dâm và các thương tổn sinh

dục” (Female victim of rape and their genital injuries) [6] thực hiện bởi Lucy

Hình 6 Vết xây xát da hìnhcung răng ở vai trái

Hình 5 Vết xây xát da bầm tímvùng cổ

Hình 5 Vết xây xát da bầm tímvùng cổ

Hình 5 Vết xây xát da bầm tím

vùng cổ

Hình 6 Vết xây xát da hìnhcung răng ở vai trái

Trang 13

Bowyer và Maureen E.Dalton được đăng trên chương 10, trang 617-620 củatạp chí British Journal of Obstetrics and Gynaecology vào tháng 5 năm 1997:nghiên cứu hồi cứu 83 trường hợp ghi chép về các phụ nữ báo cáo đã bị hiếpdâm, được cung cấp bởi các bác sĩ nữ tại Northumbrian tại Newcastle, Bắc vàNam Tyneside, Sunderland và Northumbria Kết quả cho thấy: Tuổi trungbình của phụ nữ bị hiếp dâm là 25 tuổi (dao động từ 16-48) Thời gian trungbình từ khi bị hiếp dâm đến khi khám nghiệm là 34 giờ (từ 1 giờ đến 11ngày) Đa số các phụ nữ được khám trong vòng 24 giờ sau khi bị hiếp dâm 4phụ nữ là còn trinh Các công cụ, như nắm tay hoặc quần áo được nhét vào

âm đạo 3 phụ nữ, 7 người bị ép quan hệ đường hậu môn, và 2 người siết cổkhông thành Hầu hết các tổn thương sinh dục được mô tả là nhẹ, bao gồmrách, tụ máu, cào xé và trầy xước

- Nghiên cứu “Các tổn thương cơ quan sinh dục sau bạo hành tình dục ở

phụ nữ có hoặc chưa có trải nghiệm tình dục” (Genital injuries following sexual assault of women with and without prior sexual intercourse experience) [7] của Marleen Biggs; Lana E Stermac và Miriam Divinsky

năm 1998 trên CMAJ, tập 159, trang 33-37 Nghiên cứu xây dựng biểu đồtổng quan về 132 phụ nữ bị bạo hành và được điều trị y tế tại Trung tâm chămsóc bạo hành tình dục SACC, Bệnh viện Phụ nữ ở Toronto trong vòng 10ngày sau khi bị tấn công Một nửa (66) số phụ nữ báo cáo rằng tại thời điểm

bị tấn công, họ chưa từng quan hệ tình dục trước đó Các tổn thương đượcphân loại thành 3 nhóm: Tổn thương mô mềm không xuyên thủng, rách hoặcđang chảy máu và trị trí phân thành 6 loại (môi lớn và môi bé, mép sau âm hộ,màng trinh, âm đạo, cổ tử cung và hậu môn) Kết quả: Có một số đáng kểcác phụ nữ chưa có quan hệ tình dục trước đó được quan sát thấy có tổnthương sinh dục nhìn thấy được (65,2% v.25,8%, p<0,01) Tuy vậy trong số

đó chỉ có 9,1% bị thủng màng trinh Nghiên cứu các dữ liệu chỉ của các phụ

Trang 14

nữ có tổn thương sinh dục nhận thấy rằng không có sự khác biệt giữa nhómchưa có và có quan hệ tình dục đối với số vị trí tổn thương nói chung (1,65 và1,47) hoặc đối với vị trí trung bình của tổn thương phần mềm không xuyênthủng (0,349 và 0,706) rách (0,953 và 0,471) và chảy máu (0,279 và 0,294)

- “Hiếp dâm : Khía cạnh xã hội và pháp y” (Rape : Its medicolegal

and social aspect) [8] của U.B RoyChowdhury và cộng sự đã đăng trên tạp

chí J Indian Acad Forensic Med nghiên cứu hồi cứu về mặt xã hội và pháp y

về 80 nạn nhân bị hiếp dâm đã được thực hiện tại Phòng Pháp y, đại họcKolkata trong giai đoạn 2005-2007 37% nạn nhân nữ ở tuổi 16-20, 77% cógia cảnh nghèo, 45% mù chữ, 72,5% có vết rách màng trinh mới 30/80trường hợp nghiên cứu thuộc về nhóm tuổi 16-20 (37,5%) trong khi 28/80trường hợp (35%) thuộc nhóm 10-15% Chỉ 2 trường hợp (2,5%) trên 30 tuổi.Trong khi xem xét tình trạng kinh tế - xã hội của nạn nhân, nhận thấy có 62trường hợp (77,5%) có gia đình nghèo, chỉ 6 trường hợp (7,3%) từ tầng lớptrên và gia đình giàu có Xem xét tình trạng giáo dục của nạn nhân có 36trường hợp (45%) mù chữ, 34 trường hợp (42,5%) nhận giáo dục tiểu học, 8trường hợp (10%) có trình độ cấp 3 và chỉ có 2 trường hợp (2,5%) tốt nghiệp

Đối với nơi cư trú của nạn nhân thì có 52 trường hợp (65%) từ khu vựcthành thị và có 28 trường hợp (35%) từ khu vực nông thôn Về tôn giáo, thìnhiều hơn cả là đạo Hindu là 46 trường hợp (57%) Số đông trường hợp(22,5%) xảy ra vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 10,11 (2,5% mỗi tháng) 86%nạn nhân chưa kết hơn trong 89 trường hợp 42% (52,5%) là thành viên phụthuộc vào gia đình và 8 trường hợp (10%) là các bà nội trợ Đối với nơi xảy rathì 62 trường hợp (77,5%) xảy ra ngoài nhà và 18 trường hợp (22,5%) xảy ratrong nhà của các cô gái Có 78 % là có 1 hung thủ Trong 1 trường hợp có 2người bị buộc tội Trong 64 trường hợp (80%) người phạm tội đã biết nạnnhân trước đó Trong 1 trường hợp cha của nạn nhân chính là thủ phạm Tuổi

Trang 15

bắt đầu có kinh nguyệt được nghiên cứu Trong đó có 25% trường hợp vàonăm 12 tuổi và 20% trường hợp vào năm 13 tuổi 58 trường hợp (72,59%) cótìm thấy bằng chứng rách màng trinh mới Trong 8 trường hợp (10%) chothấy màng trinh rách cũ, có 14 trường hợp (17,5%) có màng trinh nguyên vẹn

và 4 trường hợp (5%) có tổn thương sinh dục khác như là rách màng trinh.Các bệnh hoa liễu rõ ràng ở 8 trường hợp (10%)

- Nghiên cứu “Tần suất các vụ sát hại hàng loạt vì tình dục tại Virginia

trong giai đoạn 10 năm” (Frequency of Serial Sexual Homicide Victimization

in Virginia for a Ten-Year Period) [9] được thực hiện bởi James J.

McNamara,1 M.S and Robert J Morton,1 M.S và đăng trên tạp chí khoa học

J Forensic Sci vào tháng 5 năm 2004, chương 49, tập 3 Quần thể đích củanghiên cứu này bao gồm tất cả các nạn nhân bị sát hại tại bang Virginia từ1/1/1987 đến 31/12/1996 Tần số các nạn nhân bị sát hại vì tình dục được tìmthấy là rất thấp (0,5%) Tổng số vụ sát nhân tại bang Virginia trong giai đoạn

10 năm là 5183 Số các nạn nhân bị sát hại vì tình dục trong cùng giai đoạnnày là 28

1.6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

- Nghiên cứu “Tình hình hiếp dâm trẻ em tỉnh Long An năm 2004 –

2008” [10] do bác sĩ Phan Thị Thùy Trang thực hiện trên 274 trường hợp trẻ

em bị hiếp dâm tại tỉnh Long An trong 5 năm Nghiên cứu hồi cứu cho kếtquả: 1- Đối tượng hiếp dâm trẻ em 1 lần chiếm tỷ lệ lớn nhất (96.82) Gây chotrẻ có thai 2,53%, gây dấu vết thương tích 11.91% Tuổi của người hiếp dâmchủ yếu từ 18 đến 50 chiếm 57.24% Trình độ văn hóa của đối tượng hiếpdâm phần lớn là cấp I ( 56,18%), cấp II ( 28.97%) 71.02% đối tượng hiếpdâm làm nghề nông và làm thuê Đối tượng bị hiếp dâm nhiều nhất từ 13 đến

16 (38.99%), thứ hai là có tuổi đời 13 (35,74%), chủ yếu nạn nhân đang học

Trang 16

tiểu học (55,23%), 31.05% học trung học cơ sở Hầu hết (86,03%) trẻ bị hiếpdâm đang sống chung với cha mẹ, chủ yếu thuộc gia đình nghèo (44,85%) 2-Nguyên nhân và yếu tố làm dể gây hiếp dâm dựa vào gia đình vắng nhà là33.93%, liên quan với phim sex là 5.41%, uống rượu 14,08% Hậu quả của trẻ

bị hiếp dâm: Bị tổn thương về mặt sức khoẻ, gây hậu quả về sau: 53.07%: Bịmặc cảm mất niềm tin: 40.43%; Bị suy sụp tinh thần, mất niềm tin và muốnrời khỏi quê nhà, bỏ học 7.22%; Có biểu hiện tâm thần 5,55%; Làm trẻ cóthai 2.89%; Bị giết chết: 0.72%

- Đề tài “Tội phạm tình dục tại Đồng Nai qua giám định pháp y trong 3

năm 2010-2012” [11] được thực hiện bởi BS.Trần Văn Hoàng năm 2012.

Nghiên cứu mô tả bao gồm hồi cứu và tiến cứu (Nghiên cứu hồi cứu từ01/1/2010 đến 30/10/2011 và tiến cứu : từ 1/11/2011 đến 30/10/2012) trên

354 trường hợp là những nạn nhân được Trung tâm Pháp Y tỉnh Đồng Naigiám định trong thời gian từ 01/1/2010 đến 30/10/2012, toàn bộ số nạn nhânđều là nữ giới Kết quả cho thấy: Số nạn nhân tập trung chủ yếu ở lứa tuổidưới 15 với tỷ lệ 63,1%, tiếp đó các nạn nhân từ 16 - 25 là 33,3% Từ 36 đếntrên 60 tuổi hiếm gặp Số vụ việc xảy ra ở vùng xa xôi hẻo lánh chiêm 42,9%

Có 4,8 % số nạn nhân đến khám ngay sau khi bị nạn, trong 12h là 18,6%, sau24h là 15,1% Có 13% nạn nhân đến khám sau 1 tháng Số nạn nhân bịthương tích ở các vị trí ngoài vùng sinh dục chiếm 4,9%, chủ yếu gặp xây sát

da tay, chân Màng trinh hình chóp chiếm 31,1%, tiếp đến là màng trinh hìnhbán nguyệt 23,7% Màng trinh hình tròn, hoa khế, bán nguyệt có tỷ lệ ngang

nhau Tỷ lệ rách cũ màng trinh chiếm đa số với 53,1%, rách mới là 13,8% Có

33,1% số nạn nhân không rách màng trinh Đa số các trường hợp rách ở vị trí3h – 6h và 9h

Trang 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 74 trường hợp giám định Y pháp tìnhdục tại Trung tâm giám định Pháp Y tỉnh Vĩnh Phúc dựa trên các ca giámđịnh cụ thể từ ngày 01/01/2013 đến hết ngày 31/12/2014

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:

- Toàn bộ các trường hợp được giám định có liên quan tới tội phạmtình dục là nữ giới và đã có kết luận giám định

- Thời gian đến giám định trong khoảng từ ngày 01/01/2013 đến hếtngày 31/12/2014

- Có đủ hồ sơ về tuổi, trình độ văn hóa, địa điểm, thời gian, thông tin

về giám định các tổn thương toàn thân, tâm lý và bộ phận sinh dục

và xét nghiệm cần thiết cho quá trình giám định, nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu.

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập thông tin dựa vào 74 hồ sơ giám định pháp y tình dục của 74đối tượng nghiên cứu được lưu trữ tại Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc từngày 01/01/2013 đến hết ngày 31/12/2014

2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.3.1 Tuổi nạn nhân

Tuổi của các nạn nhân được chia thành các nhóm từ 1-15, 16-25, 26-35,36-60 và trên 60 tuổi theo phân loại của WHO

Trang 18

2.2.3.2 Trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa của nạn nhân được xác định theo 6 mốc: mẫu giáo, cấp

1, cấp 2, cấp 3, đại học và sau đại học

2.2.3.5 Tổn thương ở các vùng trên cơ thể ngoài bộ phận sinh dục

Các vùng tổn thương trên cơ thể được phân thành 6 nhóm: vùng đầu mặt,vùng cổ, vùng ngực bụng, vùng lưng, vùng tay chân và nhóm không cóthương tích

2.2.3.6 Tổn thương tại bộ phận sinh dục

Các tổn thương tại bộ phận sinh dục được mô tả có hay không theo 6nhóm dựa vào vị trí giải phẫu bộ phận sinh dục: môi lớn, môi bé, màng trinh,

âm đạo, tầng sinh môn và nhóm không có tổn thương

2.2.3.7 Tổn thương màng trinh

Tổn thương màng trinh được đánh giá theo 3 nhóm: tổn thương rách

cũ, tổn thương rách mới và không có tổn thương Không khảo sát theo loạimàng trinh

2.2.3.8 Vị trí rách màng trinh

Vị trí rách màng trinh sau khi bị tấn công tình dục được phân thành 5nhóm: từ 0h đến 3h, từ 3h đến 6h, từ 6h đến 9h, từ 9h đến 12h và nhóm tổnthương rách nhiều vị trí

Trang 19

2.2.3.9 Tình trạng có thai hay không có thai

Các nạn nhân sau khi bị xâm hại sẽ được khám, xét nghiệm và phânthành 2 nhóm: có thai và không có thai

2.2.3.10 Xét nghiệm tìm tinh trùng trong dịch âm đạo và kết quả

Các nạn nhân được phân thành 2 nhóm: nhóm được chỉ định làm vànhóm không được chỉ định làm xét nghiệm tìm tinh trùng trong mẫu dịch âmđạo Sau đó các trường hợp được chỉ định xét nghiệm tìm tinh trùng đượcphân thành 2 nhóm: nhóm có tìm thấy tinh trùng và nhóm không tìm thấytinh trùng

2.2.3.11 Các xét nghiệm khác

Các xét nghiệm cận lâm sàng được đánh giá bao gồm: siêu âm tử cung

và phần phụ, xét nghiệm beta-HCG trong nước tiểu, xét nghiệm HIV, giangmai, lậu và các bệnh lây nhiễm khác Tất cả các trường hợp đều được đánhgiá xếp thành 2 nhóm: có được chỉ định xét nghiệm và không được chỉ địnhxét nghiệm

2.3 Xử lý số liệu

Các dữ liệu ghi nhận - tổng hợp - phân tích theo phương pháp thống kê

thông thường, được xử lý trên phần mềm Excel 2010 và rút ra những vấn đềcần thiết để bàn luận, kết luận

Trang 20

2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trung thực, tuân thủ các nguyên lý và đạođức trong nghiên cứu y học

Được sự đồng ý của lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Vĩnh Phúc, lãnh đạo và khoagiám định tổng hợp Trung tâm Pháp Y Vĩnh Phúc

Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo hoàn toàngiữ bí mật, chỉ nhằm phục vụ công tác điều tra, giám định và nghiên cứu,ngoài ra không còn mục đích nào khác

Trang 21

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Biểu đồ 1: Thống kê tuổi của đối tượng

Nhận xét:

Đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất là những phụ nữ tuổi từ

16-25 với 46 trong tổng số 74 trường hợp, chiếm 62,16%, đứng thứ 2 là độ tuổi

từ 1-15, 20 trường hợp, chiếm 27,03% Có 8 nạn nhân ở độ tuổi từ 26-35chiếm 10,81%, và không có đối tượng nào từ 36 tuổi trở lên

Trang 22

Bảng 1: Trình độ văn hóa của đối tượng

và thứ ba là nhóm có trình độ tiểu học (cấp 1) với 8 vụ (10,81%) Chỉ có 3trong số 74 trường hợp có trình độ đại học, chiếm 4,05% và chỉ 1 trường hợpnạn nhân đang học mẫu giáo, chiếm 1,35%

Trang 23

Biểu đồ 2: Địa điểm xảy ra

Nhận xét:

Vùng có tỷ lệ cao nhất là Xã - phường - thị trấn, có 56 trong tổng số 74trường hợp, chiếm 75,68 % Đứng thứ hai là tại Thành phố với 11 trường hơp,chiếm 14,86 % Nơi có tỷ lệ xảy ra thấp nhất là các vùng xa xôi hẻo lánh với

7 trường hợp (9,46 %)

Trang 24

Bảng 2: Thời gian

Thời gian từ khi bị cưỡng bức

Ngày đăng: 24/08/2019, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w