Đặc biệt chúng ta nên tìm hiểu thành phần, diễn biến và biện pháp xử lý phòng chống sâu hại chè để chúng ta giảm đến mức thấp nhất tác hại mà sâu sẽ gây ra đối với cây chè, mang lại hiệu
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Trang 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ THỊ THƯƠNG
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn tới bà con xã Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bố mẹ và bạn bè thân, những người đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả khoá luận
Phạm Thị Mỹ Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận là trung thực chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học và chƣa sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khoá luận đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả khoá luận
Phạm Thị Mỹ Dung
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Quan hệ giữa lƣợng mƣa và sự phân bố sản lƣợng búp chè (tài liệu
của trại thí nghiệm chè Phú Hộ)
Bảng 2: Thành phần sâu hại chè ở Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc năm
2012 - 2014
Bảng 3: Diễn biến mật độ rầy xanh hại chè ở Ngọc Thanh - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc năm 2013 - 2014
Bảng 4: Diễn biến mật độ bọ trĩ hại chè năm 2013 tại Ngọc Thanh
Bảng 5: Diễn biến mật độ bọ xít muỗi hại chè ở Ngọc Thanh - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc năm 2013
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Nguồn gốc cây chè và sự phân bố 4
1.2 Nhu cầu sinh thái của cây chè 5
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và trong nước 7
1.4 Những nghiên cứu ngoài nước 7
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại chính 7
1.4.2 Những nghiên cứu về rầy xanh (Empoasca flavecen Fabr) 8
1.4.3 Nghiên cứu về bọ trĩ 9
1.4.4 Những nghiên cứu về bọ xít muỗi 10
1.5 Những nghiên cứu trong nước 10
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại chè 10
1.5.2 Nghiên cứu về rầy xanh (Empoasca flavescens) 13
1.5.3 Nghiên cứu về bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagn) 14
1.5.4 Những nghiên cứu về bọ xít muỗi 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng, vật liệu, dụng cụ nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
Trang 82.4.1 Điều tra thành phần sâu hại chè và mức độ phổ biến của sâu hại
chè tại xã Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 17
2.4.2 Phương pháp điều tra biến động số lượng sâu hại chè năm 2013 - 2014 17
2.4.3 Chỉ tiêu theo dõi 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Đánh giá đặc điểm sản xuất chè tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 20 3.2 Thành phần sâu hại chè năm 2013 - 2014 ở Ngọc Thanh - Phúc Yên Vĩnh Phúc 21
3.3 Diễn biến một số loài gây hại chính trên chè 25
3.3.1 Diễn biến mật độ rầy xanh hại chè năm 2013 tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 25
3.3.2 Diễn biến mật độ bọ trĩ hại chè tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc năm 2013 27
3.3.3.Diễn biến mật độ bọ xít muỗi hại chè ở Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc năm 2013 - 2014 30
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
1 Kết luận 32
2 Đề nghị 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 MỘT SỐ HÌNH ẢNH
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây chè Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á,
nhưng ngày nay nó đã được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới và chúng có lịch sử phát triển cách đây gần 5000 năm Điều kiện khí hậu địa lí, đất đai của Việt Nam phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè nên cây chè được trồng nhiều ở đây, đặc biệt là các tỉnh Trung Du và miền núi phía Bắc
Chè được biết đến với vai trò là một cây công nghiệp dài ngày, chúng không những mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần không nhỏ trong việc xoá đói giảm nghèo đối với một số vùng miền núi, ngoài ra cây chè còn có vai trò quan trọng trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc tạo công ăn việc làm cho lực lương lao động dư thừa lớn trong
xã hội Đặc biệt trong những năm gần đây sản lượng và giá trị cây chè không ngừng tăng lên Tính đến tháng 6 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước đạt 130 triệu USD, tăng 18,43% so với cùng kì năm
2007 Với chủ trương phát triển kinh tế toàn diện ngày 10/3/1999 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt kế hoạch phát triển diện tích chè đến năm
2000 là 100.000 ha và năm 2010 là 104.000 ha nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và giữ vững ổn định thị trường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu lên 200 triệu USD/năm Bên cạnh đó ngành chè đã đạt được nhiều thành tựu về giống, kĩ thuật canh tác, mở rộng diện tích năng suất và chất lượng, đặc biệt là một số cơ sở sản xuất chè, làng nghề
an toàn bắt đầu hình thành cho thấy ngành chè đang đi đúng hướng, đúng xu thế hội nhập quốc tế, người trồng chè đang từng bước thay đổi tập quán canh tác để đưa sản phẩm chè của Việt Nam dần đạt được các
Trang 10yêu cầu chất lượng theo các hệ thống quản lí chất lượng quốc tế Nhưng trong sản xuất chế biến chè của ta cũng còn gặp những khó khăn thách thức về thị trường, khoa học kĩ thuật so với một số nước phát triển trên thế giới và trong khu vực Mặc dù xuất khẩu chè nước ta trong những năm gần đây cao hơn những năm trước song so với các nước khác như
Ấn Độ, Srilaka thì con số này còn rất khiêm tốn Theo số liệu của Tea Statistic thì giá trị xuất khẩu sản phẩm chè cuả Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Ấn Độ, 1/2 của Indonexia Liệu hương chè Việt Nam có lan toả ra khắp thế giới hay không? Điều này phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực trong đầu tư cả về chiều sâu và chiều rộng đối với khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến cùng với những chính sách, biện pháp
hỗ trợ thúc đẩy nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè
Được đưa về trồng tại xã Ngọc Thanh - Phúc Yên -Vĩnh Phúc từ lâu, cây chè đã giúp bà con xã Ngọc Thanh phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Nhưng việc phát triển cây công nghiệp này cũng gặp không
ít những khó khăn Đặc biệt là trong những năm gần đây côn trùng gây hại cây chè diễn biến rất phức tạp gây ảnh hưởng và tổn thất lớn về năng suất chất lượng chè.Vậy làm thế nào để sản xuất chè đạt hiệu quả năng suất và an toàn? Đó là cần từng bước giảm bớt việc sử dụng hoá chất BVTV, sử dụng hợp lý cân đối phân bón Đặc biệt chúng ta nên tìm hiểu thành phần, diễn biến và biện pháp xử lý phòng chống sâu hại chè để chúng ta giảm đến mức thấp nhất tác hại mà sâu sẽ gây ra đối với cây chè, mang lại hiệu quả kinh tế với người trồng chè
Xuất phát từ yêu cầu khoa học thực tiễn tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Thành phần sâu hại chè và diễn biến một số loài gây hại chính
trên cây chè tại xã Ngọc Thanh -Phúc Yên - Vĩnh Phúc năm 2013 - 2014”
Trang 112 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.2 Yêu cầu
- Thành lập đƣợc bảng thành phần và mức độ phổ biến các loài sâu hại cây chè năm tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc năm 2013 -
2014
- Đƣa ra quy luật diễn biến mật độ các loài sâu hại chính trên cây chè tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc cây chè và sự phân bố
Nguồn gốc cây chè
Năm 1753, Carl Von Linnaeus [15] nhà thực vật học Thuỵ Điển nổi tiếng lần đầu tiên trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu trên một số
loài chè cổ ở Trung Quốc và định tên khoa học cây chè là Camellia
sinensis rồi phân thành 2 loại: Thea bohea và Thea Sinensis Nhiều công
trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè
là ở vùng cao nguyên Vân Nam - Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và
ấm
Năm 1823 Robert Bruce, một học giả người Anh lần đầu tiên phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya ở vùng Atxam Tiếp sau đó các nhà học giả Anh như Samuel Bildon (1878) [19], John H B lake (1903) đưa ra thuyết: Ấn Độ là vùng nguyên sản của cây chè trên thế giới
Năm 1918, Cohen Stuart [18] một nhà phân loại thực vật Hà Lan
đã đi thu nhập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Mianma Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam
Tuy có những quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, nhưng vùng phân bố chè nguyên sản và vùng chè dại đều nằm ở khu vực núi cao, có địa hình sinh thái lí tưởng Từ những nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận là cây chè cố nguồn gốc từ Châu Á
Sự di chuyển về vùng thấp và phát triển rộng rãi ở những nơi mà điều kiện sinh thái khác với vùng xuất sứ đã dẫn đến sự thay đổi về sinh
Trang 13trưởng của cây chè và sự phát triển của sâu hại Tìm hiểu nguồn gốc cây chè sẽ giúp cho việc nhìn nhận đúng đắn môi trường xuất sứ của chúng,
từ đó tìm hiểu điều kiện sống đối với các loài sâu hại chè nói chung
Sự phân bố của cây chè
Cũng như nhiều loài cây trồng khác, cây chè phân bố trên phạm vi khá rộng Đầu tiên chè chỉ sống hoang dại trên các Cao Nguyên vùng Đông Nam Châu Á Đến nay ngành trồng chè đã có gần 5000 năm lịch
sử và đã được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới từ 30 độ vĩ Nam đến 45 độ vĩ Bắc Nhưng chè tốt nhất và được trồng nhiều nhất là từ 32
độ vĩ Bắc đến 6 độ vĩ Nam và hình thành 3 vùng lớn: Vùng ôn đới, vùng
á nhiệt đới và vùng nhiệt đới Trong đó vùng nhiệt đới chè sinh trưởng tốt nhất và có nhiều triển vọng cho sản lượng cao nhất
1.2 Nhu cầu sinh thái của cây chè
Cây chè chịu ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái trong quá trình sống của nó Chè sinh trưởng, phát triển nhiều ở vùng khí hậu rừng á nhiệt đới Tuy nhiên cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi, vậy nên muốn cho cây chè sinh trưởng bình thường và có năng suất, phẩm chất tốt phải có trình độ khoa học cao trong canh tác và phụ thuộc vào điều kiện khí hậu phân bố theo từng vùng Vì vậy xét đến điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến những điều kiện sống thích hợp nhất
ta nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinh thái cũng như khả năng thích ứng của cây chè Dưới đây chúng ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu sau:
Điều kiện đất đai và địa hình
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm, song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt được những yêu cầu sau: Nhiều mùn, tốt, chua và
Trang 14thoát nước Chè là loại cây kị vôi bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp dưới
4 Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp, điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng lớn đến phẩm chất chè
Điều kiện độ ẩm và lượng mưa
Chè thuộc loài ưa ẩm, khi thu hoạch thì chủ yếu là thu hoạch búp
lá non nên càng cần nhiều nước Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong 1 năm đối với cây chè khoảng 1500 mm và mưa phân bố đều
trong các tháng
còn độ ẩm không khí thích hợp đối với chè là khoảng 85% Lượng mưa
và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do dó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng chè cao hay thấp
Bảng 1: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè
(tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ)
tháng (mm) 50 50 -100 >100 vụ thu hoạch chè chủ yếu 50
Điều kiện nhiệt độ không khí
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định Theo nghiên cứu của Trang Văn Phượng (1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi nhiệt độ trên 10 độ Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng, phát triển bình thường là 12,5 độ và sinh
Trang 15trưởng trong phạm vi 15 - 23 độ Đối với sinh trưởng của cây chè trong thời kỳ này thì độ nhiệt không khí trở thành nguyên tố sinh thái chủ yếu
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và trong nước
Chè được sử dụng đầu tiên ở Trung Quốc như một thứ nước uống, sau trở thành thứ đồ uống thông dụng cho mọi người Ngày nay thứ đồ uống này rất quen thuộc và có thể coi là khá phổ biến trên thế giới
Theo Mereleedharan (1992) [17] sản xuất chè thế giới năm 1994 được khoảng 2487 ngàn tấn, trong đó Châu Á sản xuất 83,2%, Châu Phi sản xuất 14,4%, các nước Ấn Độ, Trung Quốc chiếm 71,4% tổng sản lượng chè
Ở Việt Nam, theo Đỗ Ngọc Quỹ [5] và Nguyễn Kim Phong (1997)
do điều kiện xã hội, quá trình sản xuất và phát triển cây chè ở Việt Nam không đều đặn Thời kì 1890 - 1945, sản xuất chè rất phát triển, năm
1939 sản lượng chè Việt Nam đứng hàng thứ 6 trên thế giới Thời kì
1945 - 1954, diện tích và sản lượng đều giảm sút Thời kì 1954 trở về sau, sản xuất chè được mở rộng và phát triển hơn
Hiện nay chè được trồng nhiều ở 30 tỉnh, trong đó 14 tỉnh miền núi và Trung Du phía Bắc là 42,273 ha, chiếm 63,4% Nền sản xuất chè của nước ta tăng dần cả về diện tích và sản lượng Dự kiến đến năm
2000 diện tích chè sẽ là 90.000 ha, năng suất trung bình 6,5 tấn/ha, sản lượng chè đạt 500.000 tấn búp tươi tương đương 100.000 tấn chè khô
1.4 Những nghiên cứu ngoài nước
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại chè và xác định loài sâu hại chính
Những nghiên cứu về sâu hại chè đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Các kết quả nghiên cứu về thành phần sâu hại chè đã được công bố rất nhiều trên thế giới và tập trung chủ yếu vào cuối thế kỷ
Trang 16XX là giai đoạn tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới đang phát triển mạnh sau thời gian dài chiến tranh thế giới và phân chia lãnh thổ
Ở khu vực Đông Nam Á năm 1992 Muraeedharan [17] công bố có trên 300 loài động vật hại cây chè gồm côn trùng, nhện và tuyến trùng
trong đó các loài quan trọng nhất thuộc các bộ: Acarina, Hemiptera,
Thysanoptera, Lepidotera, Coleotera, Isoptera và các ngành tuyến trùng Nematod
Từ những năm 1959 tác giả Eden [13] đã xác định các loài sâu hại quan trọng trên chè sau đây:
+Sâu cuốn búp (Homona coffearia Niet): Hại mạnh nhất ở Sri
Lanka
+Bọ xít muỗi (Helopetis thervora Waterhourse): Hại nặng nhất ở
ấn Độ, sriLanka Ở Châu Phi cũng có bọ xít muỗi nhưng không thường xuyên như ở Ấn Độ và Srilanka
+Rầy xanh (Empoasca flavencs Fabr): Gây hại nhiều ở Assam
nhưng lại không phải là sâu hại quan trọng ở những nơi khác
+Bọ trĩ (Physothrips sativentris và Dendothrips bispinosus Bagn):
Gây hại nhiều ở vườn ươm Sri Lanka nhưng lại ít gặp trên nương chè kinh doanh
+ Rệp muội (Toxoptera aurantii): Hại chè non trong vườn ươm và
nhưng búp chè còn lại sau đốn
Năm 1991, Muraleedharan [16] và cộng sự cho biết trong hơn 300 loài động vật hại chè, trong đó loài gây hại chính là: Bọ xít muỗi, bọ trĩ, nhện đỏ
1.4.2 Những nghiên cứu về rầy xanh (Empoasca flavecen Fabr)
Rầy xanh là một trong những loài sâu hại gây hại nghiêm trọng cho các vùng chè trên thế giới Chúng chích hút các chất dinh dưỡng của
Trang 17búp làm giảm năng suất và chất lượng chè
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu về rầy xanh, Muraleedharan [17] đã nghiên cứu tập tính, sự phân bố và thời kỳ phát sinh của loài rầy xanh Ông cho rằng rầy trưởng thành và rầy non hút nhựa ở mặt sau lá và cuống non mềm Rầy xanh phân bố rộng ở Bangladesh, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ, Việt Nam Ông mô tả rầy trưởng thành có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài 2,5 -2,75mm Giai đoạn trứng từ 6 -13 ngày, rầy non có 5 tuổi ở nhiệt độ cao, rầy non phát dục 8 -10 ngày, ở nhiệt độ mùa đông, giai đoạn rầy non có thể lên tới 15 ngày
Theo Lu -WeMing và cộng tác viên (1991) [15] bằng phương pháp thống kê đã dự báo ngày xuất hiện cao điểm đầu tiên của rầy xanh
Empoasca pirisug và cho biết ở Trung Quốc rầy xanh có 2 cao điểm về
số lượng trong năm
1.4.3 Nghiên cứu về bọ trĩ
Bọ trĩ hay còn gọi là bọ cánh tơ là loài sâu hại phổ biến ở các vùng chè trên thế giới, có nhiều loài bọ trĩ sống ở hoa, lá, búp chè Bọ trĩ hại chè có kích thước nhỏ nhưng tác hại lớn bởi số lượng rất nhiều của chúng Tác hại của chúng là làm cho búp chè chùn lại, lá non bị biến dạng, thô cứng và không phát triển được dẫn đến năng suất và chất lượng chè bị giảm đáng kể
Năm 1985, ở Kenya tác giả V Sudoi [18] đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của lượng mưa và cây che bóng đối với bọ trĩ kết quả cho thấy bọ trĩ xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng, nhưng vào mùa khô bọ trĩ nhiều hơn Số lượng bọ trĩ liên quan tỷ lệ nghịch với lượng mưa của hai tháng trước đó, mưa to đã rửa trôi bọ trĩ nên mật độ bọ trĩ đã giảm xuống
Ellis và Rattan (1977) [14] đã điều tra trên 12.990 ha chè ở
Trang 18Malawi trong năm 1976, có 6.785 ha chè bị bọ trĩ hại chiếm 52% Đây là nguyên nhân thất thu một số lượng lớn sản lượng chè, đồng thời cũng gây ra tình trạng chè con bị chết ở nơi đó
Theo quan điểm của Parrella và cộng sự (1997) [18] để phòng trừ
bọ trĩ một cách tốt nhất nên áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) Cho đến nay biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được đánh giá cao và có hiệu quả rất tốt
1.4.4 Những nghiên cứu về bọ xít muỗi
Bọ xít muỗi có tên khoa học là Helopeltis sp thuộc họ Miridae bộ
Hemiptera, chúng làm hại búp chè, lá non bị biến dạng, búp chè có những vết sẹo sần sùi và không phát triển được Bọ xít muỗi là loài sâu hại ở hầu khắp các vùng chè trên thế giới, có nhiều loài bọ xít muỗi sống
ở hoa, búp chè Khi thảo luận về tình trạng gây hại cũng như ảnh hưởng của bọ xít muỗi đối với các vùng chè thế giới người ta cho biết bọ xít muỗi gây hại mạnh cục bộ ở những nơi ẩm thấp mưa nhiều
Theo Muraleedharan và Kandaswamy (1980) [19] cho biết phổ kí chủ của một số loài bọ xít muỗi là:
+ Scirtothrips dorsalis Hood: Hại trên một số cây có tầm quan trọng kinh tế bao gồm cả cây chè và được gọi tên phổ biến là Chillies thrips hoặc Assam, nó gây nhiều thiệt hại cho chè ở Đông Bắc Ấn Độ
+ Scirtothip bispinosus Bagn: Phân bố rộng với số lượng lớn có ở hầu hết các vùng chè Nam Ấn Độ
1.5 Những nghiên cứu trong nước
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại chè
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều Đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh phát triển của cây chè.Ngày nay khi sự phát triển của khoa học công nghệ và kĩ
Trang 19thuật canh tác của nước ta ngày càng tiến bộ Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ chè của người dân trong và ngoài nước ngày một tăng cao Để có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng chè trong nước cũng như ngoài nước, các nhà nghiên cứu đã không ngừng lai tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt Tuy nhiên do nước ta có kiểu khí hậu nóng ẩm mưa nhiều vì vậy mà những giống chè này đã thường là nguồn thức ăn
ưa thích của các loại sâu hại Đặc biệt là những năm gần đây sự xuất hiện sâu, bệnh trên nương chè ngày một nhiều và thành phần sâu, bệnh hại chè đã là một trong những vấn đề được rất nhiều các tác giả quan tâm
và đi nghiên cứu
Ở nước ta, dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ (1990) [3, 4, 5] thì Du Pasquier (1031- 1932) đã xác định 28 loài sâu bệnh hại chè, trong đó sâu hại chè
có 25 loài Các tỉnh phía Bắc Việt Nam có các loài sâu quan trọng như:
Sâu chùm (Andraca bipunctera Walk); Bọ xít hoa (Poecilocoris latu); Rầy xanh (Empoasca flavescens); Nhện đỏ; Sâu đục thân mình đỏ
Đến năm 1967 - 1968, trong cuộc tổng điều tra diện rộng trong phạm vi cả nước viện Bảo Vệ Thực Vật [7] đã xác định được 34 loài sâu, nhện hại chè thuộc 6 bộ là
Trang 201977 -1978 Viện Bảo Vệ Thực Vật thu thập đƣợc 41 loài sâu hại chè trong đó các loài gây hại chính là bọ trĩ, sâu tiện vỏ, rầy xanh, bọ xít muỗi, sâu cuốn lá và bọ xít hoa
Trạm nghiên cứu chè tiếp tục nghiên cứu thành phần sâu hại chè các năm 1986 - 1987 đã cho biết: Các loài quan trọng và phổ biến có rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ, còn bọ xít muỗi chỉ hại cục bộ ở một số khu vực và trên một số giống chè nhất định ở Phú Hộ, ở vùng Sông Cầu (Bắc Thái) Phạm Thị Vƣợng và Nguyễn Văn Hành (1989) [12] cho biết rầy xanh,
bọ trĩ, nhện đỏ và mối là 4 loài sâu hại chè chủ yếu
Qua kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại chè của tác giả Nguyễn Văn Hùng khẳng định có 46 loài sâu hại Cùng với tác giả trên thì tác giả Đỗ ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997) [5] đã chia ra các nhóm bị hại theo bộ phận nhƣ sau:
+ Nhóm hại búp: Có rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, sâu cuốn
Từ những kết quả nghiên cứu trên về thành phần sâu hại chè cho chúng ta thấy các loài sâu hại đó đều phát sinh ở tất cả các vùng chè Tuy
Trang 21nhiên chúng phát sinh và gây hại ở các mức độ khác nhau, những vùng chè lâu năm chúng thường phát sinh nhiều hơn so với những vùng chè mới
1.5.2 Nghiên cứu về rầy xanh (Empoasca flavescens)
Về đặc điểm hình thái học của rầy xanh hại chè được nhiều tác giả như Nguyễn Khắc Tiến, Đỗ Ngọc Quỹ [3, 4, 5] mô tả kỹ lưỡng và đã có
sự tương đối thống nhất giữa các tác giả về đặc điểm triệu chứng gây hại
và đặc điểm sinh học của loài Empoasca flavescens Rầy xanh dùng vòi
chọc hút nhựa cây theo các đường gây chính và gân phụ lá chè và các cọng chè non và cháy quăn lá Rầy xanh thích ánh sáng tán xạ và ánh đèn, rầy trưởng thành sợ ánh sáng trực xạ Chúng phát triển thuận lợi ở điều kiện nhiệt độ từ 23 đến 27 độ và ẩm độ trên 80%
Theo tác giả Nguyễn Văn Hùng và Đường Hồng Dật [6, 7] cho biết vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục: Pha trứng, pha sâu non và pha trưởng thành Rầy trưởng thành có màu xanh lá mạ cơ thể dài khoảng 2,5 - 3mm, có 8 đốt bụng và rầy non có hình dạng giống rầy trưởng thành nhưng chúng có kích thước nhỏ hơn và chỉ có mầm cánh, chưa có cánh Rầy non có 5 tuổi: Rầy tuổi 1 có màu trắng, sau đó chuyển thành hơi vàng Rầy tuổi 2 có màu vàng xanh cơ thể dài 1,5 -1,6 mm Rầy tuổi 3 có màu xanh vàng cơ thể dài khoảng 1,9 -2,1mm Rầy tuổi 4
có màu xanh vàng và cơ thể dài khoảng 2,1 - 2,3mm Rầy tuổi 5 có màu xanh vàng, cơ thể dài khoảng 2,3 -2,6mm Thời gian phát dục của rầy xanh chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện nhiệt độ: Ở nhiệt độ 21,2 độ, trứng phát dục 6 -7 ngày, sâu non phát dục 10,5 ngày, còn ở nhiệt độ 27,7 độ trứng phát dục 5,1 ngày còn sâu non phát dục 7 -9 ngày
Cũng theo Nguyễn Khắc Tiến và Nguyễn Văn Thiệp năm (2000) [4, 5, 6] cho biết rầy xanh gây ra những thiệt hại to lớn, làm giảm đáng
Trang 22kể sản lượng và chất lượng búp chè nghiêm trọng Trong một năm rầy xanh đã làm giảm 15 - 20% sản lượng chè, có khi làm mất tới 70% sản lượng chè vụ xuân và gây ảnh hưởng xấu đến các đợt sinh trưởng búp trong năm Rầy xanh có hai cao điểm về số lượng trong một năm, trong
đó cao điểm đầu thường xuất hiện vào tháng 4 tháng 5 cao điểm này gây hại rất lớn, còn cao điểm hai xuất hiện vào tháng 9 đến tháng 11, cao điểm này cũng gây hại đáng kể so với cao điểm thứ nhất
1.5.3 Nghiên cứu về bọ trĩ (Physothrips setiventris Bagn)
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về loài bọ trĩ chúng bám ở mặt dưới lá để hút nhựa, đặc biệt là lá non, ở dưới lá bọ trĩ gây hại nổi lên 2 đường sần sùi, song song với gân lá chính, tạo thành nhiều vết nứt ngang màu xám Chè bị bọ trĩ gây hại cây sẽ có biểu hiện còi cọc, búp cứng, kém phát triển
Ở Việt Nam, nghiên cứu về bọ trĩ hại chè được bắt đầu tương đối sớm Du Pasquier (1932) đã tìm hiểu các loài bọ trĩ hại chè về sự phân
bố, tập tính sinh sống, triệu chứng gây hại, tác hại của loài Physothrip
seti ventrus Bagn
Bọ trĩ thường phát sinh mạnh trên các nương chè trồng trên đất nhiều cát, bị cỏ dại lấn át, bón phân chuồng ít và không có cây che bóng
Vì vậy việc phòng trừ bọ trĩ diễn ra vào vụ đông sẽ mang lại hiệu quả hơn
1.5.4 Những nghiên cứu về bọ xít muỗi
Cũng như nhiều nghiên cứu như ở bọ trĩ, ở nước ta đã có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về đặc điểm hình thái cũng như sự ảnh hưởng của
bọ xít muỗi đối với cây chè Tác giả Đỗ Ngọc Quỹ [5, 6] đã mô tả kĩ lưỡng về đặc điểm triệu chứng gây hại và đặc điểm sinh học của bọ xít muỗi Trên nương chè bọ xít muỗi tập trung hại nhiều ở những chỗ râm