Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn.
Trang 1HOÀNG KIM MẪN Tên đề tài:
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
Ở XÃ TÚ TRĨ, HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2HOÀNG KIM MẪN Tên đề tài:
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
Ở XÃ TÚ TRĨ, HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Châu
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn với đề tài:
“Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn”
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này tôi xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các tập thể, các cơ quan, tổ chức đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, phòng Đào tạo và khoa KT&PTNT cùng các thầy cô giáo những người đã cung cấp trang thiết bị, kiến thức cho tôi trong suốt quá trình thực tập
Cảm ơn UBND xã Tú Trĩ cùng các ban ngành, đoàn thể và nhân dân trong xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qua trình thực tập
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
cô giáo Th.s Nguyễn Thị Châu - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu, góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành đề tài này
Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày…tháng…năm 2015
Sinh viên
Hoàng Kim Mẫn
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
PTNT : Phát triển nông thôn
LĐNLN : Lao động nông lâm nghiệp
LĐPNN : Lao động phi nông nghiệp
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nguồn vốn trong bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 15
Bảng 4.1: Cơ cấu diện tích đất xã Tú Trĩ năm 2014 28
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Tú Trĩ 30
Bảng 4.3: Diện tích các loại đất trồng rừng trên địa bàn xã Tú Trĩ 34
Loại sản phẩm 35
Bảng 4.5 Thông tin hộ điều tra 41
Bảng 4.6 Thống kê tài sản và tƣ liệu sản xuất cơ bản của các hộ gia đình 42
Bảng 4.7 Thu nhập của hộ gia đình trong năm 2014……… 43
Bảng 4.8 Tỷ lệ các khoản thu nhập của hộ gia đình 45
Bảng 4.9 Các khoản thu nhập từ lâm nghiệp của hộ gia đình 45
Bảng 4.10 Các chi phí về lâm nghiệp của hộ gia đình 47
Bảng 4.14 Mô hình SWOT về vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ 53
Bảng 4.11 Lợi nhuận từ lâm nghiệp của hộ gia đình trong năm 2014 48
Bảng 4.12 Thu nhập từ các loại rừng của hộ gia đình năm 2014 49
Bảng 4.13 Số lƣợng cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản tại 51
DANH MỤC HÌNH Biểu đồ 4.1 Thu nhập của hộ gia đình trong năm 2014 44
Biểu đồ 4.2 Các khoản thu nhập từ rừng của các hộ gia đình………46
Biểu đồ 4.3 Các chi phí về lâm nghiệp của hộ gia đình 48
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
1.4 Kết cấu khoá luận 4
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của phát triển kinh tế từ rừng 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Vai trò của rừng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình 12
2.1.3 Những yếu tố tác động đến thu nhập của người dân từ rừng 14
2.1.4 Những thu nhập từ rừng 18
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ 18
2.2.1 Vai trò, đóng góp của rừng trong phát triển kinh tế của một số nước trên thế giới 18
2.2.2.Vai trò, đóng góp của rừng trong phát triển kinh tế ở một số địa phương ở Việt Nam 19
2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Câu hỏi nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 23
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 23
3.4.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 24
3.4.4 Phương pháp phân tích , đánh giá thông tin 24
3.4.5 Phương pháp phân tích SWOT 24
3.4.6.Phương pháp minh họa bằng biểu đồ, hình ảnh 24
3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu vai trò của rừng trong phát triển kinh tế 25
3.5.1 Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế địa phương 25
Trang 73.5.2.Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình 25
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 29
4.1 3 Phương hướng phát triển rừng ở xã Tú Trĩ 33
4.2 Thực trạng vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ, huyện Bạch Thông 34
4.2.1 Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế 34
4.2.2 Vai trò trong tạo việc làm cho người dân lao động 36
4.3 Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương 37
4.3.1 Cơ sở hạ tầng 37
4.3.2 Yếu tố về kinh phí đầu tư 37
4.3.3 Các chính sách nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp 38
4.3.4 Phong tục tập quán, trình độ học vấn chuyên môn, khoa học kỹ thuật của hộ gia đình, khả năng tiếp cận thông tin của hộ gia đình 39
4.4 Đánh giá vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Xã Tú Trĩ 41
4.4.1 Thông tin chung về đối tượng điều tra 41
4.4.3 Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn của các hộ gia đình trong phát triển kinh tế từ rừng tại xã Tú Trĩ 52
PHẦN 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁO CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA RỪNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ 54
5.1 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ, huyện Bạch Thông 54
.5.1.1 Quan điểm-Mục tiêu 54
5.1.2 Một số giải pháp 55
5.2 Kết luận và kiến nghị 62
5.2.1 Kết luận 62
5.2.2 Kiến nghị 65
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa dịch vụ từ rừng như cây trồng, khai thác, vận chuyển sản xuất, chế biến lâm sản và cung cấp dịch vụ liên quan đến rừng Ngành lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh vực nông nghiệp Rừng góp phần quan trọng cho nông nghiệp và nông thôn phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và an ninh quốc phòng
Trong thời kỳ đổi mới, hòa cùng nhịp độ phát triển chung của đất nước, lâm nghiệp nước ta đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ từ nền lâm nghiệp truyền thống dựa vào khai thác rừng tự nhiên và sử dụng lực lượng kinh tế quốc doanh là chính, nay chuyển sang xây dựng nền lâm nghiệp
xã hội, huy động sự tham gia của toàn dân và các thành phần kinh tế nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng và chế biến lâm sản từ rừng trồng đáp ứng nhu cầu của xã hội và phục vụ xuất khẩu Nhà nước đang đẩy mạnh bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện còn, phủ xanh đất trống đồi trọc, đặc biệt la trồng rừng kinh tế, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng nhằm đưa lâm nghiệp trở thành ngành, nghề chính ở khu vực miền núi, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho người dân sống phụ thuộc vào rừng
Bạch Thông là một huyện phía bắc của tỉnh Bắc Kạn có vị trí địa lý thuận lợi, chỉ cách thị xã Bắc Kạn 18km đường bộ thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Huyện Bạch Thông với diện tích tự nhiên 54.649 ha Trong tổng quỹ đất 54.649 ha của huyện Bạch Thông thì đất đã sử dụng là 51.733,41 ha (chiếm 94, 66% diện tích đất tư nhiên) và đất chưa sử dụng là 2915,59 ha
Trang 9(chiếm 5,34 % diện tích đất tự nhiên) Trong tổng quỹ đất đã sử dụng là 51.733,34 ha thì đất lâm nghiệp là 46.742,3 ha (chiếm 85,53% diện tích đất tự nhiên) Với điều kiện thuận lợi và tiềm năng về đất lâm nghiệp như vậy ta có thể nhận thấy rừng và đất rừng ở Bạch Thông đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước phục
vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế của người dân đặc biệt là người dân tộc thiểu số có truyền thống sống dựa vào rừng và các sản phẩm từ rừng
Xã Tú Trĩ, Huyện Bạch Thông có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.345,72 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 1022,57ha chiếm 75,95% diện tích đất tự nhiên với dân số năm 2014 là 2054 người Trong nhiều năm qua được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, thông qua các Bộ ngành đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã trong đó lĩnh vực lâm nghiệp đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn của xã Tú Trĩ
Là một xã miền núi, diện tích đất nông nghiệp ít (206,08 ha chiếm 15,31% diện tích đất tự nhiên của xã) từ xưa đến nay rừng và những sản phẩm từ rừng (gỗ, củi, nấm, măng, hoa, quả ) đóng góp một vai trò trong việc cải thiện điều kiện sống của người dân phụ thuộc vào rừng nói riêng Tuy nhiên trong lĩnh vực lâm nghiệp hiện nay, phát triển rừng chủ yếu dựa vào vốn ngân sách nhà nước như các chương trình dự án 327, 661 với suất đầu tư còn thấp so với nhu cầu thực tế, cơ cấu đầu tư chưa cân đối, đầu tư nhiều cho rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ít chú trọng đến rừng sản xuất nên chưa đem lại hiệu quả kinh
tế như mong muốn Chưa huy động được các nguồn lực đầu tư nhân dân do người dân chưa hiểu chưa thấy được cần phải phát triển rừng bền vững như thế nào, sử dụng rừng như thế nào là hợp lý để đem lại hiệu quả kinh tế cao từ
đó nhằm cải thiện sinh kế của người dân sống dựa vào rừng
Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nâng cao vai
trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông
Trang 10tỉnh Bắc Kạn" để hiểu rõ thực trạng những đóng góp của việc phát triển kinh
tế từ rừng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng cũng như phát triển kinh tế của địa phương nói chung từ đó giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về vai trò của rừng và những lợi ích kinh tế mà rừng đem lại
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Thông qua phân tích được thực trạng vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ đặc biệt là để cải thiện đời sống của người dân sống phụ thuộc vào rừng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của xã Tú Trĩ nói riêng và huyện Bạch Thông nói chung
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa được cơ sở lý luận khoa học về rừng và vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Đánh giá được thực trạng vai trò của rừng trong việc phát triển kinh tế
hộ gia đình tại xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn
Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình và địa phương trong thời gian tới
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Từ thực trạng đóng góp về kinh tế rừng đối với đời sống của người dân, luận văn góp phần xác định mục tiêu nhiệm vụ và một số giải pháp nhằm khai thác sử dụng và phát triển có hiệu quả các nguồn lực từ rừng, tạo ra thu nhập
ổn định cho người dân sống phụ thuộc vào rừng trên địa bàn xã Tú Trĩ
Khóa luận là tài liệu tham khảo bổ ích cho quan chức năng có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện các chính sách khai thác sử dụng một cách
Trang 11hợp lý các nguồn lợi từ rừng trên địa bàn xã Tú Trĩ huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn
1.4 Kết cấu khoá luận
Khóa luận gồm có 5 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Các giải pháp nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh té hộ
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của phát triển kinh tế từ rừng
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Rừng và phát triển kinh tế từ rừng
Khái niệm về rừng
Có nhiều khái niệm khác nhau về rừng Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý Năm 1952, M.E Tcachenco đã phát biểu : Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học
và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài Năm 1972, I.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu (Bách khoa toàn thư- Tiếng Việt,2013)
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ ,tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Luật Bảo và phát triển rừng Việt Nam, 2004)
Từ các khái niệm trên có thể tổng hợp ra một khái niệm là: Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Quần xã sinh vật phải có diện tích lớn,giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết với nhau để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác
Trang 13Về phân loại rừng: có nhiều cách phân loại rừng
Phân loại theo chức năng sử dụng thì có 3 loại rừng:
Rừng đặc dụng: Là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường
Rừng sản xuất: Là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất kinh doanh
gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường
Phân loại rừng theo trữ lượng thì có:
Rừng giàu: Trữ lượng rừng trên 150m3 /ha
Rừng trung bình: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (100-150) m3 /ha Rừng nghèo: Trữ lượng rừng nằm trong khoảng (80-100) m3 /ha
Rừng kiệt: Trữ lượng rừng thấp hơn 50 m3 /ha
Phân loại rừng dựa vào tác đông của con người thì có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo
Phân loại dựa vào nguồn gốc thì có rừng chồi và rừng hạt
Phân loại rừng theo tuổi: Rừng non, rừng sào (là rừng bất đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ ), rừng trung niên và rừng già
Phát triển kinh tế rừng tại Việt Nam:
Theo số liệu thống kê của Viện điều tra và quy hoạch rừng Việt Nam, trước năm 1945 Việt Nam có 14 triệu ha rừng chiếm hơn 24% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1975 còn 7,8 triệu ha (23,6%), đến năm 1989 chỉ còn 6,5 triệu ha (19,7%) Tính đến ngày 31/12/2011, Việt Nam có tổng diện tích
Trang 14rừng là 13.515.064 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.285.383 ha và rừng trồng
là 3.229.681 ha Độ che phủ rừng toàn quốc là 39,7% (Theo Quyết định số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30 tháng 8 năm 2012)
Rừng Việt Nam là một kho tài nguyên vô cùng quý giá với 12.000 loài thực vật trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm
… Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc Chúng ta có 41 loài gỗ quí (nhóm 1) 20 loài gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3) …, loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha
Đó là chưa kể các loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao Hàng nghìn loài dược liệu quý để chữa bệnh và có giá trị cao (http://www.baomoi.com/13-trieu-ha-rung-bi-pha-huy-moi-nam/141/6220933.epi.)
Gỗ được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng và khai khoáng Ngoài ra gỗ còn được dùng làm văn phòng phẩm nhạc cụ, dụng cụ thể thao, đóng toa tầu,thuyền bè,xe cộ,bàn ghế, đồ dùng sinh hoạt …
“Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” (FAO,1999)
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loại thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu,cao su, tannin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,…
Trang 152.1.1.2 Sự phụ thuộc sinh kế của con người vào rừng
Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng trên toàn cầu, và rừng là nguồn cung cấp nhiều việc làm, góp phần vào
sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia va khu vực Qua thống kê cho thấy, 30% diện tích rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại-lâm sản ước đạt 327 tỷ USD/năm
Còn tại Việt Nam theo thống kê sơ bộ của các nghiên cứu trước đây thì
có khoảng 25 triệu người dân nông thôn ở Việt Nam sống ở các vùng rừng và gần rừng, và đời sống của họ phụ thuộc phần lớn vào rừng (RECOFTC, 2011) Đa số người dân sống phụ thuộc vào rừng là thuộc nhóm dân tộc thiểu
số sống trong và gần rừng ở các vùng núi cao dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn khó khăn Tuy nhiên, các quyền lợi của họ đối với tài nguyên rừng vẫn chưa được đảm bảo và tỷ lệ nghèo đói vẫn còn khá cao (UN-REDD 2008)
Rừng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững ở mỗi quốc gia Ngoài ra nó còn có vai trò trong việc đảm bảo môi trường đất, nước, khí hậu được trong sạch, giữ vững đa dạng dinh học Trong vùng có sự quản lý rừng chặt chẽ thì con người có thể khai thác các tiềm năng của rừng một các bền vững như các loại gỗ, tre nứa, động vật rừng, các loại cây dược liệu làm thuốc chữa bệnh Ngày nay con người còn biết sử dụng rừng làm các khu du lịch sinh thái như vườn quốc gia Ba Bể, vườn quốc gia Cúc Phương, Khu du lịch Cần Giờ, Vườn quốc gia U Minh Hạ
Từ các mô hình phát triển rừng hiệu quả đã làm cho đời sống dân cư ổn định Cùng với rừng người dân được nhà nước hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho ngươi dân
Trang 16Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập cho người dân Cây rừng được dân khai thác làm nguyên vật liệu Không chỉ ở trong nước, các sản phẩm còn được xuất khẩu ra thị trường ngoài làm tăng giá trị sản phẩm Vì vậy thu nhập của người dân cũng tăng lên Hoạt động du lịch mở rộng là nguồn thu nhập mới cho người dân Rừng mang lại thực phẩm, dược liệu tự nhiên có giá trị cho con người
Vì vậy có thể nói đối với đại bộ phận người dân Việt Nam còn sinh sống khá phụ thuộc vào rừng, rừng trở thành một yếu tố không thể tách rời với họ Chính vì thế mà chính phủ hiện nay rất đề cao việc bảo vệ rừng, khai thác rừng theo hướng bền vững để cuộc sống người dân ngày càng ổn định và nâng cao hơn
Hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý rừng nhất là quản lý quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng rừng, giao đất,giao rừng, kiểm kê, thống kê rừng đã được nâng cao một bước Nhà nước đã đẩy mạnh việc giao quyền sử dụng, sử dụng rừng ,khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài đến các chủ rừng qua đó thúc đẩy sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quản lý, bảo vệ rừng trong
đó có việc phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với lợi ích từ rừng
Điều này chứng tỏ người dân ngày càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của rừng đối với đời sống kinh tế của hộ gia đình, cùng với những chính sách vĩ mô của Nhà nước thì người dân lại càng có cơ sở và quyền hạn để bảo
vệ và khai thác rừng một cách hiệu quả mang lại nguồn lợi kinh tế bền vững
2.1.1.3 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ
Khái niệm về hộ: Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và
phát triển Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao để tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình
Trang 17và xã hội” Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “ Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
- Theo Liên hợp quốc “ Hộ là những người cùng chung sống chung dưới một mái nhà, cùng làm ăn và có chung một ngân quỹ”
-Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “ Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”
Đây mớ chủ yếu nêu lên khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau :
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của
hộ không phải cùng huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…)
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, Nhà nước,…
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù chung huyết thống bởi hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thế không phải là một đơn vị kinh tế
Trang 18(ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau)
Khái niệm kinh tế hộ: Từ các khái niệm về hộ như trên chúng ta có thể
rút ra được khái niệm Kinh tế hộ là tập hợp kinh tế mà các cá nhân trong tập hợp đó có mối quan hệ huyết thống hay một nhóm người chung sống với nhau, họ có mối quan hệ kinh tế với nhau và với bên ngoài
Đặc điểm kinh tế hộ: Kinh tế hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một
đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của các hộ biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa Trình độ này quyết định quan hệ của hộ gia đình đối với thị trường Các hộ ngoài hoạt động nông nghiệp và công chức còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp (sản xuất hàng hóa, dịch vụ tiểu thủ công
nghiệp) với các mức độ khác nhau
- Về nhân lực: Thành phần kinh tế hộ chủ yếu sử dụng nguồn nhân lực
tự có Đây là nguồn nhân lực ở qui mô gia đình được huy động để tăng gia sản xuất Một số hộ sản xuất hàng hóa có thuê lao động vào lúc thời vụ hoặc thuê lao động thường xuyên nếu có qui mô sản xuất lớn
- Về qui mô sản xuất: Thành phần kinh tế hộ sản xuất sản phẩm, dịch
vụ với qui mô nhỏ, qui mô ở mức gia đình và trang trại la chủ yếu Do điền kiện về nguồn sống và khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường nên
hộ sản xuất thường khó mở rộng được qui mô
- Về ngành nghề: Thành phần kinh tế hộ hoạt động sản xuất kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực, với nhiều ngành nghề rất đa dạng và phong phú bao gồm sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thậm chí có nhiều hộ còn tham gia hoạt động sản xuất cả trong lĩnh vực công nghiệp như công nghiệp may mặc, xây dựng cơ bản…
Trang 19- Về khả năng quản lý: Khả năng quản lý và tổ chức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được tích lũy trong cuộc sống Người chủ gia đình thống nhất quản lý mọi yếu tố từ nguyên vật liệu, sản xuất tới tiêu dùng và tiêu thụ
Vai trò của kinh tế hộ:
Kinh tế hộ ở Việt Nam có vai trò và ý nghĩa to lớn, vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phát điểm thấp, kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến Đây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hiện nay, kinh tế hộ không phải là một thành phần kinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất.Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp Kinh tế hộ gia đình hiện nay đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh…
2.1.2 Vai trò của rừng đối với sự phát triển kinh tế hộ gia đình
2.1.2.1 Tạo công ăn việc làm cho người lao động
Việc quy hoạch và phát triển bền vững rừng của chính phủ gần đây bằng các công tác giao đất giao rừng để các thành phần quản lý trong đó có kinh tế hộ hàng triệu việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
Trang 20cho các hộ canh tác rừng từng bước làm giàu trên chính đất rừng được giao Lợi ích của trồng rừng là tạo việc làm và thu nhập cho người dân ở các xã vùng sâu vùng xa vùng người dân đã có điều kiện làm chủ trên diện tích đất rừng, làm giàu từ rừng Trong đó, các dự án do Nhà nước phát động đã tạo ra hàng triệu việc làm với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010
đã tạo việc làm cho 4,6 triệu lao động, trồng mới 2,45 triệu ha rừng và mang lại hiệu quả lớn về kinh tế , môi trường
Năm 2010, tại tỉnh Lai Châu, sau 5 năm chương trình thí điểm khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ rất xung yếu, toàn tỉnh đã thực hiện bảo vệ 45.813
ha rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh với tổng diện tích 58.990,2 ha, đã có 35.350 ha rừng mới được tạo thành, diện tích chuyển trạng thái nhưng chưa thành hơn 5.200 ha qua đó chương trình đã tạo việc làm ổn định cho hơn 11.428 hộ tại 21 xã biên giới trên địa bàn 3 huyện Phong Thổ, Sìn Hồ và Mường Tè, góp phần giảm số hộ nghèo trên địa bàn khu vực thực hiện chương trình từ 60% ( năm 2006) xuống còn 33.46%?(năm 2010)
Còn tại tỉnh Quảng Ngãi, huyện miền núi Ba Tơ hiện có khoảng 52.000 người đang sinh sống tại 20 xã thị trấn, trong đó 85% dân số là người H’rê Với gần 97.280 ha đất rừng, chiếm gần 86% diện tích đất tự nhiên, trong đó, rừng phòng hộ có hơn 37.400 ha, rừng sản xuất gần 60.000 ha Với sự hỗ trợ của công ty Lâm nghiệp Ba Tơ lo từ giống, phát dọn, đào hố đến trồng cây, người dân lo chăm sóc bảo vệ, tổng đầu tư khi trồng đến khi thu hoạch trả cho dân 10 triệu đồng/ ha rừng sản xuất Sau 7 năm từ trồng đến thu hoạch, trừ chi phí cho mỗi hộ dân khoán rừng cũng có lãi từ 20 đến 25 triệu đồng/ha Nhờ việc phát triển rừng, hằng năm có 12.000 đến 13.000 lao động tại địa phương được tạo việc làm…
Trang 212.1.2.2 Tạo ra nguồn thu nhập từ rừng
Với chủ trương giao đất rừng cho người dân thì các hộ dân được giao đất, giao rừng đã tích cực tham gia phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng Việc sở hữu một diện tích đất nhất định làm cho người dân chủ động hơn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình, có những hộ nhờ đó mà vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo đói, làm giàu cho hộ và tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn
Tại Hà Nội thì năm 2013, sở NN&PTNT đã làm báo cáo quy hoạch bảo
vệ và phát triển rừng Hà Nội, quy hoạch nhằm bảo vệ toàn bộ diện tích đất rừng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao từ trồng rừng, phát triển du lịch sinh thái, nâng mức thu nhập trên 1ha đất lâm nghiệp từ 10-15 triệu đồng/ha/năm hiện nay lên 40-60 triệu đồng/ha/năm vào năm 2020, giải quyết việc làm cho 10.000-15.000 lao động Với mức thu nhập này, người dân ở đây có mức thu nhập bình quân dự báo của Việt Nam năm 2020 là 3000 USD (Theo đề án nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia)
2.1.3 Những yếu tố tác động đến thu nhập của người dân từ rừng
2.1.3.1 Cơ sở hạ tầng
Muốn quản lý và khai thác một yếu tố nào đó có hiệu quả thì phải có cơ
sở hạ tầng kèm theo nó Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được xác định là yếu
tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển của ngành lâm nghiệp Hay nói cách khác là muốn phát triển lâm nghiệp xã hội bền vững thì cần phải đảm bảo các diều kiện về giao thông, cầu, cống và các hạng mục liên quan Trong lâm nghiệp thì cần có các hệ thống trạm bảo vệ, chòi canh rừng, đường băng cản lửa…trong tình hình nước ta vẫn còn khó khăn thì việc đầu tư cho cơ sở
hạ tầng riêng cho lâm nghiệp còn rất hạn chế
Trang 222.1.3.2 Yếu tố về nguồn lực đầu tư
Tài chính thiếu hụt và không ổn định thực tế đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý, bảo tồn rừng trong bối cảnh sức ép của hoạt động phá rừng trái phép ngày càng gia tăng
Tuy nhiên gần đây Chính Phủ Việt Nam đã có những chuyển biến ích cực trong chính sách và cả thực hiện các giải pháp trong vấn đề bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn “Quyết định 57/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020” được chính phủ phê duyệt ngày 9/01/2012, tổng vốn đầu tư và vốn sự nghiệp từ ngân sách Nhà nước cho chính sách này khoảng 14.067 tỷ đồng, chiếm 28,5%(bảng 1.2) Trong chính sách này các Ban quản lý rừng tăng tính chủ động hơn, gắn trách nhiệm của người sử dụng lợi ích với việc đầu
tư phát triển và bảo vệ rừng, giảm biên chế Nhà nước, huy dộng các thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ phát triển rừng và khuyến khích vai trò của cộng đồng
Bảng 2.1 Nguồn vốn trong bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
tổ chức quốc tế
Huy động các nguồn tài chính hợp khai thác, bao gồm nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng, thuế tài nguyên rừng…
Trang 232.1.3.3 Cơ chế chính sách của nhà nước về lâm nghiệp
Nhà nước Việt Nam hiện nay đã ban hành hàng loạt các quy định về quản lý rừng ngày càng chặt chẽ hơn và rõ rang hơn Trong đó có các điều luật và quy định như:
Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 23/12/2004 ra đời đã cơ bản thể hiện sự đồng bộ trong công tác điều hành của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, quy định quyền và nghĩa vụ chủ rừng Đưa ra các khái niệm mới như: Chủ rừng, quyền sử dụng rừng, quyền đăng kí sử dụng rừng…
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020
Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-20015 Theo đó Nhà nước khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, các nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng và chế biến lâm sản theo quy định của pháp luật về bảo vệ
và phát triển rừng
Ngoài ra còn có rất nhiều quy định, văn bản pháp luật về quản lý nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp như Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng, Quyết định số 73/2010/QD-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh
2.1.3.4 Đất đai, tài nguyên rừng, đa dạng sinh học
Muốn có được một sản phẩm từ hoạt động lâm nghiệp thì cần có rất nhiều yếu tố liên quan, trong đó có tài nguyên đất đai, rừng, đa dạng sinh học…Ở Việt Nam có rất nhiều các sinh vật, loài động vật quý hiếm, có giá trị
Trang 24kinh tế cao, một số dùng làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, làm vật liệu xây dựng, thức ăn chăn nuôi như:
Nhóm dùng làm dược liệu bao gồm các cây như: sa nhân, củ mài, củ nâu, lá lốt…làm thuốc chữa bệnh rất tốt
Nhóm lương thực, thực phẩm: măng giang, măng tre, rau ngót rừng, tai chua đây là những món ăn quen thuộc của đồng bào dân tộc thiểu số và cũng
là nguồn thu nhập khá lớn cho họ
Nhóm cho củi đun: hầu như loại cây nào cũng có thể làm nhiên liệu chất đốt, đây cũng là một phần thu nhập khá lớn của người dân, một phần bán
2.1.3.5 Phong tục tập quán, trình độ học vấn chuyên môn, khoa học kỹ thuật của hộ gia đình, khả năng tiếp cận thông tin của hộ gia đình
Một trong những yếu tố tác động đến thu nhập của người dân từ rừng là phong tục tập quán, trình độ học vấn chuyên môn, khoa học kỹ thuật của hộ gia đình, khả năng tiếp cận thông tin của hộ gia đình Có một số bộ phận người dân họ chưa nhận thức được việc bảo vệ và khai thác rừng, không có trình độ về quản lý rừng nên khai thác bừa bãi Trái phép mục đích là lấy nguyên liệu chất đốt, lấy than, xây dựng…với đa phần người dân nhận thức kém về việc trồng và bảo vệ rừng thì họ khó có thể quyết đoán họ sẽ trồng cây
Trang 25gì, trồng như thê nào cho thích hợp Do đó rất nhiều hộ nhận được đất rừng
mà nhà nước giao cho nhưng vẫn loay hoay không biết sử lý như thế nào nếu không có sự chỉ đạo của cấp trên Ngoài ra , khả năng tiếp cận thông tin, áp dụng KHKT trong trồng rừng của các hộ gia đình ảnh hưởng không nhỏ đến việc khai thác rừng hợp lý
2.1.4 Những thu nhập từ rừng
Hầu hết các sản phẩm từ rừng đều có khả năng mang lại thu nhập cho người dân dưới dạng khai thác lâm sản gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đó là thu nhập trực tiếp Loại hình thu nhập gián tiếp là các hoạt động mua bán trao đổi kinh doanh, phân phối tăng các giá trị thặng dư Các dự án trồng rừng tạo ra thu nhập từ việc làm cho người lao động.Chăn nuôi trên đất rừng cũng là một nguồn thu nhập đáng kể và gần đây các hoạt động du lịch được mở rộng là nguồn thu nhập mới cho người dân
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ
2.2.1 Vai trò, đóng góp của rừng trong phát triển kinh tế của một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế rừng của Trung Quốc
Tiến sĩ Xie Hesheng- Học viên lâm nghiệp Trung Quốc giới thiệu chính sách cải cách ruộng đất ở Trung Quốc Người nông dân làm lâm nghiệp được trao quyền sử dụng đất (sổ xanh) có thời hạn tới 70 năm, diện tích đủ lớn để nông dân có thể vay vốn và đủ chu kỳ khai thác gỗ Quyền sở hữu đất chỉ được trao cho tập thể Chính sách người sản xuất kinh doanh rừng cơ bản xoay quanh luật Hợp tác xã năm 2007 Hiện Trung Quốc có khoảng 15.000 Hợp tác xã, một số Hiệp hội và công ty liên doanh, công ty cổ phần lâm nghiệp Các Hợp tác xã đạt chứng chỉ FSC có mức giá bán sản phẩm cao hơn 10% so với sản phẩm cùng loại Có thể khẳng định, việc kết nối các tổ chức của những người sản xuất rừng từ cộng đồng đã tạo sự gắn bó và hợp tác tốt
Trang 26hơn giữa các thành viên, qua đó góp phần nâng cao đời sống của người dân gắn với rừng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu Đây là bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh lâm nghiệp hiệu quả, bền vững từ cấp độ cộng đồng, địa phương đến quốc gia, quốc tế
2.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế từ rừng của Cộng hòa Liên Bang Đức
Rừng tự nhiên ở nước Đức đã bị tàn phá hoàn toàn cách đây trên 200 năm Khi mất rừng, người Đức đã thức tỉnh rừng có giá trị cao như thế nào đối với cuộc sống của họ và các thế hệ con cháu mai sau, đó là lý do người Đức khôi phục lại rừng Ngày nay, Đức đã có 11,1 triệu ha rừng, chiếm 31% diện tích của cả nước với 3 hình thức sở hữu là nhà nước, cộng đồng và tư nhân.Trữ lượng bình quân 317 m3/ha, lượng tăng trưởng bình quân của rừng
là 11m3/ha/năm, sản lượng bình quân khai thác là 6m3/ha/năm.Mang lại doanh thu bình quân cho người dân tham gia lâm nghiệp là 69.500 EUR/năm (tương đương 1,92 tỷ VNĐ)
(http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/135/135/135/100280/Default.aspx) Qua đó ta thấy nguồn lợi khai thác từ rừng là vô tận nếu có chính sách
và biết cách tận dụng
2.2.2.Vai trò, đóng góp của rừng trong phát triển kinh tế ở một số địa phương ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hòa Bình
Tỉnh miền núi Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên hơn 460.869 ha, trong đó đất lâm nghiệp 332.813 ha, chiếm 72,21%; lao động nông - lâm nghiệp 391.500 người chiếm trên 71% tổng số lao động, đây là tiềm năng lớn
để phát triển sản xuất lâm nghiệp Hệ thống khu vực rừng phòng hộ xung yếu ven hồ thủy điện Hòa Bình được quy hoạch trên 56.000 ha, gồm 16 xã của ba huyện Mai Châu, Tân Lạc và Đà Bắc
Trang 27Hàng năm Hòa Bình đưa vào kế hoạch bảo vệ 75.000 ha rừng tự nhiên
và rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh khoảng 2.500 ha, chăm sóc rừng trồng gần 13.000 ha, trồng mới từ 7.000 đến 8.000 ha rừng kinh tế Năm 2014, độ che phủ rừng của Hòa Bình đạt 49,4%, tăng 6,4% so với năm 2005, góp phần bảo
vệ môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai, lũ lụt
Đặc biệt, việc trồng rừng kinh tế ở các địa phương đã góp phần giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập, xóa đói - giảm nghèo cho hàng vạn hộ nông dân, nhất là đồng bào các dân tộc Nếu như các năm trước đây, người dân hoàn toàn trông chờ vào các dự án trồng rừng của Nhà nước, thì nay nhiều hộ dân trong tỉnh đã tự bỏ vốn hoặc vay vốn ngân hàng để trồng rừng kinh tế, cả tỉnh có trên 1.000 trang trại rừng quy mô vừa và nhỏ cho thu nhập
từ 50-60 triệu đồng/năm
2.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Như Thanh-tỉnh Thanh Hóa
Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền huyện Như Thanh đã có nhiều giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo để nhân dân phát triển kinh tế đồi rừng, đưa kinh tế đồi rừng trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế của địa phương Nhờ vậy, kinh tế của huyện có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân được cải thiện, nhiều hộ gia đình thoát nghèo và vươn lên làm giàu
Đến thăm mô hình kinh tế đồi rừng của gia đình bác Lê Khả Luyện, ở thôn Đồng Nghiêm, xã Mậu Lâm, được biết: Trước đây, kinh tế gia đình rất khó khăn, thuộc hộ nghèo của xã Năm 1995, gia đình bác đã mạnh dạn nhận
3 ha đồi rừng, trong đó đầu tư trồng 2 ha cây keo nay đã đến tuổi cho thu hoạch, diện tích còn lại trồng mía nguyên liệu, đồng thời chăn nuôi thêm lợn,
gà, ếch, cá, mỗi năm trừ chi phí thu lãi gần 70 triệu đồng, tạo việc làm cho 3 lao động
Trang 28Còn gia đình chị Lò Xuân Hòa, ở thôn Xuân Tiến, xã Xuân Khang trước đây cũng là hộ nghèo, nhưng được tuyên truyền, vận động, gia đình chị
đã nhận 11 ha đất bãi, đất đồi để cải tạo, sản xuất, vươn lên thoát nghèo Hiện nay, với 3 ha trồng mía, 3 ao cá, 8 ha trồng keo bình quân mỗi năm sau khi trừ chi phí gia đình chị thu từ 100 đến 120 triệu đồng Hàng năm, vào vụ trồng hoặc thu hoạch mía, chị còn tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 10 lao động là phụ nữ trong xã
2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn
Qua các nghiên cứu lý luận và thực tiễn tôi rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm để hoàn thành tốt nghiên cứu “ Nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn” của tôi
Đó là muốn phát triển kinh tế rừng cần phải có những giải pháp đồng bộ từ chính sách kinh tế vĩ mô đến sự tham gia trực tiếp của các hộ gia đình Nhà nước cũng như người dân không thể hoàn thành tốt việc phát triển kinh tế rừng nếu không có sự phối hợp cộng tác hai bên
Về Nhà nước, các chính sách cần hướng các hộ gia đình sống bằng kinh tế rừng gắn chặt lợi ích với diện tích rừng mà họ được sử dụng, tránh trường hợp không rõ ràng trong quyền sở hữu và quyền đầu tư khai thác Từ
đó sẽ khuyến khích các hộ gia đình tích cực vận động, tìm kiếm các phương
án phát triển kinh tê một cách hiệu quả Ngoài ra các hộ gia đình còn phải có nghĩa vụ đóng thuế đối với nhà nước, điều này hỗ trợ cho địa phương một cách bền vững
Về phía các hộ gia đình cần tìm kiếm các giải pháp để tăng cao hiệu quả kinh tê trên diện tích rừng đươc Nhà nước giao, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu thời gian đầu tư, tăng thu nhập cho gia đình, có kinh nghiệm trong sản xuất và có ý thức bảo vệ rừng,
Vì vậy, có thể nói mối quan hệ giữa các chính sách Nhà nước và các hộ gia đình trong phát triển kinh tế nói chung và kinh tế rừng nói riêng là không thể tách rời
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những hộ dân sinh sống trên địa bàn có nguồn thu nhập từ rừng
- Tài nguyên rừng và phát triển rừng đặc biệt là rừng trồng sản xuất của
Tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ ở xã Tú Trĩ, huyện Bạch Thông
- Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò của rừng đối với phát triển
kinh tế- xã hội ở địa phương
- Đánh giá vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Xã Tú Trĩ
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Đóng góp của rừng đối với thu nhập của các hộ như thế nào?
2 Rừng góp phần cải thiện sinh kế của các hộ gia đình như thế nào?
3 Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ có những thuận lợi và khó khăn gì?
Trang 304 Những giải pháp nào góp phần nâng cao vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ?
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo các hộ chuyên sản xuất trồng lâm nghiệp
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu nhập thông tin thứ cấp
+ Thu nhập thông tin từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết, các bài viết có liên quan đến kinh tế lâm nghiệp
+ Thu nhập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND
xã, huyện, phòng tài nguyên môi trường, phòng nông nghiệp, thu nhập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet…
- Thu thập thông tin sơ cấp
+ Phương pháp quan sát: là phương pháp qua quan sát trực tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu
+ Điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp tin tìm hiểu quy mô, xác định tiềm năng cơ hội, những thuật lợi và khó khăn, lợi nhuận từ sản xuất lâm nghiệp
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: là phương pháp thu phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi đã được xây dựng sẵn, nhằm tìm hiểu từ thu nhập từ lâm nghiệp và mức sống của người dân tại địa bàn Những chính sách của nhà nước đã và đang thực hiện tác động đến sản xuất lâm nghiệp đời sống, những thuận lợi khó khăn khi thực hiện các chính sách đó
+ Chọn 3 thôn trong xã: thôn Quan Làng, thôn Pác Kéo, thôn Bản Mới.Tổng số phiếu điều tra ở 3 thôn là 60 phiếu
Trang 31+ Phiếu điều tra các nội dung về tình hình sản xuất kinh tế lâm nghiệp tại địa phương trong những năm qua và những định hướng và giải pháp trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh công tác phát triển kinh tế từ rừng,nâng cao đời sống tinh thần cho các hộ trong xã Tú Trĩ
3.4.3 Phương pháp tổng hợp thông tin
Phương pháp thống kê sử dụng bảng tính Excel, Word để thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, phân tích tài liệu theo mục đích nghiên cứu
3.4.4 Phương pháp phân tích , đánh giá thông tin
a) Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện
tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này dùng để mô tả quá trình phát triển kinh tế từ rừng của địa phương
b) Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này nhằm chỉ rõ
nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu Được sử dụng trong nghiên cứu để so sánh sự biến động cũng như xu hướng phát triển kinh tế từ rừng và biện pháp nâng cao hiệu quả
3.4.5 Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp này được áp dụng trong đề tài để thấy được các thuận lợi, khó khăn, những cơ hội và thách thức hiện nay trong phát triển kinh tế rừng của xã Tú Trĩ trong giai đoạn này và hướng tới tương lai
3.4.6.Phương pháp minh họa bằng biểu đồ, hình ảnh
Phương pháp biểu đồ, đồ thị được ứng dụng để thể hiện mô tả một số
số liệu hiện trạng và kết quả nghiên cứu
Toàn bộ số liệu sau điều tra và thu thập được lưu giữ và xử lý bằng phần mềm Excel
Trang 323.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu vai trò của rừng trong phát triển kinh tế
3.5.1 Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế địa phương
- Đóng góp về mặt kinh tế trong tỷ trọng cơ cấu ngành nghề của xã Tú Trĩ (%)
- Tỷ lệ lao động tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ rừng của xã Tú Trĩ (%)
Tỷ lệ K (%) = Lao động lâm nghiệp
x 100%
Lao động
3.5.2.Vai trò của rừng trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Đánh giá về các nguồn lực của hộ trong điều tra
+ Đất đai (ha/hộ gia đình)
+ Lao động (người/hộ gia đình)
- Đánh giá về thu nhập của các hộ gia đình từ rừng năm 2014
+ Tổng thu nhập từ lâm nghiệp (tính trong 1 năm): Gồm toàn bộ thu nhập của hộ dân từ rừng
Thu nhập LN = ∑ các khoản thu từ lâm nghiệp + Chi phí từ lâm nghiệp (tính trong 1 năm):
Chi phí LN = ∑ các khoản chi cho lâm nghiệp + Lợi nhuận từ lâm nghiệp (tính trong 1 năm):
LNLN =∑ khoản thu từ lâm nghiệp - ∑ chi lâm nghiệp + Tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp: Là tỷ số % giữa tổng thu từ lâm nghiệp trên toàn bộ thu nhập của gia đình, được tính :
Tỷ lệ TN (%) =
Thu nhập lâm nghiệp
x 100%
TN
Trang 33+ Tỷ lệ thu nhập từ rừng đặc dụng, phòng hộ: Là tỷ số % giữa tổng thu nhập từ rừng đặc dụng, phòng hộ trên tổng thu nhập của gia đình từ lâm nghiệp, đƣợc tính:
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Tú Trĩ là xã nằm ở phía Bắc huyện Bạch Thông gồm 11 thôn, giáp trung tâm huyện lỵ, cách thị trấn Phủ Thông 3km Theo sơ đồ địa giới hành chính 364, xã Tú Trĩ có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp: xã Vi Hương
- Phía Nam giáp: xã Tân Tiến, xã Lục Bình
- Phía Tây giáp: xã Lục Bình
- Phía Đông giáp: xã Phương Linh, thị trấn Phủ Thông
Địa hình xã Tú Trĩ không bằng phẳng, phần lớn là núi cao, giữa là những cánh đồng nhỏ hẹp chạy dọc suối Vi Hương, Hoàng Phai và các suối, khe theo đồi núi, độ dốc lớn Độ cao trung bình từ 100m đến 1100m
4.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn, xã Tú Trĩ mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi vùng cao phía bắc, nhiệt độ gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ thấp nhất xuống tới 5°C, nhiệt độ trung bình năm 21.5°C và cao nhất lên đến 37°C Lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa trong năm, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 4 đến tháng
10 lượng mưa lớn nhưng không đều thường tập trung vào tháng 7, 8, 9 chiếm tới 80 – 85%, lượng mưa cả năm Mưa lớn tạo nên lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, đời sống sinh hoạt của người dân Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, màu này thường có gió màu đồn bắc, thời tiết khô hanh,
ít mưa gây hạn hán, rét đậm kéo dài, xuất hiện băng giá và sương muối gây nhiều khó khăn cho sản xuất và chăn nuôi tại địa phương Xã có suối Vi
Trang 35Hương và Hoàng Phai chảy qua, đây là suối chính có lưu lượng nước chảy phụ thuộc theo mùa, mật độ thủy văn đa dạng và phong phú Hệ thống sông, suối, khe
là nguồn nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
4.1.1 3 Đất đai
Diện tích và cơ cấu đất đai xã Tú Trĩ ở bảng 3.1:
Bảng 4.1: Cơ cấu diện tích đất xã Tú Trĩ năm 2014
(Nguồn: UBND xã Tú Trĩ năm 2014)
Trang 36Qua số liệu tại bảng 4.1 ta thấy, xã Tú Trĩ có tổng diện tích đất tự nhiên
là 1.345,72 ha Diện tích đất nông nghiệp là 1.234,72 ha chiếm 91,75 % tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất trồng cây hằng năm chỉ có đất trồng lúa
là 168,21 ha chiếm 12,49% ; đất trồng cây lâu năm là 37,87 ha chiếm 2,81% Đất lâm nghiệp là 1022,01 ha chiếm 75,95% diện tích đất nông nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản là 6,65ha chiếm 0,53%
Diện tích đất phi nông nghiệp của xã là 44,57 ha chiếm 3,58% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, đất ở là 9,61 ha chiếm 0,77% diện tích phi nông nghiệp; đất chuyên dùng là 15,74 ha chiếm 1,42% diện tích đất phi nông nghiệp; đất nghĩa trang, nghĩa địa là 0,31 ha chiếm 0,02 % đất phi nông nghiệp; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 18,91 ha chiếm 1,52% diện tích đất phi nông nghiệp
Diện tích đất chưa sử dụng của xã là 66,41 ha chiếm 5,33% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 34,20ha chiếm 2,75% diện tích đất chưa sử dụng; đất đồi núi chưa sử dụng là 32,21ha chiếm 2,59% diện tích đất chưa sử dụng Vấn đề đặt ra của xã là làm thế nào để trong những năm gần đây nhất diện tích đất chưa sử dụng sẽ giảm tới mức tối thiểu
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 37Số lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, trong khi đó sản xuất nông nghiệp thì trồng trọt lại là chính và theo thời vụ Do đó, số lao động thiếu việc làm trong những ngày nông nhàn khoảng 45-50% Đây là áp lực không nhỏ đối với chính sách phát triển kinh tế xã hội và giải quyết việc làm của địa phương
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng