hoặc do vi khuẩn như là: Hemophilus Influenzae, liên cầu, phế cầu...Bệnh tích do các vi sinh vật nêu trên gây ra thường là xung huyết, phù nề có khi có dịch mủ hoặc có những ổ trợt loét
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm thanh quản - VTQ (laryngitis) nói chung là tình trạng bệnh lí ở thanh quản do các loại vi sinh gây ra bao gồm: viêm thanh quản do virus, viêm thanh quản do vi khuẩn và viêm thanh quản do kí sinh trùng VTQ có thể tiến triển cấp tính trong thời gian ngắn (dưới 3 tuần) được gọi là VTQ cấp (acute laryngitis), VTQ có thể diễn biến kéo dài (trên 3 tuần) gọi là VTQ mạn tính (chronic laryngitis) [1]
VTQ cấp có biểu hiện lâm sàng khác nhau theo lứa tuổi mắc bệnh nên được chia ra VTQ cấp ở trẻ em và VTQ cấp ở người lớn, ngoài ra còn gặp VTQ thứ phát thường xuất hiện sau các bệnh: thương hàn, thấp khớp, viêm họng vincent, aptơ
VTQ mạn tính được chia ra VTQ mạn tính xuất tiết thông thường, VTQ thứ phát, VTQ nghề nghiệp và VTQ đặc hiệu [4]
VTQ giai đoạn đầu thường do các vi sinh gây ra, nguyên nhân có thể là
do virus như virus cúm hoặc á cúm hoặc do vi khuẩn như là: Hemophilus Influenzae, liên cầu, phế cầu Bệnh tích do các vi sinh vật nêu trên gây ra thường là xung huyết, phù nề có khi có dịch mủ hoặc có những ổ trợt loét nông hoặc có những tổn thương xơ hóa ở vùng thanh quản sau đó những tổn thương này không thoái lui mà tiến triển kéo dài trở thành mạn tính
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, thời tiết thay đổi liên tục nên dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, đặc biệt là bệnh lí đường hô hấp trên nên tỉ lệ mắc viêm thanh quản mạn tính trẻ em có xu hướng ngày càng gia tăng
Việc khám, đánh giá tổn thương ở thanh quản trẻ em thường không dễ dàng
vì không có sự hợp tác, có thể xảy ra các phản xạ co thắt thanh quản làm khó thở, ngạt thở nên trước đây chẩn đoán viêm thanh quản trẻ em chủ yếu dựa vào triệu chứng cơ năng hoặc soi thanh quản trực tiếp
Trang 2Ch¬ng 1 tæng quan
1.1 SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU THANH QUẢN.
Thanh quản thuộc hệ thống hô hấp trên của cơ thể, liên tiếp với hạ họng (phía trên) và khí quản (phía dưới), chia làm 3 phần: thượng thanh môn, thanh môn
và hạ thanh môn.
Hình 1.1a: Thanh môn ở tư thế mở
[Trích từ www.ykhoanet.com]
Hình1.1b: Thanh môn ở tư thế khép
[Trích từ www.ykhoanet.com]
- Thượng thanh môn: từ đường vào thanh quản tới bình diện ngang qua mặt trên dây thanh với tiền đình thanh quản (ở trên) và buồng thanh quản (ở dưới) Bao gồm: mặt thanh quản sụn nắp thanh thiệt, bờ tự do sụn nắp thanh thiệt, nẹp phễu thanh thiệt, sụn phễu, băng thanh thất và buồng Morgagni
- Thanh môn: nơi hẹp nhất của thanh quản, liên tiếp tầng trên thanh môn đến phía dưới bờ tự do dây thanh khoảng 5 mm, gồm dây thanh, mép trước và mép sau
- Hạ thanh môn: tiếp theo tầng trên thanh môn đến bờ dưới sụn nhẫn Tầng này tương ứng vị trí sụn nhẫn
Trang 3Thành phần chủ yếu cấu tạo thanh quản: sụn, cơ, màng thần kinh, mạch máu.
Các sụn thanh quản: sụn giáp, sụn nhẫn, sụn nắp thanh môn, sụn phễu,
sụn sừng, sụn chêm
Hình 1.2: Cấu trúc sụn thanh quản [2]
Các khớp thanh quản:
Khớp nhẫn giáp: là khớp giữa sừng dưới sụn giáp với mặt khớp ở hai bên mảnh sụn nhẫn
Khớp nhẫn phễu: là khớp giữa mặt khớp phễu ở bờ trên mảnh sụn nhẫn với đáy sụn phễu
Các cơ thanh quản:
-Cơ căng thanh quản: cơ nhẫn giáp kéo sụn giáp về phía trước và dưới làm dây thanh kéo căng ra trước Mỗi bên thanh quản có có một cơ nhẫn giáp
- Cơ mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau có tác dụng mở thanh môn Mỗi bên thanh quản có một cơ nhẫn phễu sau.
Hình 1.3: Tác dụng của cơ nhẫn phễu
sau [2]
Hình 1.4: Tác dụng của cơ nhẫn
giáp [2]
Trang 4- Cơ khép thanh môn: bao gồm cơ nhẫn phễu bên, cơ giáp phễu, cơ liên phễu Trong động tác phát âm, các nhóm cơ phối hợp hoạt động làm đóng, khép khe thanh môn và căng dây thanh Đồng thời kết hợp luồng thở
từ phía dưới đi qua để tạo ra rung thanh.
Hình 1.5a: Tác dụng của cơ nhẫn phễu bên [2]
Hình 1.5b: Tác dụng của cơ liên
phễu [2]
Hình 1.5c: Tác dụng của cơ giáp
phễu [2]
Tất cả các cơ này được chi phối bởi thần kinh thanh quản dưới (nhánh của dây X) trừ cơ nhẫn giáp do thần kinh thanh quản trên chi phối
1.2 ĐẶC ĐIỂM THANH QUẢN TRẺ EM:
- Thanh quản trẻ em có cấu trúc rất nhỏ, lại mềm yếu
- Thanh quản của trẻ em phản ứng rất mạnh, dễ bị co thắt, và trẻ càng nhỏ bao nhiêu thì thanh quản càng phản ứng mạnh bấy nhiêu, như để cho sữa, nước khỏi tràn vào đường thở
Trang 5- Thanh quản trẻ em không phải là sự rút bớt, thu hẹp của thanh quản người lớn Nó có hình thái đặc biệt là hình cầu TQ trẻ em, khi sinh ra chỉ bằng 1 phần ba thanh quản người lớn, nó dần dần phát triển đến ba tuổi Từ 3 tuổi đến dậy thì, thanh quản ở nam giới tăng gấp đôi, thanh quản ở nữ giới tăng gấp rưỡi [3]
1.3 VTQ MẠN TRẺ EM:
1.3.1.Định nghĩa:
VTQ mạn là tình trạng viêm mạn tính lớp niêm mạc thanh quản, thời gian kéo dài trên 3 tuần, quá trình này có thể dẫn tới quá sản, loạn sản hoặc teo niêm mạc thanh quản
1.3.2 Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân:
Là một bệnh thường gặp do rất nhiều yếu tố thuận lợi:
-Thường hay gặp ở trẻ em từ 5 đến 10 tuổi, trẻ nhỏ hơn thường gặp VTQ cấp hơn là mạn
-Do bệnh lý viêm nhiễm đường hô hấp mạn tính như viêm họng, viêm V.A, viêm mũi, viêm xoang, viêm amydan
- Do sử dụng giọng nói qúa sức, nói to, nói nhiều, cố nói khi đang VTQ cấp
-Do dị ứng với các chất kích thích thường xuyên, làm việc trong môi trường có nhiều khói bụi
-Do bệnh rối loạn chuyển hóa toàn thân: Goutte, đái tháo đường
- Do khói thuốc lá, rượu và các chất kích thích khác thường là thói quen trong sinh hoạt
- Khí hậu ẩm ướt, thay đổi quá nhiều nhiệt độ trong ngày, một số nghề nghiệp làm việc ngoài trời, nghề nấu ăn, làm thủy tinh
1.3.3 Tổn thương mô bệnh học:
- Trong giai đoạn đầu niêm mạc bị xung huyết, các tế bào trụ mất lông chuyển và biến thành tế bào dẹt
Trang 6- Sang giai đoạn sau, biểu mô bị thoái hóa, trở nên dẹt ở nơi bị che kín và dày ở những nơi bình thường có biểu mô lát [1]
- Lớp đệm có phù khu trú hoặc lan tỏa, luôn là dấu hiệu quan trọng của viêm, làm cho vùng tổn thương bị phồng và sưng (đặc trưng của phù Reinke) Phù thường kèm theo các tế bào viêm như lympho, tương bào trong trường hợp viêm cấp nặng có bạch cầu đa nhân trung tính Các mạch máu thường bị giãn hoặc tăng sinh làm cho niêm mạc có mầu đỏ Nếu viêm kéo dài mô sợi hình thành làm cho dây thanh chai cứng Các tuyến ở lớp đệm cũng bị viêm nhưng ít biến đổi về hình thái
1.3.4 Các thể lâm sàng:
1.3.4.1 VTQ mạn tính thông thường:
Viêm thanh quản mạn tính là hậu quả của VTQ cấp tính tái phát nhiều lần, cứ sau mỗi đợt viêm cấp thì tiếng nói càng khàn thêm, thường hay gặp ở những bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính, viêm mũi họng, viêm Amydan, V.A mạn tính, hay có hội chứng trào ngược họng- thanh quản
* Triệu chứng:
- Cơ năng:
+ Đầu tiên tiếng nói không vang, làm cho bệnh nhân phải cố gắng nhiều mới nói to được do đó chóng mệt Về sau tiếng nói bị khàn, bị rè và yếu ớt Bệnh nhân luôn phải đằng hắng cho tiếng nói trong lại Buổi sáng tiết nhầy ở thanh quản nhiều đằng hắng không đủ phải ho vài ba cái sau đó mới rõ tiếng Tiếng nói của bệnh nhân không được ổn định có lúc trong trẻo có lúc khàn Nguyên nhân của hiện tượng này là do tiết nhầy đọng trên dây thanh
+ Ngoài ra bệnh nhân có cảm giác ngứa, cay, khô, rát trong thanh quản Đôi khi phát âm có cảm giác đau
- Thực thể: Soi thanh quản thấy
+ Tiết nhầy: tiết nhầy thường đọng lại ở một điểm cố định, chỗ nối tiếp phần ba trước và phần ba giữa của dây thanh Nhưng nếu bệnh nhân ho thì cục tiết nhầy sẽ mất đi do đó tiếng nói có lúc khàn có lúc trong
Trang 7+ Dây thanh cũng bị tổn thương:
Ở mức độ nhẹ: niêm mạc dây thanh bị xung huyết đỏ, mạch máu dưới niêm mạc bị giãn hình thành những tia đỏ
Ở mức độ nặng: dây thanh quá sản và tròn như sợi thừng, niêm mạc mầu hồng mất bóng Băng thanh thất cũng quá phát to và che kín dây thanh khi phát âm
+ Các cơ căng hoặc cơ khép thường bị cử động hạn chế do hiện tượng viêm và phù nề làm cho thanh môn khép không kín
* Điều trị:
- Điều trị nguyên nhân: giải quyết các ổ viêm nhiễm ở mũi, ở xoang, ở họng
- Tránh những nơi có chất hóa học độ đậm đặc cao, có khói bụi kích thích Nghỉ nói, nghỉ hát…trong thời gian điều trị
- Điều trị tại chỗ: làm thuốc thanh quản (bơm trực tiếp vào thanh quản), khí rung thanh quản bằng dung dịch kháng sinh và corticoid 1 lần/ngày trong
10 ngày [4]
Hình 1.6 Viêm dày dây thanh mạn 2 bên 1.3.4.2 VTQ mạn tính quá phát:
Còn gọi bệnh này là dày da voi, chúng ta thấy có cả sự quá phát của biểu
mô và lớp đệm dưới niêm mạc Tế bào trụ lông chuyển biến thành tế bào lát nhiều lớp
Trang 8* Triệu chứng:
- Cơ năng: khàn tiếng, đằng hắng, rát họng khi nói nhiều…
- Thực thể: qua soi thanh quản, có bốn loại bệnh tích khác nhau
+ Viêm dây thanh dày lan tỏa: thể này thường gặp Một dây thanh hoặc hai dây thanh bị quá phát toàn bộ, biến dạng tròn giống như sợi thừng màu đỏ,
di động tốt
+ VTQ dày từng khoảng: trên dây thanh màu hồng nhạt có những nốt sần
đỏ nổi lên Nếu các nốt này phát triển nhiều, bờ của dây thanh sẽ biến thành một đường ngoằn ngoèo
+ VTQ dày đoạn sau: niêm mạc ở chỗ mấu dây thanh dày cộm thành cái nốt màu xám Mỗi dây thanh có một nốt, hai nốt đối diện với nhau và mỗi khi phát âm thì hai nốt chập lại
+ Dày da voi liên phễu: thể này thường gặp ở những người viêm xoang, viêm họng mạn tính Niêm mạc ở mép liên phễu dày và có thớ mịn như nhung hoặc có khi sùi giống như quả dâu tằm Khối quá sản này cứng và không loét Hai dây thanh có vẻ bình thường nhưng không đóng kín được
* Điều trị: điều trị nội khoa, chế độ nghỉ dưỡng và luyện giọng, nếu kết
quả không tốt thì làm vi phẫu thanh quản lấy bỏ tổn thương, kết hợp điều trị điều trị các bệnh lí tai mũi họng kèm theo [4]
1.3.4.3 VTQ mãn tính thể bạch sản (Leucoplasie):
- Bệnh tích chủ yếu là sự quá sản của các gai nhú được một lớp niêm mạc sừng hóa che phủ
- Soi thanh quản: ở một dây thanh hoặc cả hai bên có một lớp nhuyễn trắng như vôi hoặc một lớp gai lổn nhổn, ngắn và trắng
Trang 9- Bệnh này có khả năng ung thư hóa, hiếm gặp ở trẻ em.
- Điều trị: cần làm xét nghiệm sinh thiết để chẩn đoán tế bào và điều trị theo chuyên khoa [4]
1.3.4.4 VTQ nốt:
Có 2 nốt cân đối ở bờ dây thanh, chỗ nối liền phần ba trước với phần ba giữa
1.3.4.5 VTQ hạt lúa mạch:
Hai dây thanh nở phình ra ở đoạn giữa giống như hai con thoi (hạt lúa mạch) Khi phát âm chỉ có đoạn giữa của thanh môn đóng kín lại còn đoạn sau thì hở [4]
1.3.4.6 VTQ teo:
Đây là di chứng của VTQ loét trong các bệnh nhiễm khuẩn nặng (cúm, sởi ) Soi thanh quản thấy một dây thanh hoặc hai dây thanh teo nhỏ lại và bị băng thanh thất che gần hết
Đôi khi chúng ta có thể thấy trên mặt dây thanh một nếp nhăn chạy dọc
từ trước ra sau Bệnh tích teo không bao giờ hồi phục lại [4]
1.3.4.7 Viêm thanh quản do trào ngược họng- thanh quản:
* Triệu chứng chính:
- Khó nuốt
- Cảm giác vật lạ trong họng
- Cảm giác khô họng
- Khó thở
- Viêm họng
- Ho mãn tính
Trang 10- Khạc thường xuyên do xuất tiết.
- Khàn tiếng
- Trào ngược tư thế đứng (ban ngày)
- Ợ nóng bất thường
- Ợ chua acid
* Một số triệu chứng khác:
- Đau tai
- Nhiều đờm
- Hôi miệng
- Đau cổ
- Nuốt đau
- Vướng dịch sau mũi
- Khó phát âm: vỡ giọng, mệt mỏi, khởi động hát chậm, mất giọng
* Điều trị:
- Thay đổi lối sống
- Điều trị bằng thuốc:
+ Nhóm ức chế tiết acid
+ Nhóm kích thích nhu động tiêu hóa, tăng áp lực co thắt thực quản dưới, tăng nhu động thực quản, bảo vệ niêm mạc
Trang 111 Phạm Khánh Hòa (2009), “Viêm thanh quản mạn tính” Tai mũi họng;
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tr 120-121
2 Nguyễn Quang Quyền và Frank H Netter (1997), “Tuyến giáp và
thanh quản” Atlat giải phẫu người, nhà xuất bản Y học, tr 82-89.
3 Trần Hữu Tước (1970), “Khó thở cấp tính của trẻ em” TMH tập II;
Nhà xuất Y học - TDTT, tr 105-115
4 Võ Tấn (1983), “Viêm thanh quản mãn tính” Tai mũi họng thực hành
tập III; Nhà xuất bản Y học, tr: 14; 30-32; 73-82.
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Ch¬ng 1: TỔNG QUAN 2
1.1 SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU THANH QUẢN 2
1.2 ĐẶC ĐIỂM THANH QUẢN TRẺ EM: 4
1.3 VTQ MẠN TRẺ EM: 5
1.3.1.Định nghĩa: 5
1.3.2 Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân: 5
1.3.3 Tổn thương mô bệnh học: 5
1.3.4 Các thể lâm sàng: 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 13V.A
VTQ
: Thanh quản : Végétation Adénoides : Viêm thanh quản
Trang 14khoa: khoa học sức khỏe
bộ môn điều dỡng
Tên sinh viên: Lữ Thị Hồng Hà Mã sinh viên: B00349
Chuyên đề số 3:
Tìm hiểu về viêm thanh quản
Ngời hớng dẫn:
PGS.TS Phạm Thị Minh Đức
Hà Nội, tháng 06 năm 2013