Một số khái niệm về thuốc cổ truyền Thuốc cổ truyền là một vị thuốc, một bài thuốc hay một chế phẩm thuốc được bào chế từ một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên thực vật, độn
Trang 1đại cương về thuốc cổ truyền
(Đối tượng: Y5 đa khoa) Mục tiêu:
1 Trình bày được các khái niệm cơ bản về thuốc cổ truyền và các chế phẩm thuốc
cổ truyền.
2 Trình bày được 60 cây thuốc nam chữa bệnh dùng trong cộng đồng.
Nội dung
I Đại cương thuốc cổ truyền
1.1 Nguồn gốc
Thuốc cổ truyền có nguồn gốc: từ thực vật (chiếm đa số): gừng, tía tô
từ động vật: gấu, hổ, hươu, nai, rắn,
từ khoáng vật: thạch cao
và từ một số chế phẩm hoá học
Sự xuất hiện thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra Thời nguyên thuỷ thực vật hay động vật do nguồn tự nhiên cung cấp, sau thiếu dần phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi Các loại thuốc khoáng vật phát triển theo nguồn khai thác mỏ như Thạch cao, Chu sa, Hùng hoàng…
ở nước ta trước kia, các thuốc thường dùng đều phải nhập Hiện nay ta đã tìm và xác định khoa học được nhiều cây thuốc có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: Sinh địa, Huyền sâm, Bạch chỉ…Một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập
1.2 Thu hái và bảo quản
1.2.1 Thu hái: Tuỳ theo bộ phận nào của cây dùng làm thuốc mà có thời gian thu hái
thích hợp để có chất lượng thuốc tốt nhất vì mỗi bộ phận cây thuốc có thời kỳ sinh trưởng cao nhất định
Gốc, củ, rễ, vỏ: thu hái vào cuối thu, mùa đông và đầu xuân
Trang 2Búp, lá: thu hái vào mùa xuân, hè.
Hoa: thu hái lúc đang ngậm nụ hoặc bắt đầu nở
Quả: thu hái lúc quả vừa chín
Hạt: thu hái lúc quả đã thật già
1.2.2 Bảo quản
Nước ta khí hậu nóng, độ ẩm cao, thuốc cổ truyền đa số lại ở dạng thô nên việc bảo quản tương đối khó khăn Hầu hết các vị thuốc đều phải giữ thật khô, tránh ẩm thấp, sâu mọt, mốc Những loại thuốc có tinh dầu cần đậy kín
1.3 Một số khái niệm về thuốc cổ truyền
Thuốc cổ truyền là một vị thuốc, một bài thuốc hay một chế phẩm thuốc được bào
chế từ một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên (thực vật, động vật, khoáng vật) có tác dụng điều trị bệnh hoặc có lợi cho sức khoẻ con người, đã được sử dụng lâu
đời ở Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới
- Các vị thuốc cổ truyền khi sử dụng có thể dùng đơn độc 1 vị thuốc nhưng cũng có
thể phối hợp nhiều vị thuốc với nhau thành một bài thuốc (hay một phương thuốc)
Có 3 loại phương thuốc chính: thuốc cổ phương, thuốc tân phương, và thuốc gia truyền
+ Thuốc cổ phương: là những phương thuốc có kinh nghiệm điều trị tốt được
người xưa truyền lại và được ghi trong sách cổ Thường một chứng bệnh có một
phương thuốc tương ứng (VD: phương Lục vị dùng cho hội chứng thận âm hư).
+ Thuốc cổ phương gia giảm: là những phương thuốc được kê từ các bài thuốc
cổ phương làm gốc nhưng khác với bài thuốc cổ phương về: số vị thuốc, lượng từng
vị, cách chế, cách dùng theo biện chứng của thầy thuốc nhưng trong đó cổ phương vẫn là cơ bản
+ Thuốc tân phương: là những phương thuốc được xây dựng dựa trên đối pháp
lập phương
Trang 3+ Thuốc gia truyền: là những phương thuốc có tác dụng điều trị một chứng bệnh
nhất định có hiệu quả nổi tiếng ở một vùng, một địa phương, được sản xuất lưu truyền lâu đời trong một gia đình và được chính quyền địa phương công nhận
1.4 Tính năng dược vật của thuốc cổ truyền
Tính năng dược vật của vị thuốc chính là tác dụng của vị thuốc khi vào cơ thể để điều chỉnh lại sự mất cân bằng về âm dương trong cơ thể, bao gồm: khí, vị, thăng giáng phù trầm và bổ tả
1.4.1 Khí (Tính)
Có bốn thứ khí gọi là tứ khí hay còn gọi là tứ tính gồm: ấm, nóng, lạnh, mát (ôn,
nhiệt, hàn, lương) Bốn loại tính chất này do sự phản ứng của cơ thể khi dùng thuốc
mà nhận thấy Ngoài ra có một số thuốc khí không rõ rệt, có tính chất hoà hoãn gọi là tính bình
Những thuốc mát lạnh thuộc âm dược dùng để chữa các chứng nhiệt (dương chứng); những thuốc ấm nóng thuộc dương dược dùng để chữa các chứng hàn (âm chứng)
1.4.2 Vị : Thông qua vị giác mà nhận thấy, có 5 vị hay còn gọi là ngũ vị: chua, đắng,
ngọt, cay, mặn (toan, khổ, cam, tân, hàm) Ngoài ra một số thuốc không có vị gì rõ rệt
nên gọi là vị đạm (nhạt)
Khí và vị có quan hệ mật thiết với nhau và quan hệ với ngũ tạng, ngũ sắc Dựa trên cơ sở này để xác định tác dụng của thuốc, để bào chế thuốc và sử dụng thuốc hợp lý
1.4.3 Thăng giáng phù trầm
Thăng giáng phù trầm là chỉ xu hướng tác dụng của thuốc sau khi vào cơ thể: thăng là đi lên, giáng là đi xuống, phù là nổi lên và phát tán ra ngoài, trầm là chìm là thấm vào trong và xuống dưới
Tính chất thăng giáng phù trầm có quan hệ mật thiết với khí vị và tỷ trọng nặng nhẹ của vị thuốc: vị cay, ngọt; tính ôn nhiệt thuộc dương, thường là các thuốc thăng,
Trang 4phù; vị đắng chua mặn, tính hàn lương thuộc âm, thường là các thuốc trầm giáng Những vị thuốc có tỷ trọng nhẹ cũng thường có tính thăng, phù và những thuốc có tỷ trọng nặng thường có tính trầm, giáng
Tính chất thăng giáng phù trầm có thể thay đổi tuỳ theo sự bào chế và phối ngũ khi sử dụng
Trên lâm sàng bệnh tật phát sinh ở những vị trí khác nhau của cơ thể như trên, dưới, trong, ngoài và xu thế của bệnh tật có khi lên trên (như nôn, nấc, tăng huyết áp…), có khi giáng xuống dưới (như ỉa chảy, sa trực tràng…) nên cần phân biệt tính chất này của thuốc để sử dụng thuốc hợp lý
1.5 Các dạng thuốc thường dùng của y học cổ truyền
1.5.1 Thuốc thang (thuốc sắc)
- ĐN: Là dạng thuốc được cấu tạo từ các vị thuốc đã được chế biến và phối ngũ theo
phương pháp cổ truyền và được bào chế bằng cách nấu (sắc) với nước sạch ở nhiệt độ
1000C
- Cách sắc: dùng ấm đất là tốt nhất, thường sắc 3”
+ Lần 1: đổ 3 bát nước cùng với thuốc vào ấm sắc (thường đổ nước ngập trên thuốc 3
-5 cm), đun đến khi còn 1 bát thì rót nước thu
+ Lần 2 và 3: đổ 2 bát nước vào và sắc đến khi còn 2/3 bát Sau đó trộn nước thuốc của
3 lần sắc vào nhau và chia đều uống trong ngày
- Ưu điểm: + Là dạng thuốc thông dụng, được dùng nhiều nhất, có sự phối ngũ hoàn
hảo, phù hợp cho nhiều thể bệnh, mọi lứa tuổi, mọi mùa trong năm
+ Dễ gia giảm cho từng bệnh nhân và theo diễn biến của bệnh
+ Dễ hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá
+ Phương pháp bào chế tương đối đơn giản
- Nhược điểm: + Mất nhiều thời gian cho việc sắc thuốc, tốn nhiên liệu.
+ Khi đi xa khó có thể đem theo thuốc và dụng cụ để sắc
- ứng dụng: thuốc sắc có thể dùng được cho cả bệnh cấp và mạn tính.
Trang 51.5.2 Thuốc tán (thuốc bột)
- ĐN: Là dạng thuốc bột khô tơi được bào chế từ một hay nhiều vị thuốc (đã được chế
biến cổ truyền) bằng cách tán mịn, rây qua cỡ rây thích hợp và trộn đều
- Cách bào chế: + Nghiền bột.
+ Rây qua cỡ rây thích hợp
+ Trộn đều
- Ưu điểm: Tiện sử dụng, dễ phân liều.
- Nhược điểm: + Không phối ngũ được, thường chỉ tán được 1-2 vị thuốc.
+ Khó hoà tan, khó hấp thu
- ứng dụng: uống hoặc dùng ngoài (dùng ngoài: săn se niêm mạc)
1.5.3 Thuốc hoàn
- ĐN : Là dạng thuốc rắn hình cầu được bào chế từ bột thuốc, dịch chiết thuốc và tá
dược dính theo khối lượng qui định Thường được bào chế từ một đơn thuốc có sự phối ngũ hoàn chỉnh
Khối lượng viên có thể to nhỏ khác nhau tuỳ yêu cầu điều trị: hạt (< 0,1g); viên tròn (0,1- 0,5g); viên hoàn (> 0,5g) Viên hoàn có thể to tới 4- 6 - 9g
Tá dược dính hay dùng là: nước, dịch chiết dược liệu, mật ong, hồ tinh bột
- Phương pháp bào chế:
+ Nghiền bột, chiết xuất dược liệu (dược liệu nhiều tinh bột: nghiền; dược liệu nhiều chất xơ: chiết dịch)
+ Tạo thành khối bột dẻo
+ Chia nhân và bao viên
+ Làm bóng và sấy khô
- Phân loại: Thường chia 2 loại: Hoàn mềm và hoàn cứng:
+ Hoàn mềm: viên to, khối lượng khoảng 6-9g Khi dùng bẻ ra ăn VD: Hoàn quy tỳ,
Hoàn lục vị, Hoàn phong thấp, Hoàn bổ trung ích khí, Hoàn thập toàn đại bổ…
Trang 6+ Hoàn cứng: viên nhỏ, khối lượng khoảng 0,1 – 0,5g/viên Khi dùng uống với nước.
VD: Hoàn bổ âm, Hoàn hoạt huyết dưỡng não, Hoa đà tái tạo hoàn…
- Ưu điểm: + Dễ sử dụng, phân liều chính xác.
+ Dễ bảo quản
+ Che giấu được những mùi vị khó chịu
+ Phù hợp cho một số thuốc có tác dụng chậm hoặc những thang có vị thuốc độc
- Nhược điểm: viên hoàn cứng, khó hoà tan, khả năng hấp thu kém.
- ứng dụng: + Dùng cho những bệnh mạn tính, những trường hợp cơ thể hư nhược lâu
ngày cần bổ từ từ, thuốc thấp khớp…
+ Những bài thuốc có độc cần giải phóng từ từ, những bài thuốc dễ kích ứng với niêm mạc dạ dày
1.5.4 Cao thuốc
- ĐN: Là những chế phẩm được chiết hoàn toàn từ dược liệu và cô đến thể chất nhất
định
- Phân loại: Tuỳ thuộc vào hàm lượng nước sau khi bào chế mà chia thành các loại: cao
lỏng, cao mềm, cao đặc và cao khô
- VD: Cao thông u, Cao Ma hạnh, Cao thấp khớp II…là dạng cao lỏng.
- Ưu điểm: hấp thu tốt, tiện sử dụng, dễ chia liều, bảo quản được lâu.
- Nhược điểm: không gia giảm được khi cần thiết, không che giấu được mùi vị, tác
dụng chậm hơn thuốc thang
- ứng dụng: Trên lâm sàng thường dùng cho những bệnh mạn tính, những bệnh cấp
thường dùng thuốc thang trước sau đó mới dùng duy trì bằng thuốc cao
1.5.5 Rượu thuốc
- ĐN: Là những chế phẩm lỏng được bào chế bằng phương pháp chiết xuất dược liệu
với rượu trắng hoặc cồn Thường dùng rượu 20-25o Có thể uống hoặc dùng ngoài
Trang 7- Ưu điểm: chiết xuất được nhiều hoạt chất, bảo quản tốt, rượu cũng là dung môi dẫn
thuốc tốt
- Nhược điểm: đối tượng sử dụng hạn chế: phụ nữ, trẻ em, bệnh nhân viêm loét dạ dày
tá tràng, người già, tăng huyết áp, bệnh tim mạch…
- ứng dụng lâm sàng: rượu bổ dùng để tăng cường sức khoẻ, rượu thuốc để chữa
những bệnh mạn tính: thấp khớp
1.5.6 Trà thuốc (Chè thuốc)
- ĐN: Là dạng thuốc rắn, gồm một hay nhiều loại dược liệu đã được chế biến cổ truyền,
phân chia đến mức độ nhất định, và sử dụng dưới dạng nước hãm
- Phân loại: Có 2 loại: trà nhúng và trà tan.
+ Trà nhúng (Chè nhúng): xay dược liệu, trộn đều và đóng túi nhỏ để dùng Khi
dùng chỉ cần nhúng vào nước sôi vài phút Có ưu điểm dễ làm, tiện sử dụng nhưng hiệu quả điều trị thấp vì khả năng hoà tan hoạt chất kém Chủ yếu dùng để tăng cường sức
khoẻ VD: Chè an thần, Trà Hà thủ ô, Trà Nhân trần…
+ Trà tan: Chiết dược liệu + tá dược sau đó tạo thành dạng hạt và sấy khô rồi
đóng túi Có ưu điểm là khả năng hấp thu tốt nhưng thường không che giấu được mùi vị (đắng, mùi khó chịu…không cải thiện được) và khi chiết thường kéo theo nhiều nhựa nên không phải vị thuốc, bài thuốc nào cũng bào chế được Trên lâm sàng trà tan được dùng cho nhiều thể bệnh khác nhau nhưng lưu ý trong thành phần trà tan thường có
đường nên không dùng cho những bệnh nhân bị đái đường VD: Trà Gừng, Trà Sâm…
1.5.7 Cốm thuốc
- ĐN: Là dạng thuốc rắn được bào chế từ bột dược liệu, dịch chiết dược liệu và tá dược
dính để tạo thành hạt cốm theo kích cỡ nhất định
- Ưu điểm: dễ sử dụng, dễ phân liều.
- Nhược điểm: khó hấp thu.
Trang 8- Lâm sàng: thường dùng cho những bệnh cần giải phóng thuốc từ từ, hấp thu chậm,
những bệnh mạn tính (Cốm tan bình vị chữa Viêm đại tràng; Cốm bổ tỳ chữa Suy dinh dưỡng)
1.5.8 Các dạng thuốc tương tự thuốc YHHĐ
♥ Thuốc lỏng: là chế phẩm thuốc lỏng được bào chế từ dịch chiết của dược liệu, cô
đặc, đóng gói từng liều và được dùng để uống, xịt, nhỏ mũi VD: Cao lỏng, Xiro Bổ phế chỉ khái lộ, xịt mũi Agenytin, nhỏ mũi Flanos…
- Thường đóng vào chai, lọ
- Ưu điểm: dễ sử dụng, bảo quản lâu, tác dụng tốt
♥ Thuốc viên: là dạng thuốc được bào chế từ bột thuốc hay dịch chiết dược liệu với các
tá dược thích hợp để tạo thành các loại viên khác nhau: viên nén, viên nang, viên sủi, viên ngậm…VD: Rotunda, Crila, Tradin…
- Ưu điểm: tiện sử dụng, chia liều chính xác
- Nhược điểm: hàm lượng thuốc thấp, tác dụng chậm, qui trình bào chế phức tạp, giá thành cao
♥ Thuốc mỡ: Là dạng thuốc được bào chế từ bột mịn dược liệu với các tá dược tạo
thành dạng mỡ hoặc keo để dùng ngoài
♥ Ngoài ra còn một số dạng thuốc khác như thuốc tiêm, cao dán…
1.6 Cách kê đơn thuốc cổ truyền
Sau khi khám bệnh, tập hợp các triệu chứng, tìm ra nguyên nhân, hội chứng bệnh
và đề ra phương pháp chữa bệnh thì người thầy thuốc sẽ tiến hành kê đơn thuốc cho bệnh nhân
Phần hành chính của đơn thuốc cổ truyền cũng phải theo đúng thủ tục đã qui định trong chế độ kê đơn chung giống như đơn thuốc tây y Phần thuốc phải phù hợp với biện chứng luận trị của y học cổ truyền và từng người bệnh để đảm bảo an toàn, tránh lãng phí và đạt hiệu quả điều trị cao nhất
Trang 9Đơn thuốc của y học cổ truyền thường bao gồm nhiều vị thuốc phối hợp với nhau nhưng phải theo nguyên tắc nhất định Đơn thuốc bao giờ cũng phải có những vị thuốc chính để chữa nguyên nhân gây bệnh và những triệu chứng chính, sau đó đến các vị thuốc có tác dụng hỗ trợ cho các vị thuốc chính, làm tăng tác dụng của các vị thuốc chính và những vị thuốc chữa các triệu chứng phụ, cuối cùng là những vị thuốc điều hoà, dẫn thuốc và làm cho bài thuốc dễ uống
Có các cách kê đơn sau
1.6.1 Kê đơn theo cổ phương gia giảm
Dùng một bài thuốc cổ phương làm gốc rồi thêm bớt các vị thuốc tuỳ từng trường hợp cụ thể Mỗi một phương thuốc cổ chỉ thích hợp cho điều trị một chứng bệnh nhất định Trên lâm sàng bệnh cảnh thường phức tạp nên tuỳ theo từng bệnh nhân cụ thể mà
có thể thêm bớt (gia giảm) các vị thuốc và liều lượng thích hợp
Kê đơn theo cách này đòi hỏi người thầy thuốc phải nắm vững lý luận của y học
cổ truyền về sinh lý tạng phủ, kinh lạc, nguyên nhân gây bệnh, đưa ra chẩn đoán đúng, pháp điều trị thích hợp và phải nhớ nhiều bài thuốc cổ phương, tuy nhiên phương pháp này thừa kế được những kinh nghiệm của đời xưa và thường có hiệu quả điều trị cao
1.6.2 Kê đơn theo đối pháp lập phương
Sau khi đã chẩn đoán và đề ra pháp điều trị, căn cứ vào pháp điều trị và tính năng, tác dụng của các vị thuốc để kê đơn theo yêu cầu của pháp điều trị
Kê đơn theo cách này có thể linh hoạt sử dụng các vị thuốc sẵn có trong tay, nhưng cũng phải nhớ được đặc điểm của từng vị thuốc và dễ bỏ qua những kinh nghiệm quí báu của đời xưa để lại
Hai cách kê đơn trên còn gọi là kê đơn theo lý luận của y học cổ truyền hay còn gọi là theo biện chứng luận trị
1.6.3 Kê đơn theo kinh nghiệm (nghiệm phương)
Thường là dùng những vị thuốc, những bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian đã được tổng kết và nghiên cứu chữa một số chứng bệnh nhất định VD: dùng Bồ công anh
Trang 10chữa viêm tuyến vú Phương pháp này không đảm bảo tính toàn diện của y học cổ truyền, gặp khó khăn khi chữa những bệnh phức tạp
1.6.4 Kê đơn theo toa căn bản
Là cách kê đơn sử dụng các vị thuốc nam sẵn có ở địa phương để chữa một số bệnh thông thường Đơn thuốc theo toa căn bản gồm hai phần: phần điều hoà cơ thể và phần tấn công bệnh
+ Phần điều hoà cơ thể căn cứ vào tính chất hư, thực, hàn, nhiệt của bệnh để chọn các vị thuốc phù hợp, bao gồm các thuốc nhuận gan, nhuận tiểu, nhuận tràng, kích thích tiêu hoá, giải độc, bổ khí, bổ huyết, bổ thận
+ Phần tấn công bệnh: tuỳ từng chứng bệnh, nguyên nhân gây bệnh và những vị thuốc sẵn có ở địa phương mà dùng các vị thuốc thích hợp cho từng bệnh VD: cảm lạnh dùng Hành, Tía tô, Kinh giới, Bạch chỉ; viêm đau khớp dùng cành Dâu, rễ cây Lá lốt, rễ cây Xấu hổ; cầm máu dùng Hoè hoa, lá Trắc bá; an thần dùng lá Vông nem, Lạc tiên…Đây là phương pháp dùng thuốc nam đơn giản, thích hợp ở các tuyến cơ sở, sử dụng linh hoạt các vị thuốc sẵn có ở địa phương, thích hợp với việc chữa những chứng bệnh thông thường
1.6.5 Kê đơn thuốc y học cổ truyền theo cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh của
y học hiện đại
Với xu hướng kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền và hiện đại hoá y học cổ truyền, có rất nhiều bài thuốc và vị thuốc được nghiên cứu về thành phần hoá học, tác dụng dược lý và tác dụng lâm sàng nên khi kê đơn người thầy thuốc có thể dựa vào yếu
tố bệnh nguyên, cơ chế bệnh sinh của bệnh theo y học hiện đại và các kết quả nghiên cứu về thuốc để kê đơn thuốc phù hợp cho từng trường hợp
Kê đơn thuốc theo cách này phản ánh được sự kết hợp nhuần nhuyễn hai nền y học hiện đại và cổ truyền
II Cỏc vị thuốc nam dùng cho cộng đồng