1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

35 508 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Ngoại Hối Việt Nam
Tác giả Nguyễn Cảnh Hùng, Nguyễn Thị Hiệp, Nguyễn Thị Huyên, Hồ Thị Thanh Hòa, Đoàn Tiến Dũng, Trần Hoàng Long, Nguyễn Ngọc Phú
Người hướng dẫn Đào Minh Ngọc
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 733,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Thị trường ngoại hối ra được hình thành và hoạt động từ rất sớm trên thế giới.Với các chức năng cơ bản như đáp ứng nhu cầu mua bán trao đổi ngoại tệ nhằm phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại, là công cụ để NHTW có thế thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ. Rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận được những vai trò hết sức quan trọng của nó trong sự phát triển hay tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế thị trường. Ngày nay Việt Nam chúng ta đang ngày từng bước trên đường mở cửa, hội nhập, toàn cầu hóa với nền kinh tế thế giới. Và để thích ứng với sự phát triển đó, thị trường ngoại hối Việt Nam cần thay đổi thích nghi dần với các khuynh hướng biến đổi và cấu trúc vận động của thị trường tài chính của các quốc gia trên thế giới. Với các kiến thức đã được học và tìm hiểu trên sách báo ,sau đây nhóm em xin trình bày bài thu hoạch nói về “Thực trạng thị trường ngoại hối Việt Nam”.

Trang 1

Ngân hàng nhà nước Việt Nam Học Viện Ngân Hàng 

BÀI TIỂU LUẬN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI Trang

I, Khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối 1

2, Đặc điểm của thị trường ngoại hối. 1

II, Chức năng và các thành viên tham gia vào thị trường FOREX 2

2 Những yếu tố và thành viên tham gia FOREX 2

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

1.Cơ chế quản lý ngoại hối 10

2.Thực trạng về các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. 18

3.Những con số và sự kiên xảy ra ở Việt Nam 19

PHẦN III ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP

III Giải pháp cho thị trường ngoại hối Việt Nam 28

NGUỒN TÀI LIỆU

1 Giáo trình Tài Chính Quốc Tế - PGS.TS Nguyễn Văn Tiến

2 Thị Trường Ngoại Hối Việt Nam - PGS.TS Nguyễn Văn Tiến

3. www.tailieu.vn

4. www.Vn Economy vn

5. www.sbv.gov.vn

6. www.Vnexpress.net

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Thị trường ngoại hối ra được hình thành và hoạt động từ rất sớm trên thế giới.Với các chức năng cơ bản như đáp ứng nhu cầu mua bán trao đổi ngoại tệ nhằm phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại, là công

cụ để NHTW có thế thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ Rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận được những vai trò hết sức quan trọng của nó trong sự phát triển hay tăng trưởng trong tương lai của một nền kinh tế thị trường Ngày nay Việt Nam chúng ta đang ngày từng bước trên đường mở cửa, hội nhập, toàn cầu hóa với nền kinh tế thế giới Và để thích ứng với sự phát triển đó, thị trường ngoại hối Việt Nam cần thay đổi thích nghi dần với các khuynh hướng biến đổi và cấu trúc vận động của thị trường tài chính của các quốc gia trên thế giới Với các kiến thức đã được học

và tìm hiểu trên sách báo ,sau đây nhóm em xin trình bày bài thu hoạch nói về “Thực trạng thị trường ngoại hối Việt Nam”

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

I, Khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối.

1, Khái niệm.

Thị trường ngoại hối là: The Foreign Exchange Market, và được viết tắt là FOREX hay FX

Thị trường ngoại hối là: nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau

Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xẩy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 80% tổng số giao dịch), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức thị trường interbank

2, Đặc điểm của thị trường ngoại hối.

• Thị trường ngoại hối không tồn tại trong một không gian nhất định mà hoạt động thông qua các phương tiện thông tin hiện đại

• Đây là thị trường toàn cầu hay thị trường không ngủ Do sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm

• Giao dịch với khối lượng lớn, doanh số giao dịch trên interbank chiếm tới 85% tổng

số giao dịch ngoại hối toàn cầu

• Giao dịch thông qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng điện thoại, telex, fax…

Trang 5

• Chi phí giao dịch cực thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả.

• Đồng tiền sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD

• Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiến chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý… nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển

• Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà mua giới ngoại hối với các NHTW

• Đây là thị trường lớn nhất và có doanh số giao dịch cao nhất Doanh số mua bán ròng toàn cầu, tại thời điểm năm 2000 ước tính vào khoảng 1500 tỷ USD/ngày; Thị trường hoạt động tích cực nhất là Luandon, New York, Singapore…

II, Chức năng và các thành viên tham gia vào thị trường FOREX

1 Chức năng của FOREX

• Phục vụ thương mại quốc tế: nhằm dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế

• Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế: giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc

tế, các giao dịch quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia

• Nơi hình thành tỷ giá: thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, mà sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu trên thị trường

• Nơi NHTW can thiệp lên tỷ giá: thị trường ngoại hối là nơi kinh doanh và cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai

• Nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi ro tỷ giá: thị trường ngoại hối là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế

2 Những yếu tố và thành viên tham gia FOREX

a Điều kiện tham gia thị trường ngoại hối.

Điều kiện tối thiếu để bạn muốn giao dịch trong thời gian đó là bạn phải có từ 10 đến 50 triệu USD để bắt đầu FOREX ra đời lúc đầu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các ngân hàng và các công ty khổng lồ trong ngành Tuy nhiên với sự hỗ trợ kỳ diệu của internet, hệ thống giao dịch trực tuyến, các công ty giao dịch đã ra đời cho phép mở các tài khoản lẽ cho chúng ta.Ngày nay, các nhà mua giới trên thị trường

Được phép phá vỡ những giao dịch rộng lớn và cho phép những giao dịch nhỏ có cơ hội để mua và bán bất kỳ số nào trong giá trị nhỏ hơn này

b Thành viên tham gia

Nhóm khách hàng mua bán lẻ: bao gồm các công ty nội địa và quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích:

Thứ nhất: chuyển đổi tiền tệ.

Thứ hai: phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Các ngân hàng thương mại: các ngân hàng thương mại tiến hành giao dịch ngoại hối với hai mục đích:

Trang 6

Thứ nhất: cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm

khách hàng bán lẻ Vì mua bán hộ nên ngân hàng không phải bỏ vốn, không chịu rủi ro tỷ giả và không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối nội bảng

Thứ hai: kinh doanh cho chính mình, tức là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ

giá thay đổi Hoạt động kinh doanh này tạo ra trạng thái ngoại hối, do đó ngân hàng phải

bỏ vốn, chịu rủi ro tỷ giá và làm thay đổi bảng cân đối nội bảng hoặc ngoại bảng của ngân hàng

Những nhà mua giới ngoại hối: hình thức giao dịch gián tiếp thông qua nhà mua giới ngoại hối cũng phát triển bên cạnh hình thức mua bán ngoại hối trực tiếp giữa các ngân hàng với nhau Phương thức giao dịch qua môi giới có ưu điểm ở chỗ: nhà mua giới thu thập hết các lệnh đặt mua và đặt bán ngoại tệ từ các ngân hàng khác nhau, trên cơ sở cung cấp tỷ giá chào bán cho khách hàng một cách nhanh, rộng khắp với giá tay trong Tuy nhiên, giao dịch qua mua giới cũng có những nhược điểm là: các ngân hàng phải trả cho người mua giới một khoản phí, làm cho chênh lệch tỷ giá mua bán hẹp lại

Những ai muốn tham gia vào thị trường ngoại hối phải có giấy phép Tại mỗi trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà mua giới chuyên nghiệp nhất định để giúp các ngân hàng thực hiện các lệnh mua bán ngoại hối Điểm cần lưu ý là những nhà mua giới chỉ cung cấp dịch vụ mua giới, chứ không được mua bán cho chính mình

Các ngân hàng trung ương: NHTW tham gia FOREX nhằm 3 mục đích sau:

Thứ nhất, can thiệp lên tỷ giá: các NHTW vẫn thường xuyên can thiệp lên tỷ giá

bằng việc mua bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm làm cho tỷ giá biến động theo hướng có lợi

Trong chế độ tỷ giá cố định, can thiệp của NHTW lên thị trường ngoại hối là bắt buộc nhằm duy trì tỷ giá trong một biên độ nhất định NHTW tiến hành mua nội tệ vào khi cung nội tệ lớn hơn cầu; và tiến hành bán nội tệ ra khi cầu lớn hơn cung trên thị trường ngoại hối, nhờ đó tỷ giá được duy trì ốn định

Thứ hai, mua bán, chuyển đối tiền tệ nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại

hối quốc gia Ngày nay, các NHTW trên thế giới luôn duy trì một lượng dự trữ ngoại hối nhất định Do tỷ giá các đồng tiền dự trữ thường xuyên biến động, nên các NHTW một mặt phải đa dạng hóa cơ cấu dự trữ, mặt khác có thể tận dụng các cơ hội biến động tỷ giá nhằm gia tăng dự trữ ngoại hối của mình

Thứ ba, NHTW còn là đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ

III, Phân loại thị trường ngoại hối

a) Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ ta có:

1 Thị trường giao ngay

2 Thị trường kỳ hạn

3 Thị trướng hoán đổi

4 Thị trường tương lai

5 Thị trường quyền chọn

b) Căn cứ vào tính chất kinh doanh ta có:

1 Thị trường bán buôn

2 Thị trường bán lẻ

Trang 7

c) Căn cứ vào địa điểm giao dịch:

1 Giao dịch tập trung trên cơ sở giao dịch

2 Giao dịch phí tập trung

d) Căn cứ vào tính chất pháp lý ta có:

1 Thị trường chính thức

2 Thị trường phi chính thức

e) Căn cứ quy mô thị trường ta có:

1 Thị trường ngoại hối quốc tế

2 Thị trường ngoại hối nội địa

f) Căn cứ vào phương thức giao dịch ta có:

1 Thị trường giao dịch trực tiếp

2 Thị trường giao dịch qua môi giới

PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

Sau giải phóng miền Nam tháng 4/1975, mô hình XHCH đã áp dụng thống nhất trong pham vi cả nước Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn chiến tranh và một số năm tiếp đó Tuy nhiên việc duy trì quá lâu một cơ chế bao cấp của nhà nước như vậy sẽ nảy sinh mâu thuẫn, rối loạn sâu sắc trong trong việc phát triển kinh tế thị trường đất nước Với cơ chế tập trung bao cấp trong một thời gian dài thị trường nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng ở Việt Nam chưa có điều kiện hình thành và phát triến Cho đến năm 1986, khi Đảng và Nhà nước quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì các yếu tố thị trường mới được hình thành và phát triển Vào năm 1991 với quyết định số 107/QD-NH ngày 16/8/1991 do NHNN ban hành về”Thành lập trung tâm giao dịch ngoại

tệ “là mốc đánh dấu cho sự hình thành một thị trường ngoại hối có tổ chức ở VN Cùng với sự phát triển của không ngừng của nền kinh tế đến 20/9/1994 “Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” được thành lập theo quyết định số 203/QD-NH thay thế cho trung tâm giao dịch ngoai tệ Có thế nói sự ra đời của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là là bước ngoặt lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế ngày càng phát triển Dựa trên cơ sở

đó, khi đi sâu tìm hiểu về thực trạng thị trường ngoại hối VN, có thể chia làm 3 giai đoạn

cụ thể như sau:

1.Trước năm 1991: Giai đoạn thị trường ngoại hối VN chưa có tổ chức

2.Từ năm 1991-1994: Giai đoạn hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ

3.Từ 1994 đến nay: Giai đoạn hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

I THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1991.

Trang 8

Đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung báo cấp, nhà nước can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội Sự can thiệp này đã ngăn cản khả năng phát huy tác dụng của quy luật cung cầu trên thị trường, nếu có thì cũng bóp méo sai lệch Hơn nữa hệ thống các nước XHCN lại áp dụng chiến lược phát triển kinh tế hướng nội, đóng

cửa các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua Hệ thống độc quyền của Nhà Nước về ngoại thương và ngoại hối Do vậy, việc áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định do Nhà

Nước độc quyền xác định, không cần tính đến những yếu tố cung cầu trên thị trường Sản phẩm của cơ chế xác định tỷ giá này là, các nước xã hội chủ nghĩa duy trì chế độ tỷ giá

cố định và đa tỷ giá, báo gồm tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch và tỷ giá kết toàn nội

bộ, đồng thời triệt tiêu môi trường và mọi điều kiện để hình thành và phát triển các thị trường nói chung trong đó có thị trường ngoại hối

Hậu quả của một cơ chế tỷ giá cố định và đa tỷ giá mang lại tính áp đặt bất chấp quy luật cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng Đồng tiền Việt Nam được định giá cao hơn so với đồng tiền tự do chuyển đổi Tỷ giá chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế, làm cho hoạt động xuất nhập khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại bị thâm hụt nặng Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã rơi vào tình trạng khó khăn thua lỗ, tuy có chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương nhưng dù sao cũng triệt tiêu động lực phát triển xa hơn

Ngày 26/3/1988, Nghị định 53/HĐBT ra đời, tách hệ thống ngân hang Việt Nam từ một cấp thành hai cấp: Ngân Hàng Nhà nước và hệ thống Ngân hàng chuyên doanh Như vậy chỉ có Ngân hàng Ngoại Thương là được phép hoạt động và kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài khoản ở nước ngoài; các ngân hàng khác chỉ hoạt động trong nước

Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước, bảo vệ độc lập và chủ quyền về tiền tệ, phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hóa

với nước ngoài ngày 18/10/1988, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành nghị định số 161/HĐBT

về “Điều lệ quản lý ngoại hối” của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay thế

điều lệ quản lý ngoại hối ban hành theo nghị định số 102/CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng chính phủ Sau nghị định 161 ra đời, ngày 15/3/1989 Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam có thông tư số 33-NN/TT hướng dẫn thi hành Một trong những điểm mới về quản lý và kinh

doanh ngoại hối theo tinh thần Nghị định 161 và thông tư 33 “Ngân hàng Ngoại Thương là

cơ quan được phép kinh doanh ngoại hối Ngoài ra, các ngân hàng chuyên doanh khác, các ngân hàng lien doanh với nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế trong nước muốn kinh doanh ngoại hối hoặc dịch vụ thu ngoại tệ đều phải được NHNN Trung Ương Việt Nam cho phép”.

Như vậy, có thể nói lần đầu tiên ở Việt Nam chế độ độc quyền trong kinh doanh ngoại hối đã được gỡ bỏ Từ nay, các ngân hàng Thương mại nói chung muốn kinh doanh ngoại hối có thể làm thủ tục để NHNN cấp phép Đây được xem như sự khởi đầu tạo ra

Trang 9

môi trường và điều kiện cho hoạt động của thị trường ngoại hối có tổ chức, hình thành một sân chơi chứa đựng yếu tố cạnh tranh của thị trường Trong thực tế, trước sự đòi hỏi phát triển các hoạt động ngân hàng, đặc biệt là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, NHNN đã lần lượt cấp phép kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế cho các ngân hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam Tuy nhiên, tỷ giá chính thức do NHNN áp đặt nên vẫn còn khoảng các khá xa so với sức mua thực tế của VND và thị trường tự do.

Cho dù có những bước chuyển biến, nhưng ở Việt Nam vẫn thiếu vắng một thị trường ngoại hối chính thức hoàn chỉnh hơn để chắp nối cung cầu ngoại tệ và tạo cơ sở xác định tỷ giá chính thức một cách khách quan sát với quan hệ cung cầu trên thị trường, nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và thu hút nguồn lực ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng Đứng trước tình hình đó, Thống đốc NHNN đã ra quyết định số 107-NH/QĐ, ngày 16/8/1991 ban hành Quy chế hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ; trên cơ sở

đó, hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã được thành lập và đi vào hoạt động tại TP.HCM và

Hà Nội

II THỜI KỲ TỪ NĂM 1991 ĐẾN 1994.

Thời kỳ 1991-1994 là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển đổi cơ chế theo hướng thị trường Trong giai đoạn này đứng về phương diện thanh toán quốc tế, Việt Nam đứng trước một tình thế vô cùng khó khăn Thị trường với các nước XHCN cũ bị thu hẹp đáng

kể, bên cạnh hệ thống thanh toán đa biên bị tan rã, tất cả các nước XHCN đều đồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi(chủ yếu bằng USD) Việc chuyển đổi đồng tiền thanh toán đã làm cho cán cân vãng lai và cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt lớn, nhập khẩu gấp 3 lần xuất khẩu, sự thiếu hụt trong cán cân được bù đắp bằng các khoản viện trợ, khoản vay của các nước XHCN và chủ yếu

là Liên Xô

Các Chính sách lớn của Chính phủ:

Đứng trước tình thế hết sức khó khăn vầ cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế và nhu cầu bức bách vầ ngoại tệ cho thanh toán quốc tế Để xử lý vấn đề này không chỉ có ngành ngân hàng mà phải phối hợp đồng bộ giữa các chính sách lớn của chính phủ Với 3 chương trình kinh tế mà Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo đã hỗ trợ đắc lực cho cung ngoại tệ của nền kinh tế và giảm nhu cầu chi ngoại tệ tạo nên thế cân bằng cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, đồng thời tạo tiền đề để hình thành và phát triển thị trường ngoại hối sau này

Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu.

Chương trình khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng.

Khuyến khích sản xuất lương thực.

Ngoài 3 chương trình kinh tế lớn tác động tích cực đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, thì chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam

Trang 10

cũng như các nguồn chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền đơn phương khác đã làm cho ngoại tệ của nền kinh tế ngày một tăng.

Về phía Ngân Hàng Nhà Nước:

Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã đề xuất với chính phủ thành lập Quỹ điều hòa ngoại tệ tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệp thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá Đồng thời, Thống đốc NHNN ra quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16 tháng 8 năm 1991 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT) Trên cơ sở quy chế này tại Tp HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 8 và tháng 11 năm 1991

Việc thành lập 2 trung tâm giao dịch ngoại tệ là bước ngoặt đầu tiên của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự cơ chế theo hướng thị trường Hai trung tâm này là tiền thân cho thị trường ngoại hối Việt Nam ngày nay Thông qua hoạt động mua bán tại 2 trung tâm, với vai trò là người tổ chức và điều hành NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên thị trường để điều hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá phù hợp với tín hiệu thị trường và hướng nhu cầu ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của nền kinh tế

Trong thời kỳ đầu, cung ngoại tệ còn thấp hơn cầu ngoại tệ khá lớn, nếu tỷ giá hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu thì tỷ giá sẽ biến động rất mạnh, điều này sẽ gấy tác động tiêu cực đến hệ thống giá cả, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư Vì vậy thông qua hình thức can thiệp cảu NHNN, tỷ giá chỉ biến động với mức độ hợp lý, một mặt vẫn phản ánh xu hướng quan hệ cung cầu nhưng mặt khác không gây biến động lớn về mức giá cả

Sau một thời gian dài từ 1991 đến 1993, tỷ giá được duy trì ổn định đã tạo tâm lý ổn định cho thị trường và thu hút được một lượng kiều hối và đầu tư nước ngoài khá lớn vào thị trường Việt Nam; mặt khác việc duy trì lãi suất thực dương của VND cao đã khuyến khích các tổ chức cá nhân bán ngoại tệ để gửi bằng VND Cả hai yếu tố trên đã đồng thời ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định giá trị VND và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia Giai đoạn đầu khi mới bát đầu điều hành tỷ giá theo cơ chế thị trường, việc can thiệp của NHNN trên thị trường rất chặt chẽ, tuy nhiên thời gian tiếp theo khi nguồn ngoại tệ vào Việt Nam tăng lên, quan hệ cung cầu ngoaijteej không còn khoảng cách quá lớn thì NHNN đã từng bước giảm sự can thiệp và để cho tỷ giá hình thành một cách khách quan hơn theo quan hệ cung cầu

Kể từ khi thành lập tháng 8 và tháng 11 năm 1991 cho đến khi chấm dứt hoạt động vào ngày 1/12/1994, tổng số phiên giao dịch qua 2 trung tâm là 692, với tổng doanh số mua bán qua hai trung tâm giao dịch là 660.5 triệu USD Cụ thể như sau:

Hoạt động của hai Trung tâm GD ngoại tệ (đv: $ 1 000)

Trang 11

BQ Phiên

Doan

h số

Số Phiên

BQ Phiên

Doan

h số

Số Phiên

BQ Phiên

151 1867.5

6

367211

430 1162.4

8

66049 4

692 954.47

Trang 12

Trước hết, có thể khẳng định rằng việc triển khai hai trung tâm giao dịch là mộ chủ trương đúng đắn của NHNN trong quá trình chuyển dần hoạt động kinh doanh ngoại hối theo cơ chế thị trường Hoạt động của hai trung tâm có những mặt tích cực sau:

Về mặt xây dựng tỷ giá: Bước đầu hình thành phương thức xác định tỷ giá tương đối linh hoạt thông qua việc cân đối cung cầu ngoại tệ tại trung tâm Trong khi đó, tỷ giá mỗi tháng điều chỉnh một lần do NHNN đơn phương công bố không có yếu tố cung cầu ngoại

tệ tham gia vào quá trình hình thành tỷ giá

Trước đây, khi còn chế độ NHNN đơn phương quy định tỷ giá chính thức, thì khoảng cách giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá ngoài thị trường tự do là rất lớn Sau thời gian hoạt động, khoảng cách này đã dần được thu hẹp

Qua hoạt dộng của 2 trung tâm đã tạo ra tập quán, kiến thức kinh doanh ngoại hối cho NHNN, các NHTM và các tổ chức kinh tế Hình thành một đội ngũ cán bộ điều hành thị trường ngoại tệ, tạo điều kiện cho việc thành lập thị trường ngoại hối hoàn chỉnh sau này.NHNN đã từng bước hoàn thiện chính sách quản lý kinh tế vĩ mô về tỷ giá, cũng như khâu tổ chức, điều hành hoạt động thị trường ngoại hối

2 Cung cầu ngoại tệ tại hai trung tâm chưa phản ánh cung cầu ngoại tệ của toàn bộ nền kinh tế Vì là trung tâm giao dịch trực tiếp (mặt đối mặt) nên cung cầu chỉ thể hiện ở từng địa bàn có trụ sở của trung tâm

3 Cơ chế thanh toán không khuyến khích các NHTM bán ngoại tệ tại trung tâm, bởi vì nếu bán một khoản ngoại tệ lớn thì phải chia nhở đơn vị mua; trong khi đó, nếu các đơn vị kinh tế mua không lại không có tài khoản tại ngân hàng bán, thì việc thu hồi số tiền bằng VND rất phức tạp, và thường không đáp ứng nhu cầu của NHTM Vì vậy, các NHTM thường bán ngoại tệ cho NHNN bên ngoài phiên giao dịch, sau đó tại các phiên giao dịch NHNN bán lại ngoại tệ cho các đơn vị kinh tế

4 Đối với các NHTW trên thế giới, việc tung ngoại tệ ra hay mua ngoại tệ vào hoàn toàn được giữ bí mật vè số lượng nhằm tránh đầu cơ ngoại tệ nhưng tại các trung tâm không giữ được bí mật về số liệu mua vào hay bán ra của NHNN, nên khi thấy NHNN bán ra nhiều thì các NHTM lại càng mua nhiều hoặc ngược lại làm cho thị trường mất ổn định và gây khó khăn cho NHNN trong việc điều hành việc cung ứng tiền

Trang 13

5 Về mặt điều hành tỷ giá: do hai trung tâm hoạt động tách biệt nhau và đại diện riêng cho từng khu vực nên đôi khi điều hành tỷ giá còn bị chi phối bởi UBNN địa phương, vì vậy gây khó khăn trong việc thống nhất điều hành tỷ giá theo chỉ đạo của NHNN.

Tóm lại, hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã phát huy tích cực vai trì

của mình trong việc điều hòa cung cầu ngoại tệ, tạo ra phương thức kinh doanh giao dịch mang tính thị trường góp phần ổn định tỷ giá, giá cả và kích thích đầu tư tăng trưởng kinh

tế Tuy nhiên, với nhu cầu phát triển kinh tế, và nhu cầu phát triển của thị trường thì 2 trung tâm giao dịch ngoại tệ đã bộc lộ những hạn chế không đáp ứng được nhu cầu giao dịch ngoại tệ của toàn quốc gia, cũng như tính nhanh nhạy kịp thời trong giao dịch và thanh toán của cơ chế thị trường ngày càng sôi động Thực tế đòi hỏi phải có một mô hình mới linh hoạt hơn, toàn diện hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong phạm vi cả nước chứ không chỉ gói gọn tại Hà Nội và TP.HCM Đứng trước tình hình đó, NHNN đã ra Quyết định số 203/QĐ-NH9 ngày 20 tháng 09 năm 1994 về việc thành lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng và Quyết định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/9/1994 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng

III THỜI KỲ TỪ 1994 ĐẾN NAY.

1 Cơ chế quản lý ngoại hối

Để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi trong các hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối Việt Nam, tăng cường sự giám sát và quản lý ngoại hối của nhà nước thì ngày 17 tháng 8 năm1998 Chính phủ đã ra nghị định số 63/1998/NĐCP về quản

lý ngoại hối thay thế cho nghị định số 161/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1988 có thể nói từ năm 1994 đến nay nghị định quản lý ngoại hối đã bổ sung nhiều nội dung mới mà từ trước đến nay chưa có:

 Phân định rõ khái niệm về người cư trú và người không cư trú (nơi cư trú, thời gian

cư trú,…) nhằm thuận lợi cho công tác ngoại hối của nhà nước

 Phân định rõ giao dịch vãng lai với giao dịch vốn

 Qui định cụ thể vế việc phát hành giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ như: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác…

 Qui định nguyên tắc xác định tỷ giá của VND Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam

so với các ngoại tệ khác được hình thành dựa trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước

 Qui định về việc mở tài khoản ở nước ngoài và việc sử dụng ngoại tệ

 Qui định về việc chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi Việt Nam đối với các tổ chức cá nhân

 Qui định về nghĩa vụ bán ngoại tệ và quyền được mua ngoại tệ của các tổ chức

 Qui định cụ thể về hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng và bàn thu đổi ngoại

tệ, quản lý vàng tiêu chuẩn quốc tế…

Trang 14

Có thể nói từ năm 1994 đến năm 2001 nghị định quản lý ngoại hối đã đưa ra một khung pháp lý khá hoàn chỉnh đối với việc quản lý và sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch thanh toán quốc tế, đánh dấu một bươc tiến trong công tác quản lý ngoại hối Các nội dung

bổ sung của nghi định đã có nhiều nét mới theo xu hương tụ do hóa, mở cửa và hội nhập, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích sự phát triển các hoạt động kinh doanh ngoại tệ Tuy nhiên thông tư số 01/1999 TTNHNN ngày 16 tháng 4 năm 1999 của ngân hàng nhà nước hưỡng dẫn thi hành nghị định 63/1998 NĐCP lại quá tỉ mỉ, chi tiết trong khi thực tế rất đa dạng, phức tạp, các cấp thi hành không thể vận dụng một cách rập khuôn được Bên cạnh đó, có rất nhiều tình huống mà các nhà quản lý không thể bao quát hết, do đó vẫn còn tồn tại vướng mắc, ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM, các tổ chức cá nhân ví dụ như quyền mua bán ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài của tổ chức cá nhân

Bước sang thế kỉ 21,trên lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối không ngừng được đổi mới, cải tiến để phù hợp với thông lệ quốc tế và thích ứng với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Cụ thể như sau:

a Cơ chế điều hành chính sách lãi suất

Vào ngày 29 tháng 5 năm 2001 ngân hàng nhà nước đã chính thức thả nổi lãi suất cho vay bằng USD cho các ngân hàng thương mại theo quyết định số 718/2001 Cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước hiện chưa có quy định, điều chỉnh lãi suất đối với ngoại tệ, nói cách khác lãi suất ngoại tệ đang được thả nổi làm lãi suất tiền gửi bằng USD đứng ở mức cao bất hợp lý Vì vậy trong một thời gian dài giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ đã có một khoảng chênh lệch quá lớn, làm nảy sinh sự dịch chuyển vốn của khách hàng từ nội tệ sang ngoại tệ và ngược lại ngân hàng bỏ ra nhiều công sức mà không thu được lợi, lại tạo cơ hội và kẽ hở cho những người có nhiều tiền gửi và những doanh nghiệp khôn ngoan kiếm lời bằng chênh lệch lãi suất Tuy nhiên trong nửa đầu kế hoạch 5 năm 2001-2005 thì công tác quản lý ngoại hối đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Lãi suất quốc tế giảm đã ảnh hưởng lớn đến việc điều hành lãi suất trong nước Từ ngày 03/01/2001 đến ngày 25/06/2003 cục dự trữ liên bang Mĩ (FED) đã 13 lần hạ lãi suất chủ đạo từ 6,5% xuống 1%/năm Lãi suất khu vực đồng Euro giảm từ 2,5% xuống còn 2%/năm Lãi suất SIBOR cũng giảm

Những tháng đầu năm 2001, lãi suất cho vay ngoại tệ của các NHTM Việt Nam đối với cho vay ngắn hạn là dựa trên cơ sở lãi suất SIBOR 3 tháng + 1%/năm; đối với cho vay trung dài hạn là lãi suất SIBOR 6 tháng +2,5%/năm

Theo dõi diễn biến tình hình tiền tệ quốc tế từ 01/06/2001, NHNN xóa bỏ cơ sở dựa vào lãi suất SIBOR, cho phép các tổ chức tín dụng căn cứ vào lãi suất thị trường quốc tế và quan hệ cung cầu vốn ngoại tệ trong nước để thỏa thuận với khách vay ngoại tệ mức lãi suất cho vay Xét về thực chất, động thái này là việc tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tệ - 1 bước ngoặt cơ bản của NHNN về chính sách lãi suất

Trang 15

Năm 2002, lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được điều chỉnh theo mức: không kỳ hạn:1,2%/năm; 3 tháng:1,4%/năm; 6 tháng:1,6%/năm; 12 tháng:2,2%/năm (mức này xê dịch tùy theo từng ngân hàng) Lãi suất cho vay ngoại tệ ngắn hạn của NHTM phổ biến ở mức 3,5-4,5%/ năm; trung dài hạn ở mức 4,5%/năm.

Riêng với lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân tại các tổ chức tín dụng, NHNN vẫn tiếp tục khống chế ở mức thấp: không kỳ hạn : 1%/năm, có kỳ hạn đến 6 tháng

là 1,5%/năm, trên 6 tháng là 2%/năm, nhằm hạn chế việc giam giữ USD trên tài khoản

Nói chung lãi suất ngoại tệ trong 2 năm 6 tháng vừa qua ( từ 01/01/2001 đến 30/06/2003) chịu ảnh hưởng của biến động lãi suất quốc tế và tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ do NHNN quy định từng thời kỳ Do tác động của lãi suất, tốc độ tăng huy động vốn nói chung của toàn hệ thống NHVN năm 2002 đạt 19,4%/năm

Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2002 đạt 22,2% Trong đó tín dụng bằng ngoại tệ tăng mạnh 25,13% so với mức tăng 12,7% của năm 2001 tín dụng ngoại tệ tăng chủ yếu

do lãi suất cho vay ngoại tệ thấp ( do ảnh hưởng của lãi suất quốc tế) trong thực tế, thậm trí có trường hợp doanh ngiệp vay vốn ngoại tệ không đưa vào sản xuất kinh doanh mà lại bán ra thị trường tự do lấy VND gửi vào ngân hàng lấy lãi suất cao (có thời điểm lãi suất tiền gửi VND cao gấp 3 đến 4 lần lãi suất tiền gửi ngoại tệ Và vấn đề khá nóng bổng hiện nay là cuộc đua tăng lãi suất tiền gửi USD đã được phát động từ giữa tháng 3/2008 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại đã đẩy mức lãi suất tiền gửi bằng USD lên mức cao kỷ lục là 7,2%/năm, sau nhiều năm lãi suất tiền gửi bằng USD thấp và ổn định

Lãi suất tiền gửi bằng USD ở Việt Nam đang ở mức 7,2%/năm, cao hơn 1,95% so với mức lãi suất của trái phiếu chính phủ 1 năm của Mỹ là 5,25% Chênh lệch lãi suất quá lớn so với thị trường quốc tế đã tạo ra những bất cập đòi hỏi sự can thiệp bằng chính sách Trước tình hình đó,ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước đã thực đã thực hiện cơ chế điều hành lãi cơ bản bằng tiền đồng quy định lãi suất do tổ chức tín dụng thực hiện không vượt quá 150% lãi suất cơ bản Với mức lãi suất cơ bản là 14%/năm kể từ ngày 11/6/2008, mức lãi suất huy động, cho vay bằng tiền đồng không quá 21%/năm

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước hiện chưa có quy định, điều chỉnh lãi suất đối với ngoại tệ, nói cách khác lãi suất ngoại tệ đang được thả nổi làm lãi suất tiền gửi bằng USD đứng ở mức cao bất hợp lý

Với mức lạm phát dự báo cao trong năm 2008, sự thiếu đồng bộ trong việc điều hành lãi suất tiền đồng và lãi suất USD đang làm giảm sự hấp dẫn của tiền đồng với chức năng cất trữ tài sản Cuộc đua huy động ngoại tệ của các ngân hàng thương mại vô hình trung đã tiếp sức cho hành vi đầu cơ ngoại tệ và nạn đô la hoá

Do vậy, áp dụng biện pháp tiền tệ phù hợp (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng điều kiện vay vốn ngoại tệ, quy định lãi suất trần huy động ngoại tệ ) để đưa lãi suất tiền gửi bằng USD về mặt bằng hợp lý là cần thiết

b Về điều hành chính sách tỷ giá:

Trang 16

Từ năm 2001 trở đi, biên độ tỷ giá được nới rộng ± 0,1% lên ± 0,25% năm 2002 Động thái này phía NHNN đã khiến hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho các tổ chức tín dụng kinh doanh mua bán ngoại tệ Sự điều hành tỷ giá theo qui luật cung cầu ngoại tệ

có tính đến khả năng cạnh tranh tỷ giá giữa các ngoại tệ mạnh(như USD, EURO, JPY, ) đã phản ánh ngày càng toàn diện hơn mối quan hệ giữa VND với ngoại tệ các nước có quan

hệ thương mại, vay nợ đầu tư với Việt Nam Vậy qua đó tỷ giá VND không đơn thuần gắn với USD như trước và gắn với cả một rổ tiền tệ nên giữ được thế tương đối ổn định hơn, hạn chế được sự phụ thuộc vào đồng USD Ví dụ cụ thể là năm 2001, tỷ giá USD/VND tăng 3,8%; năm 2002 tăng 2,1%; 6 tháng đầu năm 2003 chỉ tăng 2,6%

Tuy nhiên,biên độ giao dịch tỷ giá quá hẹp trong một thời gian dài đã hạn chế doanh

số mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng công cụ tỷ giá và công cụ lãi suất ngoai tệ

có khi diến biến ngược chiều: lãi suất ngoại tệ diễn ra theo xu hướng giảm trong khi tỷ giá USD/VND vẫn tăng tuy ở mức độ hẹp, đã gây tâm lý khách hàng giữ ngoại tệ hoặc tránh vay ngoại tệ về tỷ giá Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ tuy có tác dụng giải quyết tình trạng khan hiếm VND cho các tổ chức tín dụng song lãi suất của nghiệp vụ này lại quá cao gây ảnh hưởng đến các ngân hàng cung cấp dịch vụ này Đến năm 2009 có thể coi là năm “tiền tệ” tại Việt Nam Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước áp lực tăng trở lại vào năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch trần

Tỷ giá chính thức giữa USD và VND trong năm 2009 đã trải qua hai lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên độ giao dịch từ 3% lên 5% và lần gần nhất là vào tháng 11 (+3,4%) Mặc dù sau mỗi lần điều chỉnh, tỷ giá chính thức đều lên kịch trần nhưng tỷ giá trên thị trường không chính thức (tỷ giá thị trường tự do) vẫn luôn nằm ngoài biên độ cho phép của NHNN

Một sự theo dõi sát sao cho thấy từ lần điều chỉnh tỷ giá ngày 11-2-2010 đến ngày điều chỉnh tỷ giá 17-8-2010, tức hơn sáu tháng, cả hai tham số trên đều gần như không thay đổi Biên độ 3% được cố định, còn tỷ giá do NHNN công bố hàng ngày không biến động

Cùng với hai sự cố định chắc chắn đó, ngày 4-8-2010, Thống đốc NHNN tuyên bố

“chắc như đinh đóng cột” tỷ giá vẫn ổn định Với những dấu hiệu cơ bản như thế, thử hỏi có doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nào dự đoán được đô la Mỹ sẽ tăng giá thêm 2,09% so với tiền đồng chỉ hai tuần sau đó?

Rõ ràng nửa năm qua, sự linh hoạt của tỷ giá ngày càng giảm sút và đang tiệm cận con số không Bây giờ sự linh hoạt trong điều hành tỷ giá cần phải được khôi phục trước sự xuất hiện của những nhân tố mới Chính sách tài khóa của các quốc gia thắt chặt, ảnh hưởng đến sức cầu hàng hóa trên thị trường thế giới và khiến giá nguyên vật liệu không tăng Đối với một quốc gia nhập siêu mà chủ yếu là nguyên vật liệu như Việt Nam, lạm phát thời gian vừa rồi đã không bị tác động của giá hàng hóa thế giới Trong bối cảnh đó,

Trang 17

điều chỉnh tỷ giá chưa tạo ra áp lực lạm phát và xét về thời điểm, nó diễn ra không quá sớm cũng không quá muộn.

Như vậy chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã dẫn đến nhiều hệ lụy như:

Thứ nhất, việc định giá VND cao so với USD trong một thời gian dài đã góp phần làm

giảm năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời khuyến khích nhập khẩu Điều này được chứng minh bằng một thực tế là nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh liên tục trong mấy năm trở lại đây, từ 2,8 tỷ USD trong năm 2006 lên 8,2 tỷ USD năm 2007 và 17,5 tỷ USD trong năm 2008

Thứ hai, nhập siêu tăng nhanh trở lại trong khi các nguồn thu ngoại tệ chính như xuất

khẩu, đầu tư nước ngoài, kiều hối và du lịch đều giảm sút mạnh so với năm 2008; và cùng với việc doanh nghiệp và người dân chuyển sang nắm USD và vàng đã làm cho cán cân thanh toán của Việt Nam thâm hụt nặng Trong bối cảnh này, chính sách tiền tệ nói riêng

và chính sách vĩ mô nói chung cần hết sức thận trọng Chính sách cần thiết trong giai đoạn sắp tới là thắt chặt chính sách tiền tệ Một số chính sách gần đây của Ngân hàng Nhà nước (giảm giá VND, tăng lãi suất qua đêm liên ngân hàng và lãi suất cơ bản) vì vậy là một sự chuyển hướng đúng đắn

Việc chấm dứt hỗ trợ lãi suất 4% cũng là một chính sách hợp lý vì bên cạnh tác động thắt chặt tín dụng, nó còn khuyến khích các doanh nghiệp có USD chuyển một phần dự trữ USD sang VND để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động, nhờ đó giảm áp lực cho thị trường ngoại hối Bên cạnh đó, việc tác động tới kỳ vọng của thị trường thông qua từng bước điều chỉnh tỷ giá USD/VND sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cân đối lại cấu trúc danh mục nắm giữ tiền của người dân và doanh nghiệp

c Về công cụ dự trữ bắt buộc:

Năm 2000 và những tháng đầu năm 2001, lãi suất tiền gửi ngoại tệ còn cao, vốn chảy vào ngân hàng nhiều Để ngăn chặn tình trạng đô la hóa tài sản nợ của các tổ chức tín dụng, từ tháng 5 năm 2001, NHNN đã nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ từ 12% lên 15%

Do chi phí đầu vào cao nên xu hướng tăng trưởng vốn huy động ngoại tệ giảm dần Đến tháng 10 năm 2001, do ảnh hưởng của lãi suất quốc tế, lãi suất ngoại tệ trong nước giảm mạnh, gây khó khăn cho tình hình tài chính của các tổ chức tín dụng, NHNN đã điều chỉnh

tỷ lệ dự trữ bắt buộc tứ 15% xuống 10%, sang 2002 xuống còn 8% và có chiều hướng còn tiếp tục giảm để phù hợp với chính sách nới lỏng tín dụng Tuy nhiên thời điểm và thời hạn tăng giảm dự trữ bắt buộc chưa thực sự phù hợp với diễn biến thị trường ngoại tệ

Đến năm 2008, Chúng ta đã phải chứng kiến những cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng, tỷ giá VND-USD đã có lúc tăng cao kỷ lục và doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất vì không tiếp cận được vốn…Trước tình hình như vậy đầu năm 2008, trước khi có gói giải pháp 8 điểm, các ngân hàng đã nhanh chóng đưa ra những giải pháp rút bớt tiền trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất (lãi suất tái chiết khấu, huy động, tiền vay, lãi suất cơ bản) sát với giá thị trường Cùng với đó, NHNN Việt Nam quyết định nâng dự trữ bắt buộc đối với

Ngày đăng: 07/09/2013, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đối với một thị trường thì việc hình thành giá cả theo quan hệ cung cầu là một nhân tố quan trọng - THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM
i với một thị trường thì việc hình thành giá cả theo quan hệ cung cầu là một nhân tố quan trọng (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w