Số lượng hạt không đạt tiêu chuẩn đạt mức “0” là mục đích cuối cùng mặc dù thời gian và các bước tiến hành có thể bị xem là không hiệu quả về kinh tế do chi phí phân loại, thậm chí chất
Trang 1MỤC LỤC
A XỬ LÝ THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN HẠT MẮC CA 1
I Giới thiệu 1
II Trước khi thu hoạch 1
III Thu hoạch 3
IV Xử lý và bảo quản sau thu hoạch 8
1 Tách vỏ 8
2 Phân loại hạt 9
3 Kiểm soát mất mùa 12
V Sấy khô 12
1 Tầm quan trọng của quá trình sấy khô 12
2 Quản lý việc sấy khô 13
3 Không khí dùng để tách ẩm 14
4 Khử ẩm 16
5 Độ sâu bồn chứa hạt 17
6 Kiểm soát môi trường sấy khô 18
7 Hạt rơi khi vận chuyển và lưu trữ 20
B CHẾ BIẾN HẠT MẮC CA 23
I Tách vỏ cứng 23
II Phân loại chất lượng nhân hạt 23
III Tách ẩm nhân hạt: 23
IV Rang nhân hạt: 23
V Trữ nhân hạt: 23
VI Đánh giá chất lượng hạt mắc ca 24
C TIÊU CHUẨN THƯƠNG MẠI HẠT MẮC CA 25
I Định nghĩa về đặc tính sản phẩm 25
II Quy định liên quan đến chất lượng 25
1 Yêu cầu tối thiểu 25
2 Độ ẩm 26
3 Phân loại 26
III Quy định liên quan đến kích thước 26
IV Quy định về dung sai 27
V Quy định liên quan đến các hình thức bên ngoài của sản phẩm 28
1 Độ đồng đều 28
2 Đóng gói 28
Trang 23 Trình bày 28
4 Quy định liên quan đến đánh dấu hàng hóa 28
5 Sự nhận biết 28
6 Đặc tính của sản phẩm 28
7 Nguồn gốc của sản phẩm 28
8 Thông số kỹ thuật thương mại 28
9 Dấu kiểm soát chính thức (không bắt buộc) 28
D TIÊU CHUẨN THƯƠNG MẠI CỦA NHÂN HẠT MẮC CA 29
I Hàng hóa bán sỉ 29
II Nhân hạt mắc ca 31
III Thương hiệu 31
IV Lựa chọn của người trồng 31
V Tiêu chuẩn kích thước 32
1 Loại 0 – Kích thước lớn nhất 32
2 Loại 1 – Kích thước lớn, nguyên hạt 32
3 Loại 2 – Pha trộn hạt nguyên và hạt một nửa 33
4 Loại 3 – Pha trộn hạt nguyên và hạt một nửa 33
5 Loại 4 – Một nửa hạt 33
6 Loại 5 – Các mẫu vụn lớn 35
7 Loại 6 – Các mẫu vụn 35
8 Loại 7 – Mẫu vụn nhỏ 35
9 Loại 8 – Hạt mịn 36
10 Bột mắc ca 36
11 Bột mắc ca nhão 36
12 Dầu mắc ca 37
VI Đề nghị khi rang 38
VII Thông số kỹ thuật đóng gói 40
VIII Sản phẩm sử dụng hạt mắc ca 40
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Khiếm khuyết của hạt mắc ca 10
Bảng 2: Ví dụ về độ ẩm hạt và độ ẩm không khí: 14
Bảng 3: Giải thích phương pháp sấy khô khép kín 18
Bảng 4: Thông tin minh họa lợi ích của hệ thống khép kín 19
Bảng 5: Ảnh hưởng của ẩm độ hạt, nhiệt độ bảo quản và thời gian bảo quản đối với chất lượng của nhân hạt và nhân của hạt rang 21
Bảng 6: Độ ẩm hạt và độ ẩm không khí 22
Bảng 7: Kích thước quy định của hạt mắc ca thương mại 27
Bảng 8: Dung sai chất lượng 27
Bảng 9: Phân tích sàng lọc phân loại nhân hạt mắc ca 39
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1 – Thổi vệ sinh vườn 2
Hình 2 – Quét vệ sinh vườn 2
Hình 3 – Các loại máy tách vỏ ngoài 9
Hình 4 – Phân loại trực quan 11
Hình 5 – Sấy khô hạt 13
Hình 6 – Silo lưu trữ 17
Hình 7 – Hạt mắc ca nguyên vỏ cứng 23
Hình 8 – Hạt mắc ca dùng làm đồ ăn nhẹ 29
Hình 9 – Hạt mắc ca dùng làm sô cô la 29
Hình 10 – Hạt mắc ca dùng làm bánh ngọt, bánh quy 30
Hình 11 – Hạt mắc ca dùng làm kem 30
Hình 12 – Hạt mắc ca dùng làm salad 30
Hình 13 – Hạt mắc ca loại 0 32
Hình 14 – Hạt mắc ca loại 1 32
Hình 15 – Hạt mắc ca loại 2 33
Hình 16 – Hạt mắc ca loại 3 33
Hình 17 – Hạt mắc ca loại 4L 34
Hình 18 – Hạt mắc ca loại 4M 34
Hình 19 – Hạt mắc ca loại 4 34
Hình 20 – Hạt mắc ca loại 5 35
Hình 21 – Hạt mắc ca loại 6 35
Hình 22 – Hạt mắc ca loại 7 35
Hình 23 – Hạt mắc ca loại 8 36
Hình 24 – Bột mắc ca 36
Hình 25 – Bột mắc ca nhão 36
Hình 26 – Dầu ăn mắc ca 37
Hình 27 – Mỹ phẩm mắc ca 37
Hình 28 – Hạt mắc ca rang khô 38
Hình 29 – Hạt mắc ca rang dầu 39
Trang 5A XỬ LÝ THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN HẠT MẮC CA
I Giới thiệu
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây mắc ca được sản xuất từ những vườn cây khác nhau Những yếu tố quan trọng nhất gồm có: điều kiện khí hậu tại nơi sản xuất, chế độ quản lý dinh dưỡng, quản lý côn trùng gây hại và nấm bệnh, cách tạo tán cây, vệ sinh đồng ruộng, cách thu hoạch và bảo quản Ngoại trừ yếu tố khí hậu, những yếu tố còn lại có thể được quản lý và kiểm soát ở mức độ tốt nếu quy trình chăm sóc đúng kỹ thuật Những vườn cây có hệ thống tưới tiêu có thể điều chỉnh độ ẩm đất, chế độ dinh dưỡng nhưng bất lợi của thời tiết bất lợi như: nhiệt độ quá nóng, quá lạnh hoặc độ ẩm không khí thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng của quả…
Khi hạt bắt đầu chín là thời điểm tiến hành kiểm soát côn trùng, sâu bệnh hại, bón phân cho vườn cây, đây là yếu tố chính quyết định năng suất và chất lượng của hạt Từ giai đoạn này tiến hành kiểm soát thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch để từ đó đánh giá hạt có đạt được chất lượng yêu cầu hay không
II Trước khi thu hoạch
1 Thu hoạch bằng máy thu hoạch
a Trước khi thu hoạch
Các hạt không tốt, hư hại hay còn non, lá thừa, nhánh cây nhỏ, rác phải được loại bỏ trước khi những trái chín rụng Nếu không loại bỏ những yếu tố này có thể cản trở hoạt động của máy thu hoạch, tách vỏ và có thể bị lẫn ngoại vật (bụi, rác, lá cây bị sót lại…) vào bên trong hạt được thu hoạch khi vận chuyển đến nhà máy
Thời điểm chuẩn bị trước khi thu hoạch rất quan trọng Nếu thu hoạch quá sớm sẽ có nhiều hạt chất lượng thấp (còn non…) lẫn vào gây nhiễm bẩn,
hư hỏng những hạt được thu hoạch, nếu thu hoạch muộn chất lượng hạt bị giảm sút Giai đoạn chuẩn bị trước khi thu hoạch thường được thực hiện trong tháng
1, tháng 2 hàng năm phù thuộc vào thời điểm hạt chín rụng xuống đất và cần được kiểm tra hàng tuần trong giai đoạn này Nhìn chung chất lượng hạt chín khi rụng xuống đất sẽ tăng khi tiến hành chuẩn bị dọn dẹp trước khi thu hoạch đúng thời điểm
b Thổi làm sạch vườn
Quá trình thổi làm sạch vườn được tiến hành bằng máy thổi khí với vận tốc cao để loại bỏ những vật cản trên bề mặt đất dọc theo các hàng cây, gốc cây làm cho máy thu hoạch không thể tiến vào thu hoạch Một số vườn cây sử dụng phương pháp này để loại bỏ vật trên mặt đất dưới toàn bộ diện tích tán cây
Trang 6Phương pháp này có thể làm sạch khu vực thu hoạch nhưng cũng đồng thời cũng loại bỏ lớp đất bề mặt có giá trị dinh dưỡng tốt cho cây Tác động xấu của phương pháp thổi làm sạch do thiếu biện pháp kiểm soát xói mòn đất được nhận thấy bằng hiện tượng đất dọc theo các hàng cây hạ thấp xuống khiến cho nước chảy tràn tạo thành dòng chảy dẫn đến tỉ lệ đất xói mòn tăng cao Nhờ vào tiến
bộ công nghệ về máy móc nông nghiệp và nhận thức tốt hơn về vấn đề xói mòn đất tại các vườn trồng mắc ca mà gần đây phương pháp thối làm sạch đã không còn được sử dụng
Hình 1 – Thổi vệ sinh vườn
c Quét vệ sinh vườn
Quét vệ sinh vườn được tiến hành nhằm loại bỏ rác, vật cản ở khu vực dưới tán cây bằng cách sử dụng động cơ cánh quạt, chổi hoặc cào bằng tay Việc quét
vệ sinh vườn ít hủy hoại bề mặt đất hơn việc thổi vệ sinh vườn, tạo điều kiện việc cải thiện đất phụ thuộc vào địa hình, máy móc và kinh nghiệm Thay đổi thiết kế dụng cụ quét đã hạn chế việc xói mòn đất giúp cải thiện đất của khu vực dưới tán cây Khi chổi quét tiến vào dọc theo các hàng cây chỉ loại bỏ những vật cần loại bỏ tại khu vực này, bằng cách ấy sẽ làm giảm sự xáo trộn bề mặt đất Tuy nhiên vẫn còn một số tác động bất lợi đến đất vì vậy cần có biện pháp kiểm soát xói mòn đất
Hình 2 – Quét vệ sinh vườn
Trang 7d Che phủ
Rác, vật cản được quét hay thổi làm sạch dưới khu vực tán cây, sau đó sử dụng vật liệu để che phủ các rãnh, lỗ trên bề mặt đất được tạo ra trong quá trình quét, thổi làm sạch hoặc do thú vật tạo ra Che phủ mặt đất làm đất bằng phẳng giúp quá trình thu hoạch tiến hành dễ dàng hơn Quá trình chuẩn bị che phủ rất quan trọng Nếu lớp phủ quá thấp, yếu có thể phá hủy cấu trúc bề mặt đất do lớp che phủ bị phá vỡ rất dễ làm đất xói mòn Việc che phủ giúp máy tiếp cận gần với thân cây tạo sự thuận lợi trong việc giới hạn khu vực quét dọc theo hàng cây đồng thời cho phép giữ lại lớp phủ của khu vực rễ nhưng không làm ảnh hưởng đến quá trình thu hoạch
III Thu hoạch
1 Tổng quát
Thu hoạch mắc ca có thể tiến hành bằng tay hoặc sử dụng máy móc Thu hoạch bằng tay rất tốn kém và chỉ tiến hành khi thời tiết ẩm ướt khiến máy móc không thể hoạt động hoặc khi cây còn non sẽ không kinh tế khi tiến hành thu hoạch bằng máy Khuyến cáo rằng có một số vườn ở khu vực đất dễ bị xói mòn khó tiến hành quét làm sạch vườn, việc xói mòn dễ làm tổn thương rễ khi thu hoạch bằng máy Trồng xen canh thì phải thu hoạch bằng tay
Ở những vườn cây còn nhỏ không có đủ sản lượng để đảm bảo hiệu quả việc sử dụng máy thu hoạch cho mỗi mùa, thu hoạch bằng cách để tất cả cây tự rụng 1 lần để chỉ tốn công 1 lần thu hoạch là tốt nhất Phần lớn các giống mắc ca
có trái chín trên cây vào tháng 03 vì vậy việc thu hoạch có thể thực hiện vào bất
kỳ lúc nào sau đó Phải kiểm tra độ chín của trái trước khi thu hoạch Cho trái rụng một lần sẽ tốn ít chi phí để thuê nhân công lượm hạt hơn sử dụng máy thu hoạch
Bất kể sử dụng phương pháp thu hoạch nào, việc thu hoạch phải được tiến hành ít nhất sau mỗi 4 tuần trong suốt mùa thu hoạch và có thể thường xuyên hơn nếu cần thiết Mục đích nhằm giảm thiểu số lượng hạt hư do ôi thiêu, mốc, nảy mầm, ô nhiễm vi sinh vật xảy ra khi hạt rụng trên mặt đất Càng kéo dài khoảng cách giữa các lần thu hoạch thì khả năng hạt bị thất thoát do mối mọt hoặc bị cuốn trôi do dòng chảy nước, xói mòn đất
Thường xuyên thu hoạch đặc biệt quan trọng khi hạt tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời hoặc bị ẩm ướt làm tăng độ nẩy mầm của hạt và mối mọt Vườn bị ẩm ướt là kết quả của việc mưa kéo dài làm chậm trễ việc thu hoạch bằng máy, vì vậy thuê nhân công thu hoạch bằng tay là phù hợp trong điều kiện này
Trang 8Hoạt động thu hoạch tiến hành có thể bằng cách chia khu vực theo cây hoặc hàng cây, mục đích để có thể thu lượm gần như 100% hạt rụng trên mặt đất, phân chia phụ thuộc vào kích thước vườn cây và máy móc có sẵn Sẽ có khoảng thời gian dài giữa các lần thu hoạch kế tiếp cho cùng một khu vực của vườn cây vì vậy cần thu ngắn khoảng thời gian không mong muốn này để hạt còn lại trên mặt đất không bị giảm chất lượng Tùy thuộc vào bề mặt thu hoạch
và số lượng cây trồng mà có thể thu hoạch ít nhất 80 – 85% sản lượng cây trồng nếu không phân chia khu vực Chia khu vực thu hoạch rất quan trọng để thu lượm phần lớn hạt càng nhanh càng tốt và phải chắc chắn 100% hạt đã được thu lượm trước khi chuyển sang khu vực khác để thu hoạch
Phương pháp thu hoạch đúng cách là tiến hành thu hoạch và xử lý giống cá thể riêng biệt Giả sử giống A được thu hoạch và lưu trữ riêng biệt với giống từ Hawaii vì giống A có lớp vỏ nang mỏng hơn (Ví dụ giống A4, A6) và cần điều chỉnh máy tách vỏ phù hợp với giống A để không làm vỡ hạt Tiến hành tách vỏ giống A cùng với giống từ Hawaii có thể dẫn đến tổn hại đáng kể cho giống A
do máy tách vỏ được điều chỉnh quá chặt hoặc giống từ Hawaii sẽ không được tách vỏ hoàn toàn nếu máy được điều chỉnh không phù hợp
a Sử dụng Ethephon (Ethrel) trợ giúp thu hoạch
Sử dụng Ethephon (Ethrel) đang ngày càng được phổ biến rộng rãi trong việc trồng cây mắc ca nhằm rút ngắn mùa thu hoạch Khi dầu được tích tụ tối đa hoàn toàn trong hạt nhân trước khi trái bắt đầu rụng tự nhiên, Ethephon được sử dụng sau khi dầu được tích tụ tối đa hoặc khi trái đã đạt độ chín cần thiết
Việc áp dụng Ethephon cho nhiều giống cây trồng giúp thúc đẩy phát triển sinh lý nhiều bộ phận khác nhau của cây trồng như lá, hoa, quả Ethephon cũng
áp dụng được cho cây mắc ca Nghiên cứu cho thấy mối tương quan giữa hiện tượng rụng hạt và việc sản xuất ethylene khi dùng Ethephon, sau đó là tùy mức
độ nhạy cảm của cây với Ethephon qua các giai đoạn phát triển bình thường của cây trồng Độ nhạy cảm của mắc ca sẽ cao trong 2 giai đoạn: giai đoạn phát triển sớm của cây và giai đoạn trưởng thành hay giai đoạn trái rụng
Ngoài lợi ích làm rút ngắn mùa thu hoạch, việc sử dụng Ethephon có thể thu được những lợi ích sau:
- Kiểm soát vấn đề trái không tự rụng của giống A16 và các giống khác
- Hạt có chất lượng cao hơn Hạt sau khi đạt tới độ chín cần thiết vẫn còn trên cây sẽ bị giảm chất lượng do hạt bị mốc, nảy mầm, và phai màu
- Giảm chi phí thu hoạch Mùa thu hoạch thường bao gốm ít nhất 4 giai đoạn hoàn chỉnh Bằng cách sử dụng Ethephon có thể giảm bớt đáng kể chi phí
- Giai đoạn thu hoạch ít hơn nghĩa là giảm bớt hoạt động thổi hoặc quét làm sạch, nhờ vậy giảm sự xáo trộn bề mặt đất
Trang 9- Kiểm soát sâu đục trái và đốm hạt Thông qua việc loại trừ hiện tượng hạt không tự rụng và hoàn thành việc thu hoạch trước khi tiếp tục ra hoa, nhờ vậy có thể loại trừ sâu đục trái và đốm hạt ở lần ra trái tiếp theo Đối với hiện tượng đốm hạt đặc biệt có liên quan đến các giống có trái tự rụng muộn như 849, A16
và 842, đây là những giống rất nhạy cảm với các loại bệnh
- Quản lý tán cây có thể thực hiện trước hoặc trong chu kỳ sinh trưởng của cây
- Mùa thu hoạch được rút ngắn giúp quản lý vườn cây hiệu quả hơn Các hoạt động khác của vườn cây như bón phân, quản lý tán cây sẽ được thực hiện
mà không bị chậm trễ, trở ngại
Mặc dù có những lợi nhuận tiềm năng như vậy nhưng cần tiếp cận thận trọng công cụ quản lý này Nếu vẫn tiếp tục sử dụng Ethephon cho những lần rụng lá tiếp theo có thể gây ảnh hưởng tai hại đến việc ra hoa vì vậy cũng ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch Tương tự như vậy, sử dụng Ethephon quá gần với mùa ra hoa mới, giai đoạn bắt đầu hoa ra thành chùm sẽ gây tác dụng bất lợi cho sản lượng do hoa chết, bị rụng Tại Hawaii, giai đoạn phát triển hạt và ra hoa thường bị chồng chéo lên nhau nên đây là vấn đề lớn, khó giải quyết
Hiện tượng rụng lá xảy ra như là kết quả của việc sử dụng Ethephon, mức
độ xuất hiện của hiện tượng sinh lý này liên quan đến nồng độ Ethephon được
sử dụng, đây là một vấn đề cần quan tâm cho dù hiện tượng sinh lý này có ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch hay không
Nghiên cứu được thực hiện tại Úc vào giữa những năm 1980 với một loạt các tỉ lệ Ethephon (200ppm đến 1600ppm) không chỉ ra được mức độ lá rụng như thế nào thì được xem là quá mức cho phép Nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng phần lớn lá rụng do sử dụng Ethephon là lá già trong các tán cây, mức độ rụng của các lá non, lá phía bên ngoài tán cây đang tiến hành quang hợp thấp hơn Dù vậy, có thể giả định rằng nếu sử dụng Ethephon nồng độ cao (hơn 2000ppm) sẽ gây ra hiện tượng rụng số lượng đáng kể lá trẻ kết hợp với lá già thì cây sẽ bị ảnh hưởng bất lợi do giảm khả năng quang hợp Tuy nhiên, sử dụng Ethephon gây rụng lá làm cho tán cây mỏng hơn, loại bỏ các lá già giúp cải thiện độ chắn sáng của các tán cây, giảm tải trọng bảo dưỡng cho cây là tác dụng và lợi ích
Trang 10- Năng suất tăng đáng kể trong năm thứ 2 sử dụng Ethephon Không có khác biệt đáng kể về việc tăng năng suất này giữa việc sử dụng Ethephon với các phương pháp kiểm soát khác
Chưa có bằng chứng cho thấy việc sử dụng Ethephon rút ngắn mùa thu hoạch sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng hạt Ethephon sẽ chỉ được sử dụng khi hạt đã tích dầu tối đa và đạt độ chín phù hợp Nghiên cứu trên giống A16 không cho thấy bất kỳ sự khác biệt nào về hàm lượng dầu của hạt nhân giữa việc
có sử dụng Ethephon hay không
Hiện nay, do tài liệu nghiên cứu có sẵn còn hạn chế để xác nhận hay phủ nhận những ảnh hưởng lâu dài của việc sử dụng Ethephon Đã không có các tác động tiêu cực quan sát thấy được trên vườn cây được quản lý, vườn cây đã được
sử dụng Ethephon theo mùa trong sau 4 năm
b Nồng độ, chất phụ trợ, độ bao phủ, thời gian, giống
Hiệu quả của Ethephon được xác định bằng một số yếu tố và cần phải xem xét một cách cẩn thận trước khi quyết định sử dụng Ethephon như một công cụ quản lý cây trồng
Chất phụ trợ
Tiến hành thí nghiệm về việc bổ sung chất phụ trợ khác nhau như Urea, Agral 600, Glycerol (Kháng cháy khô) và Phosphate (Na2HPO4) đã đạt được những kết quả khác nhau Thí nghiệm tại Nam Phi đã cho thấy triển vọng của giống Beaumont với việc bổ sung riêng biệt Urea (1,5g/lít) hoặc Na2HPO4 (3g/lít) hoặc bổ sung Urea (1,5g/lít) và Na2HPO4 (3g/lít) phun hỗn hợp cùng với nhau Sử dụng nồng độ Urea cao hơn một chút (0,25% hoặc 2,5g/lít) đã được thử nghiệm tại Úc cũng cho kết quả hứa hẹn Sử dụng Plus 50 làm tác nhân làm
ẩm với nồng độ 0,25ml/lít, 0,50ml/lít và 0,75ml/lít giúp làm tăng hiệu quả của Ethephon, điều này dẫn đến việc sử dụng Agral với nồng độ 0,05ml/lít trong các thử nghiệm gần đây
Trang 11Độ bao phủ
Với hầu hết các hóa chất, tiến hành phun bao phủ đầy đủ tán cây là yếu tố cần thiết để tối ưu hóa hiệu quả của Ethephon Điều này đặc biệt quan trọng với các giống có tán dày như A16 Kiểm tra điều chỉnh máy phun là cần thiết trước khi sử dụng Ethephon
Thời gian và các giống
Trong khi đã biết được nồng độ sử dụng Ethephon và các chất phụ trợ được xem như là yếu tố chính để xác định mức độ trái rụng, thì việc xác định thời gian sử dụng Ethephon cho từng giống cũng quan trọng nếu muốn đạt được mức rụng hạt tối ưu Có khả năng nồng độ Ethephon được sử dụng cùng với sự đáp ứng của các giống cụ thể khi dùng Ethephon sẽ thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn trái chín và việc có hay không hiện tượng hạt rụng tự nhiên Nghiên cứu được thực hiện tại Úc trên giống A16 đã cho thấy sự tương quan rất mạnh giữa mức độ trái rụng và thời gian sử dụng Ethephon Ethephon được sử dụng với nồng độ 1200ppm trước hiện tượng rụng tự nhiên (24/03), vào thời điểm bắt đầu hiện tượng rụng tự nhiên (12/05) và trong quá trình rụng tự nhiên (08/06) đã đạt được 33%, 81% và 96% hạt rụng tương ứng trong 4 tuần
Tác động của Ethephon thay đổi không nhất thiết có liên quan đến độ chín của trái Trái của các giống 344, 741 được chứng minh tác động với Ethephon tốt hơn trước khi tinh dầu hoàn toàn được tích tụ vào nhân, đối với giống OC, H2 và A16 tác động với Ethephon tốt hơn từ tháng 04 đến tháng 05 và tháng 05 đến tháng 06 Thời gian sử dụng tiếp theo tốt nhất là sau tháng 03 khi trái đã đạt
độ chín cho hầu hết các giống trong mùa thu hoạch bình thường Thử nghiệm cho thấy mức độ tác động của Ethephon đạt được lớn hơn khi trái bắt đầu rụng
tự nhiên vì vậy thiết thực hơn là thận trọng chờ đợi cho đến giai đoạn này để sử dụng Ethephon
Với những giống có trái rụng muộn như A16, cần thận trọng cân nhắc việc trì hoãn phun Ethephon trước khi áp dụng phun Ethephon Ví dụ: Hoạt dộng của Ethephon bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, tiến hành phun gần với mùa lạnh hơn của năm sẽ hạn chế sự hấp thu và tác động của Ethephon Tỉ lệ trái rụng ở Bundaberg khi sử dụng Ethephon với nồng độ thấp hơn (480, 960ppm) tương tự với tỉ lệ trái rụng ở Newrybar khi sử dụng Ethephon với nồng độ cao hơn (1680) trong cùng một thời điểm của năm, sự khác biệt về nhiệt độ giữa 2 vùng đã tạo
ra sự chênh lệch này Tiến hành phun Ethephon trễ trong mùa thu hoạch sẽ làm
hư hại hoa và vì vậy sẽ ảnh hưởng đến mùa thu hoạch tiếp theo Nụ hoa có độ dài khoảng 5mm sẽ tương đối chịu đựng được Ethephon trong khi đó các hoa lớn hơn sẽ chết, rụng sau khi sử dụng Ethephon, tác động bất lợi đến sản lượng
Trang 12sẽ nhận thấy được nếu sử dụng Ethephon sau khi chùm hoa đã bắt đầu mọc dài ra
Thực tế đã chứng minh rằng hiệu quả của Ethephon phụ thuộc vào thời gian sử dụng và nồng độ sử dụng Ví dụ: Với giống A16 sử dụng 600ppm Ethephon có hiệu quả như sử dụng 1200ppm Ethephon trong giai đoạn rụng tự nhiên, mặc dù có hay không nồng độ này sẽ đạt được hiệu quả nếu áp dụng trước đó Nhiều phương pháp sử dụng Ethephon (600ppm * 2) đã được thử nghiệm, không có sự khác biệt đáng kể với sử dụng Ethephon (600ppm * 1;
1200 * 1)
c Thu hoạch và bảo quản
Trước khi sử dụng Ethephon phải chắc chắn cơ sở hạ tầng của nông trại có phù hợp với sự gia tăng rất lớn khối lượng thu hoạch trong một thời gian ngắn hay không? Trang thiết bị thu hoạch phải có khả năng thu hoạch tất cả các trái rụng trong thời gian chấp nhận được để tránh giảm chất lượng hạt do nảy mầm, mối mọt… Tương tự, việc tách hạt và bảo quản phải có thể đáp ứng với sự gia tăng số lượng trái rụng Nếu có sự hạn chế về khu vực bảo quản, việc vận chuyển nhanh chóng hạt từ bồn lưu trữ (silo) tới máy chế biến là rất quan trọng Khả năng xảy ra mưa lớn và liên tục sau khi sử dụng Ethephon có thể ngăn cản hoạt động thu hoạch, đây là nguy cơ luôn có thể xảy ra khi phun Ethephon Máy thu hoạch hoạt động dưới điều kiện bất lợi như vậy sẽ không thể giảm bớt thời gian thu hoạch cũng như giảm số lượng hạt hư hỏng
IV Xử lý và bảo quản sau thu hoạch
1 Tách vỏ
Hạt tươi phải được tách vỏ trong vòng
24h sau khi thu hoạch Bảo quản hạt tươi
trong một không gian hẹp (như thùng bảo
quản) dù cho thời gian ít hơn 8h vẫn làm tích
tụ nhiệt hô hấp, làm tăng tỉ lệ mốc, mọt, hôi
thối và nảy mầm của hạt Nếu không thể tách
vỏ trong vòng 24h, hạt tươi phải được lưu trữ
nơi thoáng mát Không nên lưu trữ hạt tươi
trong container nơi không khí không thể lưu
thông.Tránh sử dụng túi nhựa, bao phân bón
và hộp gỗ nếu thời gian lưu trữ nhiều hơn 12h
Trang 13Hình 3 – Các loại máy tách vỏ ngoài Hạt tươi sau khi thu hoạch sẽ tạo ra một lượng nhiệt đáng kể trong quá trình bảo quản Nếu không thể tránh được điều này bằng cách tách vỏ, sấy khô ngay lập tức sẽ làm tăng tỉ lệ tích tụ nhiệt hô hấp dẫn đến nhiệt độ ngày càng tăng cao Bảo quản hạt ở nhiệt độ 22o
C thì nhiệt độ hô hấp tăng là 6oC, bảo quản hạt ở nhiệt độ 35oC thì nhiệt độ hô hấp tăng 10oC và với nhiệt độ bảo quản hơn
30oC với độ ẩm cao sẽ làm nhân bị đổi màu ở một số giống
Cẩn thận quan sát các hạt trong suốt thời gian tiến hành tách vỏ, đặc biệt là tách vỏ các giống khác nhau Giống A như A4, A6 sẽ có lớp vỏ nang mỏng hơn các giống Hawaii vì vậy dễ bị tổn thương cơ học hơn, cần phải điều chỉnh máy tách vỏ phù hợp cho từng giống khác nhau
2 Phân loại hạt
Cách thức phân loại sẽ khác nhau từ mùa này sang mùa khác và từ vườn này sang vườn khác Việc thường xuyên theo dõi chất lượng hạt ở tất cả các giai đoạn trong suốt quá trình phân loại là rất quan trọng bằng cách tách hạt, đánh giá chất lượng mẫu thử được lấy từ vành đai phân loại của lần thu hoạch trước
đó trước khi đưa hạt vào silo hay khu vực bảo quản Thực hiện quy trình này sẽ giúp xác định được chất lượng của các hạt được lưu trữ Lấy mẫu thường xuyên
sẽ đảm bảo các hạt thử nghiệm là đại diện cho các hạt trong silo hoặc khu vực bảo quản, có thể dễ dàng làm điều này bằng cách chọn ngẫu nhiên một vài hạt tại các khoảng thời gian đều đặn và đặt chúng vào một cái xô để thử nghiệm Phân loại hạt thường liên quan đến sự kết hợp giữa phân loại bàn và phân loại nước Tách không khí cũng được sử dụng mặc dù phương pháp này không phổ biến tại NSW Trung bình sẽ có 2 bước phân loại được tiến hành Bước đầu tiên là sử dụng một bàn phân loại đặc biệt nhằm loại bỏ những hạt mắc ca khiếm khuyết, sau đó hạt được sấy khô xuống một độ ẩm đặc biệt rồi tiến hành phân loại lại một lần nữa bằng bàn phân loại và máy phân loại nước Một số người trồng lựa chọn phương pháp cho hạt chạy càng nhanh càng tốt qua bàn phân loại
để loại bỏ những hạt có khiếm khuyết rõ ràng và sử dụng bước 2 như là bước
Trang 14phân loại chính Sử dụng những phương pháp này nhằm đảm bảo cho hoạt động tách vỏ được diễn ra suôn sẻ
Sử dụng bao nhiêu bước phân loại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng hạt khi đưa vào bàn phân loại và mức độ hạt bị loại bỏ được cho phép Trong trường hợp hạt thu hoạch có chất lượng tốt thì việc tốn chi phí phân loại là không đáng
kể Nếu hạt có chất lượng quá thấp thì có thể tiến hành phân loại cho đến khi đạt kết quả chấp nhận được Số lượng hạt không đạt tiêu chuẩn đạt mức “0” là mục đích cuối cùng mặc dù thời gian và các bước tiến hành có thể bị xem là không hiệu quả về kinh tế do chi phí phân loại, thậm chí chất lượng hạt có thể suy giảm
do bảo quản hạt trong thời gian dài với độ ẩm cao
Phân loại trực quan
Phân loại trực quan được thực hiện với bàn phân loại nhằm mục đích loại
bỏ những hạt khiếm khuyết như bảng sau:
Bảng 1: Khiếm khuyết của hạt mắc ca
Côn trùng phá hoại
(Sâu đục quả, đốm trái…)
Hạt đổi màu (Màu nhạt đi hoặc chuyển đen) Động vật gặm nhắm phá hoại
Trang 15Hình 4 – Phân loại trực quan
Phân loại bằng nước
Phân loại nước được sử dụng trong các kế hoạch tách vỏ nhằm loại bỏ hạt non và khiếm khuyết Hạt non có trọng lượng riêng nhẹ hơn nước sẽ nổi lên còn các hạt không bị khiếm khuyết, hạt chín có trọng lượng riêng nặng hơn nước sẽ chìm xuống Để làm rõ sự khác biệt về trọng lượng riêng giữa hạt tốt và hạt khiếm khuyết thì hạt phải có độ ẩm chính xác Nếu hạt quá khô, không khí giữa hạt nhân và vỏ nang sẽ làm giảm trọng lượng riêng của hạt làm hạt nổi lên và bị loại bỏ Độ ẩm lý tưởng đến tiến hành phân loại bằng nước là 10% - 12% cho giống Hawaii và 14% - 15% cho giống A từ Úc Để quy trình phân loại bằng nước chắc chắn đạt hiệu quả phải lấy mẫu thường xuyên, tách vỏ cả hạt nổi và hạt chìm để kiểm tra độ chính xác
Phân loại nước hiệu quả trong việc loại bỏ những hạt khiếm khuyết nhưng vẫn có thể rủi ro về vấn đề vệ sinh Với những mầm bệnh như Salmonella sẽ phát triển nhanh gấp 150.000 lần ở nhiệt độ nước là 20oC trong vòng 24h Để ngăn chặn điều này xảy ra, nước dùng để phân loại phải được thay thế ít nhất sau mỗi giờ và dụng cụ chứa phải sạch, được làm vệ sinh hàng ngày
Trang 16Tiến hành phân loại nước không nhất thiết phải luôn thực hiện trong quá trình phân loại Vào một số mùa, số lượng hạt non thu hoạch sẽ hạn chế nên không cần phải phân loại bằng nước Khi số lượng hạt non thu hoạch quá nhiều thì có thể tiến hành phân loại nước trong hầu hết các mùa
Trong trường hợp có một hệ thống thanh toán thương mại, có thể giữ lại các hạt nổi cần loại ra cho đến khi nó được kiểm tra bởi bộ vi xử lý để xem có thể sử dụng được hay không
3 Kiểm soát mất mùa
Nên lưu giữ số liệu về số lượng hạt khiếm khuyết bị loại bỏ, tổng sản lượng thu được để giúp xác định khu vực nào của vườn cần được chú ý chăm sóc Giả
sử khu vực bị chuột phá hoại cần có phương pháp đánh bả chuột cho khu vực
đó Khu vực bị đốm quả chỉ có thể giám sát và xác định tỉ lệ phun để loại trừ mầm bệnh Nếu có hiện tượng một số lượng lớn hạt đủ tiêu chuẩn bị phân loại không đạt tiêu chuẩn và ngược lại cho thấy hiệu quả phân loại thấp thì cần tiến hành huấn luyện người trồng hoặc giám sát chuyên sâu để khắc phục
V Sấy khô
1 Tầm quan trọng của quá trình sấy khô
Kiểm soát quá trình sấy khô hạt đến một độ ẩm ổn định để thu được hạt chất lượng cao Hạt tươi và hạt tách vỏ thường có độ ẩm hơn 20% Nhanh chóng kiểm soát độ ẩm xuống mức độ ẩm ổn định hơn để loại bỏ các yếu tố gây giảm chất lượng hạt như bọ, sâu bệnh, nảy mầm gây giảm tuổi thọ Quá trình sấy khô tiến hành bằng cách ép thổi không khí vào các hạt, không khí được sử dụng có thể là không khí xung quanh hoặc không khí được biến đổi theo một số cách để làm giảm độ ẩm
Hạt có độ ẩm cao có thể gây ra nhiệt độ hô hấp cao, cần giảm nhiệt độ hô hấp để duy trì chất lượng hạt Ở độ ẩm 12% hoặc thấp hơn, nhiệt độ hô hấp là thấp nhất, sẽ bằng hoặc thấp hơn độ ẩm hạt, sự phát triển của mối mọt, mốc sẽ hoàn toàn được loại bỏ Vì vậy cần phải giảm độ ấm của hạt xuống 12% hoặc thấp hơn sau khi tách vỏ
Giảm độ ẩm của hạt xuống một mức độ ổn định là rất quan trọng để kiểm soát chất lượng Các yếu tố khác như thời gian và nhiệt độ bảo quản cũng là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng Trong khi tiến hành giảm độ ẩm của hạt xuống 12% sẽ hạn chế sự phát triển của mốc, mọt, nhưng vẫn có thể làm giảm chất lượng hạt nếu không bảo quản tốt Dù cho ở độ ẩm 10%, hạt chỉ có thể được bảo quản trong vòng 2 tuần (4 tuần với độ ẩm 7.5%) với nhiệt độ 25oC trước khi chất lượng hạt bị giảm do thời gian bảo quản dài Ở nhiệt đô cao, thời gian bảo quản sẽ ngắn hơn ở nhiệt độ thấp Thử nghiệm cho thấy ở 5oC và độ
ẩm 10% có thể lưu trữ hạt an toàn trong vòng 4 tháng (12 tháng ở độ ẩm 7.5%)
Trang 17mà không làm giảm chất lượng hạt Nếu lưu trữ hạt ở 40oC sẽ làm giảm chất lượng hạt chỉ sau một tháng dù cho bảo quản ở độ ẩm nào
Điều kiện bảo quản kém sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt gây ảnh hưởng xấu đến quá trình rang hạt Các hạt bị khiếm khuyết do điều kiện bảo quản kém thường sẽ không được phát hiện cho đến sau khi rang hạt Các nghiên cứu chỉ ra rằng các khiếm khuyết sẽ trở nên tệ hơn nếu bảo quản hạt ở nhiệt độ
25oC trong thời gian dài
Hình 5 – Sấy khô hạt
2 Quản lý việc sấy khô
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng hạt sẽ giảm khi độ ẩm hạt tăng, nhiệt độ bảo quản tăng và thời gian bảo quản dài Hạt được bảo quản tốt ở
độ ẩm từ 7,5% - 10% với nhiệt độ bảo quản thấp (khoảng 5o
C) Hầu hết các vườn không có các kho lạnh để lưu trữ hạt ở 5o
C vì vậy thời gian bảo quản hạt
an toàn nhất tại các vườn này chỉ khoảng 2 đến 4 tuần
Để hạn chế tối đa việc suy giảm chất lượng hạt do điều kiện bảo quản kém cần nhanh chóng giảm độ ẩm hạt xuống 12% (hạn chế sự phát triển mốc, mối mọt) và sau đó giảm xuống độ ẩm 10% hoặc 7.5% nếu thời gian bảo quản kéo dài 4 tuần là biện pháp sấy khô phải được thực hiện Sau khi sấy khô cần đưa hạt
đi xử lý càng sớm càng tốt
Nếu có thể đưa hạt đi xử lý sớm thì yêu cầu duy nhất là cần phải chắc chắn hạt đã được phân loại tốt Nếu hạt không được phân loại bằng nước (phân loại bằng nước yêu cầu độ ẩm của hạt là 12% mới hiệu quả), thì không cần giảm độ
ẩm của hạt xuống 10% hoặc thấp hơn Cần đưa hạt đi xử lý ngay khi quá trình phân loại hoàn tất, không phân biệt độ ẩm khác nhau Chất lượng của hạt phụ thuộc vào thời điểm tiến hành xử lý hạt để có được hạt chất lượng tốt nhất Một
số người trồng sẽ tiến hành phân loại và lập báo cáo về cây trồng nhiều lần nhằm mục đích loại bỏ hạt khiếm khuyết Phương pháp này có thể có ích trong một số trường hợp nhưng sẽ làm kéo dài thời gian lưu trữ hạt, ảnh hưởng đến
Trang 18đánh giá chất lượng tổng thể khi đưa đến nhà máy chế biến và do vậy sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận
3 Không khí dùng để tách ẩm
Giảm độ ẩm của hạt phụ thuộc vào độ ẩm của không khí (RH) được sử dụng trong quá trình sấy khô Khi sấy khô, độ ẩm của không khí phải thấp hơn
độ ẩm của hạt hoặc bằng nhau
Nhiệt độ không khí cũng quan trọng vì không khí nóng sẽ tác động trực tiếp lên cả độ ẩm không khí và khả năng sấy khô Để đảm bảo hiệu quả sấy khô cần tìm hiểu kỹ và giám sát thường xuyên độ ẩm, nhiệt độ không khí và độ ẩm của hạt
Độ ẩm của hạt tăng hay giảm phụ thuộc vào độ ẩm của không khí, 2 yếu tố này có mối quan hệ trực tiếp với nhau
Nếu người trồng sấy khô bằng khí nóng có thể sử dụng biểu đồ độ ầm giúp xác định nhiệt độ sấy khô cần thiết Nhiệt độ sấy khô phải được điều chỉnh cả ngày và đêm trong suốt quá trình sấy
Nhiệt độ không khí ( o C)
Ẩm độ không khí (%)
Nhiệt độ sấy yêu cầu
Các thiết bị cơ bản để hỗ trợ sấy khô là dụng cụ điều chỉnh độ ẩm và nhiệt
kế cộng với một biểu đồ độ ẩm Có thể sử dụng bộ điều khiển tinh vi hơn là cánh quạt tự động tắt mở và thay đổi nhiệt độ của không khí bằng bộ cảm biến
độ ẩm nhưng sẽ tốn chi phí cao
Tiến hành sấy khô hạt trong silo hoặc hộp lưu trữ với môi trường không được kiểm soát sẽ không thu được tỉ lệ hạt sấy khô giống nhau đối với toàn bộ hạt được lưu trữ Ban đầu, sấy khô sẽ được tiến hành trong một khu vực hẹp nơi không khí sẽ được đưa vào và không khí sấy khô sẽ được đưa vào bên trong hạt cho đến khi đạt đến điểm thoát khí Về cơ bản thì khi độ ẩm của không khí trong khu vực sấy khô gần giống với độ ẩm của không khí dùng để sấy khô, độ ẩm của không khí trên khu vực sấy khô và ở lối ra sẽ giống nhau 100% hoặc sẽ bão hòa
do chứa độ ẩm loại bỏ từ khu vực sấy khô bên dưới Khi độ ẩm của không khí
Trang 19thoát ra gần như xấp xỉ với độ ẩm của không khí đưa vào hoặc độ ẩm của không khí sấy khô, khi đó có thể giả định hạt đã đạt độ ẩm cần thiết
Tiến hành sấy khô hạt bằng không khí nóng rất quan trọng đối với các hạt
có độ ẩm cao Thời gian yêu cầu khi sấy khô hoặc không khí lưu thông trong khu vực sấy khô sẽ tăng lên tùy thuộc vào mục tiêu giảm thiểu độ ẩm hạt Nếu mục tiêu giảm thiểu độ ẩm thấp ở mỗi bước sẽ dẫn đến kết quả thể tích hạt còn lại sẽ cao hơn và độ ẩm, nhiệt độ hạt còn lại sẽ gây nguy hiểm trong thời gian dài Thêm vào đó, tiến hành sấy hạt với số lượng lớn ở độ ẩm cao (>12%) sẽ thường đòi hỏi nhiệt độ hơn 30oC trong điều kiện khí hậu của Úc
Sau đây là một số cách và công nghệ có thể sử dụng để sấy khô hạt Bao gồm sấy khô bằng không khí bình thường, không khí nóng hoặc khử ẩm
a Không khí bình thường
Sấy khô bằng không khí bình thường chỉ hiệu quả khi độ ẩm của không khí được sử dụng phải thấp hơn độ ẩm cân bằng bên trong thân các hạt lưu trữ Vì vậy, phương pháp này hạn chế khả năng sấy khô hạt xuống độ ẩm 10% và phải phụ thuộc vào điều kiện thời tiết tại khu vực sấy khô Trong môi trường không được kiểm soát, tiến hành sấy khô bằng không khí bình thường 24h/ngày sẽ dẫn đến tình huống không khí nơi sấy khô ban ngày có độ ẩm không khí là thấp nhất
và ẩm ướt trở lại vào ban đêm khi độ ẩm không khí tăng cao sẽ làm hạn chế hiệu quả sấy khô vào ban ngày
Thời gian duy nhất có thể tiến hành quạt sấy khô 24h/ngày (sử dụng không khí bình thường) có thể làm giảm độ ẩm của hạt là khi hạt tươi đã được thu hoạch và được chuyển vào nơi lưu trữ với độ ẩm cao với độ ẩm cân bằng xấp xỉ 100% Tiến hành quạt sấy khô 24h/ngày có thể đạt hiệu quả có lợi khi ở điều kiện khắc nghiệt có độ ẩm không khí ngày hay đêm lớn hơn trạng thái cân bằng của độ ẩm trong hạt Sau khi độ ẩm hạt đạt mức khoảng 15%, tiến hành quạt sấy khô sử dụng không khí bình thường chỉ được thực hiện khi độ ẩm không khí ít hơn độ ẩm cân bằng của không khí trong tháp lưu trữ thường xảy ra trong giai đoạn ban ngày
Hiệu quả sấy khô sử dụng không khí bình thường trong môi trường không được kiểm soát có thể cải thiện nếu quạt sấy khô được điều khiển phù hợp với
sự biến động độ ẩm của không khí và độ ẩm hạt Dụng cụ đo độ ẩm hoặc bộ điều khiển tự động được điều hành trên cơ sở đặt chiến lược cảm biến độ ẩm sau
đó có thể được sử dụng để vận hành quạt sấy khô khi điều kiện thích hợp Các
hệ thống này đang được cải tiến liên tục, nó vẫn còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Trong suốt mùa thu hoạch, thời tiết ẩm ướt có thể kéo dài làm quá trình sấy khô không hiệu quả, hạt bị ẩm ướt trở lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nhân
Trang 20Tuy nhiên vẫn có rủi ro khi sử dụng không khí nóng sấy khô Đặc biệt khi
sử dụng không khí với nhiệt độ nóng quá mức với hạt có độ ẩm cao có thể gây hóa nâu bên trong hạt và nhân bị mất màu Sấy khô hạt có độ ẩm cao ở nhiệt độ
40oC đã cho thấy tỉ lệ loại bỏ tăng cao gấp 2,5 – 4,5 lần Hạt được sấy khô không đồng đều cũng đã được chứng minh là kết quả của việc sử dụng nhiệt độ sấy khô quá cao và điều này có thể dẫn đến sự gia tăng tỉ lệ bọ, mối mọt, mốc và giảm tuổi thọ của hạt
Nhiệt độ sấy khô lý tưởng được đề nghị là không quá 30oC hoặc tốt nhất là lớn hơn 5oC so với nhiệt độ xung quanh Dựa theo kết quả phân tích trong tài liệu này thì không nhất thiết phải sử dụng nhiệt độ sấy khô trên 30oC trong hầu hết các trường hợp và đặc biệt là vào ban đêm
Nếu đã đạt được độ ẩm từ 8 – 10% thì không nên tiếp tục sử dụng không khí nóng và dựa vào việc sử dụng không khí bình thường (dựa vào thước đo độ
ẩm hoặc bộ điều khiển tự động) để duy trì không khí lưu thông qua hạt Hạt sau khi sấy khô dễ bị tổn thương trong quá trình xử lý và vận chuyển
Sấy khô bằng khí nóng là một cải tiến trong việc sử dụng không khí bình thường để sấy khô hạt, tuy nhiên hiệu quả trong môi trường (có kiểm soát và không có kiểm soát) vẫn đang được xác định Trong môi trường không được kiểm soát, nhiệt độ không khí xung quanh cao, thời tiết ẩm ướt hoặc điều kiện
độ ẩm cao thì yêu cầu nhiệt độ sấy phải cao để đạt được hiệu quả làm khô, như vậy có thể gây hại đến chất lượng hạt Hiểu biết rõ về nguyên tắc của biểu đồ độ
ẩm là yêu cầu cần thiết nếu thiết lập nhiệt độ bằng tay trong khi bộ điều khiển tự động có dao động nhiệt độ sấy theo độ ẩm môi trường xung quanh sẽ hiệu quả tốt hơn
Trang 21không khí sấy khô mà không sử dụng nhiệt độ quá cao Không khí tràn đầy độ
ẩm được thoát ra từ bên trong hạt sẽ hướng trực tiếp qua một bộ phận làm mất nước để loại bỏ hơi ẩm khỏi luồng khí Tiếp đó không khí khô sẽ được tái lưu thông vào hệ thống và chu kỳ được lặp lại Mặc dù hệ thống này đạt hiệu quả cao nhưng chi phí cao hơn nhiều so với các hệ thống khác hiện có và hệ thống này cũng ít thân thiện với người dùng do sự phức tạp của hệ thống kiểm soát
5 Độ sâu bồn chứa hạt
Thiết bị lưu trữ được sử dụng có thể tác động đáng kể đến các hạt được lưu trữ để sấy khô có hiệu quả Thiết bị lưu trữ có thay đổi đáng kể trong thiết kế, khả năng lưu trữ từ hộp lưu trữ có dung tích 1 tấn đến các silo lưu trữ có sức chứa đạt 100 tấn trở lên Những hầm dự trữ lớn sẽ có lợi thế về dung lượng dự trữ lớn hơn, chi phí xử lý và sấy hạt thấp, tuy nhiên độ sâu đáy của các thiết bị lưu trữ lớn sẽ gây khó khăn nhiều hơn để sấy khô an toàn so với các thiết bị lưu trữ nhỏ Về cơ bản, đáy thiết bị lưu trữ càng sâu thì thời gian sấy khô càng kéo dài và vì vậy những hạt trên bề mặt khi sấy khô sẽ chịu nhiệt độ và độ ẩm không thể chấp nhận được
So với các thiết bị lưu trữ lớn, thì những thiết bị lưu trữ nhỏ hơn với độ sâu đáy được giảm bớt sẽ có những ưu điểm sau:
- Nhanh chóng, độ sấy khô đồng nhất và chuyển hàng đi xử lý nhanh chóng
sẽ thu được các lợi ích về chất lượng (mức độ đạt được phụ thuộc vào phương pháp sấy);
Trang 226 Kiểm soát môi trường sấy khô
Hiệu quả phương pháp sấy khô khi sử dụng được xác định ở mức độ rộng bởi khả năng kiểm soát môi trường sấy khô Các bồn lưu trữ trong môi trường bình thường có mức độ kiểm soát trong môi trường sấy khô thấp nhất, lưu trữ trong môi trường khí nóng là sự cải tiền về phương pháp, sử dụng nhiệt độ cao
có thể cần thiết trong giai đoạn thời tiết ẩm ướt và khi độ ẩm hạt cao Hiệu quả của 2 phương pháp có thể cải thiện đáng kể nếu được thực hiện trong môi trường kín, cách nhiệt
Bảng 3: Giải thích phương pháp sấy khô khép kín
- Hệ thống sẽ hoàn toàn khép kín trong kho chứa
- Một hệ thống điều khiển tự động điều chỉnh máy sưởi hoạt động, quạt
và cửa lá dựa theo nhiệt độ và độ ẩm cảm biến
- Không khí được làm nóng có nguồn từ máy sưởi (ban đêm) hoặc từ mái nhà (ban ngày) Máy sưởi cũng đảm bảo nhiệt độ sấy khô chính xác được duy trì liên tục trong suốt quá trình sấy
- Sử dụng thùng chứa hình chữ nhật được đặt cạnh nhau trong cùng một
hệ thống sấy khô khép kín Mỗi thùng có 1 quạt sấy khô nằm bền dưới và hoạt động độc lập với nhau
- Nhiệt độ không khí chính xác và độ ẩm được tái lưu thông vào hạt đến khi hạt đạt độ ẩm cần thiết hoặc khi không khí bão hòa Lúc này, hệ thống tái lưu thông khí sẽ tắt và không khí ẩm sẽ thoát ra môi trường bên ngoài bằng quạt xả Không khí từ mái sẽ được hút vào hệ thống, nếu cần thiết không khí sẽ được làm nóng đến nhiệt độ và độ ẩm cần thiết và chu kỳ lại tiếp tục
- Sử dụng phương pháp này trong điều kiện sấy khô được kiểm soát sẽ đạt nhiệt độ 25o
C trong vòng 24h bất kể điều kiện thời tiết như thế nào
- Chi phí sưởi ấm có thể được giảm trừ thông qua sự tuần hoàn của không khí được làm nóng trở lại và không khí nóng từ năng lượng mặt trời
Sử dụng phương pháp các nhiệt, kiểm soát môi trường sấy khô sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với phương pháp sử dụng không khí bình thường và không khí nóng.Thông qua khả năng sấy khô 24h/ngày, hạt sẽ đạt mức độ ẩm an toàn trong thời gian ngắn nhất vì vậy loại bỏ được những yếu tố gây hại đến chất lượng hạt, ảnh hưởng của việc lưu trữ hạt lâu dài ở độ ẩm cao và các rủi ro xảy ra khi sấy hạt ở nhiệt độ cao (> 30oC)