1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng ngừa tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố hà nội

115 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 8,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN BẢO THOA

PHÒNG NGỪA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN BẢO THOA

PHÒNG NGỪA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Bảo Thoa

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS BLTTHS HSST MĐGTBQ Nxb

PC 50

Tr

TS TAND TANDTC THTP

: Bộ luật hình sự : Bộ luật tố tụng hình sự : Hình sự sơ thẩm : Mức độ gia tăng bình quân : Nhà xuất bản

: Phòng cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao

: Trang : Tiến sĩ : Tòa án nhân dân : Tòa án nhân dân tối cao : Tình hình tội phạm

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

giai đoạn 2013-2017 6

Bảng 1.2 So sánh số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 7

Bảng 1.3 So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 8

Bảng 1.4 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 (tính trên 1.000.000 dân) 9

Bảng 1.5 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 (tính trên 1.000.000 dân) 10

Bảng 1.6 So sánh số liệu khởi tố và số liệu xét xử tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 12

Bảng 1.7 Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm 16

Bảng 1.8 Cơ cấu theo hậu quả của tội phạm (số tiền chiếm đoạt) 20

Bảng 1.9 Cơ cấu theo loại tội phạm 22

Bảng 1.10 Cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm 23

Bảng 1.11 Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội 24

Bảng 1.12 Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội 25

Bảng 1.13 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội 26

Bảng 1.14 Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội 27

Bảng 1.15 Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu 28 Bảng 1.16 Cơ cấu theo quốc tịch của người phạm tội 28

Bảng 1.17 Cơ cấu theo hoàn cảnh trở thành nạn nhân 30

Bảng 1.18 Cơ cấu theo giới tính của nạn nhân 32

Bảng 1.19 Cơ cấu theo độ tuổi của nạn nhân 33

Trang 6

Bảng 1.20 Diễn biến của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,

phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 36

Bảng 1.21 Diễn biến của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,

phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 37

Bảng 1.23 Diễn biến theo loại tội phạm 41 Bảng 1.24 Diễn biến theo quốc tịch người phạm tội 42

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

giai đoạn 2013-2017 7

Biểu đồ 1.2 So sánh số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 8

Biểu đồ 1.3 So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 8

Biểu đồ 1.4 Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm 17

Biểu đồ 1.5 Cơ cấu theo hậu quả của tội phạm (giá trị tài sản chiếm đoạt) 21

Biểu đồ 1.6 Cơ cấu theo loại tội phạm 22

Biểu đồ 1.7 Cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm 23

Biểu đồ 1.8 Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội 24

Biểu đồ 1.9 Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội 25

Biểu đồ 1.10 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội 26

Biểu đồ 1.11 Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội 27

Biểu đồ 1.12 Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu 28

Biểu đồ 1.13 Cơ cấu của theo quốc tịch của người phạm tội 28

Biểu đồ 1.14 Cơ cấu theo giới tính của nạn nhân 33

Biểu đồ 1.15 Cơ cấu theo độ tuổi của nạn nhân 33

Biểu đồ 1.16 Diễn biến của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 36

Biểu đồ 1.17 Diễn biến của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc theo số vụ giai đoạn 2013-2017 38

Biểu đồ 1.18 Diễn biến của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc theo số người phạm tội giai đoạn 2013-2017 38

Trang 8

Biểu đồ 1.19 Diễn biến theo phương thức, thủ đoạn phạm tội của tội sử dụng

mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 (theo 4 hành vi phổ biển nhất) 40

Biểu đồ 1.20 Diễn biến theo loại tội phạm 41 Biểu đồ 1.21 Diễn biến theo quốc tịch người phạm tội 42

Trang 9

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1 TÌNH HÌNH TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2013-2017 5

1.1 Thực trạng của tội sử dụng mạng máy tính,mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 5

1.2 Diễn biến của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 35

Chương 2 NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45

2.1 Nguyên nhân về kinh tế - xã hội: 45

2.2 Nguyên nhân về văn hóa - giáo dục 47

2.3 Nguyên nhân trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội 51

2.4 Nguyên nhân xuất phát từ các cơ quan tiến hành tố tụng 55

2.5 Nguyên nhân xuất phát từ các cơ quan chuyên môn 59

2.6 Nguyên nhân xuất phát từ phía nạn nhân của tội phạm 62

Chương 3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66

3.1 Dự báo tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội 66

3.2 Các biện pháp phòng ngừa tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội 71

PHẦN KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 94

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Thế XXI đư c coi là nguyên phát triển của công nghệ thông tin

Ch ng ta đã và đang đư c chứng iến vô số nh ng sự đột phá và cả sự chuyển hướng với tốc độ phi thường trên quy mô toàn cầu của nền inh tế - xã hội công nghiệp sang nền inh tế - xã hội thông tin và tri thức Có thể nhận thấy thông tin và tri thức là yếu tố quan trọng mới bên cạnh các yếu tố về con người, tự nhiên và tài

ch nh Công nghệ ngày nay ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, con người đã có

thể tiếp cận và sử dụng các tiện ích mà công nghệ thông tin mang lại Chỉ với một thiết bị điện tử có kết nối internet và một tài khoản ngân hàng, chúng ta có thể điều

khiển mọi mặt đời sống tài chính một cách nhanh chóng và đơn giản

Thủ đô Hà Nội - nơi ứng dụng của công nghệ thông tin rất phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán bởi sự tiện l i của nó, người tiêu dùng không cần mang tiền mặt cũng có thể mua bán hàng hóa Hơn n a, Hà Nội là nơi đón tiếp hàng nghìn lư t khách du lịch hàng năm, nên có rất nhiều điểm ATM của ngân hàng quốc tế, dịch vụ thanh toán qua máy POS để thuận tiện cho khách du lịch khi thanh toán, không cần đổi tiền mặt mà chỉ cần mang một chiếc thẻ tín dụng thanh toán quốc tế là đã thanh toán đư c hàng hóa và các dịch vụ Nhưng mặt trái của sự phát triển này là tội phạm phát sinh trong lĩnh vực công nghệ thông tin Tội phạm có vô vàn phương thức, thủ đoạn để thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Điều đặc biệt của tội phạm này là chỉ cần có máy t nh có đường truyền internet là tội phạm có thể phạm tội xuyên biên giới, xuyên quốc gia, thiệt hại của tội phạm này thường rất lớn

và đặc biệt lớn, phạm tội thường trong thời gian dài mới bị phát hiện Thêm vào đó, tội phạm này có tính liên kết rất cao, cách thức phạm tội mới cũng thường xuyên

đư c chia sẻ với nhau nên việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm mới này đòi hỏi rất nhiều điểm đặc thù, khác biệt với tội phạm truyền thống Ch nh vì thế, đấu tranh chống tội phạm sử dụng mạng máy t nh, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ngày càng đư c Nhà nước ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng thực hiện một cách quyết liệt, trong nh ng năm qua các cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra, truy tố và đưa ra xét xử rất nhiều vụ án lớn Bên cạnh việc chống tội phạm này, vấn đề phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy t nh, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản lại càng cần đư c quan tâm hơn bao giờ hết Chính vì nh ng lý do đó, tác giả đã chọn đề tài

Trang 11

“Phòng ngừa tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội” (Trong giai đoạn 2013-

2017 - giai đoạn tác giả phân t ch, đánh giá tình hình tội phạm thì tội này đư c quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) - Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định Hiện nay, BLHS 2015 có hiệu lực, tội này đư c quy định tại Điều 290 - Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) - một đề tài còn khá mới nhưng cũng rất cấp thiết làm đề tài luận văn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

- Về sách chuyên khảo: Cuốn sách “An toàn thông tin và công tác phòng

chống tội phạm sử dụng công nghệ cao” của Đại tá, TS Trần Văn Hòa

Trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu khái quát về tội phạm công nghệ cao, tình hình tội phạm và đề xuất các biện pháp phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam Tuy nhiên, cuốn sách đư c viết chủ yếu dành cho lực

lư ng cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao nên nội dung phần lớn là cách thức điều tra, khám phá tội phạm của lực lư ng cảnh sát Các biện pháp phòng ngừa chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nội dung và cũng chỉ mang tính khái quát chứ chưa đi vào chi tiết nh ng biện pháp cụ thể

- Về bài viết trên tạp chí:

+ Bài viết trên Tạp chí kiểm sát tháng 01/2014: “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về

chứng cứ điện tử trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao” của tác giả Đào Anh

Tới - Vụ pháp chế, Bộ Công an

+ Bài viết tên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 1, 2/2016: “Những vướng

mắc trong đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật về tội phạm công nghệ cao” của tác

giả Trần Đoàn Hạnh

Các bài viết trên cũng phần nào hái quát đư c vấn đề tội phạm công nghệ cao tại Việt Nam Tuy nhiên, cũng chỉ dừng ở việc nghiên cứu một khía cạnh của tội phạm công nghệ cao hoặc tập trung nghiên cứu theo nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao mà chưa đi sâu phân t ch cụ thể tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Trang 12

a, Mục đích của việc nghiên cứu:

Đưa ra đư c hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để kiềm chế sự gia tăng tội phạm và giảm dần tội phạm này ở Hà Nội trong thời gian tới

b, Nhiệm vụ của việc nhiên cứu:

- Đánh giá tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2013-2017

- Tìm ra nguyên nhân của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

- Đánh giá các biện pháp phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội đã thực hiện thời gian qua

- Dự báo tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới

- Đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

c Đối tượng nhiên cứu: Nghiên cứu tình hình tội phạm sử dụng mạng máy

tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian 05 năm (2013-2017); nguyên nhân

và các biện pháp phòng ngừa

d Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học về tội sử dụng

mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Về không gian, phạm vi nghiên cứu đư c giới hạn tại địa bàn thành phố Hà Nội

Về thời gian, phạm vi nghiên cứu đư c giới hạn trong khoảng thời gian 05 năm, từ năm 2013 đến năm 2017, bao gồm số liệu thống ê thường xuyên về tội phạm và nghiên cứu 65 bản án hình sự sơ thẩm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng

Trang 13

viễn thông, phương tiện điện tử của Tòa án nhân dân các cấp tại Hà Nội đã xét xử trong giai đoạn 2013 - 2017

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Tội phạm học: Phương pháp tiếp cận định lư ng, tiếp cận tổng thể, tiếp cận bộ phận; phương pháp phân t ch thứ cấp d liệu; phương pháp thống ê; phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết, phương pháp phân t ch, tổng h p và so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: Nh ng vấn đề đư c trình bày, phân tích trong luận văn

là nh ng vấn đề mới về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản dưới góc độ tội phạm học một cách có hệ thống; Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đư c sử dụng làm tài liệu học tập và nghiên cứu khoa học

- Ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu, đánh giá đư c các đặc điểm tội phạm

học của tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản trên phạm vi thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

và xác định đư c các nguyên nhân của tội phạm này ở Hà Nội trong giai đoạn này

có ý nghĩa thiết thực đối với thực tiễn phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

6 Bố cục của luận văn:

Chương 1 Tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương

tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Chương 2 Nguyên nhân của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,

phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

Chương 3 Dự báo tình tình tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội sử

dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TÌNH HÌNH TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2013-2017

Tình hình tội phạm là một nội dung nghiên cứu quan trọng của đề tài về phòng ngừa tội phạm, bởi đó ch nh là cơ sở để giải th ch đư c các nguyên nhân của tội phạm và từ đó đưa ra đư c nh ng biện pháp phòng ngừa tội phạm

“Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một loại tội phạm) đã xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định” [9, tr.252] Do đó, để nghiên cứu tình hình tội phạm sử dụng

mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cần phải làm rõ thực trạng và diễn biến của tội phạm này trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chương

1 nghiên cứu tình hình của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội (đơn

vị không gian) từ năm 2013 đến năm 2017 (đơn vị thời gian) Như đã nêu ở phần lý

do chọn đề tài, do có thuộc tính pháp lý, nh ng phân tích về tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đư c thực hiện trên cơ sở tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Bởi trong giai đoạn 2013-2017, BLHSnăm 1999 đang có hiệu lực nên các thống kê chính thức cũng căn

cứ theo quy định của BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 có hiệu lực từ 01-01-2018, hiện nay tội phạm này đư c quy định tại Điều 290 - Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1.1 Thực trạng của tội sử dụng mạng máy tính,mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

“Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và tính chất” [19, tr.112]

Trang 15

1.1.1 Thực trạng về mức độ của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố

Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Khi đánh giá thực trạng về mức độ của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cần phải đánh giá đư c mức độ của tội phạm rõ và mức độ tội phạm ẩn của tội phạm này

Để đánh giá đư c mức độ của tội phạm rõ và tội phạm ẩn, đưa ra ết luận về tội phạm này ở thành phố Hà Nội, tác giả đã sử dụng số liệu của Vụ tổng h p Tòa

án nhân dân tối cao, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Hà Nội Đồng thời với việc thu thập và sử dụng số liệu thống kê tổng thể nêu trên, tác giả còn sử dụng các số liệu đư c thống kê từ 65 bản án HSST

về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là toàn bộ số vụ phạm tội đư c xét xử sơ thẩm về tội phạm này ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

1.1.1.1 Tội phạm rõ:

“Tội phạm rõ là tội phạm đã được xử lý về hình sự và được đưa vào thống kê tội phạm”[19, tr.102]

Theo đó, với số liệu thống kê chính thức từ TANDTC, bỏ qua nh ng sai số

về thống kê không thể tránh khỏi thì đây ch nh là căn cứ quan trọng nhất để đưa ra kết luận tương đối sát thực về số tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

Từ năm 2013 đến hết năm 2017, Tòa án các cấp ở thành phố Hà Nội đã xét xử 65

vụ với 183 bị cáo về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Trung bình mỗi năm có hoảng 13 vụ với

37 bị cáo bị xét xử sơ thẩm hình sự về tội này Cụ thể, số vụ và số bị cáo phạm tội này bị xét xử sơ thẩm hàng năm ở địa bàn thành phố Hà Nội trên phạm vi thành phố

Hà Nội từ năm 2013 đến 2017 đư c thể hiện ở bảng 1.1 và biểu đồ 1.1

Bảng 1.1 Số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội

Trang 16

Biểu đồ 1.1 Số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà

Nội giai đoạn 2013-2017

Cũng trong giai đoạn này, Tòa án nhân dân các cấp ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc đã xét xử sơ thẩm lần lư t là 58 vụ với 141 bị cáo và 235 vụ với

533 bị cáo về tội này Trung bình hàng năm, có hoảng 12 vụ với 28 bị cáo bị xét

xử sơ thẩm ở thành phố Hồ Chí Minh và 47 vụ với 107 bị cáo bị xét xử sơ thẩm trên toàn quốc về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Như vậy, so với cả nước, trong giai đoạn 2013-

2017, số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Hà Nội bằng khoảng 1/3

về số vụ và 1/3 số người phạm tội so với cả nước, cụ thể thể hiện ở bảng 1.2 và biểu

Hà Nội Hồ Chí Minh Thành phố Toàn quốc

Số vụ Số người phạm tội Số vụ Số người phạm tội Số vụ Số người phạm tội

Trang 17

Biểu đồ 1.2 So sánh số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017

Bảng 1.3 So sánh số vụ, số người phạm tội đã bị xét xử sơ thẩm về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và các tội phạm chung ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Giai đoạn 2013-2017

Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện diện tử thực hiện hành vi chiếm đoat tài sản

Trang 18

Ngoài ra, cũng trong giai đoạn này, ở thành phố Hà Nội, Tòa án các cấp đã xét xử tổng số 32.342 vụ án hình sự các loại và 54.795 bị cáo Trung bình mỗi năm xét xử 6.468 vụ và 10.959 bị cáo Nghĩa là số vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mỗi năm xét

xử chiếm khoảng 0,2% tổng số vụ án, số người phạm tội này hàng năm chiếm t lệ 0,33% tổng số người phạm tội bị xét xử Cụ thể, thể hiện ở bảng 1.3 và biểu đồ 1.3 như trên

Thêm vào đó, để đánh giá thực trạng về mức độ của tội phạm rõ, cần xác định đư c chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản phản ánh mức độ phổ biến của tội phạm này trong dân cư Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội (tính trên 1.000.000 dân) đư c t nh như sau: Số vụ (hoặc số người phạm tội) của từng năm nhân với 1.000.000 chia cho số dân ở Hà Nội trong cùng một năm tương ứng Kết quả thể hiện ở bảng 1.3 Bảng này cho thấy chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trung bình ở Hà Nội giai đoạn 2013-2017 trung bình lần lư t là 2 và 5 Nghĩa là cứ 1 000 000 người ở Hà Nội thì có 2 vụ và 5 người thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Bảng 1.4 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà

Nội giai đoạn 2013-2017 (tính trên 1.000.000 dân)

Năm Dân số Hà Nội (nghìn người) Số vụ Số người phạm tội tội phạm Chỉ số Chỉ số người phạm tội

Trang 19

So sánh với chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc để thấy rõ hơn mức độ tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc cũng đư c t nh tương tự và kết quả thể hiện ở bảng 1.5 Theo đó, trong cùng thời gian này ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội này lần lư t là 1; 3 và 1; 1 Nghĩa là, cứ 1 000 000 người thì

có 1 vụ và 3 người phạm tội này ở thành phố Hồ Chí Minh; ở toàn quốc là 1 vụ và 1 người thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Bảng 1.5 Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hồ Chí Minh và toàn quốc giai đoạn 2013-2017 (tính trên

Chỉ số người phạm tội

Chỉ số tội phạm

Chỉ số người phạm tội

Nguồn: Tổng cục thống kê và TANDTC

Như vậy, chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Hà Nội cao gấp 2 lần chỉ số tội phạm, gấp 1,5 lần chỉ số người phạm tội này ở thành phố Hồ

Ch Minh, tương tự chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội này ở Hà Nội cũng cao gấp lần lư t là 2 lần và 5 lần so với toàn quốc (Chi tiết từng năm thể hiện ở Phụ lục 1)

Tuy nhiên, trên đây chỉ là số vụ và số người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản rõ

đã đư c xét xử và đưa vào con số thống kê tội phạm, còn một phần không nhỏ là tội phạm ẩn - tội phạm đã đư c thực hiện nhưng chưa bị phát hiện, điều tra, xét xử và không có trong thống kê tội phạm

1.1.1.2 Tội phạm ẩn:

Theo lý luận, “tội phạm ẩn là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực

hiện trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc

Trang 20

chưa bị phát hiện (một cách chính thức) và do vậy chưa bị xử lý về hình sự, chưa có trong thống kê hình sự chính thức” [11, tr.181] Hiện tại có nhiều quan điểm về

cách phân loại tội phạm ẩn, có quan điểm cho rằng tội phạm ẩn có hai loại: tội phạm

ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan Cũng có quan điểm cho rằng có ba loại tội phạm ẩn là tội phạm ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan và tội phạm ẩn thống kê

Và cũng có quan điểm khác với nh ng quan điểm trên về tên gọi là tội phạm ẩn tự nhiên, tội phạm ẩn nhân tạo và tội phạm ẩn thống kê

Nghiên cứu tình hình tội phạm ẩn nói chung, tình hình tội phạm ẩn của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành

vi chiếm đoạt tài sản là một vấn đề khó và dù áp dụng phương pháp nghiên cứu,

t nh toán và xác định nào cũng vẫn mang tính chất đánh giá, nhận định và ước đoán

Tội phạm ẩn tự nhiên (tội phạm ẩn khách quan) là số lư ng tội phạm thực tế

đã xảy ra nhưng do nh ng nguyên nhân hách quan nên các cơ quan chức năng không có thông tin về ch ng, chưa bị các cơ quan chức năng phát hiện nên các tội phạm này chưa phải chịu bất kỳ một hình thức xử lý hình sự nào và do vậy nó không có trong thống kê hình sự

Để nghiên cứu, xác định mức độ ẩn tự nhiên, tác giả đã dựa vào một số thống

ê như sau Đối với tội phạm sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa dịch

vụ, hay còn đư c gọi là tội phạm gian lận thẻ Theo thông báo của Ebay.com1, 80% đơn hàng từ Việt Nam là thanh toán bằng thẻ tín dụng trộm cắp, do vậy IP2 từ Việt Nam bị từ chối mua hàng ở website này [10, tr.807] Trên thực tế hiện nay cũng có một số website trực tuyến hác cũng chặn địa chỉ IP từ Việt Nam Qua thống kê 65 bản án HSST về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-

2017 nhận thấy, nh ng vụ án sử dụng thông tin thẻ ngân hàng trộm cắp để thực hiện việc mua hàng hóa từ các website nước ngoài đều sử dụng fake IP3, nh ng IP này

đư c coi là của các nước khác, không phải của Việt Nam nhưng thực tế là do người

1

Đây là một website mua bán trực tuyến của Mỹ, nơi mọi người khắp nơi trên thế giới có thể mua bán hàng hóa, dịch vụ

2

IP là viết tắt của từ tiếng Anh: Internet Protocol - giao thức Internet là một địa chỉ đơn nhất mà

nh ng thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng giao thức Internet

Trang 21

phạm tội ở Việt Nam thực hiện để có thể mua đư c hàng hóa trên web nước ngoài, sau đó cũng chuyển về người nhận thay ở nước ngoài và thực hiện việc ăn chia theo

t lệ Tất cả nh ng vụ gian lận thẻ này đều đư c VISA và các ngân hàng thống kê là gian lận ở nước ngoài Phần lớn nh ng loại vụ án này đều ẩn rất lớn, chỉ có một t

lệ rất nhỏ trong số đó bị phát hiện và điều tra, truy tố, xét xử

Tội phạm ẩn nhân tạo (tội phạm ẩn chủ quan) là số lư ng tội phạm thực tế đã xảy ra mà các cơ quan chức năng đã có thông tin và xử lý nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau xuất phát từ phía chủ thể áp dụng pháp luật, nh ng tội phạm này không bị xử lí hình sự và do vậy không có trong thống kê tội phạm

Để xác định mức độ tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội ẩn nhân tạo, tác giả đã nghiên cứu theo một số cách sau:

- Cách thứ nhất: Tác giả đã tiến hành thu thập và so sánh số liệu của Phòng

cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao (PC50) - Công an thành phố Hà Nội

và số liệu thống kê nh ng vụ án đã xét xử về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội của Tòa án nhân dân tối cao Cụ thể thể hiện ở bảng 1.6 như sau:

Bảng 1.6 So sánh số liệu khởi tố và số liệu xét xử tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Số liệu Cơ quan điều tra

đề nghị khởi tố

và đã có quyết

định khởi tố

Số liệu Tòa án đã xét xử

Số liệu còn lại chưa xét xử của Tòa án

Số liệu trả hồ

sơ điều tra lại cho Viện kiểm sát

Số người Số vụ

Số người

Nguồn: TANDTC và PC50 - Công an thành phố Hà Nội

Như vậy, theo báo cáo thống kê của PC 50 - Công an thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 đã đề nghị khởi tố và đã có quyết định khởi tố 141 vụ và 337 người Theo số liệu thống kê của TANDTC cũng trong thời gian này trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xét xử 65 vụ với 183 bị cáo phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Số còn

Trang 22

lại chưa xét xử là 05 vụ với 12 bị cáo, không có vụ án nào bị đình chỉ, và có 06 vụ với 35 bị cáo thuộc trường h p trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra, bổ sung Tổng

số vụ án đã bị xét xử và chuẩn bị xét xử là 76 vụ với 230 bị cáo So sánh với số vụ

và số người khởi tố, ta thấy tội phạm ẩn nhân tạo về tội phạm này ở thành phố Hà Nội là khoảng 46% về số vụ và khoảng 31,8% về số người phạm tội

- Cách thứ hai: Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương

tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội còn ẩn do quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng còn nh ng nhận thức chưa thống nhất về thủ đoạn phạm tội và cách vận dụng pháp luật để giải quyết vụ

án Cụ thể như: Tại Bản án hình sự sơ thẩm 165/2013/HSST ngày 24/6/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm đối với hai bị cáo mang quốc tịch Philippin Sheryl Baldicanas Rosaldo và Marocs Alberto Olito Quit Hai bị cáo đã có hành vi lừa người bị hại là anh O ada Kiyoshi chơi bài thua hết tiền mặt Sau đó, hai bị cáo đã đưa nạn nhân đi r t tiền tại ATM để tiếp tục chơi Trong quá trình nạn nhân rút tiền, hai bị cáo đã nhìn trộm đư c mật mã thẻ Master Card của nạn nhân, sau đó l i dụng sơ hở của nạn nhân hai bị cáo đã trộm cắp đư c thẻ Master Card của nạn nhân và nhiều lần rút tiền, thanh toán hàng hóa với tổng số tiền chiếm đoạt lên tới hơn 370 000 000 đồng Hai bị cáo bị tuyên phạt 10 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong vụ án này, hai bị cáo rõ ràng có 02 hành vi phạm tội: Thứ nhất, là dùng thủ đoạn gian dối rủ nạn nhân chơi bài để lấy hết tiền mặt của nạn nhân; thứ hai, là hành vi nhìn trộm đư c mật mã thẻ Master Card của nạn nhân và sau đó trộm cắp thẻ này và thực hiện hành vi rút tiền, thanh toán hàng hóa Nếu ta tách biệt hai hành vi rõ ràng có thể thấy hành vi thứ nhất cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi thứ hai cấu thành tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 266b BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (thời điểm này BLHS năm

1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực) Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội lại gộp hai hành vi này để xét xử trong cùng một vụ án và quyết định hình phạt đối với các bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 150/2013/HSST ngày 27/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử bị cáo Lim Soon Ling, quốc tịch Malaisia Bị cáo

có hành vi phạm tội như sau: Ngày 26/4/2011, bị cáo nhập cảnh vào Việt Nam, mang theo 30 thẻ tín dụng giả và hộ chiếu giả mang tên Liew Tong Lai Sau đó, bị cáo dùng các thẻ tín dụng giả này để thực hiện rút tiền mặt tại phòng giao dịch của

Trang 23

ngân hàng tại Hà Nội và thực hiện giao dịch mua hàng hóa Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt đư c là 411 000 000 đồng Hội đồng xét xử đã xử phạt bị cáo 07 năm tù

về tội Lưu hành các giấy tờ có giá giả khác Rõ ràng, hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 266b BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Chính việc áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng tại thành phố Hà Nội cũng hiến cho tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bị ẩn Tuy nhiên, số lư ng các vụ

án đã đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (theo quy định tại Điều 266b BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009) nhưng thực tiễn khi xét xử Tòa

án lại quyết định về tội phạm khác là không nhiều, song cũng góp phần cho thấy mức độ ẩn của tội phạm này

- Cách thứ ba: Khi thực hiện thống kê, khảo sát 65 bản án HSST về tội này ở

địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 cho thấy có một t lệ không nhỏ các

vụ án có các đối tư ng hác nhưng các đối tư ng này không hoặc chưa bị xử lý hình sự Lý do của việc không hoặc chưa xử lý hình sự các đối tư ng này là: có đối

tư ng bỏ trốn, có đồng phạm với các bị cáo nhưng đang ở nước ngoài nên chưa thể xác minh đư c, có đối tư ng có quá t thông tin để điều tra, thông thường các bị cáo

có liên lạc với nhau chỉ qua nick name hoặc tên, không có tiếp xúc nhiều nên không

đủ thông tin để tiến hành điều tra Ngoài ra, đối với nh ng vụ án đã đư c xét xử cũng có nh ng hành vi phạm tội vì thời gian lâu hông còn còn truy tìm đư c chứng cứ điện tử chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo mà chỉ có lời khai của

bị cáo, nên áp dụng nguyên tắc có l i cho bị cáo, chỉ truy tố, xét xử đối với nh ng hành vi đã thu thập đầy đủ chứng cứ, hành vi phạm tội đã đư c làm rõ.Theo thống

ê, trong giai đoạn 2013-2017, trong 65 bản án HSST xét xử 183 người phạm tội này có 24 bản án HSST thể hiện có 109 người đồng phạm nhưng chưa điều tra, làm

rõ đư c Như vậy, t lệ ẩn về số người phạm tội của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là khoảng 59,6%

Tội phạm ẩn thống kê (sai số thống kê) chỉ tồn tại trong trường h p số thống

kê là số đ ng, tức là người làm thống ê đã áp dụng mọi quy định đối với công tác

Trang 24

thống kê, không sai phạm trong tính toán hay thời hạn mà vẫn còn nh ng tội phạm

đã bị xử lí theo pháp luật hình sự lọt ra ngoài số thống kê ấy

Để xác định số tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị xử lý hình sự nhưng hông có trong thống kê tội phạm, tác giả thực hiện nghiên cứu các bản án xét xử về tội phạm này tại Hà Nội giai đoạn 2013-2017 và nhận thấy có nh ng bản án xét xử nhiều vụ phạm tội của tội danh này nhưng cũng chỉ thống kê là 1 vụ án Ví dụ như tại Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2014/HSST ngày 01/4/2014 của Tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội đã xét xử bị cáo Nguyễn Đình Thuần cùng các đồng phạm, trong vụ án có bị cáo Lưu Đức Quang, bị cáo tham gia trang web điện tử chothai.vn (trang web chuyên mua bán hàng trên mạng internet) nên đã quen biết Nguyễn Đình Thuần và biết Thuần là người mua hàng bằng việc sử dụng thông tin thẻ tín dụng bị đánh cắp

và vận chuyển đư c hàng đã mua bằng thông tin thẻ tín dụng bị đánh cắp này về Việt Nam Lưu Đức Quang cùng Thuần đã thực hiện thành công 7 vụ dùng thông tin thẻ tín dụng của người khác để mua hàng điện tử là điện thoại, máy tính xách tay

và chuyển về Việt Nam để bán kiếm lời và chia theo t lệ, 7 vụ này là 7 vụ phạm tội độc lập, không thuộc trường h p tội kéo dài hoặc tội liên tục (mỗi vụ đều thỏa mãn

nh ng dấu hiệu của cấu thành tội phạm đư c quy định tại Điều 226b BLHS năm

1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009) Trong trường h p này Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội chỉ thống kê là 1 vụ án Như vậy đã lọt 6 hành vi phạm tội không có trong thống kê Tức là số vụ đư c thống kê nhỏ hơn nhiều so với hành vi phạm tội

mà tòa án đã xét xử Tuy nhiên, số người phạm tội vẫn đư c thống ê đ ng Như vậy, có thể kết luận, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thưc hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 ẩn thống kê (sai số thống kê) chỉ sai số về hành vi phạm tội và không có sai số về số người phạm tội

Tóm lại, theo đánh giá của tác giả, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội ẩn khoảng 50% về số vụ và khoảng 60% về số người phạm tội

1.1.2 Thực trạng về tính chất của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố

Hà Nội giai đoạn 2013-2017

Trang 25

Thực trạng về tính chất của tội phạm là nghiên cứu các đặc điểm định tính thuộc nội dung bên trong của THTP Để đánh giá đư c đặc điểm này cần dựa vào các cơ cấu khác nhau của tội phạm [9, tr.276]

Cơ cấu của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là tỉ lệ và tương quan gi a các hành vi phạm tội cũng như các đặc điểm nhân thân của người phạm tội và nạn nhân trong một khoảng thời gian và ở một địa bàn nhất định Tác giả nghiên cứu cơ cấu của tội phạm này theo nh ng tiêu chí sau:

*/ Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thưc hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm

Để xem xét cơ cấu của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm, tác giả dựa trên quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 290 BLHS năm 2015 và qua nghiên cứu 65 bản

án HSST về tội này của Tòa án các cấp ở thành phố Hà Nội Số liệu thể hiện ở bảng 1.7 và biểu đồ 1.4

Bảng 1.7 Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm

(%)

1

Làm, tàng tr , mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng

giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài hoản, chủ thẻ hoặc

thanh toán hàng hóa, dịch vụ

17 26,2

2

Sử dụng thông tin về tài hoản, thẻ ngân hàng của cá nhân

để chiếm đoạt tài sản của chủ tài hoản, chủ thẻ hoặc

thanh toán hàng hóa, dịch vụ 13 20,0

3

Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, inh

doanh tiền tệ, huy động vốn, inh doanh đa cấp, hoặc giao

dịch chứng hoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản

11 16,9

4 Lừa đảo chiếm đoạt tiền của nạn nhân thông qua hình thức

5 Truy cập bất h p pháp vào tài hoản của cơ quan, tổ chức,

cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản 9 13,8

Trang 26

6 Làm quen với nạn nhân qua mạng Internet, sau đó lừa họ

chuyển tiền qua tài hoản và chiếm đoạt 2 3,1

7

Làm đại lý cho Công ty viễn thông di động (Viettel) và

dùng thông tin đư c phép truy cập của đại lý để chiếm

đoạt sim số đẹp và bán iếm l i nhuận

8 Gọi điện thoại cho nh ng nạn nhân giả là người trong

ngành Công an để tống tiền nạn nhân 1 1,5

Nguồn: Khảo sát 65 bản án HSST

Biểu đồ 1.4 Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm

Trong giai đoạn 2013-2017 tại địa bàn thành phố Hà Nội, phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm này nhiều nhất là phương thức, thủ đoạn “Làm, tàng tr , mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài hoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ” có 17 vụ và chiếm tỉ lệ 26,2%

Làm, tàng tr , mua bán, sử dụng thẻ ngân hàng giả… nhằm chiếm đoạt tài sản

Sử dụng thông tin về tài hoản, thẻ ngân hàng… nhằm chiếm đoạt tài sản

Lừa đảo… hình thức nạp thẻ điện thoại

Lừa đảo trong thương mại điện tử… nhằm chiếm đoạt tài sản

Truy cập bất h p pháp vào tài hoản… nhằm chiếm đoạt tài sản

Làm quen với nạn nhân… nhằm chiếm đoạt tài sản

Chiếm đoạt sim số đẹp để bán iếm l i nhuận

Gọi điện thoại giả làm Công an… chiếm đoạt tài sản

Trang 27

Thông thường, tội phạm có hành vi này thường là người nước ngoài, mang thẻ ngân hàng giả cùng các password (mật mã để rút tiền tại các điểm rút tiền tự động - ATM) vào Hà Nội, thực hiện việc rút tiền tại các cây ATM của ngân hàng quốc tế, hoặc thanh toán tiền taxi, mua bán hàng hóa ở Hà Nội Ngoài ra, cũng có trường

h p, người phạm tội là người nước ngoài còn mang các thiết bị để ăn cắp thông tin thẻ ATM vào Hà Nội để thực hiện hành vi phạm tội như lắp đặt camera và thiết bị đọc, lưu thông tin thẻ tại máy ATM, sau đó sử dụng máy tính, máy ghi thẻ để tạo ra thẻ ATM giả, rồi sử dụng thẻ này để rút tiền từ tài khoản của nạn nhân Phương thức, thủ đoạn phạm tội xảy ra nhiều thứ hai là hành vi “Sử dụng thông tin về tài hoản, thẻ ngân hàng của cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài hoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ” có 11 vụ, chiếm t lệ 20% Mua bán hàng hóa quốc tế qua mạng Internet ngày càng phát triển, phương thức thanh toán khi mua hàng hóa quốc tế qua mạng Internet cũng há đơn giản và thuận tiện, chỉ cần biết thông tin trên thẻ (đư c gọi là CC) là đã có thể thực hiện việc thanh toán Do đó, trên các diễn dàn như “h v com”, “vnw cc”, “beyeugroup com”, “vefamily com”,

“thetindung t ” v.v… việc mua bán thông tin thẻ tín dụng, trao đổi cách thức thực hiện tội phạm đang diễn ra công khai và phổ biến Sau khi có thông tin thẻ, nh ng người phạm tội này sẽ tổ chức sản xuất thẻ tín dụng giả để mua hàng hóa, dịch vụ,

vé máy bay hoặc đặt mua hàng hóa trực tuyến có giá trị cao (thường là các hàng hóa điện tử như Iphone, Ipad, Macboo …) cho nh ng người Việt Nam ở nước ngoài, sau đó chuyển về Hà Nội và chia số tiền chiếm đoạt đư c theo t lệ, 100% các vụ

án sử dụng thông tin về tài hoản, thẻ ngân hàng của cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài hoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ, nh ng người phạm tội đều tham gia các diễn đàn như “h v com”, “vnw cc”, “beyeugroup com”,

“vefamily com”, “thetindung t ” v v… và thực hiện việc mua bán thông tin thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng trên các diễn đàn này

Phương thức, thủ đoạn “Lừa đảo chiếm đoạt tiền của nạn nhân thông qua hình thức nạp thẻ điện thoại” có 11 vụ, chiếm t lệ 16,9% Người phạm tội thường gọi điện thoại hoặc thông qua mạng Internet đưa thông tin cho các nạn nhân về việc

tr ng thưởng, sau đó yêu cầu các nạn nhân thực hiện việc chuyển tiền bằng cách nạp thẻ điện thoại Người phạm tội còn có thủ đoạn đưa ra các thông tin nạp thẻ điện thoại thông qua website mà các tội phạm gửi èm đường link sẽ đư c nhân đôi, nhân ba giá trị thẻ nạp để các nạn nhân gửi thông tin mã số thẻ nạp và chiếm đoạt tiền Hoặc, người phạm tội chiếm quyền quản trị tài khoản mạng xã hội

Trang 28

(Faceboo ) sau đó chat (nói chuyện) với bạn bè trong tài khoản này để nạn nhân tin tưởng là bạn, người thân của mình và đưa thông tin thẻ nạp điện thoại để chiếm đoạt Phương thức, thủ đoạn “Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, inh doanh tiền tệ, huy động vốn, inh doanh da cấp, hoặc giao dịch chứng hoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản” cũng có 11 vụ, t lệ 16,9% Việc mua bán hàng qua mạng Internet ngày càng phát triển mạnh mẽ, không thể phủ nhận sự tiện l i của việc mua bán qua mạng, nhưng bên cạnh đó cũng nảy sinh tội phạm trong lĩnh vực này, tội phạm thường thông qua một số trang mạng chuyên mua bán trực tuyến như enbac vn hoặc mạng xã hội như Faceboo , tội phạm thường đưa ảnh nh ng mặt hàng thời trang cao cấp của nước ngoài hoặc đồ gia dụng nước ngoài sau khi nạn nhân đồng ý mua và chuyển tiền thành công vào tài khoản của người phạm tội thì

họ không giao hàng và cắt liên lạc với nạn nhân để chiếm đoạt tiền Số lư ng nạn nhân của nh ng hành vi phạm tội này thường khá lớn Phương thức, thủ đoạn bán gian hàng ảo qua mạng theo hình thức đa cấp để chiếm đoạt tiền cũng xảy ra, tuy chỉ có 01 vụ, chiếm t lệ không nhiều nhưng nạn nhân của hành vi này lại khá nhiều lên đến 19 người

Phương thức, thủ đoạn “Truy cập bất h p pháp vào tài hoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2013-2017 xảy ra 9 vụ chiếm t lệ 13,8% Tội phạm thường truy cập vào các tài khoản của các công ty, như công ty cung cấp dịch vụ trực tuyến, tài khoản có chứa tiền ảo của Tập đoàn Vingroup (còn gọi là Thẻ khách hàng thân thiết) rồi mua hàng tại các trang web liên kết với Vingroup để chiếm đoạt tài sản Hoặc, l i dụng sự quen biết với nạn nhân, để biết thông tin, password tài khoản ngân hàng của cá nhân và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Phương thức, thủ đoạn “Làm quen với nạn nhân qua mạng Internet, sau đó lừa họ chuyển tiền qua tài hoản và chiếm đoạt” có 02 vụ, chiếm t lệ 3,1% Tuy hành vi phạm tội này xảy ra hông nhiều, nhưng số bị hại há nhiều Hơn n a, đối với hành vi phạm tội này có sự cấu ết gi a tội phạm trong nước và tội phạm là người nước ngoài Để thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm thường làm quen, đặt vấn đề yêu đương với nạn nhân Sau đó, nhờ nạn nhân nhận hàng hóa hộ về Việt Nam, nh ng hàng hóa này thường có giá trị lớn, hi các nạn nhân đồng ý thì nh ng người này yêu cầu nạn nhân chuyển một số tiền vào tài khoản (tài khoản mở tại ngân hàng Việt Nam) đề làm thủ tục hải quan, phí vận chuyển Các nạn nhân thường chuyển tiền 2-3 lần cho người phạm tội, giá trị lên đến hàng trăm triệu đồng

Trang 29

Khi nhận đư c tiền của nạn nhân chuyển đến tài khoản, đồng phạm ở tại Hà Nội sẽ lập tức đi r t tiền

Ngoài ra, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Hà Nội còn có phương thức, thủ đoạn “Gọi điện thoại cho nh ng nạn nhân giả là người trong ngành Công an để tống tiền nạn nhân”

và phương thức, thủ đoạn “Làm đại lý cho Công ty viễn thông di động (Viettel) rồi dùng thông tin đư c phép truy cập của đại lý để chiếm đoạt sim số đẹp và bán iếm

l i nhuận” nh ng hành vi này mỗi hành vi xảy ra 01 vụ chiếm t lệ 1,5% Đối với hành vi giả danh là người trong ngành Công an để tống tiền nạn nhân cũng có sự câu kết gi a tội phạm trong nước với nước ngoài Các tội phạm sử dụng các phần mềm giả mạo số điện thoại, mạo danh các cơ quan chức năng liên hệ với các công dân Việt Nam, đe dọa nh ng người này có liên quan đến các vụ án đang đư c điều tra, sau đó yêu cầu nạn nhân chuyển tiền vào các tài khoản do nh ng người phạm tội tạo ra rồi chiếm đoạt Tuy trong thống kê là 01 vụ án nhưng thực tế trong bản án nhóm người phạm tội này thực hiện phương thức, thủ đoạn với 04 nạn nhân Đối với hành vi người phạm tội đư c Viettel ủy quyền làm đại lý sau đó sử dụng quyền truy cập để chiếm quyền sử dụng SIM điện thoại sau đó bán lại cho người khác Tuy thủ đoạn này xảy ra ít 01 vụ và có 03 người là nạn nhân nhưng đây là thủ đoạn phạm tội rất nguy hiểm, bởi nạn nhân hoàn toàn bị động, không thể biết đư c để chủ động phòng tránh và nếu như SIM điện thoại này có liên kết với tài khoản ngân hàng của nạn nhân thì có khả năng nạn nhân còn bị chiếm đoạt tiền trong ngân hàng

* Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thưc hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo hậu quả của tội phạm (số tiền chiếm đoạt)

Dựa theo các quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 290 BLHS năm 2015 và nghiên cứu, thống kê 65 bản án HSST về tội

sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt ta có cơ cấu của tội phạm này theo giá trị tài sản chiếm đoạt thể hiện ở bảng 1.8 và biểu đồ 1.5

Bảng 1.8 Cơ cấu theo hậu quả của tội phạm (số tiền chiếm đoạt)

(%)

2 Từ 50 000 000 đồng - dưới 200 000 000 đồng 18 27,7

Trang 30

3 Từ 200 000 000 đồng - dưới 500 000 000 đồng 17 26,2

Nguồn: Khảo sát 65 bản án HSST

Biểu đồ 1.5 Cơ cấu theo hậu quả của tội phạm (giá trị tài sản chiếm đoạt)

Theo đó, số vụ án có số tiền chiếm đoạt dưới 50 000 000 đồng là 13 vụ chiếm t lệ là 20% Số tiền chiếm đoạt từ 50 000 000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng chiếm t lệ nhiều nhất là 27,7% tương ứng là 18 vụ Sau đó, số vụ án có số tiền chiếm đoạt từ 200 000 000 đồng đến dưới 500 000 000 đồng là 17 vụ chiếm t

lệ 26,2% Số vụ án có số tiền chiếm đoạt trên 500 000 000 đồng là 17 vụ chiếm t lệ 26,2% Trong 17 vụ chiếm đoạt trên 500 000 000 đồng có 07 vụ chiếm đoạt trên

1 000 000 000 đồng - dưới 5 000 000 000 đồng, và có 01 vụ chiếm đoạt trên

15 000 000 000 đồng Nhưng thực tế, số tiền chiếm đoạt còn lớn hơn con số này rất nhiều, tại bản án số 392/2014/HSST ngày 13/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội xét xử bị cáo Vương Huy Long cùng các bị cáo khác, các bị cáo đã sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cá nhân để thanh toán hàng hóa mua trực tuyến rồi chuyển về Việt Nam từ năm 2009, tuy nhiên do các bị cáo đều sử dụng thông tin thẻ ngân hàng của người nước ngoài, mọi giao dịch đều sử dụng nickname dưới nhiều tên khác nhau, giao dịch thuê nhận, vận chuyển hàng cũng chỉ thể hiện trên mạng máy tính, có nh ng lô hàng không thể hiện rõ giá trị hàng hóa, vật chứng

là hàng hóa hầu hết không thể thu hồi đư c, nên nếu chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo mà hông làm rõ đư c các chứng cứ trực tiếp thì hông đủ căn cứ để xác định

đư c giá trị hàng hóa thực tế các bị cáo chiếm đoạt Do đó, theo nguyên tắc có l i cho bị cáo, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ xem xét truy tố, xét xử nh ng hành vi,

lô hàng thể hiện giá trị hàng hóa và vật chứng thu đư c đã đư c định giá, nên thực

tế giá trị tài sản nh ng tội phạm này chiếm đoạt còn lớn hơn rất nhiều

* Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thưc hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo loại tội phạm

Từ 200.000.000 đồng - dưới 500.000.000 đồng

Trang 31

Điều 8 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 9 BLHS năm

2015 phân chia tội phạm thành 4 loại tương ứng và phù h p với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Thông qua t lệ và tương quan gi a các loại tội phạm có thể đánh giá đư c tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Thực hiện việc nghiên cứu, thống

kê 65 bản án HSST căn cứ vào điều, khoản mà Tòa án đã áp dụng đối với 183 người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để phân loại theo bốn loại tội phạm, ta có cơ cấuthể hiện tại bảng 1.9 và biểu đồ 1.6

Bảng 1.9 Cơ cấu theo loại tội phạm

Biểu đồ 1.6 Cơ cấu theo loại tội phạm

Theo đó, tội phạm nghiêm trọng chiếm số lư ng lớn nhất là 84 người chiếm

t lệ 45.9%, tội phạm rất nghiêm trọng có số lư ng là 43 người, chiếm t lệ 23,5%, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhiều thứ hai có số lư ng là 56 người, chiếm t lệ là 30,6% Như vậy, có thể thấy tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 có mức độ nguy hiểm cao

* Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thưc hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo hình thức thực hiện tội phạm

45.9%

23.5%

30.6%

Tội nghiêm trọng Tội rất nghiêm trọng Tội đặc biệt nghiêm trọng

Trang 32

Nghiên cứu, khảo sát 65 bản án HSST về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017, ta có cơ cấu của tội phạm này theo hình thức thực hiện tội phạm là đồng phạm hay phạm tội riêng lẻ thể hiện ở bảng 1.10 và biểu đồ 1.7

Bảng 1.10 Cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm

Biểu đồ 1.7 Cơ cấu theo hình thức thực hiện tội phạm

Như vậy, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội chủ yếu là hình thức phạm tội có đồng phạm có 42 vụ chiếm t lệ 64,6% Trong đó, có 26 vụ thực hiện hành vi phạm tội theo hình thức đồng phạm đều là người Việt Nam, có 9 vụ đồng phạm gồm người nước ngoài và người Việt Nam, 7 vụ đồng phạm đều là người nước ngoài Nh ng vụ phạm tội riêng lẻ là 23 vụ chiếm t lệ 35,4%, thông thường nh ng vụ phạm tội riêng lẻ thường có hành vi phạm tội đơn giản như đăng hình ảnh bán hàng hóa trên mạng Internet nhưng hông giao hàng, hoặc các vụ chiếm quyền quản trị tài khoản mạng xã hội (Faceboo ) để lừa các nạn nhân nạp thẻ điện thoại Hay hành vi l i dụng sự thiếu cẩn thận trong quá trình sử dụng thẻ ATM của chủ thẻ như tại Bản án hình sự sơ thẩm số 310/2016/HSST ngày 22/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử bị cáo Nguyễn Quang Hòa, do anh Phạm Văn Minh hi r t tiền tại cây ATM của ngân hàng Công thương Việt Nam để quên thẻ ATM, Nguyễn Quang Hòa đến rút tiền sau đó, thấy anh Minh

để quên thẻ đã tiếp tục giao dịch chuyển số tiền 31 500 000 đồng trong tài khoản của anh Minh sang tài khoản của mình

64.6%

35.4%

Đồng phạm Phạm tội riêng lẻ

Trang 33

*/ Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo đặc điểm nhân thân của người phạm tội

**/ Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội

Nghiên cứu, khảo sát 65 bản án HSST với 183 bị cáo phạm tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở thành phố Hà Nội ta có cơ cấu của tội phạm này theo độ tuổi thể hiện ở bảng 1.11 và biểu đồ 1.8

Bảng 1.11 Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội

Biểu đồ 1.8 Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội

Theo đó, số người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có 11 người chiếm

t lệ 6%, nhiều nhất là trong độ tuổi từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi có 107 người chiếm

t lệ 58,8% Đây là điểm đặc trưng của tội phạm này so với các tội phạm khác, người phạm tội có tuổi đời khá trẻ, có hiểu biết về công nghệ thông tin Giới trẻ luôn là thế hệ tiếp cận và hiểu biết nhanh nhất về công nghệ mới, cộng với tính cách còn bồng bột, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, thích thể hiện bản thân mình nên rất

dễ dẫn đến con đường phạm tội Số người phạm tội từ đủ 30 tuổi đến dưới 45 tuổi là

59 người chiếm t lệ 32,2% Số người phạm tội từ đủ 45 tuổi trở lên là 06 người và chiếm t lệ ít nhất 3,3%

Trang 34

**/ Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội

Tiến hành khảo sát, nghiên cứu 65 bản án HSST với 183 bị cáo phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo nghề nghiệp của người phạm tội, ta có cơ cấu thể hiện cụ thể ở bảng 1.12 và biểu đồ 1.9

Bảng 1.12 Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội

Nguồn: Khảo sát 65 bản án HSST

Biểu đồ 1.9 Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội

Dựa vào kết quả khảo sát, số người phạm tội là lao động tự do nhiều nhất là

68 người chiếm t lệ 37,2%, tiếp theo là không có nghề nghiệp với 63 người chiếm

t lệ 34,4% Đặc điểm này cũng giống với các tội phạm khác, số người phạm tội không có công việc ổn định, thất nghiệp thường dễ đi vào con đường phạm tội Tiếp theo, là số người phạm tội hiện là sinh viên theo học tại các trường đại học, cao đẳng là 23 người chiếm t lệ 12,6% Đây là điểm đặc biệt của tội phạm này, nhiều người phạm tội hiện đang là sinh viên, có nh ng người phạm tội còn là sinh viên đang theo học chuyên ngành công nghệ thông tin tại các trường đại học, cao đẳng Người phạm tội là nhân viên của các công ty là 12 người chiếm t lệ 6,6%, người

Nhân viên công tyKinh doanh và buôn bánLái xe

Các nghề hác

Trang 35

phạm tội kinh doanh, buôn bán nhỏ là 10 người chiếm t lệ là 5,5% Người phạm tội là lái xe và các nghề khác lần lư t là 3 người chiếm t lệ 1,6% và 4 người chiếm

t lệ 2,2%

**/ Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội

Thực hiện khảo sát, nghiên cứu 65 bản án HSST với 183 bị cáo phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 ta có cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội thể hiện cụ thể ở bảng 1.13 và biểu đồ 1.10

Bảng 1.13 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội

Biểu đồ 1.10 Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội

Theo đó, người phạm tội có trình độ tiểu học là 6 người chiếm t lệ 3,3%, tiếp theo là người phạm tội có trình độ trung học cơ sở là 31 người chiếm t lệ 16,9% Người phạm tội có trình độ trung học phổ thông chiếm t lệ cao nhất là 113 người chiếm t lệ 61,7% Người phạm tội có trình độ cao đẳng và đại học là 33 người chiếm t lệ 18% Do đặc điểm của tội phạm này thường là người có hiểu biết

về công nghệ thông tin nên người phạm tội có trình độ văn hóa cao chiếm t lệ lớn Đồng thời, thủ đô Hà Nội cũng là nơi dân số có trình độ văn hóa cao nên t lệ người phạm tội có trình độ cao ở Hà Nội cũng chiếm t lệ lớn

**/ Cơ cấu theo giới tính người phạm tội

Nghiên cứu 65 bản án HSST với 183 người phạm tội, cơ cấu của tội phạm này theo giới tính của người phạm tội đư c thể hiện cụ thể ở bảng 1.14 và biểu đồ 1.11

3.3% 16.9%

61.7%

18.0%

Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Cao đẳng và đại học

Trang 36

Bảng 1.144 Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội Giới tính của người phạm tội Số người phạm tội Tỷ lệ (%)

Nguồn: Khảo sát 65 bản án HSST

Biểu đồ 1.111 Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội

Dựa trên số liệu ở trên, có thể thấy người n phạm tội này là 11 người chiếm

t lệ 6%, số người là 172 người chiếm t lệ 94% Như vậy, người phạm tội này chủ yếu là nam giới N giới thực hiện tội phạm thông thường với vai trò đồng phạm, là người giúp sức đi mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng giả Chỉ

có một số rất nhỏ phụ n phạm tội riêng lẻ, thường là nh ng hành vi đơn giản, dựa vào mối quan hệ thân thiết với nạn nhân và l i dụng sơ hở của nạn nhân để phạm tội Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 22/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử đối với bị cáo Đào Lê Huyền, ngày 26/10/2017, Huyền đi cùng bạn trai là anh Nguyễn Viết Thắng đến ngân hàng VPBan chi nhánh Kinh Đô để đăng ý dịch vụ Internet Banking Huyền đư c anh Thắng nhờ viết các thông tin của anh lên tờ hai đăng ý dịch vụ ngân hàng điện tử cho tài khoản của anh Thắng Huyền đã tự ý đăng ý nhận mật khẩu kích hoạt sử dụng dịch vụ Internet Banking qua mai của Huyền là huyenle2804@gmail.com mà không thông báo cho anh Thắng Khoảng 15 giờ ngày 09/12/2015, Huyền đã thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản của anh Thắng vào tài khoản Huyền mư n của một người bạn số tiền 53.000 000 đồng

**/ Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu của người phạm tội

Nghiên cứu, khảo sát 65 bản án HSST với 183 bị cáo phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu, cụ thể thể hiện tại bảng 1.15 và biểu đồ 1.12

6%

Trang 37

Bảng 1.155 Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu Số người

Biểu đồ 1.122 Cơ cấu theo tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay phạm tội lần đầu

Thông qua số liệu thống kê, ta có thể thấy người phạm tội đa số là phạm tội lần đầu có 165 người, chiếm t lệ 90,2%, người phạm tội tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là 18 người, chiếm t lệ 9,8%

**/ Cơ cấu theo quốc tịch của người phạm tội

Thực hiện nghiên cứu, khảo sát 65 bản án HSST với 183 người phạm tội, ta

có cơ cấu của tội phạm này theo quốc tịch của người phạm tội thể hiện tại bảng 1.16

và biểu đồ 1.13

Bảng 1.16 Cơ cấu theo quốc tịch của người phạm tội Quốc tịch của người phạm tội Số người phạm tội Tỷ lệ (%)

Người Việt Nam

Trang 38

Theo đó, người nước ngoài phạm tội này ở Hà Nội giai đoạn 2013-2017 là

28 người, chiếm t lệ 15,3% Người mang quốc tịch Việt Nam phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 155 người, chiếm t lệ 84,7% Như vậy, đa số người phạm tội này ở Hà Nội là người Việt Nam, người nước ngoài phạm tội này đến từ các nước như sau: 09 người Trung Quốc, 04 người Nga, 04 người Hàn Quốc, 03 người Bungari, 03 người Ucraina, 02 người Malaisia, 01 người Azacbaizan, 01 người Nigeria, 01 người Philippin Với đặc điểm là thủ đô, có sân bay quốc tế nên số người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam và đến Hà Nội với nhiều mục đ ch hác nhau lớn, theo đó người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam và thực hiện tội phạm ở Hà Nội là khá nhiều Hơn n a, thành phố Hà Nội có nhiều trung tâm thương mại lớn, siêu thị, cửa hàng chấp nhận thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng, có các điểm rút tiền ATM của các ngân hàng quốc tế, nên l i dụng đặc điểm này, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thường thực hiện hành vi phạm tội ở thành phố Hà Nội

*/ Cơ cấu của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện

tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo các đặc điểm của nạn nhân

Nạn nhân của tội phạm nói chung và nạn nhân của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản không có trong thống kê chính thức của Vụ thống kê tổng h p Tòa án nhân dân tối cao Do vậy, để đánh giá nạn nhân của tội phạm này, cần phải nghiên cứu trong

65 bản án HSST của Tòa án các cấp tại thành phố Hà Nội Tuy nhiên, do đặc điểm của loại tội phạm này, nh ng vụ án liên quan đến việc sử dụng thông tin thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng, sử dụng thẻ ATM giả để chiếm đoạt tài sản thường thông tin của chủ thẻ thường là người nước ngoài, rất hó xác định đư c bị hại Chính vì vậy, tại Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 gi a Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông có quy định về việc xác định

người bị hại như sau: “… Trường hợp vì lý do khách quan, không thể xác định được

người bị hại (do người bị hại sống ở nước ngoài; không xác định được người bị hại

cụ thể hoặc không xác định được họ tên và địa chỉ thật của người bị hại do người bị hại không tiếp xúc trực tiếp với nhau mà chỉ thông qua mạng Internet, mạng viễn

Trang 39

thông; người bị hại không hợp tác vì không muốn lộ danh tính, số tiền thiệt hại không nhiều…), nhưng căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được, có cơ sở xác định bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội thì việc không xác định được người bị hại hoặc xác định không đủ số người bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xác định bản chất vụ án và việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là có căn cứ pháp luật” (Điều 4) Do đó, trong tổng số 65 vụ án (65 bản án HSST) về tội phạm này xảy ra tại Hà Nội, chỉ có 38 vụ án (38 bản án HSST) đã điều tra, làm rõ đư c nh ng người bị hại Theo đó, có 38 vụ án về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản điều tra làm rõ đư c nạn nhân, và có 157 nạn nhân của tội phạm này, trong đó có 152 nạn nhân là cá nhân và 5 nạn nhân là pháp nhân Thực hiện khảo sát 38 bản án HSST điều tra, làm

rõ đư c nạn nhân ta có kết quả như sau

**/ Cơ cấu theo hoàn cảnh trở thành nạn nhân của tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản:

Bảng 1.17 Cơ cấu theo hoàn cảnh trở thành nạn nhân

STT Hoàn cảnh trở thành nạn nhân của tội phạm Số

nạn nhân Tỷ lệ (%)

2 Do tin tưởng thông tin tr ng thưởng,

3 Do tin tưởng bạn quen trên mạng xã hội 23 14,6

5 Bị trộm thông tin do cây ATM

bị cài thiết bị ăn cắp thông tin 14 8,9

7 Đã từng cùng h p tác, có mối quan hệ quen biết 4 2,5

8 Chủ tài hoản sơ hở, thiếu bảo mật

trong việc quản l thông tin của mình 4 2,5

9 Do tin tưởng thông tin sai lệch

của người liên lạc qua mạng viễn thông 4 2,5

10 Ch nh sách trao quyền

Nguồn: Khảo sát 38 bản án HSST

Trang 40

Theo số liệu thống kê, ta có thể thấy hoàn cảnh trở thành nạn nhân nhiều nhất đó là giao dịch hàng hóa qua mạng với 46 người chiếm t lệ 29,3% Giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng ngày càng trở nên phổ biến vì tính tiện l i, không cần phải di chuyển nhiều vẫn có thể mua đư c hàng, giúp tiết kiệm thời gian Mặt hàng

để giao dịch ngày càng đa dạng, tuy nhiên, thông qua khảo sát thì tại địa bàn Hà Nội, mặt hàng mua bán qua mạng có nhiều nạn nhân nhất là mặt hàng thời trang của

n , mặt hàng thời trang người phạm tội rao bán trên mạng thường của nh ng thương hiệu lớn trên thế giới, với mức giá há cao như nhãn hàng Ninewest, thời trang Hàn Quốc

Hoàn cảnh trở thành nạn nhân nhiều tiếp theo đó là tin tưởng các tin nhắn

tr ng thưởng và khuyến mại nhân đôi, nhân ba thẻ nạp có 34 nạn nhân tin tưởng vào

nh ng phương thức, thủ đoạn phạm tội này chiếm t lệ 21,7% Thông thường, người phạm tội thường gửi tin nhắn tr ng thưởng đến nạn nhân hoặc gọi điện cho nạn nhân thông báo tr ng thưởng và yêu cầu nạn nhân chuyển tiền để xác nhận các thủ tục nhận thưởng bằng thẻ cào điện thoại, hoặc tung các tin nhắn khuyến mại nhân đôi, nhân ba thẻ nạp điện thoại để nạn nhân nạp thẻ điện thoại thông qua đường lin người phạm tội gửi Nh ng tin nhắn này thường đánh tr ng vào tâm lý muốn hưởng l i của nạn nhân nên nạn nhân dễ dàng làm theo

Tiếp theo, là do tin tưởng bạn quen qua mạng xã hội Ngày nay, mạng xã hội phát triển rất nhanh, hầu như mọi người ai cũng có một tài khoản mạng xã hội như Facebook, nhiều người còn có nhiều tài khoản mạng xã hội hác như Instagram, Twitter,… nhờ có mạng xã hội mà có thể gi liên lạc với nhau cũng như ết bạn với nhiều người trên thế giới, bất chấp khoảng cách địa lý Tuy nhiên, tội phạm cũng l i dụng mạng xã hội để làm quen, đặt vấn đề yêu đương với nạn nhân, sau đó, hi nạn nhân đã tin tưởng tội phạm đã lừa các nạn nhân bằng việc nhận hộ đồ chuyển về, cần chuyển tiền để hoàn tất thủ tục hải quan, có nhiều nạn nhân còn chuyển tiền rất nhiều lần cho người phạm tội

Nạn nhân của việc đầu tư, inh doanh gian hàng ảo qua mạng theo hình thức

đa cấp là 19 người chiếm t lệ 12,1% Tiếp theo là nạn nhân bị trộm thông tin thẻ ATM thông qua việc rút tiền tại điểm rút tiền tự động ATM có 14 nạn nhân, chiếm

t lệ 8,9%, tội phạm lắp đặt camera và thiết bị skimming tại điểm rút tiền tự động

để lấy đư c mã số trên thẻ và password của chủ thẻ Sau đó, người phạm tội tiến hành tổ chức sản xuất thẻ ATM giả và rút tiền trong tài khoản của chủ thẻ Tiếp theo sau đó là nạn nhân của tội phạm do lầm tưởng là người thân của mình Người

Ngày đăng: 30/07/2019, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
2. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
3. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
4. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
6. Thông tư số 53/2016/TT-BCA ngày 28/12/2016 Bộ Công an, Thông tư quy định cách thức thực hiện khai báo, tiếp nhận thông tin tạm trú của người nước ngoài tại Việt Nam Khác
7. Chính phủ (2014), Nghị định số 25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao, Hà Nội Khác
8. Đoàn Trần Hạnh (2016), Nh ng vướng mắc trong đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật về tội phạm công nghệ cao, Nghiên cứu lập pháp (02+03), tr.103-110 Khác
9. Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
10. Trần Văn Hòa (2011), An toàn thông tin và công tác phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Khác
11. Dương Tuyết Miên (2013), Tội phạm học đương đại, Nxb. Chính trị, hành chính, Hà Nội Khác
12. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Khác
13. Nguyễn San Miên Nhuận, Nguyễn Xuân Trường (2013), Phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an thành phố Hà Nội, Báo cáo tổng kết công tác năm 2013-2017 Khác
15. Đào Anh Tới (2014), Hoàn thiện cơ sở pháp lý về chứng cứ điện tử trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao, Tạp chí kiểm sát (tháng 01), tr. 35-37 Khác
17. Trần H u Tráng (2000), Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tạp chí luật học (03), tr. 51-55 Khác
18. Trần H u Tráng (2011), Nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, Tạp chí luật học (10), tr. 55-63 Khác
19. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Khác
20. Tổng cục thống kê, Dân số thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Toàn quốc năm 2013-2017 Khác
22. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Bản án hình sự sơ thẩm 165/2013/HSST ngày 24/6/2013 Khác
23. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Bản án hình sự sơ thẩm số 150/2013/HSST ngày 27/5/2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN