Đặc biệt là về vấn đề “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn thì lại là vấn đề cò
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
LUẬN VĂN CỬ NHÂN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
ĐỀ TÀI
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
CÓ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THẦY LÊ VŨ HUY (GIẢNG VIÊN KHOA LUẬT HÌNH SỰ)
Năm 2011
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCA : Bộ công an
BLHS : Bộ luật Hình sự
CTTP : Cấu thành tội phạm
CQĐT : Cơ quan điều tra
CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng ĐTD : Định tội danh
LHS : Luật Hình sự
NLTNHS : Năng lực trách nhiệm hình sự TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4Mục lục
Chương I: Lý luận chung về Định tội danh và Hành vi chiếm đoạt
1.1 Lý luận chung về định tội danh 6
1.1.1 Khái niệm về định tội danh 6 1.1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh 8 1.1.3 Phân loại định tội danh 10 1.1.4 Các giai đoạn định tội danh 12 1.1.5 Các trường hợp định tội danh 12 1.1.6 Ý nghĩa của định tội danh 15 1.2 Lý luận chung về hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian
1.2.1 Khái niệm hành vi chiếm đoạt 16 1.2.1.1 Khái niệm 16 1.2.1.2 Đặc điểm 17
1.2.2 Khái niệm thủ đoạn gian dối 18 1.2.3 Khái niệm hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn
Chương II: Một số vấn đề chung về định tội danh đối với hành vi
chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở
Trang 5dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – trong trường hợp dùng thủ
đoạn gian dối
2.3 Các trường hợp thủ đoạn gian dối không phải là hành vi khách
quan trong CTTP 40
Chương III: Thưc tiễn “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt
3.1 Thực tiễn ĐTD đối với hai tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 45 3.1.1 Thực tiễn ĐTD đối với “tội lừa đảo chiếm đoạt tài
3.1.2 Thực tiễn ĐTD đối với “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Đ140) 51 3.1.3 Một số trường hợp tranh chấp giữa “tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” (Đ139) và “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Định tội danh là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như áp dụng vào trong thực tế
Về mặt lý luận, nghiên cứu về ĐTD là một vấn đề khá phức tạp, do đây là một quá trình tư duy yêu cầu sự hiểu biết sâu rộng các qui định của pháp luật Hình sự và đường lối, quan điểm lập pháp của pháp luật Việt nam, từ đó có thể đưa ra các kết luận định hướng cho hoạt động ĐTD trong thực tế sao cho chính xác và hiệu quả
Về mặt thực tiễn, ĐTD là một khâu quan trọng ảnh hưởng đến cả quá trình ADPL, và việc đưa các qui phạp pháp luật khái quát, trừu tượng vào trong thực tiễn với các hành vi phạm tội phức tạp, biến đổi từng ngày ĐTD trong thực tế đòi hỏi không chỉ sự hiểu biết, khả năng
tư duy mà còn cần cả sự sáng tạo, linh hoạt trong việc đưa các qui định mang tính khái quát chung của điều luật vào một hành vi cụ thể
Do các đặc điểm đó mà trên thực tế ĐTD là một vấn đề được quan tâm và tranh luận cả về mặt lý luận và thực tế Tuy là vấn đề được quan tâm nghiên cứu và không còn mới trong khoa học pháp luật Hình sự, nhưng đến nay vẫn có rất ít các công trình nghiên cứu về ĐTD một cách tổng quát và thống nhất về lý luận và thưc tiễn Đặc biệt là về vấn đề “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn thì lại là vấn đề còn bỏ ngỏ chưa được nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện
ĐTD đã là một việc rất phức tạp, việc ĐTD cho “hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” lại càng phức tạp và khó khăn hơn nữa Do hành vi “chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối” là một hành vi mang tính khái quát cao, có thể tồn tại trong nhiều tội danh khác nhau với những biểu hiện và ý nghĩa khác nhau, dẫn đến sự bối rối và khó khăn cho những người tiến hành ĐTD khi hành vi cụ thể là “hành vi chiếm đoạt” và có các “biểu hiện gian dối” Câu hỏi đặt ra là: hành vi chiếm đoạt có các biểu hiện gian dối đó có bản chất là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối không, có ý nghĩa ĐTD không, và phạm vào điều luật nào?
Thực tế hiện nay, việc “ĐTD đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu”gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn
Trang 7Hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối có vai trò quan trọng trong nhóm các tội Xâm phạm sở hữu, nhưng hiện tại “thủ đoạn phạm tội” của nhóm tội này một số còn chưa được hướng dẫn chi tiết và cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng “thủ đoạn gian dối” trong việc ĐTD một cách cụ thể Việc này dẫn đến người ĐTD nhầm lẫn về bản chất của các tội danh mà nhà làm luật qui định trong nhóm tội này, khi mà “hành vi chiếm đoạt” có
“biểu hiện gian dối” đồng thời thỏa mãn mặt khách quan của nhiều tội danh khác nhau làm cho người ĐTD không khỏi bối rối, khó xác định đúng tội danh mà người phạm tội đã thực hiện Ngay cả về mặt lý luận cũng còn nhiều ý kiến tranh luận không thống nhất, đưa ra cá lí
lẽ khác nhau mà chưa đưa ra được một cách thức tiếp cận, thực hiện ĐTD cụ thể và khoa học cho hành vi này
Đó cũng chính là lí do tác giả chọn đề tài “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản
có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” là đề tài nghiên cứu cho khóa luận này Vì đây là vấn đề có tính cấp thiết, về cả mặt lý luận và thực tiễn còn nhiều khúc mắc và khó khăn, khi áp dụng ĐTD vẫn còn nhiều tranh luận, không thống nhất Tuy nhiên, đây cũng là một đề tài phức tạp, trong phạm vi khóa luận tốt nghiêp cử nhân Luật và vốn kiến thức còn hạn chế của tác giả chỉ mong góp ý kiến của mình nhằm đưa ra cách hiểu và tiếp cận “ĐTD hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” trong
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến thời điểm này, nhìn chung chưa có công trình khoa học nào, dưới mọi cấp độ nghiên cứu về đề tài này Về vấn đề Định tội danh thì có một số các cuốn sách mang tính lí luận chung về Định tội danh của các tác giả như: TS Lê Văn Đệ, PGS.TS Lê Cảm TS Dương Tuyết Miên, ThS Đoàn Tấn Minh…nhưng trong đó chỉ đề cập đến các hiểu biết mang tính lý luận chung về ĐTD mà không đề cập về ĐTD cho hành vi cụ thể, hoặc có đề cập đến ĐTD cho các tội cụ thể chứ không có nghiên cứu về vấn đề ĐTD cho một hành vi mang tính khái quát chung
Có một số luận văn có đề cập đến các tội có “hành vi chiếm đoạt” và “thủ đoạn gian dối” thì lại mang tính chất là nghiên cứu tội danh cụ thể và dưới góc độ đấu tranh phòng chống của Tội phạm học Trong các bài báo, tạp chí thì đó các tranh luận mang tính vụ việc cụ thể và chỉ dừng lại ở tính chất trao đổi quan điểm về một vụ việc cụ thể mà thôi Đặc biệt có thể kể
Trang 8đến bài của Lê Văn Luật – Bàn về định tội danh đối với một số tội xâm phạm sở hữu – Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2006 và Nguyễn Ngọc Chí – Vấn đề định tội danh trong các tội
xâm phạm sở hữu – Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/1997, cả hai tác giả đều tiếp cận
việc ĐTD cho một nhóm các tội danh chứ không đi theo hướng ĐTD cho hành vi cụ thể có thể phạm vào tội danh nào
Với tình hình nghiên cứu đề tài như trên, tác giả mong kết quả nghiên cứu của mình có thể phần nào tiếp cận được việc ĐTD cho một hành vi mang tính khái quát như hành vi “chiếm đoạt có thù đoạn gian dối”
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một bài khóa luận, tác giả xin trình bày một số quan điểm và hiểu biết của mình về lý luận về ĐTD và “hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối”, qua đó đưa ra một số cách tiếp cận ĐTD cho hành vi “hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối” với ý nghĩa là một yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm (CTTP) của các tội xâm phạm sở hữu
Về mặt lý luận, khóa luận này xin tiếp cận các tội danh có thể có hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối từ bản chất của hành vi, và ý nghĩa của thủ đoạn cụ thể được sử dụng trong tội danh đó Từ đó rút ra các kết luận mang tính khái quát chung về thực tế: muốn ĐTD cho
“hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” là tội danh cụ thể thì cần phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố nào
Về mặt thực tiễn, qua một số trường hợp cụ thể, khóa luận sẽ rút ra ý nghĩa của “hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối” trong các tội danh khác khi mà hành vi gian dối chỉ mang tính chất là biểu hiện chứ không phải là thủ đoạn phạm tội
Với tính chất của một bài khóa luận, trong một thời gian ngắn và sự hiểu biết có hạn của tác giả đối với một đề tài rất phức tạp nên trong phạm vi khóa luận này tác giả chỉ tập trung phân tích “ĐTD hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối” trong “nhóm các tội xâm phạm sở hữu”
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Thống nhất theo quan điểm của Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra tác giả cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể cho từng trường hợp như là phân tích, tổng hợp vấn đề; so sánh giữa các CTTP; khảo sát tình hình ĐTD trên thực tế và kết quả…
Mác-5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tác giả hi vọng bài khóa luận này có thể phần nào đưa ra một cách tiếp cận mới cho vấn đề ĐTD cho một hành vi mang tính khái quát thay vì ĐTD theo hướng từng tội danh cụ thể Có thể nêu ra được bản chất của hành vi “hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” thống nhất trong nhận thực về các tội danh mà hành vi này có ý nghĩa ĐTD và phân biệt ranh giới giữa các tội danh trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu khi các hành vi đó được thực hiện kèm theo các biểu hiện gian dối
Về ý nghĩa thực tiễn: góp phần đưa ra cách giải quyết những vướng mắc về ĐTD “hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” trong thực tế
Hi vọng các ý kiến phân tích, đánh giá trong khóa luận có hữu ích cho hoạt động ĐTD trong thực tế
Khóa luận này cũng có thể cung cấp một số kiến thức nhất định Làm tài liệu cho việc nghiên cứu về đề tài này hoặc vấn đề liên quan cho các bạn sinh viên hoặc những người khác có quan tâm đến vấn đề này
Tác giả cũng mong những kết luận qua quá trình nghiên cứu của mình dưới sự giúp đỡ của các giảng viên có thể là một ý kiến đóng góp có giá trị về lý luận và hiệu quả trong thực tiễn ĐTD
Trang 106 Bố cục
Bài khóa luận được chia làm 3 chương có nội dung chính như sau:
- Lời nói đầu
Chương I: Lý luận chung về định tội danh và hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian
dối
Chương II: Một số vấn đề chung về “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có
thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu”
Chương III: Thưc tiễn “Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian
dối” và một số kiến nghị
- Kết luận
Trang 11Chương I: Lý luận chung về định tội danh và hành vi chiếm đoạt tài
sản có thủ đoạn gian dối
1.1 Lý luận chung về định tội danh
Định tội danh là một giai đoạn quan trọng trong quá trình áp dụng các qui phạm pháp luật Hình sự vào thực tế Bởi lẽ việc áp dụng các qui định mang tính trừu tượng, khái quát cao vào các hành vi phạm tội đa dạng, phức tạp trong thực tiễn là một khoảng cách rất lớn Định tội danh một cách chính xác và khách quan không những đảm bảo việc xác định đúng trách nhiệm hình sự (TNHS) mà người phạm tội phải chịu còn đảm bảo cho những qui định của luật Hình sự (LHS) được áp dụng một cách đúng đắn vào thực tế
Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về ĐTD Hầu hết các chuyên gia khi nghiên cứu về ĐTD đều đưa ra các khái niệm khác nhau về ĐTD Ở Việt Nam hiện nay có thể kể đến các khái niệm về ĐTD như:
Theo LS Trịnh Quốc Toản: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý Hình sự sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố của CTTP cụ thể tương ứng được qui định trong BLHS Hay nói cách khác ĐTD là việc xác định một hành vi cụ thể đã được thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội nào trong số các tội phạm được qui định trong BLHS “Định tội danh là một quá trình logic nhất, là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thưc hiện Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiểm tra, xác định trong mối tương quan với các qui phạm pháp luật Hình sự” [20-tr.7]
Còn theo TS Dương Tuyết Miên: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo qui định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu có phạm tội thì đó là tội gì? theo điều luật nao của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tội danh cho hành vi nguy hiểm cho xã hội” [5-tr.9]
Trang 12Theo quan điểm của hai chuyên gia này, ĐTD được đặc trưng là quá trình đánh giá về mặt pháp lý Hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng về một hành vi cụ thể xem có đầy đủ các yếu tố CTTP không?
Còn một quan điểm khác về ĐTD có thể kể đến đó là:
Theo quan điểm của PGS TS Võ Khánh Vinh và TS Lê Văn Đệ: “Định tội danh là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự nhằm xác định và ghi nhận về mặt pháp lý Hình sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP được pháp luật Hình sự qui định” [23-tr.20]
Theo quan điểm này thì hoạt động ĐTD không chỉ là quá trình đánh giá về mặt pháp lý Hình sự mà còn là một quá trình nhận thức và không phải chỉ do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện
Quan điểm của PGS TS Lê Cảm được xem là khái niệm khá đầy đủ và được thừa nhận rộng rãi hiện nay thì cho rằng “ Định tội danh là một quá trình nhận thức mang tính lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập dược và các tình tiết thực tế của VAHS để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do LHS qui định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [10-tr.11]
Như vậy theo PGS TS Lê Cảm ĐTD không phải chỉ là việc đánh giá và áp dụng pháp luật Hình sự mà cón có cả pháp luật TTHS Quá trình ĐTD còn có sự gắn bó mật thiết với các giai đoạn tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng
Tuy còn có sự khác nhau, nhưng có thể thấy các khái niệm trên đều có những điểm chung nhất về tính chất, quá trình , cơ sở của việc ĐTD
Về cơ bản tác giả đồng ý với quan điểm của PGS TS Lê Cảm, và theo đó có thể khái quát
về ĐTD với các đặc điểm sau:
- ĐTD là một quá trình nhận thức một cách logic cũng như áp dụng pháp luật Hình sự và Tố tụng Hình sự vào thực tế
- Là quá trình tìm hiểu, đánh giá hành vi trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP trong Luật hình sự
- Cơ sở của việc ĐTD là CTTP cụ thể trong Luật hình sự
Trang 13- ĐTD là một giai đoạn quan trong, là tiền đề cho các giai đoạn của TTHS cũng như việc cá thể và phân hóa TNHS
ý nghĩa là cơ sở pháp lý của việc ĐTD pháp luật Hình sự nước ta đã qui định tất cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm ở trong BLHS” và theo tác giả thì “CTTP là
cơ sở pháp lý duy nhất cho việc ĐTD là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để xác định TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội” [20-tr.10]
Theo quan điểm này thì CTTP bao gồm các dấu hiệu cần và đủ để trên các phương diện khách quan, khách thể, chủ thể, chủ quan của tội phạm thể hiện những dấu hiệu đặc trưng, điển hình, bản chất và bắt buộc của một loại tội phạm, nhờ các đặc điểm này của CTTP mà
ta phân biệt được các tội phạm khác nhau Chính vì vậy, CTTP là cơ sở pháp lý duy nhất của việc ĐTD, là mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để truy cứu TNHS
- Quan điểm thứ hai:
Là quan điểm được thừa nhận khá rộng rãi thì cho rằng cơ sở pháp lý của ĐTD phải được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: cơ sở pháp lý của ĐTD là hệ thống các qui phạm pháp luật Hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý pháp lý duy nhất cũng như hệ thống qui phạm pháp luật TTHS với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi có phải là tội phạm không
Theo nghĩa hẹp: căn cứ pháp lý của việc ĐTD là chỉ có hệ thống các qui phạm pháp luật Hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm được thực hiện là tội phạm Và CTTP là căn cứ khoa học cho việc ĐTD
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ:
Trang 14 Trong quá trình xây dựng Bộ luật hình sự (BLHS) nhà làm luật đã tìm các dấu hiệu đặc trưng của hành vi như thế nào là nguy hiểm cho xã hội, đó là các dấu hiệu đặc trưng nhất, phổ biến nhất, và được lặp đi nhìêu lần sau đó điển hình hành vi để trở thành một qui phạm pháp luật Hình sự
BLHS đồng thời cũng là nguồn duy nhất chứa đựng toàn bộ các qui phạm pháp luật Hình sự nên đây chính là nguồn pháp lý duy nhất và trực tiếp cho việc ĐTD Trong khi đó Bộ luật TTHS lại là nguồn tập hợp các qui phạm pháp luật về quá trình TTHS, quá trình xem xét một hành vi nguy hiểm cho xã hội có phạm tội hay không, theo từng giai đoạn tố tụng là các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tội danh cũng như
ra quyết định cuối cùng về tội danh mà người phạm tội phải gánh chịu Trong suốt quá trình
đó các qui định của Bộ luât TTHS sẽ là nguồn bổ trợ mang tính gián tiếp cho việc ĐTD
“CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được qui định trong Luật Hình sự, là mô hình pháp lý của một tội phạm cụ thể Nó là tổng hợp những dấu hiệu chung của một loại tội phạm, đồng thời cũng phản ánh được tính đặc trưng của loại tội phạm đó” [10-tr.13] Như vậy bản thân CTTP là một mô hình pháp lý mang tính trừu tượng, các nhà làm luật xây dựng nên mô hình này và dựa vào đó, dựa vào các dấu hiệu bắt buộc của CTTP để xây dựng nên các qui phạm pháp luật Hình
sự Hay nói cách khác, CTTP chính là sự khái quát hóa các qui phạm pháp luật Hình sự dưới dạng các yếu tố: khách thể, khách quan, chủ quan, chủ thể Mối quan hệ giữa hành
vi phạm tội với CTTP là mối quan hệ giữa hiện tượng với mô hình pháp lý, giữa nội dung
và hình thức của tôi phạm Do đó một khái niệm khoa học thì không thể là cơ sở pháp lý duy nhất mà chỉ có thể là cơ sở khoa học cho việc ĐTD Và việc ĐTD theo các dấu hiệu của CTTP là phương pháp ĐTD khoa học
1.1.3 Phân loại định tội danh
Trên thực tế, ĐTD không phải chỉ được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng mà như
đã trình bày ở trên ĐTD còn là một quá trình nhận thức lý luận và do đó các chủ thể tiến hành ĐTD có thể là các chủ thể có thẩm quyền đánh giá về mặt pháp lý Hình sự và thay mặt nhà nước định ra người thực hiện hành vi cụ thể đã phạm tội gì, thì còn có thể là một quá trình nhận thức lý luận của bất kỳ một chủ thể nào có hiểu biết về pháp luật Hình sự và quan tâm đến hành vi cụ thể nào đó Từ tính chất của hai loại chủ thể này có thể chia ĐTD thành
Trang 15hai loại: ĐTD chính thức và ĐTD không chính thức Ở mỗi loại ĐTD này có những đặc điểm riêng về chủ thể, tính chất của ĐTD cũng như hậu quả pháp lý
- Định tội danh chính thức:
Trước tiên, ĐTD chính thức là sự đánh giá về mặt pháp lý Hình sự mang tính quyền lực nhà nước về hành vi cụ thể xem đó có phải là tội phạm không, nếu có thì đó là tội gì, theo điều luật nào? phải chịu những hậu quả pháp lý như thế nào? Và như vậy, việc ĐTD chính thức nhất thiết phải do các chủ thể đại diện quyền lưc nhà nước, hay cụ thể đó là các cơ quan tiến hành tố tụng Đối với một vụ án, các chủ thể đó là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc một số cơ quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật TTHS (Điều 104; Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự) trong các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự (VAHS)
Kết quả ĐTD do các cơ quan này tiến hành mang tính chất pháp lý đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm theo qui định của pháp luật Cụ thể theo từng giai đoạn tố tụng có thể là ĐTD ban đầu dẫn đến việc khởi tố vụ án, bắt đần quá trình điều tra, khởi tố bị can, truy tố, miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc ra bản án kết luận một tội danh chính thức và TNHS mà người thực hiện hành vi nguy hiểm phải chịu
- Định tội danh không chính thức:
Trái ngược với ĐTD chính thức, ĐTD không chính thức không phải là sự đánh giá mang tính chất pháp lý mà nó chỉ là sự nhận thức, đánh giá của các chủ thể có hiểu biết, quan tâm đến vụ án hình sự Các chủ thể này thường là: các luật gia, giảng viên, nhà nghiên cứu khoa học, cán bộ làm công tác thực tiễn, sinh viên luật…
Việc ĐTD của các chủ thể này được thể hiện trong các giáo trình, sách, báo, công trình nghiên cứu, bài giảng trên lớp, kết quả thực tập diễn án…Kết quả này không mang tính pháp lý, do đó nó chỉ là sự thể hiện quan điểm cá nhân, ý kiến cá nhân, kết quả tội danh đưa
ra không làm phát sinh nghĩa vụ của người thực hiện hành vi cụ thể cũng như không làm phát sinh các quan hệ TTHS
Nếu như ĐTD chính thức là sự đánh giá của những cơ quan mang tính quyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước ĐTD làm tiền đề cho việc xét xử và quyết định TNHS của người thực hiện một tội phạm phải chịu, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Hình sự ĐTD không chính thức là một hoạt động mang tính thực tiễn cao, giúp nâng cao kiến thức của cán bộ tư pháp, đóng góp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiểu biết, khả năng tiếp cận thực tế cho sinh viên Luật
Trang 16Hoặc cũng có thể chia các giai đoạn ĐTD như sau:
Giai đoạn 1: Xác định quan hệ pháp luật Là giai đoạn phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện để xem hành vi đó có các dấu của tội phạm hay không
Giai đoạn 2: Tìm nhóm qui phạm pháp luật Hình sự Đây là giai đoạn xác định xem tội phạm mà chủ thể thực hiện thuộc chương tương ứng nào trong phần các tội phạm của BLHS, hay nói cách khác đây là giai đoạn xác định khách thể loại của tội phạm
Giai đoạn 3: Tìm ra qui phạm pháp luật cụ thể Là giai đoạn so sánh đối chiếu và kiểm tra xem các dấu hiệu mà người phạm tội thực hiện tương ướng với CTTP cụ thể nào Hay chính
là việc xác định khách thể trực tiếp của tội phạm
1.1.5 Các trường hợp ĐTD
Hành vi phạm tội được diễn ra theo một quá trình gồm các giai đoạn khác nhau, từ việc hình thành ý định phạm tội, chuẩn bị công cụ phương tiện, thực hiện tội phạm Khi người phạm tội thực hiện hết các dấu hiệu của CTTP thì tội phạm được coi là hoàn thành và khi đó ĐTD chính là quá trình đánh giá các yếu tố của CTTP Còn nếu hành vi thực hiện chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP thì được coi là tội phạm chưa hoàn thành, ĐTD trong trường hợp này cần phải chú ý đến các qui định về tội phạm chưa đạt được qui định trong phần chung của BLHS Trong trường hợp hành vi thực hiện có thể phạm vào nhiều tội danh thì khi ĐTD phải xem xét kĩ lưỡng trường hợp nào sẽ phải ĐTD là hai hay nhiều tội, trường hợp nào bản chất của hành vi chỉ là một tội danh Hoặc trong trường hợp đồng phạm tức là
có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì ĐTD phải phân biệt các loại
Trang 17người đồng phạm, chú ý đến các qui định về phân hóa trách nhiệm hình sự cho các đồng phạm…
Như vậy, ĐTD có thể có các trường hợp đó là: đối với tội phạm hoàn thành, đối với trường hợp chưa hoàn thành, trường hợp phạm nhiều tội, trường hợp có đồng phạm Sau đây tác giả xin phân tích một trường hợp của ĐTD đó là trường hợp tội phạm hoàn thành, khi người phạm tội đã thực hiện đầy đủ các yếu tố của CTTP, thể hiện đúng và đầy đủ nhất bản chất của một hành vi phạm tội
- ĐTD đối với tội phạm hoàn thành
Đối với tội phạm hoàn thành thì “tội phạm được coi là hoàn thành khi trong hành vi mà chủ thể thực hiện có tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự qui định” [10-tr.28] Do tội phạm hoàn thành là hành vi đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của CTTP cho nên có thê đưa ra khái niệm “ĐTD đối với tội phạm hoàn thành là sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên cơ sở đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi ấy với các dấu hiệu của CTTP cụ thể do điều luật tương ứng tại phần các tội phạm Bộ luật hình sự qui định” [7-tr.445]
Như vậy, khi ĐTD hành vi phạm tội đã hoàn thành người ĐTD phải tiến hành xem xét đầy
đủ các mặt của CTTP
Thứ nhất là: khách thể
Bất cứ hành vi nào được nhà làm luật liệt kê vào phần các tội phạm của BLHS thì đều là các hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội, và nó đã xâm phạm vào khách thể chung của LHS Như vậy, bước quan trọng trong việc ĐTD chính là xác định khách thể loại tức là xác định xem hành vi đã xâm phạm đến nhóm quan hệ xã hội nào được LHS bảo vệ, để có thể xác định hành vi đó thuộc chương nào của LHS Từ đó tiếp tục xác định khách thể trực tiếp
và tìm ra CTTP cụ thể tương ứng với hành vi ấy
Thứ hai là: mặt khách quan
Người tiến hành ĐTD sẽ phải dựa vào các dấu hiệu mang tính cơ bản và điển hình được qui định trong mặt khách quan của CTTP như là: hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của tội phạm như: phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm…
Thứ ba là: chủ thể
Đối với mặt chủ thể thì người tiến hành định tội danh phải chú ý đến người thực hiện hành
Trang 18chưa? Tức là có đủ NLTNHS và tuổi chịu trách nhiệm hay chưa? Ngoài ra tùy vào tọi danh
cụ thể mà người ĐTD xem xét thì còn phải quan tâm đến xem điều luật có yêu cầu chủ thể phải là chủ thể đặc biệt hay không? Như là: người có chức vụ, quyền hạn; giới tính…
Thứ tư là: mặt chủ quan
Khi xem xét mặt chủ quan trong các tội phạm hoàn thành: người ĐTD nhất thiết phải chứng minh được lỗi (cố ý hoặc vô ý) của chủ thể tội phạm đó, tức là phải xác định được lý trí và ý chí của người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tương ứng (bao gồm cả lỗi đối với hành
vi và lỗi đối với hậu quả) Ngoài ra trong các tội có lỗi cố ý thì người ĐTD còn phải xác định hai dấu hiệu là động cơ và mục đích phạm tội để xác định chính xác hành vi cụ thể có thực sự thỏa mãn dấu hiệu của CTTP tương ứng đó không
1.1.6 Ý nghĩa của ĐTD
- Về mặt lý luận:
ĐTD là sự xem xét các tình tiết cụ trong thực tiễn vào một CTTP cụ thể được qui định trong BLHS Qua quá trình này, có thể đánh giá tính hoàn thiện và đầy đủ của các qui định trong Luật Hình sự Mô hình pháp lý của các tội phạm chính là CTTP – cơ sở khoa học của ĐTD, quá trình ĐTD sẽ chứng tỏ được sự phù hợp, khoa học, đủ tính đặc trưng của CTTP Cũng như tính khái của pháp luật Hình sự có phù hợp với tình hình thực tế không, từ đó đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật Hình sự
- Về mặt xã hội:
Đạo luật Hình sự cũng như các đạo luật khác, đều mang ý nghĩa chung đó là sự thể hiện ý chí của nhà nước trong việc bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng cũng như bảo đảm cho các quan hệ xã hội được diển ra ổn định theo sự quản lý của nhà nước Nước ta hiện nay đang phát triển theo định hướng XHCN, nhà nước đại diện ý chí của toàn bộ nhân dân Do
Trang 19đó, ĐTD đúng chính là biểu hiện của việc thực thi đúng ý chí của nhà nước – ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ hiệu quả các của lợi ích xã hội, và của nhân dân ĐTD đúng cũng là áp dụng TNHS đúng, phù hợp với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện Làm cho người phạm tội “tâm phục khẩu phục” mà chấp hành các hình phạt đã được đưa ra tạo được sự hưởng ứng trong nhân dân, làm cho phap luật được tuyên truyền sâu rộng vào trong nhân dân
Còn ngược lại, ĐTD không đúng dẫn đến quyết định hình phạt sai, dẫn tới việc bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người vô tội, xâm phạm quyền tự do của công dân sẽ tạo tâm lý chống đối, không tin tưởng vào cơ quan nhà nước Như vậy thì không những không đảm bảo ý nghĩa của BLHS mà còn tạo ra tác động tiêu cực : tâm lý chống đối, giảm uy tín của nhà nước, giảm hiệu quả của công tác phòng chống tội phạm…
1.2 Lý luận chung về hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối
1.2.1 Khái niệm hành vi chiếm đoạt tài sản
1.2.1.1 Khái niệm
“Hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình” [7-tr.12] Như vậy hành vi chiếm đoạt là một quá trình, vừa làm cho chủ tài sản mất đi tài sản, vừa làm cho người chiếm đoạt có tài sản
đó về mặt thực tế Còn về mặt pháp lý, hành vi chiếm đoạt là hành vi trái pháp luật nên người chiếm đoạt chỉ có các quyền về tài sản như: chiếm hữu, sử dụng định đoạt trên thực
tế còn về mặt pháp lý thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ tài sản
Hành vi chiếm đoạt bắt đầu khi người chiếm đoạt bắt đầu thực hiện việc làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản để tạo khả năng đó cho mình và hoàn thành khi người chiếm đoạt
đã làm chủ được tài sản chiếm đoạt Trong quá trình này, tùy thuộc vào tình trạng tài sản, loại tài sản, điều kiện, hoàn cảnh xảy ra hành vi chiếm đoạt cũng như mong muốn của người chiếm đoạt mà hành vi chiếm đoạt có thể được thực hiện bởi các thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực; công khai, lén lút; gian dối…
Trang 20- Về mặt pháp lý, không làm mất đi quyền sở hữu của chủ tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt
Do bản chất là một hành vi trái pháp luật nên “hành vi chiếm đoạt tài sản” chỉ mang lại cho người chiếm đoạt tài sản các quyền về tài như sở hữu, chiếm hữu, định đoạt về mặt thưc tế còn về mặt pháp lý thì hành vi chuyển dịch tài sản trái với ý muốn của chủ tài sản thì không thể làm mất đi quyền sở hữu của chủ tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt
- Tài sản bị chiếm đoạt phải nằm trong sự chiếm hữu và quản lý của chủ tài sản hoăc người quản lý tài sản
- Thực hiện bởi lỗi cố ý
Hành vi chiếm đoạt tài sản luôn luôn thực hiện với lỗi cố ý Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản là của người khác hoặc thuộc quyền quản lý của người khác nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi chiếm đoạt để biến tài sản đó thành tài sản của mình
- Có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau
Để thực hiện mong muốn có được tài sản của người khác thì người thực hiện hành vi chiếm đoạt có thể thực hiện bằng rất nhiều thủ đoạn khác nhau như: công khai, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lén lút, công khai… Tùy thuộc vào các thủ đoạn cụ thể mà người chiếm đoạt tài sản thực hiện thì “hành vi chiếm đoạt tài sản” được ĐTD là các tội danh tương ứng trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu
Trang 211.2.2 Thủ đoạn gian dối
Trong “hành vi chiếm đoạt tài sản” thì thủ đoạn gian dối chỉ là một trong những thủ đoạn
mà người chiếm đoạt có thể sử dụng nhằm mục đích chiếm đoạt bằng được tài sản của
người khác
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông- Viện Ngôn ngữ học;NXB TP.HCM 2002 thì “thủ đoạn
là: cách làm khôn khéo, thường là xảo trá để chiếm lấy của cải, tài sản”; “gian dối là:
không thật thà ngay thẳng có ý lừa lọc”
Như vậy, có thể khái quát về khái niệm thủ đoạn gian dối đó là: cách thức, cách làm khôn
khéo, không thật thà ngay thẳng, mang tính chất lừa lọc nhằm chiếm lấy của cải, tài sản của người khác
Còn trên thực tế thủ đoạn gian dối mà người chiếm đoạt sử dụng là rất đa dạng, có thể là đưa ra các thông tin gian giả bằng lời nói, hành động, chữ viết (đưa ra các giấy tờ giả…) hoặc cung cấp các thông tin sai lệch về sự việc như nói không thành có, ít thành nhiều, giả thành thật hoặc các hành vi cân, đo, đong, đếm gian dối…
Thủ đoạn gian dối trên thực tế diễn ra rất phức tạp dưới nhiều hình thức như: Kẻ phạm tội
có thể đưa ra các thông tin gian dối, giấy tờ giả, thậm chí là giả dạng người khác chỉ với một mục đích duy nhất là tạo lòng tin cho người bị hại, để có thể chiếm đoạt được tài sản như: Làm giả giấy tờ nhà và thuê người đóng giả chủ sở hữu để lừa đảo tiền của người khác Ví dụ:
Năm 1993, ông Nguyễn Văn Thấm (cha ruột của Nguyễn Văn Hài) đã bán cho Trần Thị Hà thửa đất số 93, tờ bản đồ 47 tại ấp 3, An Phú, Quận 2 Năm 2009 bà Hà nhờ ông Thấm bán giúp thửa đất này Ông Thấm đã tiến hành giao dịch với anh Nguyễn Ngọc Hòa và chị Trần Thị Kim Ngọc, sau khi cho vợ chồng anh Hòa xem bản đồ hiện trang đất, thấy mảnh đất đứng tin bà Hà nên anh Hòa yêu cầu phải gặp bà Hà Ông Thấm không liên lạc được với bà
Hà nên bỏ việc mua bán với anh Hòa
Nguyễn Văn Hài biết được thông tin này nên đã rủ Bùi Thị Lý đóng giả bà Hà, lấy hình Lý nhờ người làm Chứng minh thư, hộ khẩu dưới tên bà Hà, và làm giả hợp đồng bán đất giữa ông Thấm và bà Hà, lấy sơ đồ hiện trạng đất đứng tên ông Thấm sửa thành tên bà Hà sau khi có đủ các giấy tờ này, Hài và Lý tiến hành giao dịch với vợ chồng anh Hòa và đã chiếm đoạt được 500.000.000đồng từ vợ chồng anh Hòa [44]
Trang 22Trong vụ án này, Nguyễn Văn Hài đã dùng các giấy tờ giả, và nhờ người giả danh thì mới
có thể làm cho người bị hại là vợ chồng anh Hòa hoàn toàn tin tưởng vào các giấy tờ đó là thật, và việc giao dịch với Lý là đúng với chủ sở hữu nên mới giao tài sản cho Lý Nếu Hài
và Lý không dùng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tin nhầm thì đã không thể chiếm đoạt được tài sản
Hoặc có thể là đưa các thông tin gian dối, không đúng sự thật như nói rằng mình là người có quan hệ rông rãi với những người có chức quyền, nên có thể “chạy” đưa người đi xuất cảnh một cách dễ dàng Do tin vào những thông tin giả này mà người bị hại đã giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt Ví dụ:
Do có mối quen biết từ trươc nên Trần Xuân Đ nói với Hoàng Cầm G, Đ là sĩ quan an ninh quốc phòng, có thể lo được thủ tục xuất cảnh định cư tại Mỹ, theo dạng Mỹ sống (lính Mỹ bị bắt trong chiến tranh bây giờ trao trả cho chính phủ Mỹ) và tìm được hài cốt lính Mỹ G nói với bạn là ông Nguyễn Văn T nếu có ai có nhu cầu đi xuất cảnh thì dẫn họ đến gặp G, nếu dẫn được thì gia đình ông T được xuất cảnh mà không mất tiền, còn G thì được Đ cho 1 số tiền và lo cho em G xuất cảnh mà không mất tiền Thông qua sự quen biết với G bảy hộ gia đình có nhu cầu xuất cảnh đã đến gặp G liên hệ để nhờ Đ lo giúp thủ tục xuất cảnh sang
Mỹ Do tin tưởng vào Đ nên các gia đình này đã đưa co Đ tổng cộng 350.000.000 đồng và 2.500USD [52]
Cũng có trường hợp người bị hại giao tài sản cho người phạm tội quản lý, sau đó người phạm tội đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã dùng thủ đoạn là tạo hiện trường giả bị trộm mất tài sản nhằm cho chủ sở hữu tin vào mình có thể chiếm đoạt được tài sản
Năm 2005 Tô Thị Thanh X quê Thanh Hóa vào TP.HCM học Đại học và do có quen biết với chị Lê Thị N và chị Lê Thị C nên 2 chị này đã cho X ở nhờ nhà Thấy X là Sinh viên lại có
vẻ thật thà nên đã mua két sắt và giao tiền cho X cất giữ đồng thời giao nhiệm vụ cho X hằng tháng đi thanh toán tiền hàng cho khách hàng của N và C Lợi dụng lòng tin của chị N
và chị C, trong việc quản lý tiền cho khách hàng X đã thanh toán một phần tiền, phần còn lại giữ tiêu xài cá nhân nên thâm hụt số tiền khoảng 122.200.000
Đến ngày 26/10/2008 trong két tiền do X quản lý còn số tiền khoảng 1.041.000.000 đồng X
đã mở két sắt lấy hết số tiền này, đem đi nhờ người cất giữ hộ Sau đó X về nhà xáo áo, quần, mở két sắt, đem ổ khóa nhà đem vứt đi rồi tạo hiện trường giả vụ mất trộm X đến khách sạn ngủ với chị C Sáng hôm sau, X về nhà giả vờ phát hiện mất trộm, báo công an phường Nhận được tin báo công an xuống hiện trường, qua đấu tranh xác định X chính là người chiếm đoạt tài sản trên [42]
Trang 23Như vậy, “thủ đoạn gian dối” chỉ là một trong những thủ đoạn mà người chiếm đoạt có thể
sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích tạo sự tin tưởng cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản để có thể chiếm đoạt tài sản và nhờ vào thủ đoạn gian dối mà người thực hiện tội phạm mới có thể chiếm đoạt được tài sản
1.2.3 Khái niệm hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối
Có thể hiểu hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối là: hành vi cố ý chuyển dịch tài
sản đang trong sự quản lý của chủ tài sản hoặc người quản lý thành tài sản của mình, tạo cho mình khả năng chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản đó bằng thủ đoạn gian dối
Giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và thủ đoạn gian dối có mối quan hệ nhân quả chặt chẽ với nhau Thủ đoạn gian dối là để phục vụ cho mục đích chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt chỉ
có thể thực hiện được khi người phạm tội thực hiện các hành vi gian dối
Một số đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối:
Là hành vi chuyển dịch tài sản một cách bất hợp pháp
Cũng như đặc điểm chung của các hành vi chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối cũng là hành vi chuyển dịch tài sản Hành vi chuyển dịch này phải được hiểu dưới góc
độ pháp lý chứ không phải góc độ cơ học hay ngôn ngữ và theo Từ điển Tiếng Việt phổ
thông-Viện Ngôn ngữ học, NXB TP.HCM, 2002 thì “chuyển dịch là: thay đổi hoặc làm
thay đổi vị trí trong một khoảng ngắn” Rõ ràng không thể hiểu chiếm đoạt là dời tài sản của
người khác một khoảng ngắn hay hay tài sản lấy tài sản của người khác ra khỏi vị trí là đã
có thể chiếm đoạt được tài sản Mà chiếm đoạt được tài sản là khi làm cho chủ sở hữu, người quản lý không còn khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản nữa, mặc dù tài
sản có thể chuyển dịch hoặc không bị chuyển dịch về mặt cơ học
Tài sản bị chiếm đoạt không thể là tài sản hợp pháp của người chiếm đoạt
Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp thừa nhận và bảo vệ Bất cứ hành vi nào xâm phạm đến nội dung của quyền sở hữu của công dân,
cơ quan, tổ chức đều là hành vi trái pháp luật “Hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” là việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác Tức là tài sản đã
bị chuyển dịch trái với ý chí chủ quan của chủ tài sản nên dù người chiếm đoạt có thể làm
Trang 24mất khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản, mang đến cho mình khả năng
đó, thì đó cũng là các quyền năng trái pháp luật Người phạm tội có thể chuyển dịch tài sản thành của mình nhưng tài sản đó về mặt pháp lý không thể trở thành tài sản hợp pháp của người phạm tội
Thủ đoạn gian dối là một trong những thủ đoạn có thể thực hiện để chiếm đoạt tài sản
Thủ đoạn gian dối không phải là thủ đoạn bắt buộc trong tất cả CTTP của các tội xâm phạm
sở hữu mà chỉ trong một số tội danh nhà làm luật yêu cầu hành vi chiếm đoạt phải được thực hiện bằng thủ đoạn cụ thể đó là gian dối, và nhà làm luật cho rằng hành vi hành vi chiếm đoạt mà có thủ đoạn gian dối ấy là đặc trưng, đủ để phản ánh tính nguy hiểm của hành vi, phân biệt tội danh thì mới qui định là yếu tố bắt buộc trong CTTP
Trang 25Chương II: Một số vấn đề chung về “định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở
hữu”
2.1 Khái niệm chung về các tội xâm phạm sở hữu
Theo Thạc sĩ Mai Bộ: “Tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm pham đến chế độ sở hữu của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân” [14-tr.32]
Theo khái niệm này, có thể thấy tác giả đã dựa vào các đặc trưng cơ bản của tội phạm để khái quát nên khái niệm các tội xâm phạm sở hữu Và theo đó các tội xâm phạm sở hữu cũng có đầy đủ các dấu hiệu tội phạm đó là tính trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, và phải chịu hình phạt
Còn theo khái niệm của Giáo trình luật Hình sự của Đại học luật Hà Nội thì “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” [7-tr.5] Các tác giả đã tiếp cận khái niệm các tội xâm phạm sở hữu trên góc độ bản chất của hành vi và theo đó các tội xâm phạm sở hữu cũng gồm các yếu tố như là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu Và quan trọng nhất đó là hậu quả của hành vi đó phải thể hiện được đầy đủ nhất bản chất của hành vi đó Tức là các hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể xâm phạm đến các quan hệ sở hữu và đồng thời xâm phạm đến các quan hệ khác như: nhân thân; trật tự quản lý kinh tế, chức vụ… Nhưng để định tội danh
là các tội thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu thì hành vi đó phải gây thiệt hại cho quan hệ
sở hữu và thiệt hại này thể hiện đúng nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Các tội xâm phạm sở hữu trong chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 gồm 13 tội trong đó có
8 tội là có tính chiếm đoạt và 5 tội là không có mục đích chiếm đoạt mà chỉ xâm phạm đến một trong ba nội dung của quyền sở hữu như quyền chiếm hữu (tội chiếm giữ trái phép tài sản Điều 141), quyền sử dụng (tội sử dụng trái phép tài sản Điều 142)… Đối với các tội thuộc nhóm tội có tính chất chiếm đoạt “là những tội phạm xâm phạm sở hữu bằng việc
Trang 26tr.12] Và do đó, trong quá trình định tội danh đối với “hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu” tác giả sẽ đi sâu vào các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
2.2 Các trường hợp thủ đoạn gian dối là hành vi khách quan trong CTTP
Tiến hành “ĐTD đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” chính là đi tìm kiếm sự phù hợp giữa hành vi này với CTTPcủa một tội phạm cụ thể được quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu Như vậy, thủ đoạn gian dối phải là một yếu tố bắt buộc được nhà làm luật quy định trong CTTP với ý nghĩa đặc trưng, thể hiện bản chất và để phân biệt tội danh đó với các tội danh khác trong nhóm tội xâm phạm sở hữu cũng như các tội phạm khác
Thủ đoạn phạm tội chính là cách thức người phạm tội sử dụng để thực hiện môt tội phạm,
đó có thể là: gian dối, thủ đoạn nguy hiểm, vũ lực… Là một yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm, nhưng không phải tội phạm nào thủ đoạn phạm tội cũng là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi nhà làm luật nhận thấy thủ đoạn phạm tội của một tội phạm nào đó có ý nghĩa quan trọng, thể hiện được bản chất, đặc trưng, là dấu hiệu để phân biệt các tội danh với nhau thì nhà làm luật phải quy định nó là một yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm Khi đó thủ đoạn phạm tội mới có ý nghĩa định tội danh
Trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu, thủ đoạn phạm tội luôn được nhà làm luật quy định thành yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, dù có tội nhà làm luật không miêu tả cụ thể thủ đoạn phạm tội, ví dụ: tội cướp giật,tội công nhiên chiếm đoạt tài sản… Nhưng thủ đoạn phạm tội chính là yếu tố quyết định phân biệt các tội chiếm đoạt tài sản với nhau
Như vậy, trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu thì chỉ có hai tội danh có thủ đoạn gian dối
là hành vi khách quan trong CTTP Hay nói cách khác, thủ đoạn gian dối có ý nghĩa định tội danh trong hai tội cụ thể đó là tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)
Trang 272.2.1 Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)
Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được qui định tại Điều 139 BLHS sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:
“1 Người nào dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2…”
Đây là tội danh mà nhà làm luật quy định rất rõ ràng và cụ thể ngay trong lời văn của điều luật về thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện tội phạm đó chính là: hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối
hệ nhân thân)
Mặt khách quan
Khi phân tích điều luật quy định về tội danh này, ta thấy đặc điểm nổi bật nhất trong mặt khách quan chính là: hành vi chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt tài sản là mục đích của việc thực hiện thủ đoạn gian dối
Giữa hai yếu tố đặc trưng của tội danh này, cần phải lưu ý một số vấn đề sau:
- “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác Do đó, cần phải có cách hiểu rõ ràng về hành vi chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối có thể được thể hiện ra thế giới khách quan dưới nhiều hình thức khác nhau, nhiều hành vi đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, không thể hiểu thủ đoạn gian dối là một hành vi cụ thể và coi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi chiếm đoạt
Trang 28và hành vi gian dối được Vì thủ đoạn là cách thức, cách làm để người phạm tội đạt được mục đích của mình Và những hành vi, các biểu hiện gian dối phải được hiểu là hình thức thể hiện ra bên ngoài của thủ đoạn gian dối Hành vi gian dối phải là điều kiện, là cách thức
để người phạm tội chiếm đoạt được tài sản mà không phải dùng thêm bất cứ thủ đoạn nào khác, như vậy mới đúng bản chất hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Làm rõ vấn đề này cũng có ý nghĩa quan trọng để phân biệt một số tội danh có một số hành
vi gian dối, nhưng lại không mang ý nghĩa là một thủ đoạn thực hiện tội phạm, không mang tính quyết định đến việc thực hiện được hành vi chiếm đoạt, mà muốn chiếm đoạt tài sản người phạm tội phải thực hiện một thủ đoạn khác thì nhất định không thể là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà phải là một tội danh khác có thủ đoạn phạm tội tương ứng
- Hành vi chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối phải là hai yếu tố song hành, không thể tách rời, có mối quan hệ nhân quả với nhau khi xác định tội danh cho hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối trong “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Khẳng định như vậy là để tránh các trường hợp nhận định vội vàng khi thấy thủ đoạn gian dối là ngay lập tức kết luận là “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà không xác định là thủ đoạn gian dối đó có nhằm chiếm đoạt tài sản hay không, hoặc có hành vi chiếm đoạt và có biểu hiện gian dối là chắc chắn lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà không quan tâm đến việc hành vi chiếm đoạt được tài sản đó có phải bằng cách thực hiện hành vi gian dối không, hay thực chất là chiếm đoạt bằng thủ đoạn khác
và là cấu thành tội phạm của một tội danh khác
Như vậy, khi xác định tội danh cho hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chúng ta phải chứng minh được hai đặc trưng của tội này là “hành vi chiếm đoạt” và “thủ đoạn gian dối”; và chứng minh được mối quan hệ có tính nhân quả giữa chúng Thủ đoạn gian dối là điều kiện để thực hiện việc chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt là mục đích của thủ đoạn gian dối, không dùng thủ đoạn gian dối thì không chiếm đoạt được tài sản
Về mặt ý thức chủ quan, người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt từ trước, sau đó dùng các thủ đoạn gian dối để tạo lòng tin cho chủ tài sản hoăc người quản lý tài sản khiến họ tự nguyện, tin tưởng giao tài sản cho mình
Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải thực hiện trước khi hành vi chiếm đoạt Chỉ khi nào thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản thật sự tin tưởng thì lúc đó người phạm tội mới có được tài sản Nếu thủ đoạn gian dối được thực hiện sau khi người
Trang 29phạm tội đã có chiếm đoạt được tài sản thì không phải là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Bản chất của vấn đề này được thể hiện ở hai vấn đề:
Thứ nhất là: sự tin tưởng của người bị hại vào các hành vi gian dối mà người phạm tội thực hiện Tin tưởng ở đây có thể là tin vào thông tin người phạm tội đưa ra, tin vào tính chất, công dụng, giá trị, số lượng… của một tài sản nào đó; hoặc tin vào khả năng, quyền hạn, tầm ảnh hưởng của một ai đó; hoặc có thể là tin vào giấy tờ giả nào đó… Sự tin tưởng này phải hoàn toàn do người bị hại nhận thức về các hành vi, biểu hiện của các thủ đoạn gian dối Và hậu quả là vì sự tin tưởng đó mà người bị hại giao tài sản cho người phạm tội
Thứ hai là: việc giao tài sản của người bị hại, người quản lý tài sản cho người thực hiện tội phạm Quyền sở hữu tài sản của cá nhân gồm ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Vậy, khi giao tài sản cho người phạm tội, có phải chủ sở hữu phải chuyển giao toàn bộ ba quyền năng này cho người phạm tội hay không? Theo tác giả, việc xác định có hay không việc giao tài sản giữa chủ sở hữu, người quản lý tài sản đối với người phạm tội là một vấn đề rất quan trọng Bởi vì, chỉ khi nào chủ sở hữu giao tài sản cho người phạm tội thì mới cấu thành tội phạm này Trong thực tế việc xác định có hay không có việc giao tài sản là vô cùng khó khăn, ranh giới giữa việc vẫn có sự quản lý của chủ tài sản với việc là được giao hẳn tài sản là rất mong manh Điều này không phải chỉ dẫn đến việc khó khăn khi tiến hành định tội danh cho tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
mà còn là chủ đề tranh luận, dẫn đến sự bối rối, tranh chấp tội danh giữa các tội danh khác
Theo tác giả, việc giao tài sản trong tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được hiểu là: việc chủ
sở hữu, người quản lý tài sản vì tin tưởng vào những hành vi gian dối, những điều giả do cho người phạm tội gây dựng nên, hoàn toàn yên tâm giao tài sản và tin tưởng việc giao tài sản đó là có cơ sở và hợp pháp
Về mặt ý thức:
Người giao tài sản hoàn toàn ý thức việc giao tài sản này là đã chuyển giao các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt cho người phạm tội Có thể người giao tài sản mong muốn người phạm tội thực hiện giúp mình một việc gì đó, hoặc cũng có thể vì mục đích tư lợi của chính
họ, hoặc cũng có thể vì quá tin tưởng giao tài sản mà không có yêu cầu gì khác Nhưng về bản chất khi giao tài sản họ tin là có căn cứ và tự nguyện giao tài sản
Về mặt thực tế:
Trang 30Được coi là giao tài sản khi tài sản đã không nằm trong sự quản lý của chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản Tức là làm mất khả năng làm chủ tài sản của những người này Khi
đó hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản mới đạt được mục đích của nó Nếu việc giao tài sản mà chủ sở hữu, người quản lý tài sản vẫn còn sự quản lý, quan sát…đối với tài sản thì không phải việc giao tài sản trong tội danh này mà có thể cấu thành tội danh khác
Thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện tội phạm, nhờ vào thủ đoạn cụ thể, tùy vào từng trường hợp mà người phạm tội thực hiện được hành vi phạm tội của mình Đối với thủ đoạn trong các tội chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu là cách thức để đạt được mục đích của người phạm tội đó là chiếm đoạt được tài sản Thủ đoạn gian dối được thể hiện dưới nhiều hình thức, cách thức khác nhau Những hình thức và biểu hiện gian dối phải được hiểu là
“thủ đoạn” để đạt được mục đích của người phạm tội, chứ không phải là những hành vi chỉ mang tính chất là “biểu hiện gian dối” nhằm một mục đích khác
Về hậu quả của hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản trong tội danh này được nhà làm luật qui định cụ thể trong điều luật đó là “…chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc…” như vậy theo luật hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì giá trị tài sản tối thiểu để cấu thành “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã tăng từ 2.000.000 đồng theo luật năm 1999 lên thành 4.000.000 đồng Sự thay đổi này được đánh giá là phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay
Mặt chủ quan
Cũng giống như các tội danh khác trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt,
“tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cũng được thực hiện với lỗi cố ý “Người phạm tội có hành
vi gian dối và mong muốn hành vi gian dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản”.[7-tr.40]
Về chủ thể:
Với “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì chủ thể phạm tội có thể là bất cứ ai, có đủ NLTNHS
và đủ tuổi chịu TNHS Tức là tội danh này không có chủ thể đặc biệt, nếu có hành vi
“chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối” nhưng chủ thể thực hiện lại có các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt như là: người có chức vụ quyền hạn thì hành vi “chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối” có thể cấu thành “tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”
Vậy, khi ĐTD hành vi “Chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối” là tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” phải có đầy đủ các yếu tố sau:
Trang 31 Thủ đoạn gian dối được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, miễn là hình thức gian dối đó nhằm mục đích chiếm đoạt và mục đích chiếm đoạt phải có trước khi thực hiện hành vi gian dối Nếu hành vi gian dối mà không vì mục đích chiếm đoạt; thực hiện sau khi đã chiếm đoạt được tài sản hoặc hành vi gian dối không phải là thủ đoạn phạm tội thì sẽ thuộc các tội danh khác (chúng tôi sẽ lần lượt phân tích ở các phần sau)
Thủ đoạn gian dối phải dẫn đến hậu quả là chủ tài sản, người quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài sản cho người phạm tội Việc giao tài sản phải được thể hiện ở hai mặt là: ý thức của chủ tài sản, người quản lý tài sản là hoàn toàn tự nguyện và thực tế là việc giao tài sản đã làm mất khả năng làm chủ tài sản của chủ tài sản và trao các quyền này cho người bị hại
Thủ đoạn gian dối trong tội này vừa thể hiện được tính đa dạng, phức tạp về hình thức vừa thể hiện được vai trò quyết định của mình trong việc thực hiện được hành vi phạm tội
“Hành vi chiếm đoạt thường xảy ra ngay sau hành vi lừa dối, nhưng cũng có trường hợp giữa hai hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt đã xảy ra” [7-tr.40]
2.2.2 Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được qui định tại Điều 140 như sau:
“1 Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có
giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc…
a Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
2 …”
Như vậy, đây là tội danh thứ hai trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu mà nhà làm luật qui định thủ đoạn gian dối trong CTTP, là một yếu tố có ý nghĩa định tội danh
Trang 32Tuy nhiên, khác với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thủ đoạn gian dối là thủ đoạn duy nhất, mang tính quyết định trực tiếp trong việc thực hiện tội phạm cũng như ĐTD, thì thủ đoạn gian dối trong tội “Lạm dụng tín nhiệm tài sản” chỉ là một trong ba thủ đoạn được liệt
kê mà người phạm tội có thể thực hiện để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của mình Trong trường hợp “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”được người phạm tội thực hiện bằng thủ đoạn gian dối thì có thể khái quát về hành vi đó như sau: người phạm tội sau khi nhận được tài sản từ người khác bằng cách vay, mượn, thuê tài sản hoặc bằng các hình thức hợp đồng khác rồi thực hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó
Về khách thể:
Khách thể của “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chính là quan hệ sở hữu Hành vi dùng các thủ đoạn gian dối, che đậy cho hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác
Mặt khách quan:
Hành vi khách quan của tội danh này bao gồm hành vi nhận tài sản của người khác qua các hình thức hợp đồng rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, sau đó dùng thủ đoạn gian dối để che đậy cho hành vi chiếm đoạt tài sản của mình
Tuy cùng được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, nhưng về bản chất hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” bằng thủ đoạn gian dối khác hẳn so với bản chất của thủ đoạn gian dối trong tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Trong tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” thì sau khi người phạm tội đã được giao tài sản bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp người phạm tội mới có ý định chiếm đoạt tài sản, và thủ đoạn gian dối đóng vai trò để che giấu cho hành vi chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đã được giao
Ở tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối xuất hiện sau khi người phạm tội đã có tài sản được chủ sở hữu giao một cách hoàn toàn hợp pháp, qua các hình thức hợp đồng khác nhau Theo qui định của Điều 388 BLDS năm 2005 thì: “hợp đồng dân
sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói, hoặc bằng hành vi cụ thể Khi tham gia vào hợp đồng, giữa hai bên có sự biểu lộ và thống nhất ý chí và không trái pháp luật và đạo đức xã hội, sự thống nhất ý chí của các bên là nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự
Do đó khi chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản thông qua các hình thức hợp đồng như: vay, mượn, thuê…tức là đã có sự thương lượng, tìm hiểu và thể hiện ý chí của mình với
Trang 33người phạm tội Họ hoàn toàn tin tưởng việc giao tài sản vào việc giao tài sản cho người phạm tội qua hình thức hợp đồng là an toàn và có cơ sở pháp lý rõ ràng Về phía người phạm tội, khi tham gia vào các hợp đồng để nhận tài sản là hoàn toàn tự nguyện, thiện chí, đồng thời hiểu được rõ các quyền và nghĩa vụ mình phải thực hiện
Các hợp đồng như vay, mượn, thuê, cầm cố, hợp đồng vận chuyển…đều là các hợp đồng mang tính chất song vụ Tùy thuộc vào loại hợp đồng, mà khi giao tài sản cho người phạm tội, người phạm tội nhận tài sản đó thì phải có các nghĩa vụ cụ thể là: phải trả lại tài sản, trả tiền thuê, trả tiền có giá trị tương đương với tài sản đã nhận…Tức là, tùy thuộc vào hợp đồng giữa hai bên, quyền và nghĩa vụ giưa các bên là khác nhau Nhưng rõ ràng với người phạm tội, khi nhận tài sản từ chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản dưới hình thức hợp đồng nào, kèm theo các nghĩa vụ nào thì tài sản đó về bản chất vẫn không phải là tài sản của người phạm tội Nên, người phạm tội hoặc là đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản sau khi đã nhận tài sản dẫn đến việc không hoặc không thể thực hiện các nghĩa vụ như hợp đồng yêu cầu Hoặc khi đến hạn thực hiện các nghĩa vụ như trả lại tài sản, trả tiền, giao tài sản…người phạm tội do không có khả năng trả lại tài sản, thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt luôn tài sản đó, và thực hiện thủ đoạn gian dối để che đậy hành vi chiếm đoạt của mình
Do việc giao tài sản cho người phạm tội là để thực hiện mục đích của hợp đồng như: giao tài sản cho người phạm tội vay và có nghĩa vụ sẽ phải trả lại, cho thuê tài sản, cầm cố tài sản, giao vận chuyển tài sản…nên về bản chất tài sản đó không phải thuộc sở hữu của người phạm tội
Về hành vi phạm tội, do việc nhận tài sản của người phạm tội qua nhiều hình thức khác nhau nên tùy vào đặc trưng của hợp đồng mà thủ đoạn gian dối cụ thể người phạm tội có thể thực hiện cũng rất đa dạng Các hình thức hợp đồng cụ thể là:
Vay tài sản: theo Điều 471-BLDS năm 2005 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn phải trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại, theo đúng số lượng, chất lượng, và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định khác”
Mượn tài sản: theo Điều 512-BLDS năm 2005 thì “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn tài sản giao tài sản cho bên nhận để sử dụng trong một thời gian mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết hạn mượn”
Trang 34Thuê tài sản: theo Điều 480-BLDS năm 2005 thì “Thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê”
Ngoài ra, “người phạm tội còn có thể nhận được tài sản bằng các hình thức hợp đồng sau: đặt cọc, ký cược, mua bán, trao đổi tài sản hoặc vận chuyển tài sản, gia công tài sản, trông giữ tài sản” [14-tr.263]
Qua các hình thức hợp đồng này thì các thủ đoạn mà người phạm tội có thể thực hiện như: vay mượn tài sản để kinh doanh sản xuất và có lãi nhưng lại sửa chữa sổ sách, che dấu doanh thu để chứng minh là mình thua lỗ, nhằm mục đích không trả lại tài sản hoặc có đủ điều kiện về tài sản nhưng lại phân tán, che dấu nhằm cố tình không trả nợ
Cũng như thủ đoạn gian dối trong tôi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhà làm luật không qui định cụ thể các thủ đoạn gian dối, người phạm tội có thể sử dụng bất kỳ hành vi gian dối nào để chiếm đoạt hoặc che dấu hành vi chiếm đoạt của mình
Tùy vào các trường hợp phạm tội cụ thể, nếu người phạm tội sau khi nhận tài sản người phạm tội không dùng tài sản theo đúng mục đích của hợp đồng mà nảy sinh ý định chiếm đoạt đã dùng tài sản đó vào mục đích cá nhân như: mua nhà, mua xe, tiêu xài cá nhân…dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản nên dùng thủ đoạn gian dối nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả lại tài sản như: tạo các giấy tờ giả, hóa đơn giả, giả tạo bị người khác lừa mất tài sản…Thủ đoạn gian dối trong trường hợp này nhằm che đậy cho hành vi chiếm đoạt của người phạm tội
Tóm lại: trong tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, hành vi giao tài sản được thực hiện qua các hợp đồng, người có tài sản hoàn toàn tin tưởng, tự nguyện giao và tin tưởng đó
là dựa vào khả năng thực tế, hoàn toàn có cơ sở chứ không dựa vào các thông tin gian dối; kèm theo việc giao tài sản này là các nghĩa vụ cụ thể mà người phạm tội phải thực hiện, tùy vào các hình thức hợp đồng
Từ bản chất của việc giao tài sản có thể thấy hành vi gian dối không phải là hành vi dẫn đến việc người phạm tội được giao tài sản dẫn đến khả năng chiếm đoạt tài sản của người phạm tội mà thủ đoạn gian dối được thực hiện sau khi người phạm tội đã được giao tài sản, có đầy
đủ điều kiện để thực hiện hành vi chiếm đoạt Thủ đoạn gian dối chỉ là để lừa người có tài sản, che giấu bản chất hành vi chiếm đoạt mà người phạm tội thực hiện
Nhưng cũng cần lưu ý, trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối trước khi nhận tài sản nhưng vẫn là “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đó là khi: người phạm tội dùng các hành vi gian dối để có thể kí các hợp đồng với chủ tài sản để họ giao tài sản cho
Trang 35mình nhưng hành vi gian dối này người phạm tội không có ý định chiếm đoạt tài sản mà chỉ
để có thể ký kết các hợp đồng Nhưng sau khi nhận tài sản người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và dùng các thủ đoạn gian dối để che đậy, tạo ra điều kiện để chiếm đoạt tài sản đã được giao thì hành vi này phải được ĐTD là hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Theo qui định của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì giá trị tài tối thiểu cấu thành “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là “…chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng…”
Mặt chủ quan:
Người phạm tội thực hiện hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với lỗi cố ý Biết hành vi gian dối che đây hành vi chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn mong muốn thực hiện để chiếm đoạt được tài sản
Về chủ thể:
Người phạm tội là người được chủ tài sản giao tài sản qua các hình thức hợp đồng Khi thực hiện các thủ đoạn gian dối là người phạm tội đã ý thức được hành vi của mình là xâm phạm đến quan hệ sở hữu Nhưng người phạm tội mong muốn thực hiện các thủ đoạn gian dối đó nhằm có thể chiếm đoạt được tài sản của người khác
Vậy, khi ĐTD hành vi “chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối” là tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối phải
có đầy đủ các yếu tố sau:
Thủ đoạn gian dối có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, miễn là hành
vi đó nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Người phạm tội không có mục đích chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, chỉ nảy sinh ý định chiếm đoạt sau khi đã nhận tài sản Nên hành vi gian dối trong tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện sau khi đã có ý định rõ ràng
Thủ đoạn gian dối dẫn đến hậu quả là người có tài sản không hề biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, tạo điều kiện để người phạm tội dễ dàng đạt được mục đích chiếm đoạt hoặc che đậy hành vi chiếm đoạt mà người phạm tội thực hiện
Thủ đoạn gian dối được qui định rõ ràng trong CTTP của tội này Nhưng tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có nhiều thủ đoạn và thủ đoạn gian dối chỉ là một trong các thủ đoạn người phạm tội có thể thực hiện Do vậy, xác định hành vi chiếm đoạt có thủ đoạn gian dối có ý nghĩa quan trọng trong việc ĐTD cho tội này
Trang 362.2.3 Phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối)
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hai tội được quy định trong cùng một chương – chương XIV Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 Do đó, hai tội danh này có các yếu tố cấu thành tội phạm là khách thể, chủ thể, mặt chủ quan giống nhau Cả hai tội đều xâm phạm đến một khách thể đó là quyền sở hữu của người khác đối với tài sản bị hành vi cố ý chiếm đoạt xâm hại Chủ thể của hai tội này đều không yêu cầu các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt, tuy tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản yêu cầu phải là người được chủ sở hữu tín nhiệm giao tài sản qua các thoả thuận bằng hình thức hợp đồng Nhưng nhìn chung bất cứ ai, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo quy định của pháp luật đều có thể trở thành chủ thể của hai tội này Khi chủ thể thực hiện hành vi chiếm đoạt,
cố ý chuyển dịch tài sản của người khác thành tài sản của mình thì đều nhận thức được hành
vi của mình và mong muốn thực hiện hành vi đó Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, còn ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản người phạm tội thực hiện thủ đoạn gian dối để che đậy cho hành vi chiếm đoạt tài sản của mình Nhưng cả hai tội này người phạm tội khi thực hiện đều nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác
và mong muốn hậu quả xảy ra
Do có sự giống nhau giữa hai tội này về cả ba dấu hiệu của cấu thành tội phạm là: khách thể, chủ thể, mặt chủ quan nên mặt khách quan giữa hai tội này chính là dấu hiệu khác nhau
cơ bản đề phân biệt hai tội này và cũng là dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh
Mặt khách quan của cả tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều được đặc trưng bởi hành vi chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối Trong đó, thủ đoạn gian dối vừa là dấu hiệu đặc trưng vừa là dấu hiệu để phân biệt hai tội danh này (trong trường hợp tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối)
Cũng được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối nhưng thủ đoạn gian dối giữa hai tội này lại có
sự khác nhau cơ bản như sau:
- Thứ nhất, là sự khác biệt về thời điểm thực hiện thủ đoạn gian dối
Trang 37 Như đã phân tích ở trên, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: đưa ra thông tin gian dối, các giấy tờ giả, hành vi giả tạo, giả danh người khác… với mục đích làm cho người khác tin tưởng mà tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội Như vậy, hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mang ý nghĩa là thủ đoạn để thực hiện tội phạm, bao giờ thủ đoạn gian dối cũng có trước hành vi nhận được tài sản từ người khác, có trước hành vi chiếm đoạt tài sản
Thủ đoạn gian dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ xuất hiện sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản do người có tài sản giao cho mình trên cơ sở
sự tín nhiệm, hợp pháp Qua các hình thức hợp đồng, người phạm tội nhận được tài sản hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng và từ đó người phạm tội hoàn toàn có đầy đủ khả năng chiếm đoạt tài sản của người khác Do đó thủ đoạn gian dối chỉ là những hành vi che đây nhằm không phải trả lại tài sản hoặc giá trị tài sản theo đúng các nghĩa vụ hợp đồng như: giả tạo các giấy tờ, hoá đơn, chứng từ giả, giả đánh mất tài sản, nguỵ tạo các chứng cứ về
sự cố bất ngờ, đánh tráo, rút bớt tài sản…
Tóm lại, hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản ở tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trước khi người phạm tội nhận được tài sản từ người khác, từ đó thực hiện hành vi chiếm đoạt Còn thủ đoạn gian dối ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xuất hiện sau khi người có thủ đoạn gian dối đã có được tài sản của người khác một cách hợp pháp
- Thứ hai: thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt
Thủ đoạn gian dối ở cả hai tội này đều nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản do đó người phạm tội bắt đầu thực hiện các thủ đoạn gian dối là lúc người phạm tội đã có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó mới cân nhắc tuỳ vào các điều kiện cụ thể mà lựa chọn các thủ đoạn phù hợp để tạo lòng tin cho người có tài sản để họ giao tài sản cho mình từ đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của họ
Còn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi người phạm tội được người
có tài sản giao tài sản qua các hình thức hợp đồng họ hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp và
ở thời điểm này họ không hề có ý định chiếm đoạt tài sản của người giao tài sản cho mình Sau khi nhận tài sản, người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và thực hiện các thủ đoạn gian dối để che đậy cho hành vi chiếm đoạt của mình Hoặc sau
Trang 38có khả năng trả lại tài sản nên nảy sinh ý định chiếm đoạt luôn không trả lại tài sản nữa Thủ đoạn gian dối cũng được thực hiện để che đây cho hành vi này của họ
Như vậy, sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đó là: ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội nảy sinh ý định chiếm đoạt trước khi người có tài sản giao tài sản, thủ đoạn gian dối là để người có tài sản tin tưởng mà giao tài sản cho mình; còn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì ý định chiếm đoạt nảy sinh sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản qua các hợp đồng Thủ đoạn gian dối chỉ là để che đây cho hành vi chiếm đoạt của người phạm tội
- Thứ ba: việc giao tài sản của người có tài sản cho người phạm tội
Việc người có tài sản giao tài sản cho người phạm tội là đặc điểm chung của hai tội này, và cũng là điểm khác biệc của hai tội này với các tội khác trong cùng nhóm tội xâm phạm sở hữu: cướp tài sản, trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản… nhưng giữa việc giao tài sản của hai tội này cũng có những điểm khác nhau:
Việc giao tài sản ở cả hai tội đều dựa trên sự tin tưởng và tự nguyện Nhưng sự tin tưởng và tự nguyện giao tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là do người có tài sản đã tin nhầm vào các thông tin gian dối mà người phạm tội đưa ra từ đó mà tự nguyện giao tài sản mà không hề biết mình đang bị lừa Còn sự tin tưởng ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoàn toàn có cơ sở dựa trên những điều khoản thoả thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, bản thân người có tài sản và người có hành vi phạm tội tại thời điểm này đếu có các hành vi ngay thẳng và hợp pháp
Việc giao tài sản ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau khi người phạm tội đã có những hành vi gian dối cụ thể, còn việc giao tài sản ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện trước khi người phạm tội có các hành vi gian dối
- Thứ tư: thời điểm tội phạm hoàn thành
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, dùng các thủ đoạn gian dối là để đạt được mục đích chiếm đoạt của mình Người phạm tội chủ động thực hiện các thủ đoạn gian dối để “lừa” cho người có tài sản tin tưởng mà tự nguyện giao tài sản cho mình và sau đó chiếm đoạt tài sản Tội phạm hoàn thành khi chủ tài sản tin tưởng giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sau khi nhận được tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp qua các hợp đồng cụ thể Ở giai đoạn này người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, sau khi đã nhận tài sản, tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm
Trang 39tội, họ có đủ mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi chiếm đoạt, từ đó nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đã nhận Hành vi chiếm đoạt thể hiện bằng cách người phạm tội không trả lại tài sản như đã cam kết trong hợp đồng bằng thủ đoạn gian dối Như vậy, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội cố tình không thực hiện nghĩa vụ phải trả lại tài sản theo hợp đồng và thực hiện thủ đoạn gian dối để che đậy cho hành vi đó
2.3 Các trường hợp thủ đoạn gian dối không phải là hành vi khách quan trong CTTP
Khi tiến hành ĐTD đối với “hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ đoạn gian dối”, người tiến hành ĐTD rất dễ gặp phải các trường hợp có sự tranh chấp tội danh giữa các tội thuộc nhóm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Do các tội này có cùng một hành vi thực hiện tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản và nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt đó người phạm tội lại thực hiện kèm theo các hành vi gian dối thì gây rất nhiều khó khăn cho việc xác định đúng tội danh Do đó, cần phải phân biệt rõ ràng những tội danh nào trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có thể có các “biểu hiện gian dối” nhưng không phải là “thủ đoạn gian dối” và không được qui định trong CTTP và nắm vững các vấn đề sau:
- Thứ nhất: quá trình định tội danh là quá trình so sánh, đánh giá các tình tiết của hành vi cụ thể với các yếu tố được mô tả trong cấu thành tội phạm Do đó, nhiều trường hợp khi thấy hành vi chiếm đoạt có các biểu hiện gian dối là ngay lập tức xác định là “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” vì thấy ngoài bốn yếu tố bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm: quan hệ xã hội bị xâm phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự thì thủ đoạn phạm tội là thủ đoạn gian dối chính là thủ đoạn đặc trưng cho hai tội này Trong khi, về cả mặt lý luận và thực tiễn thì muốn định tội danh một hành vi cụ thể là tội danh nào thì ngoài các dấu hiệu đặc trưng còn phải xem xét cụ thể, tỉ mỉ về các yêu cầu khác của CTTPnhư về mặt ý thức, mối quan hệ nhân quả… Tức là, trong khi ĐTD cho một hành vi chiếm đoạt có các hành vi gian dối thì phải xem xét một cách tỉ mỉ các cấu thành tội phạm có thể phù hợp với hành vi chứ không vội vàng kết luận tội danh Dẫn đến việc hành vi cụ thể thực chất không phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhưng vì có biểu hiện gian dối nên khẳng định là hai tội danh này