1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý về đăng ký kinh doanh và thực tiễn áp dụng ở thành phố hà nội

97 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thủ tục là việc giảm chi phí để thành lập mới một doanh nghiệp, bãi bỏ những điều kiện mà doanh nghiệp khó đáp ứng, đồng thời nâng cao yêu cầu và trách nhiệm của cơ quan nhà nước với các

Trang 2

-

LÊ THỊ THU LÝ

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả Luận văn

Lê Thị Thu Lý

Trang 4

Luật Hà Nội, Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội, các thầy giáo,

cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy lớp cao học Luật Tây bắc khóa 2 định hướng ứng dụng - Chuyên ngành Luật Kinh tế (2015- 2017) Đặc biệt, Tác giả xin được biết ơn giảng viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Viết Tý đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình viết luận văn

Do thời gian có hạn và kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót, hạn chế, tác giả kính mong các Quý thầy, cô giáo, nhà khoa học, chuyên gia và độc giả quan tâm tham gia đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 07 năm 2017

Trang 5

1 KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

Trang 6

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ

KINH DOANH 7

1.1 Khái niệm đăng ký kinh doanh 7

1.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về đăng ký kinh doanh 11

1.2.1 Khái niệm về pháp luật đăng ký kinh doanh 11

1.2.2 Đặc điểm pháp luật đăng ký kinh doanh 12

1.3 Nội dung pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh 13

1.3.1 Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh 13

1.3.2 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp 15

1.3.3 Điều kiện đăng ký kinh doanh 17

1.3.4 Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 29

2.1 Tổng quan các điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội có ảnh hưởng đến hoạt động đăng ký kinh doanh 29

2.1.1 Điều kiện kinh tế 29

2.1.2 Điều kiện xã hội 31

2.1.3 Giới thiệu về phòng đăng ký kinh doanh ở thành phố Hà Nội 31

2.2 Thực trạng đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội 32

2.2.1 Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp 33

2.2.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn về đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội 41

Trang 7

bàn thành phố Hà Nội 49

2.3.2 Những hạn chế áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 54

ĐĂNG KÝ KINH DOANH 54

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách về đăng ký kinh doanh 54

3.1.1 Ban hành đầy đủ và hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan 54

3.1.2 Triển khai thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 60

3.1.3 Tiếp tục cải cách hành chính, công khai thủ tục hành chính 64

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký kinh doanh 67

3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác cán bộ; tăng cường hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ đăng ký kinh doanh 67

3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật; làm rõ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp trong đăng ký kinh doanh 70

3.2.3 Nâng cao hiệu quả của các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tự do kinh doanh không chỉ là nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường

mà còn là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 33 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Quyền

tự do kinh doanh trước hết thể hiện ở quyền thành lập doanh nghiệp, vì vậy, đăng

ký kinh doanh là một nội dung, là một chế định quan trọng trong pháp Luật Doanh nghiệp, là thủ tục hành chính cho sự ra đời của một doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có vai trò pháp lý và thông tin quan trọng đối các chủ thể trong nên kinh tế thị trường

Xuất phát từ vai trò quan trọng của đăng ký kinh doanh Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề này khi ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Điều đó được thể hiện rõ nét ở việc ban hành các Luật Doanh nghiệp, kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, như: Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990; Luật Doanh nghiệp ngày 12/6/1999; Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005 và mới nhất là Luật Doanh nghiệp ngày 26/11/2014 Cũng như các văn bản luật trước đó, Luật Doanh nghiệp (2014) quy định về đăng ký kinh doanh theo hướng ngày càng mở rộng quyền tự do thành lập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư Ở đây, cần thiết nghiên cứu cụ thể, sâu sắc các quy định về thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (2014), đặc biệt những quy định liên quan đến “khuôn khổ pháp luật” để doanh nghiệp tự do thực hiện quyền thành lập doanh nghiệp của mình

Luật Doanh nghiệp (2014) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015 là văn bản pháp luật hiện hành quy định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, trong đó

có một bộ phận quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh Trên cơ sở các quy định của Luật Doanh nghiệp, hoạt động đăng ký kinh doanh đã được tiến hành khá nhanh chóng về thủ tục, thông thoáng về điều kiện thành lập Cùng với việc đơn giản hoá

Trang 9

thủ tục là việc giảm chi phí để thành lập mới một doanh nghiệp, bãi bỏ những điều kiện mà doanh nghiệp khó đáp ứng, đồng thời nâng cao yêu cầu và trách nhiệm của

cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp, của cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp đã góp phần không nhỏ tạo nên môi trường kinh doanh tại Việt Nam chuyển biến khá tích cực, thông thoáng hơn, sản xuất kinh doanh sôi động hơn, tạo dựng lòng tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế việc áp dụng những quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) về đăng ký kinh doanh cũng đã có không ít những tồn tại và bất cập cần khắc phục để những quy định của Luật về đăng ký kinh doanh đi vào cuộc sống

Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp (2014) nói chung và những quy định về đăng ký kinh doanh theo Luật này nói riêng được áp dụng trong phạm vi cả nước, trong đó có Thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là thủ đô của cả nước xét về quy mô dân số và mức độ đô thị hóa, đồng thời giữ vai trò đầu tàu kinh tế và là một trong những trung tâm kinh

tế chính trị quan trọng của cả nước Hà Nội là Thành phố có đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp mạnh, hiện có khoảng 140.000 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 1/3 số lượng doanh nghiệp đang hoạt động của cả nước Với số lượng doanh nghiệp được hình thành khá lớn như vậy tại Thành phố Hà Nội, việc đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động của doanh nghiệp sao cho không vượt khỏi tầm kiểm soát của cơ quan nhà nước là một vấn đề rất quan trọng Thực tế hoạt động đăng

ký kinh doanh tại Thành phố Hà Nội theo Luật Doanh nghiệp (2014) gặp nhiều vướng mắc, khó khăn gây rất nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu, khảo sát thực tiễn hoạt động đăng

ký kinh doanh để có thể tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp (2014)

Trên đây là lý do em lựa chọn vấn đề “Quy chế pháp lý về đăng ký kinh doanh

và thực tiễn áp dụng ở thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nhìn chung, hoạt động kinh doanh nói chung và pháp luật về đăng ký kinh doanh nói riêng đã được nghiên cứu và thực hiện từ trước khi các Luật Doanh nghiệp được ban hành Cụ thể như sau:

Khi Luật Doanh nghiệp (2014) ban hành và có hiệu lực cũng đã có rất nhiều những khảo sát, nghiên cứu, đánh giá của các chuyên gia về những điểm quy định mới, mức độ khả thi khi áp dụng Luật Doanh nghiệp Điển hình trong số đó là: cuộc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp cùng chương trình phát triển Liên Hợp Quốc về Luật Doanh nghiệp được tiến hành năm

2004, Cuộc khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp cùng với chương trình phát triển kinh tế tư nhân năm (2005); chương trình nghiên cứu về khu vực kinh tế phi chính thức của Ngân Hàng Thế Giới năm 2003 Báo cáo đánh giá sáu năm thi hành Luật Doanh nghiệp của CIEM và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức “Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm (2005)”; “Một số ý kiến về công tác đăng ký kinh doanh năm 2012 - nhiệm vụ của năm 2013 và sửa đổi Luật Doanh nghiệp” của Lê Xuân Hiển - trưởng phòng đăng

ký kinh doanh tỉnh Hải Dương - báo cáo Hội nghị tổng kết đăng ký kinh doanh năm 2012; “Cải cách đăng ký kinh doanh tại Việt Nam trong 25 năm sau đổi mới”;

“Khung pháp lý về đăng ký kinh doanh dần được hoàn thiện” của ông Lê Quang Mạnh - Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ KH&ĐT - báo cáo định hướng kế hoạch đầu năm; “Cơ chế tiền đăng hậu kiểm – chìa khóa của cải cách”, tài liệu của Tổng cục thống kê, Hà Nội năm 2012; “Chương trình cải cách đăng ký kinh doanh quốc gia: một số kết quả đạt được và phương hướng hoàn thiện trong thời gian tới” của Ông Lê Quang Mạnh - Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh Bộ KH&ĐT, tổng kết hội nghị phát triển doanh nghiệp; “Quy định tiến bộ về quản lý doanh nghiệp qua hoạt động đăng ký kinh doanh”

Bên cạnh đó còn nhiều những bài viết trong các luận văn, luận án; các tạp chí chuyên ngành về quản lý nhà nước, chính sách pháp luật, chính sách kinh tế, như:

Trang 11

- TS Dương Đăng Huệ (1994), Pháp luật về cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh ở Việt Nam - thực trạng và một vài kiến nghị, tạp chí quản lý nhà nước và pháp luật số 4/1994;

- Lê Thị Tố Hoa (1996), Quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh và thuế đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Doanh nghiệp tư nhân, luận văn thạc sỹ luật học;

- Bùi Thanh Ngọc (1996), Chế độ về cấp giấy phép hoạt động và đăng ký kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta, luận văn thạc sỹ luật học;

- Đỗ Kim Hiền (2002), Quản lý nhà nước đối với hoạt động đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học;

- Nguyễn Thế Anh (2007), Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh, luận văn thạc sĩ luật học trường Đại học Luật Hà Nội;

Nhìn chung, các bài viết trong những công trình nghiên cứu cũng như trong các báo, tạp chí, báo cáo đã có nhiều tìm tòi, đánh giá và đề cập đến nhiều khía cạnh

ở các mức độ khác nhau của quy định pháp luật đối với hoạt động đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Các công trình nghiên cứu cũng đã khái quát được bức tranh tương đối thực tế về hoạt động đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp và của

cơ quan nhà nước trên cơ sở những số liệu khảo sát thực tế Các công trình nghiên cứu cũng đã vạch ra những bất cập trong hệ thống pháp luật và những yếu kém trong tổ chức bộ máy về đăng ký kinh doanh, cũng như những yếu kém trong thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh

Tuy nhiên, những công trình nêu trên mới phần nào phác họa được những thành công hay hạn chế của Luật Doanh nghiệp nói chung khi được áp dụng trong thực tiễn hay chỉ mới nghiên cứu so sánh chung về Luật Doanh nghiệp hoặc so sánh một lĩnh vực cụ thể nào đó của Luật Doanh nghiệp mà chưa đưa ra được những đánh giá và yêu cầu riêng đối với pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Thành phố Hà Nội Đặc biệt, là những vấn đề mới phát sinh khi áp dụng những quy định mới theo Luật Doanh nghiệp (2014) trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu về đăng ký kinh doanh của các công trình khoa học đã được công bố; luận văn đi sâu tìm hiểu các chính sách, quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, để có cái nhìn toàn diện về thực trạng đăng ký kinh doanh hiện nay Từ đó tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp trong phạm vi cả nước nói chung và ở Thành phố Hà Nội nói riêng

3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Luận văn này được thực hiện với mục

đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như nội dung của pháp luật về đăng ký kinh doanh; phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Thành phố Hà Nội hiện nay; tìm kiếm những giải pháp và góp phần xây dựng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về đăng ký kinh doanh

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các quy định về đăng ký kinh doanh

trong các Luật Doanh nghiệp, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp (2014) và thực tiễn trong hoạt động đăng ký kinh doanh nghiệp dưới góc độ hoạt động quản lý nhà nước cũng như sự vận dụng pháp luật trong quá trình thành lập doanh nghiệp ở một địa phương cụ thể, đó là Thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật

hiện hành về đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm (2014)

và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Thành phố

Hà Nội

4 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Những câu hỏi nghiên cứu trong luận văn này gồm: (i) Khái niệm đăng ký kinh doanh và pháp luật đăng ký kinh doanh? (ii) Nội dung của Luật Doanh nghiệp (2014) về đăng ký kinh doanh? (iii) Thực tiễn hoạt động đăng ký kinh doanh và những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động đăng ký kinh doanh ở Thành phố Hà Nội? và (iv) Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký kinh doanh?

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn là: Phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp mô hình hóa và phương pháp tổng hợp đánh giá Ngoài ra, luận văn còn có sự

kế thừa những thành tựu đã đạt được của các công trình khoa học đi trước, từ đó khai triển theo ý tưởng của riêng mình gắn lý luận với thực tiễn nhằm phát hiện những ưu điểm, hạn chế của các quy địnhvà đưa ra những kiến nghị có tính khả thi nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của tổ chức và cá nhân

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận, nghiên cứu các nội dung cụ thể của hoạt động đăng ký kinh doanh;

- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động đăng ký kinh doanh, hoạt động quản

lý của cơ quan nhà nước trong quá trình thành lập doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký kinh doanh tại Thành phố Hà Nội nói riêng

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về đăng ký kinh doanh và pháp luật về đăng ký kinh doanh; Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động đăng ký kinh doanh

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ

KINH DOANH 1.1 Khái niệm đăng ký kinh doanh

“Đăng ký” được hiểu là hoạt động của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức cá nhân nào đó được ủy quyền thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký Ngoài ra, đăng ký

“registration” nhà đầu tư cung cấp các thông tin cụ thể của mình để được phép hoạt động kinh doanh

Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm từ điển, năm

1994 định nghĩa: “Đăng ký là ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay nghĩa vụ; Bằng chứng công nhận bắt đầu sự tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện hoặc một hiện tượng pháp luật”

Thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được ghép từ hai từ: “đăng ký”; “kinh doanh” hiện nay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ như:

Ở Việt Nam từ 1990 thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” đã được nêu trong Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Đầu tư (2005), Luật Thương mại (2005) và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Khái niệm đăng ký kinh doanh được xem xét ở những góc độ khác nhau như:

Theo phương diện kinh tế: Trong giai đoạn tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp chưa thực sự tồn tại, song chi phí trong quá trình đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp

và được khấu trừ trong khi tính thuế

Ở góc độ quản lý nhà nước, đăng ký kinh doanh được coi là biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế, là hoạt động quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp, điều

Trang 15

này tạo điều kiện cho các hoạt động quản lý của Nhà nước khi doanh nghiệp kinh doanh

Ở góc độ chính trị, đăng ký kinh doanh lại được hiểu là quyền tự do của công dân Theo phương diện quản lý nhà nước: đăng ký kinh doanh là hoạt động quản lý đầu tiên của Nhà nước đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện các hoạt động quản lý tiếp theo của mình khi doanh nghiệp đi vào sản xuất như định hướng của Nhà nước đến hệ thống các doanh nghiệp, làm cho hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của Nhà nước, tạo ra sự phát triển đồng đều và cân bằng về mặt kinh tế và xã hội Đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản lý trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ngay từ khâu gia nhập thị trường đăng ký kinh doanh được coi là biện pháp quản lý nhà nước về kinh tế

Theo phương diện chính trị: đăng ký kinh doanh được hiểu là quyền tự do của công dân Tuy nhiên, quyền này phải được hiểu là tự do trong “khuôn khổ”, dân chủ tập trung và bình đẳng trước pháp luật Quyền đăng ký kinh doanh cũng đồng thời

là nghĩa vụ phải thực hiện Quyền tự do kinh doanh của công dân có nội hàm bao gồm cả quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và tự do đăng ký kinh doanh Bất cứ một cá nhân tổ chức nào có đủ điều kiện để kinh doanh đều có thể đăng ký với nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không ai

có quyền ngăn cản trái phép

Theo phương diện pháp lý: Hiện nay thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” chưa được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thực hiện Thậm chí, thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được áp dụng theo Luật công ty

1990 đến Luật Doanh nghiệp (2005) Tuy nhiên, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP hướng dẫn về đăng ký kinh doanh do Chính phủ ban hành ngày 15/4/2010 và có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/06/2010 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã tạo ra bước ngoặt mới trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính chính thức thống nhất quy trình đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế, áp dụng một mã số duy nhất để định

Trang 16

danh cho doanh nghiệp, khái niệm “đăng ký kinh doanh” được thay thế bằng khái niệm “đăng ký kinh doanh” chính thức từ Nghị định này

Theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP; Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9

năm 2015 quy định: “đăng ký kinh doanh là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh doanh đăng ký kinh doanh bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký đăng ký kinh doanh và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.”

Mặt khác, cơ quan thực hiện quản lý đăng ký kinh doanh hiện nay theo quy định của nhà nước là cơ quan đăng ký kinh doanh

Theo Khoản 3 Luật đầu tư (2014): “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”

Từ đây có thể hiểu: đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý mà theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhà nước thừa nhận ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh đồng thời cấp cho chủ thể đăng ký kinh doanh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ

Đăng ký kinh doanh được hiểu là một hoạt động pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinh doanh khi gia nhập thị trường Như vậy, để gia nhập thị trường và được hoạt động thì doanh nghiệp cần cả điều kiện cần và đủ cụ thể là: những loại hình kinh doanh, doanh nghiệp chỉ cần điều kiện cần tức là chỉ cần đăng ký kinh doanh

và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đối với các lĩnh vực, ngành nghề không cần điều kiện, và phải có thêm điều kiện đủ, đối với những lĩnh vực, ngành

Trang 17

nghề theo pháp luật đầu tư và chuyên ngành quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thông qua hoạt động đăng ký kinh doanh các chủ thể sẽ được đảm bảo về quyền và nghĩa vụ, được xác lập một địa vị pháp lý hợp pháp để các chủ thể kinh doanh tiến hành mọi hoạt động kinh doanh chính thức trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài Do đó, hoạt động đăng ký kinh doanh không chỉ áp dụng cho các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh là những doanh nghiệp mà còn áp dụng cho cả chủ thể hoạt động kinh doanh khác như hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh

Đăng ký kinh doanh là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, đồng thời

là một công cụ để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân Thông qua cơ chế “đăng ký” để công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân, thực hiện một

cơ chế quản lý mới của nhà nước, xoá bỏ cơ chế “xin cho”, công dân được kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong những hoạt động kinh doanh của mình, được tự do lựa chọn hình thức đầu tư kinh doanh phù hợp và được Nhà nước bảo hộ Do đó, để đạt được mục tiêu gia nhập thị trường cho các chủ thể kinh doanh được thuận lợi, công tác đăng ký kinh doanh phải đơn giản, minh bạch và bình đẳng, thủ tục nhanh gọn, chi phí thấp… Chính những điều này để nhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh Mặt khác, nền kinh tế của các quốc gia đang trên

đà hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở rộng quyền tự do kinh doanh tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễ tiếp cận với những thị trường và đối tác lớn về kinh tế sẽ làm gia tăng lợi ích của chính mình và giúp kinh tế quốc gia phát triển Hoạt động đăng ký kinh doanh không có sự phân biệt giữa chủ thể kinh doanh trong nước và ngoài nước, mọi hoạt động đăng ký kinh doanh phải phù hợp với nền kinh tế thị trường được vận hành ổn định, an toàn, bình đẳng, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững, phù hợp với các lợi ích công cộng Xuất phát từ nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với việc thành lập doanh nghiệp thông qua hoạt động đăng ký kinh doanh là để hướng tới việc khơi dậy ý tưởng kinh

Trang 18

doanh, ý thức làm giàu cho bản thân và đất nước

Tóm lại, đăng ký kinh doanh được hiểu là hoạt động pháp lý, bao gồm hành vi

của chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể và cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kinh doanh tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh, đồng thời, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể đăng ký kinh doanh

1.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về đăng ký kinh doanh

1.2.1 Khái niệm về pháp luật đăng ký kinh doanh

Pháp luật về đăng ký kinh doanh là bộ phận của pháp luật kinh tế, được hình thành và phát triển cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ cơ chế kế hoạch, tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng Như vậy, hiểu pháp luật đăng ký kinh doanh theo nghĩa hẹp là một bộ phận của pháp luật doanh nghiệp,

là toàn bộ các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh quan hệ trong quá trình tiến hành đăng ký kinh doanh theo những quy định về trình tự, thủ tục cụ thể, rõ ràng

Khi xác định khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh (đăng ký kinh

doanh), tác giả thống nhất với quan điểm của Lê Thế Phúc Theo đó: “Pháp luật về đăng ký kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận bắt buộc áp dụng và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những vấn đề về điều kiện, nội dung và trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh.” 1

Theo khái niệm này, pháp luật về đăng ký kinh doanh sẽ không chỉ giới hạn trong các quy định về đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp mà sẽ bao gồm

cả những quy phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh được ban hành tại các văn bản pháp luật khác như Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật Dân sự Tuy vậy, trong phạm vi luận văn này các quy định pháp luật được nghiên cứu chủ yếu là các quy

1 Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam – Thực trạng và một vài kiến nghị, Lê Thế phúc, tại địa chỉ: http://text.xemtailieu.com/tai-lieu/dang-ky-kinh-doanh-theo-luat-doanh-nghiep-viet-nam-thuc-trang-va-mot-vai-kien- nghi-44431.html, ngày truy cập 05/6/2016

Trang 19

định về đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và một số văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp

Như vậy, có thể hiểu pháp luật về đăng ký kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đăng ý kinh doanh với cá nhân, tổ chức có liên quan về việc đăng ký, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh tại Việt Nam Các quy định của pháp luật về đăng

ký kinh doanh chủ yếu được điều chỉnh đối với các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Pháp luật về đăng

ký kinh doanh theo nghĩa rộng cũng điều chỉnh hoạt động kinh doanh và đăng ký kinh doanh ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân, tuy nhiên trong phạm vi luận văn này không đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh ra nước ngoài mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp

1.2.2 Đặc điểm pháp luật đăng ký kinh doanh

Như trên đã nêu pháp luật về đăng ký doanh nghiêp là một bộ phận của pháp luật kinh tế, vì vậy pháp luật về đăng ký kinh doanh mang đầy đủ những đặc điểm chung của pháp luật kinh tế như: (i) Đối tượng điều chỉnh là các quan hệ kinh tế phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể kinh doanh; (ii) Chủ thể là các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước

Bên cạnh đó, pháp luật về đăng ký kinh doanh còn có những đặc điểm riêng của nó, đó là:

Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh, pháp luật đăng ký kinh doanh điều chỉnh

những quan hệ phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức và cơ quan quản lý nhà nước trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính hành chính, trình tự thực hiện, thủ tục thực hiện

Thứ hai, về phương pháp điều chỉnh, pháp luật đăng ký kinh doanh sử dụng

phương pháp mệnh lệnh, kiểm tra và hướng dẫn mà không dùng phương pháp thoả thuận, bình đẳng Có thể coi pháp luật về đăng ký kinh doanh là một thủ tục mang

Trang 20

tính “hành chính” Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, cơ quan quản lý nhà nước hướng dẫn, kiểm tra chủ thể kinh doanh tiến hành đăng ký kinh doanh, không có sự thương lượng, thoả thuận giữa các chủ thể với nhau về những quy định, nội dung, điều kiện đăng ký kinh doanh

Thứ ba, pháp luật về đăng ký kinh doanh là một dịch vụ công do nhà nước

thực hiện Về vai trò quản lý Nhà nước, ngoài vai trò của pháp luật kinh tế nói chung pháp luật về đăng ký kinh doanh còn có vai trò quan trọng khác đó là công cụ

để Nhà nước quản lý, kiểm soát các hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng, duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng

Thứ tư, pháp luật về đăng ký kinh doanh là một chế định pháp luật về gia

nhập thị trường Trước hết pháp luật về đăng ký kinh doanh tạo tạo lập khung pháp

lý về quy trình thành lập doanh doanh nghiệp nó không chỉ dừng lại là một văn bản dưới luật mà còn có cả một đạo luật riêng quy định về vấn đề này để quy định rõ các vấn đề về chủ thể thành lập, hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện để được đăng

ký kinh doanh, điều kiện tên doanh nghiệp, điều kiện, trụ sở chính của doanh nghiệp đều quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho chủ thể kinh doanh có nhu cầu khởi sự thành lập kinh doanh dễ dàng áp dụng đúng ngay từ khâu đầu tiên

Thứ năm, pháp luật về đăng ký kinh doanh mang đặc trưng công bố thông tin

trong xã hội Pháp luật là một hiện tượng của đời sống xã hội Giá trị xã hội của pháp luật chứa đựng các giá trị xã hội vốn có và được quy định bởi thuộc tính điều chỉnh và tính quy phạm riêng có của nó Do vậy, pháp luật về đăng ký kinh doanh cũng phải lệ thuộc vào sự phát triển của xã hội

1.3 Nội dung pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh

1.3.1 Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh

Đa số các quốc gia đều cần tổ chức một hệ thống các cơ quan đăng ký kinh doanh thống nhất, chuyên biệt hoặc thậm chí là một cơ quan duy nhất tập trung cho nghiệp vụ chuyên môn này như: ở Singapore việc đăng ký kinh doanh được thực hiện thông qua Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp (ACRA); ở Thụy Điển

Trang 21

đăng ký kinh doanh được thực hiện ở Cơ quan cấp bằng sáng chế và đăng ký kinh doanh gọi tắt là PRO; ở Đức thực hiện đăng ký kinh doanh tại Toà án Hành chính; Trung Quốc thủ tục đăng ký kinh doanh được diễn ra tại Cục quản lý Hành chính Công thương và một số nước khác trên thế giới chủ yếu việc đăng ký kinh doanh được thực hiện tại Tòa án

Đối với Việt Nam thẩm quyền đăng ký kinh doanh được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trước đây, theo Luật Doanh nghiệp (2005), thẩm quyền đăng ký kinh doanh thuộc về rất nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Thẩm quyền đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều 163 Luật Doanh nghiệp (2005) và được cụ thể hóa tại Điều 9 Nghị định số 43/2010/NĐ-

CP ngày 15/4/2010 hướng dẫn đăng ký kinh doanh Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh được quy định tại Điều 10 Nghị định

số 43/2010/NĐ-CP Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện được quy định tại Điều 11 của Nghị định này2 Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp (2014), cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh đã

có những thay đổi và được quy định cụ thể hơn Thẩm quyền đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều 209 Luật Doanh nghiệp (2014) và cụ thể hóa tại Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015

Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định, các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp, cụ thể như sau: Cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) và ở quận, huyện, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), bao gồm: (i) Ở cấp tỉnh: Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở KH&ĐT (gọi chung là Phòng đăng ký kinh doanh) Phòng đăng ký kinh doanh có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Phòng đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh Tuy nhiên, do đặc thù nên tại Thành phố Hà

2

Xem Điều điều 11 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010

Trang 22

Nội có thể thành lập thêm một hoặc hai Phòng đăng ký kinh doanh và các phòng này được đánh số theo thứ tự (ii) Ở cấp huyện: Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh quy định tại Điều 15 Nghị định 78/2015/NĐ-CP (gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện) Cơ quan đăng ký kinh doanh có tài khoản và con dấu riêng

Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng đăng ký kinh doanh được quy định cụ thể tại Điều 14 và 15 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP So với quy định tại điều 10, điều 11 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì cơ bản quy định về cơ quan có thẩm quyền đăng

ký kinh doanh của điều 14, điều 15 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP không thay đổi Như vậy, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh không chỉ dừng chấm dứt tại thời điểm khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn tiếp tục được thực hiện trong quá trình doanh nghiệp đã đi vào sản xuất, kinh doanh Việc quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan đăng

ký kinh doanh như Điều 14, Điều 15 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP là hợp lý bởi trong cơ chế mới không có sự kiểm soát chặt chẽ ở khâu đầu vào, Nhà nước chỉ thực hiện việc đăng ký sau đó thực hiện công tác “hậu kiểm” Việc đăng ký kinh doanh được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh nên mọi thông tin về các chủ thể kinh doanh, cơ quan đăng ký kinh doanh đều nắm rõ nên họ có điều kiện tốt để thực hiện việc kiểm tra đối với doanh nghiệp, các chủ thể hoạt động kinh doanh

1.3.2 Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp

Để thành lập một doanh nghiệp trước hết nhà đầu tư phải xác định, lựa chọn được loại hình doanh nghiệp, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp lựa chọn mà nhà đầu tư sẽ chuẩn bị một bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh phù hợp Hồ sơ đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp (2014) đã được quy định một cách chi tiết, cụ thể Ngay từ trong Luật Doanh nghiệp (2014) đã được quy định thể hiện ở các điều sau:

Hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân (Điều 20); Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty hợp danh (Điều 21); Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty TNHH (Điều 22); Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp của công ty cổ phần (Điều 23)

Trang 23

So với quy định của Luật Doanh nghiệp (2005) thì Luật Doanh nghiệp (2014)

bỏ quy định về hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam theo Điều 20 Luật Doanh nghiệp (2005) Luật Doanh nghiệp (2014) đã chính thức bãi bỏ nội dung giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Theo đó, khi muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam các nhà đầu tư nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, sau đó sẽ chuẩn bị hồ sơ thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Về thực chất, hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho các điều kiện thành lập doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp (2014) và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký kinh doanh cho tất cả các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, tùy thuộc vào bản chất cũng như điều kiện thành lập từng loại hình doanh nghiệp mà pháp luật quy định những giấy tờ tài liệu cần có trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, có những loại hình doanh nghiệp khi thành lập cần có hồ sơ đăng ký kinh doanh đơn giản, cũng có những loại hình loại hình doanh nghiệp hồ sơ đăng ký kinh doanh phức tạp Ví dụ:

Hồ sơ đăng ký kinh doanh tư nhân rất đơn giản, chỉ được quy định trong một điều của Luật Doanh nghiệp (2014) (Điều 20) và cụ thể hóa trong 1 điều trong Nghị định số 78/2015/NĐ-CP (Điều 21), bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và một số giấy tờ khác liên quan đến nhân thân của chủ doanh nghiệp 3 Trong lúc đó

hồ sơ đăng ký công ty cổ phần phức tạp hơn nhiều Theo Điều 23 Luật Doanh nghiệp ((2014) hồ sơ đăng ký công ty cổ phần gồm có: (i) Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh; (ii) Điều lệ công ty; (iii) Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài (iv) Bản sao các giấy tờ liên quan đến nhân thân của cổ đông.Hồ

sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp cho công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh được quy định cụ thể hơn tại Điều 22 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP

3

Xem điều 20 Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 24

Cùng với việc quy định hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp mới thành lập, Nghị định 78/2015/NĐ-CP (văn bản hướng dẫn Luật Doanh nghiệp (2014)) còn hướng dẫn cụ thể về Hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất và công ty nhận sáp nhập4 và hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp5

Để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người thành lập doanh nghiệp phải xây dựng hồ sơ đăng ký kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó6

1.3.3 Điều kiện đăng ký kinh doanh

- Đối tượng được đăng ký thành lập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm (2014) và Nghị định số 78/20105/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đăng ký kinh doanh, việc thành lập, đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam là quyền của cá nhân và

tổ chức được Nhà nước bảo hộ Luật nghiêm cấm các cơ quan đăng ký kinh doanh

và các cơ quan khác gây phiền hà cho người thành lập doanh nghiệp7

Luật Doanh nghiệp (2005) đã có sự mở rộng chủ thể thành lập doanh nghiệp

là tổ chức, cá nhân nước ngoài và họ có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam8; đồng thời họ cũng có quyền góp vốn, mua cổ phần đối với các công ty TNHH, công ty hợp danh và công ty cổ phần9 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn được quyền kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ giới hạn trong nội dung các giấy phép đầu tư10

Xem điều 5 NĐ78/2015/NĐ-CP, điều 18 Luật Doanh nghiệp (2014)

8 Xem khoản 1 điều 13 Luật Doanh nghiệp (2005)

Trang 25

Kế thừa tinh thần của Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Doanh nghiệp (2014) vẫn ghi nhận sự mở rộng chủ thể thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân nước ngoài Luật Doanh nghiệp (2014) quy định thông thoáng hơn, không có sự phân biệt, tách bạch giữa chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp trong nước và nhà đầu

tư nước ngoài Cũng giống Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Doanh nghiệp (2014) quy định nhà đầu tư nước ngoài cũng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam, quyền này được quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp (2014)11 Ngoài ra, họ còn có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh12 và Luật Doanh nghiệp hiện hành cũng mở rộng đáng kể quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh là quyền của doanh nghiệp được tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh; quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn13… đặc biệt là từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định pháp luật, tham gia tố tụng theo quy định pháp luật

Mặt khác, với quy định không tách bạch chủ thể là chủ doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài nên pháp luật hiện hành không dành một điều để quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện, nội dung cho việc đăng ký kinh doanh, đầu

tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tại Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh như các chủ doanh nghiệp trong nước

Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp (2014) quy định 06 đối tượng không được thành lập doanh nghiệp đó là: (i) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân

sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; (ii) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; (iii) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân

11 Xem khoản 1 điều 18 Luật Doanh nghiệp (2014)

Trang 26

dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản

lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; (iv) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo

ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; (v) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; (vi) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng So với Luật Doanh nghiệp (2005) việc quy định này

đã được gom bớt một đối tượng và mở rộng phạm vi điều chỉnh Trước đây, Luật Doanh nghiệp (2005) quy định trường hợp thứ 07 không được thành lập doanh

nghiệp là “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản”, theo pháp luật hiện hành thì quy định “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng”

- Điều kiện về ngành nghề kinh doanh:

Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Để thực hiện và thể chế hóa

đầy đủ quyền tự do kinh doanh được quy định tại Điều 33 Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp (2014) đã chuyển từ nguyên tắc tự do kinh doanh những gì ghi trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sang nguyên tắc tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm thông qua việc bỏ nội dung về ngành, nghề kinh doanh trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh “Tự do” ở đây không được hiểu theo nghĩa doanh nghiệp có thể kinh doanh bất cứ ngành nghề nào mà không gặp "rào cản" Luật Đầu tư (2014) quy định 267 ngành, nghề không thuộc danh mục cấm đầu tư, kinh doanh nhưng lại có điều kiện Mặt khác, nhà đầu tư nước ngoài còn bị hạn chế

Trang 27

kinh doanh trong một số lĩnh vực14 Vì vậy, doanh nghiệp luôn phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện theo quy định của Pháp luật và phải bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư, kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh Ví dụ, với ngành, nghề kinh doanh bất động sản, Luật Doanh nghiệp (2014) không yêu cầu doanh nghiệp phải có xác nhận vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp, nhưng khi doanh nghiệp thực hiện kinh doanh ngành nghề này đương nhiên phải đủ vốn pháp định là 20 tỷ đồng theo quy định tại khoản 1, điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 Tương

tự, còn rất nhiều điều kiện kinh doanh mà doanh nghiệp bắt buộc phải có thì mới được kinh doanh như khám chữa bệnh, mua bán dược phẩm, nhóm ngành, nghề về thiết kế, giám sát, khảo sát, quy hoạch xây dựng, nhóm ngành, nghề về môi giới như môi giới lao động, việc làm, môi giới bất động sản….Quy định như vậy không những giảm đáng kể chi phí tuân thủ thực hiện thủ tục hành chính mà còn nâng cao tính chủ động, linh hoạt cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Như vậy, theo quy định mới, khi doanh nghiệp thấy có cơ hội kinh doanh, thấy mình đáp ứng được điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh ngay Khi doanh nghiệp muốn bổ sung ngành, nghề kinh doanh, doanh nghiệp chỉ cần gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh bổ sung ngành, nghề kinh doanh để cơ quan đăng ký kinh doanh ghi nhận theo đúng quy định mà không phải cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh15 Thực hiện việc này sẽ rất thuận lợi, nhanh chóng cho doanh nghiệp Đồng thời, muốn biết doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề gì, trước kia phải lệ thuộc vào nội dung ngành, nghề kinh doanh ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thì nay chỉ cần truy cập địa

chỉ dangkykinhdoanh.gov.vn, nhập tên hoặc mã số doanh nghiệp để tra cứu các

thông tin cơ bản của doanh nghiệp, trong đó có thông tin ngành, nghề kinh doanh

mà doanh nghiệp đăng ký

Trang 28

Tóm lại, từ ngày 01/7/2015, doanh nghiệp sẽ không phải nộp chứng chỉ hành

nghề, văn bản xác nhận vốn pháp định khi đăng ký kinh doanh Đây được đánh giá là

quy định thông thoáng và không gây khó khăn khi doanh nghiệp khởi sự kinh doanh

- Các điều kiện khác: Ngoài các điều kiện kể trên, Luật Doanh nghiệp

(2014) và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP cũng đã có những quy định cụ thể về các điều kiện khác như: (i) điều kiện về tên gọi doanh nghiệp16; (ii) điều kiện về trụ sở của doanh nghiệp17; (iii) điều kiện về vốn góp18; (iv) quy định của pháp luật về

con dấu19

1.3.4 Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh

Việc đăng ký kinh doanh nói riêng và thành lập công ty nói chung có một ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ với sự hình thành công ty mà còn với cả sự ổn định và phát triển của công ty trong suốt quá trình tồn tại của nó Vì vậy, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh là một trong những vấn đề mà giới kinh doanh, đầu tư quan tâm nhất và đây cũng là yếu tố thúc đẩy hay hạn chế việc bỏ vốn đầu tư kinh doanh, là một thủ tục có vai trò quan trọng với sự hình thành của công ty vì nó mang tính chất pháp lý, thể hiện sự công nhận của Nhà nước với sự ra đời của một thực thể kinh doanh

Luật Doanh nghiệp năm (2014) tại Điều 27 quy định về trình tự thủ tục đăng

ký kinh doanh và được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng

ký kinh doanh

16 Xem: điều 32 Luật Doanh nghiệp (2014), khoản 1 điều 38 Luật Doanh nghiệp (2014); khoản 1 điều 38, khoản 1, 3 điều 40 Luật Doanh nghiệp (2014), khoản 1, 2 và khoản 3 điều 41 Luật Doanh nghiệp (2014) và các điều 17, 18, 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP

17 - Xem điều 43 Luật Doanh nghiệp (2014);

- Quy định về đặt trụ sở chính của doanh nghiệp, tại địa chỉ: chinh-cua-doanh-nghiep.html, ngày truy cập 26/6/2016

http://dangkykinhdoanhhn.com/quy-dinh-ve-dat-tru-so-18

Xem: khoản 4 điều 4 Luật Doanh nghiệp (2005); khoản 13 điều 4 Luật Doanh nghiệp (2014); khoản 2 4 điều 48 và khoản 2, 3 điều 74 Luật Doanh nghiệp (2014); điểm d khoản 4 điều 112 Luật Doanh nghiệp (2014) và khoản 4 điều 112 Luật Doanh nghiệp (2014)

19 Xem: điều 36 Luật Doanh nghiệp (2005) và khoản 1 điều 6 NĐ 58/2001/NĐ-CP ngày 24/8/2001; điều 44 Luật Doanh nghiệp (2014); điều 12 NĐ 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015; điều 8 NĐ 58/2001/NĐ-CP; khoản 2 điều 48 Luật Doanh nghiệp (2014); khoản 1 điều 14 NĐ 96/2015/NĐ-CP; khoản 1, 3 và 4 điều 34 Nghị định 78/2015/NĐ-CP

Trang 29

Theo đó, thì người thành lập doanh nghiệp có thể tự mình nộp bộ hồ sơ hoặc

ủy quyền cho người khác thay mình nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng

ký kinh doanh tại địa phương, nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính20

Để thực hiện việc đăng ký kinh doanh người thành lập doanh nghiệp phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định tại khoản 2 điều 27 Nghị định 78/2015/NĐ-CP và hồ sơ đăng ký kinh doanh được tiếp nhận để nhập thông tin vào Hệ thống TTQG về đăng ký kinh doanh

Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kinh doanh, Phòng đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ Sau khi trao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ, Phòng đăng ký kinh doanh nhập đầy đủ, chính xác thông tin trong

hồ sơ đăng ký kinh doanh, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và tải các văn bản trong hồ

sơ đăng ký kinh doanh sau khi được số hóa vào Hệ thống TTQG về đăng ký kinh doanh21

Sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ và thực hiện việc đăng tải thông tin của doanh nghiệp vào hệ thống TTQG về đăng ký kinh doanh, Phòng đăng ký kinh doanh phải thực hiện việc cấp cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được Phòng đăng ký kinh doanh thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ22

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo quy định, Phòng đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ Phòng đăng ký kinh doanh ghi toàn bộ yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với mỗi

Trang 30

một bộ hồ sơ do doanh nghiệp nộp trong một Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung

hồ sơ đăng ký kinh doanh23

Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc mà doanh nghiệp không được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi,

bổ sung hồ sơ đăng ký kinh doanh thì người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo24

Như vậy, thời gian thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp (2014) đã được cải thiện đáng kể so với Luật Doanh nghiệp (2005) (3 ngày làm việc so với 10 ngày làm việc như trước đây) Điều này giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam, giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí, hạn chế thủ tục hành chính và tiết kiệm thời gian

Song song với việc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì thủ tục thực hiện cấp Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh cũng được thực hiện như trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bản điện tử Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp (2014) thì nội dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chỉ còn 4 nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp Như vậy, trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ không có nội dung ngành, nghề kinh doanh kinh doanh và danh sách cổ đông sáng lập (đối với Công ty cổ phần) như trước đây Điều này dẫn đến việc khi thay đổi ngành, nghề kinh doanh; thay đổi cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần

và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp chỉ phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được bổ sung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh (Điều 32 Luật Doanh nghiệp năm (2014)) mà không phải thự hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng

Trang 31

ký kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới như hiện nay

Vì thế, mỗi khi Doanh nghiệp thay đổi, bổ sung ngành nghề kinh doanh; thay đổi cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, sẽ không mất thời gian và thủ tục để chờ cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc khi thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, theo quy định tại Điều 33 Luật Doanh nghiệp (2014), doanh nghiệp phải công bố công khai trên Cổng TTQG về đăng ký kinh doanh, thời hạn thông báo công khai các thông tin về doanh nghiệp là 30 ngày kể từ ngày được công khai So với trước đây tại điều 28 Luật Doanh nghiệp (2005) quy định trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp (2014) đã tách biệt rõ giữa thủ tục thành lập doanh nghiệp với thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư và việc đảm bảo các điều kiện kinh doanh trong quá trình đi vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

vì giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là hình thức để Nhà nước ghi nhận sự hình thành doanh nghiệp, sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp và tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa phát sinh nên việc quy định như trước đây tại điều 20 Luật Đầu tư (2005), nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế; giấy chứng nhận đầu tư cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh25 là chưa phù hợp Quy định về giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhằm mục tiêu đơn giản hóa thủ tục cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng trên thực tế đã dẫn đến rất nhiều khó khăn cho nhà đầu tư bởi đây là hai loại giấy tờ hoàn toàn khác nhau về bản chất pháp lý Nhằm khắc phục hạn chế nêu trên, Luật Đầu tư (2014) đã tách bạch thủ tục đăng ký đầu tư và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo đó, sau khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký

25

Xem khoản 1 điều 50 Luật Đầu tư (2005)

Trang 32

đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng

ký kinh doanh như nhà đầu tư trong nước Quy định này đã phân biệt rõ địa vị pháp

lý của pháp nhân và của hoạt động đầu tư cụ thể, đồng thời, giảm phiền hà cho nhà đầu tư khi thực hiện điều chỉnh các thông tin liên quan đến pháp nhân trong quá trình hoạt động26 và theo Luật Doanh nghiệp (2014) cũng không tách bạch quy định thủ tục thành lập doanh nghiệp, chủ thể đăng ký kinh doanh là tổ chức, cá nhân trong nước hay nước ngoài mà Luật này quy định chung cho cả hai đối tượng này Nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp trong việc thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp, cũng như kế thừa và hoàn thiện hơn nữa quy trình đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử được quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010, ngày 14/9/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh, trong đó có nội dung về đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử Việc thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử được xem là một công cụ tiện lợi, hiệu quả, góp phần giảm thiểu thời gian thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh, minh bạch hóa công tác đăng ký kinh doanh, đồng thời hỗ trợ cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc tiếp nhận và quản lý hồ sơ đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn được tự do lựa chọn các hình thức đăng ký kinh doanh phù hợp vì hình thức đăng

ký kinh doanh qua mạng điện tử được công nhận giá trị pháp lý tương đương với hình thức nộp hồ sơ bằng bản giấy

Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định cơ chế thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử Điều 35 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn lựa chọn sử dụng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký kinh doanh (bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng

ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác) qua mạng điện tử Hình thức này cho phép tổ chức, cá nhân được lựa chọn sử dụng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh để đăng ký

26 Luật Doanh nghiệp năm (2014) – Tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, tại địa chỉ: http://skhdt.baclieu.gov.vn/kinhdoanh/lists/posts/post.aspx?Source=/kinhdoanh&Category=&ItemID=86&Mode=1, ngày truy cập 28/5/2016

Trang 33

kinh doanh qua mạng điện tử Hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy

Hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử là hợp lệ khi có đầy đủ các giấy

tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được chuyển sang dạng văn bản điện tử; các thông tin đăng ký kinh doanh được nhập đầy đủ và chính xác theo thông tin trong các văn bản điện tử; được xác thực bằng chữ ký số công cộng hoặc Tài khoản đăng ký kinh doanh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ bằng bản giấy

Để doanh nghiệp dễ dàng trong việc thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử Điều 37 và Điều 38 Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng và trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh:

Trường hợp bộ hồ sơ nộp bằng bản giấy không chính xác so với bộ hồ sơ được gửi qua mạng điện tử mà người nộp hồ sơ không thông báo với Phòng đăng

ký kinh doanh tại thời điểm nộp hồ sơ bằng bản giấy thì được coi là giả mạo hồ sơ

và sẽ bị xử lý

1.3.5 Quy định về giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật về hoạt động kinh doanh thương mại luôn khuyến khích các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh, thành lập doanh nghiệp trên cơ sở quy định của pháp luật Một doanh nghiệp được “khai sinh” hợp pháp khi và chỉ khi được tiến hành đăng ký thành lập tại cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Tại đây, các doanh nghiệp thành lập sẽ được cấp “giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh”

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giấy chứng nhậndoanh nghiệp đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư giấy chứng nhận đăng ký

Trang 34

kinh doanh là loại giấy tờ “khai sinh” ra một doanh nghiệp, sau khi chủ thể kinh doanh thỏa mãn các quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh

có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định các điều kiện, quy định của nhà nước xem thương nhân đã đáp ứng đủ yêu cầu chưa và xác nhận việc đáp ứng đủ các điều kiện

đó bằng hành vi cấp giấy đăng ký kinh doanh cho chủ thể kinh doanh

Như vậy, chủ thể kinh doanh chỉ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi và chỉ khi đáp ứng được yêu cầu của pháp luật (chủ thể kinh doanh, ngành nghề kinh doanh,…) Điều này để phân biệt với việc các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh không cần phải đăng ký kinh doanh đó theo Nghị Định

39/2007/NĐ-CP “cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đ ch sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là thương nhân” kinh doanh dưới

hình thức: buôn bán hàng rong, buôn bán vặt, buôn chuyến, Những chủ thể hoạt động kinh doanh hình thức này được Nhà nước ghi nhận hình thức kinh doanh của mình mà không cần phải đăng ký Tuy nhiên vẫn phải chấp hành các quy định của pháp luật như đóng phí, lệ phí, vệ sinh an toàn thực phẩm, nộp thuế môn bài

Theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp (2014), các doanh nghiệp được kinh doanh trong cả những ngành nghề không được ghi nhận trong đăng ký kinh doanh Như vậy, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là một loại giấy tờ có tính chất

“thông hành khởi sự ban đầu của doanh nghiệp” để các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh được phép hoạt động một cách hợp pháp Do đó, pháp luật các quốc gia trên thế giới đều có sự quy định “giấy đăng ký kinh doanh” ở dưới hình thức luật chung hay luật riêng Ngoài ra, giấy đăng ký kinh doanh còn có ý nghĩa là một sự kiện pháp lý để xác lập tư cách pháp lý của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh

Trang 35

doanh, thể hiện sự chứng nhận của cơ quan nhà nước về sự ra đời của một chủ thể kinh doanh được phép kinh doanh những ngành nghề mà mình đã đăng ký

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

- Ở Việt Nam đăng ký kinh doanh được hiểu là hoạt động pháp lý, bao gồm hành vi của chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể và cơ quan nhà nước

có thẩm quyền đăng ký kinh doanh tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh, đồng thời, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho chủ thể đăng ký kinh doanh;

- Pháp luật đăng ký kinh doanh là bộ phận của pháp luật doanh nghiệp là tổng thể quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập doanh nghiệp giữa người thành lập doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Nội dung của pháp luật doanh nghiệp chủ yếu được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp (2014) về điều kiện và thủ tục đăng ký kinh doanh

Trang 36

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Tổng quan các điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội có ảnh hưởng đến hoạt động đăng ký kinh doanh

2.1.1 Điều kiện kinh tế

Thành phố Hà Nội giữ vai trò là trung tâm chính trị của Việt Nam; Hà Nội là Thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9 km2 sau đợt mở rộng hành chính năm 2008, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 7.500.000 người (năm 2015) Tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn Thành phố bình quân 5 năm ước tăng 9,23%, gấp 1,58 lần mức tăng bình quân chung của cả nước Quy mô kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước đạt 27,6 tỷ USD, bình quân thu nhập đầu người khoảng 3.600 USD, cao gấp 1,8 lần so với năm 2010 Các ngành kinh tế phục hồi và tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 54%, công nghiệp - xây dựng chiếm 41,5% và nông nghiệp 4,5%

Môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh được cải thiện Thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào các ngành, lĩnh vực phù hợp quy hoạch phát triển, chú trọng công nghệ cao và các ngành công nghiệp trọng yếu Tổng vốn đầu tư xã hội tăng, hiệu quả đầu tư ngày càng nâng lên Hà Nội trong nhiều năm qua đã có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp Điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã ghi nhận những đánh giá tích cực của cộng đồng doanh nghiệp dân doanh về sự cải thiện chất lượng điều hành kinh tế của Thành phố Chỉ số PCI của Hà Nội đã có sự gia tăng mạnh mẽ từ năm 2012 với 53,4 điểm, thứ hạng 51/63 lên 59 điểm, thứ hạng 24/63 vào năm

2015 Theo số liệu của Sở KH&ĐT Hà Nội, năm 2016, số lượng doanh nghiệp đăng

ký thành lập mới tăng cao, dự kiến sẽ lên tới gần 23.000 doanh nghiệp, tăng 19% so với năm 2015; trong khi vốn đăng ký của các doanh nghiệp lên tới 203.765 tỷ đồng,

Trang 37

tăng 42% Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Thành phố cũng gia tăng mạnh cả về số lượng dự án và giá trị vốn đầu tư đăng ký mới Trong 10 tháng, Thành phố đã thu hút 445 dự án FDI với vốn đăng ký 2,8 tỷ USD, tăng 2,6 lần so với năm 2015, với nhiều dự án được đánh giá là thế mạnh và ưu tiên thu hút đầu tư của Thành phố như lĩnh vực công nghệ cao, môi trường, viễn thông, ngân hàng… Những số liệu trên đã phần nào phản ánh nỗ lực của Hà Nội trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, tăng sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô

Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn kỳ vọng nhiều vào việc chính quyền Thành phố tiếp tục cải cách mạnh mẽ trong việc cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng và thái độ phục vụ của cán bộ hành chính các cấp, giảm thiểu chi phí không chính thức, tăng cường tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai… Hà Nội cũng đưa ra những

đề án rất tham vọng như kế hoạch 100% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh qua mạng; giảm thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng từ 3 ngày xuống còn 2 ngày, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện hình thức đăng ký này Từ 12/7/2016, việc cấp mã số thuế tự động đã chính thức thực hiện trên địa bàn Thành phố, với thời gian phản hồi về mã số thuế từ cơ quan thuế sang cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ còn 30 phút Đó là những cách làm cụ thể hóa quyết tâm của Thành phố trong việc tạo thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn Trong năm 2017, ngành KH&ĐT tiếp tục tham mưu Thành phố những biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng; tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, chỉ số PCI; trọng tâm là các lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, đất đai, xây dựng, giấy phép đầu tư

Với những chỉ số nói trên, Thành phố Hà Nội xứng đáng là trung tâm thủ đô văn hóa kinh tế chính trị trên cả nước, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với tốc độ cao và bền vững, nhằm tạo điều kiện nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội trong cả nước

Trang 38

2.1.2 Điều kiện xã hội

Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' độ kinh Đông Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, dân số Hà Nội là 7.558.956 người Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 người/km²

Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73% dân số, người Mường 0,76% và người Tày chiếm 0,23 %

2.1.3 Giới thiệu về phòng đăng ký kinh doanh ở thành phố Hà Nội

Cơ quan thực thi pháp luật đăng ký kinh doanh tại Hà Nội là Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội Đây là cơ quan chuyên môn thuộc UBND, có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ KH&ĐT Hiện nay

trụ sở chính của Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội tại số 16 Cát Linh, Đống Đa

Cùng với sự ra đời của Ủy ban Kế hoạch Quốc gia (cơ quan tiền thân của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Bộ KH&ĐT) thì Ban Kế hoạch Thành phố Hà Nội

cũng được thành lập ngày 8/10/1955, đầu năm 1958 đổi tên thành Ủy ban Kế hoạch Thành phố Hà Nội Ngày 23/8/1996, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2743/QĐ-UB thành lập Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội trên cơ sở tổ chức

và sắp xếp lại Ủy ban Kế hoạch cũ và nhiệm vụ đầu tư, hợp tác viện trợ kinh tế của

Sở Kinh tế Đối ngoại chuyển sang Ngày 18/01/2005, UBND Thành phố Hà Nội đã

ban hành Quyết định số 05/2005/QĐ-UB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu

tổ chức của Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính của Thành phố Hà Nội và Hà Tây, Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội được thành lập

Trang 39

trên cơ sở hợp nhất Sở KH&ĐT tỉnh Hà Tây và Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội (cũ)

tại Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 02/8/2008 của UBND Thành phố Hà Nội

Cơ quan đăng ký kinh doanh trực thuộc Sở KH&ĐT Hà Nội được phân thành

03 phòng khác nhau dựa trên địa bàn quản lý Thời kỳ đầu 03 phòng đăng ký kinh doanh được bố trí tại 03 địa điểm khác nhau gây ra những khó khăn cho người dân trong việc tiến hành thủ tục và sự manh mún, phân tán trong xử lý hồ sơ Thực hiện triệt để mô hình một cửa liên thông, Sở đã cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính tập trung thống nhất tất cả các bộ phận, các địa điểm đăng ký kinh doanh trên toàn địa bàn về một trụ sở Tháng 7/2011 Sở đã sắp xếp bố trí các Phòng đăng ký kinh doanh, bộ phận một cửa Văn phòng Sở và Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp về làm việc tại trụ sở Tầng 3 Tòa nhà B10A Khu đô thị Nam Trung Yên (Quận Cầu Giấy) Việc sắp xếp bộ máy đăng ký kinh doanh tập trung thống nhất về một địa điểm là sự

cố gắng rất lớn của Sở, mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân và sự quản lý điều hành của Sở

Hiện trạng nhân sự của các phòng đăng ký kinh doanh trực thuộc Sở KH&ĐT

Hà Nội:

Phòng đăng ký kinh doanh số 01: Tổng số 15 cán bộ, trong đó có 11 công chức; 04 lao động hợp đồng; Phòng đăng ký kinh doanh số 02: Tổng số 15 cán bộ, trong đó có 12 công chức; 03 lao động hợp đồng; Phòng đăng ký kinh doanh số 03: Tổng số 13 cán bộ, trong đó có 12 công chức, viên chức; 01 lao động hợp đồng

(Nguồn: Sở KH&ĐT Hà Nội)

Ban Giám đốc Sở nhiệm kỳ 2011-2015 gồm có Giám đốc Sở và 05 Phó giám đốc Sở, 17 đơn vị thuộc Sở (15 phòng và 02 đơn vị sự nghiệp) Tổng số cán bộ công chức, viên chức, nhân viên hợp đồng lao động của Sở gồm 280 người (tính đến

tháng 9 năm 2013) (Nguồn: Sở KH&ĐT Hà Nội)

2.2 Thực trạng đăng ký kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghi lớn nhất cả nước Trong những năm qua, từ sự nỗ lực của nhiều cơ quan ban ngành, Thành phố đã đạt

Trang 40

được nhiều kết quả đáng phấn khởi Đặc biệt, các doanh nghiệp là lực lượng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, có bước phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Tuy nhiên, thời gian gần đây, có những biến động, khó khăn của nền kinh tế trong nước và thế giới các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực bởi những bất ổn kinh tế vĩ mô này, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Ngoài ra, cũng đã tác động đến số lượng doanh nghiệp mới thành lập, nhiều doanh nghiệp phải giải thể, tạm ngừng hoạt động…trên địa bàn Thành phố

2.2.1 Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp

 Tình hình đăng ký thành lập mới doanh nghiệp

Để tổ chức thực hiện công tác đăng ký kinh doanh (theo cách thức nộp hồ sơ trực tiếp) Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho 03 Phòng đăng ký kinh doanh phối hợp với Bộ phận một cửa trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh Trưởng Phòng đăng ký kinh doanh (với sự giúp việc của các Phó Trưởng phòng) hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc Sở, trước pháp luật trong công tác giải quyết thủ tục hành chính

về đăng ký kinh doanh Hiện nay Văn phòng Sở đã tổ chức và điều hành bộ phận một cửa thực hiện rất tốt công việc này Lãnh đạo Sở đã quan tâm bố trí khu vực riêng biệt dành cho bộ phận một cửa và phân công cán bộ chuyên trách để tiếp nhận

hồ sơ thủ tục hành chính (tổ tiếp nhận, tổ trả kết quả và tổ thu phí) theo địa bàn quận/huyện do các Phòng đăng ký kinh doanh thụ lý hồ sơ Đây là cách tổ chức tiếp nhận thủ tục hành chính rất khoa học, hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân tổ chức làm các thủ tục nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh

Về kết quả xử lý hồ sơ, trên toàn Thành phố Hà Nội số hồ sơ về đăng ký kinh doanh đã được phòng đăng ký kinh doanh – Sở KH&ĐT Hà Nội tiếp nhận và giải quyết hồ sơ như sau:

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Hà Nội

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2012 - 2016)

Ngày đăng: 11/03/2019, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm