Bài thơ trớc hết là một lời đùa vui của Bác Hồ với cái nghèo của cách mạng, phảng phất nh bút pháp nói nghèo mà hoá ra sang thờng thấy ở các nhà thơ cổ điển để nêu cao cái triết lí lạc đ
Trang 1Thử phân tích một bài thơ bốn câu của bác
Chế Lan Viên Thơ tứ tuyệt hình thức đã rất bé mà nội dung lại bé nốt thì nó còn gì? Bắt buộc nó phải bé hạt tiêu theo qui luật nghịch: hình thức càng bé, nội dung càng phải lớn Nghĩa
là bằng số chữ ít nhất, nó phải đem đến khối lợng thông tin nhiều nhất…trong vài câu phải gói ghém chất chứa bao nhiêu điều Ngời viết gói lại, ngời đọc mở ra Tôi thử cố
mở ra bài Tức cảnh Pác Bó của Bác
Nh phần lớn các bài thơ của Bác, Bài thơ này mở đầu bằng cách nói đến cảnh vật Tâm hồn á đông, Việt Nam của tác giả hoà hợp với thiên nhiên Nhng thiên nhiên ở
đây khác với ở Non xa xa, nớc xa xa hay Tiếng suối trong nh tiếng hát xa Thiên nhiên
ở đây không phải đối tợng thởng thức Tơi mát lắm, nhng suối thế thôi, là một địa
điểm, chứ không suối mát, suối trong, suối ca gì cả Nhng Bác là ngời hay thởng thức thiên nhiên kia mà ! Bị trói vẫn thởng thức, bị còng vẫn còn thởng thức!
Nhng không, ở đây suối, hang chỉ là nơi làm việc và ẩn náu, sáng tối chỉ là thời khắc biểu chứ không phải là vào ra, lên xuống du ngoạn qua lại của ngời du ngoạn của thi nhân
Cuộc sống thời bí mật đó hình nh đã đợc khá ổn định trên một khoảng thời gian khá lâu, đủ để thành nếp, đều đặn, nhịp nhàng, cân đối…sáng ra, tối vào, vào hang, ra suối Câu thơ vừa nói lên việc tổ chức cuộc sống khéo léo, nền nếp vừa nói lên tâm hồn của con ngời đã sống nhịp nhàng cùng khung cảnh ấy, tự tại, ung dung
Để thử lại bài toán, ta tạm sửa đi ít chữ, thay đổi cấu trúc câu thơ xem sao
Nếu viết: Tối vào hang,sáng ra bờ suối…câu thơ sáng sủa quá, không hợp với tình hình lịch sử lúc ấy, nhởn nhơ quá, không hợp với tâm hồn tác giả lúc ấy Câu thơ mở
về phía suối, phíahang , phía căn cứ hoạt động của nhà cách mạng Nhng ở Bác, con ngời thứ hai này mới là chính: Bác lai vô ảnh, khứ vô hình
Tình hình lúc ấy nửa suối nửa hang, đang vơn ra ánh sáng Nhng dộng cái là phải nhanh chóng rút vào bí mật Nhìn trên toàn bộ hình thang vẫn là chính, bí mật vẫn là chính Vì thế câu thơ phải khép lại bằng tối vào hang
Nếu lại viết: Sáng ra rừng rậm, tối vào hang thì cũng không đúng với tình hình lịch sử và tâm hồn tác giả Tình hình không bao giờ đen tối với Bác cả Ngay trong tù, Ngời vẫn có thể ngồi trên hố xí đợi ngày mai Câu thơ sẽ đánh mất suối, đánh mất vần thơ, phần góp thành tâm hồn vĩ đại Hồ Chí Minh
Còn nếu viết Sáng ra, tối vào, suối với hang…thì thực xô bồ nói cho xong chuyện, không còn trật tự gì nữa Hay đấy là trật tự lặp đi lặp lại khá chán chờng
Câu thơ khái quát toàn bộ mở cửa thấy núi (khai môn kiến sơn) Tiếp câu hai cần nhiều chi tiết cụ thể Nhng Bác chỉ dùng 4 chữ đầu để gói vẻn vẹn hai chi tiết: cháo
bẹ, rau măng 3 chữ sau thì nhời đã vội nói ý vẫn sẵn sàng Cuộc sống hồi ấy của Bác
có bao nhiêu chi tiết gian khổ, nhng Ngời đều bỏ qua Nói một cách nhẹ nhàng Gian khổ nhẹ tênh, mhẹ nhabgf, nhịp nhàng với cảnh sinh hoạt nhịp nhàng lúc đó: sớm tối,
ra vào suối hang, bẹ măng, rau cháo
Trang 2Những chi tiết gian khổ nhất, Bác đã bỏ qua Nhng chúng ta không thể bỏ qua:
Bắt con ốc khe, chặt nõn chuối ngàn, Một bát cơm khô giữa ngày bệnh yếu Bác chia cùng dân tộc buổi lầm than…
Cháo bẹ, rau măng, vây lùng bủa quét…
Ba chữ vẫn sẵn sàng, có ngời giải thích là rau cháo vẫn đầy đủ, sẵn sàng Ngời khác lại cho là tinh thần cách mạng vẫn sẵn sàng, dù rau măng cháo bẹ! Câu thơ xê xích giữa hai ý đó, trong cái cánh quạt, quãng cách mở ra giữa hai ý đó Nhng bất cứ nghĩa nào, câu thơ vẫn nói lên tinh thần lạc quan của tác giả Không có 3 chữ này, làm sao chuyển đợc xuốn câu thơ thứ ba
Từ không khí thiên nhiên, suối hang sớm tối, chuyển sang không khí xã hội:
Đảng, sủ, dịch sử Đảng Từ những chữ mềm mại, Suối, măng, rau, cháo, chuyển qua
bàn đá, chất đá rắn chắc Từ những âm thanh êm đềm, chuyển qua những âm thanh
trắc, nặng, sắc, hỏi, đanh thép, rắn rỏi Chuyển nhng rất hông nhiên, nhẹ nhàng, chả có gì gãy đứt với bên trên Trong khung cảnh ấy, ngời xa san thi, định kinh (Kinh Dịch
chấm son mài)…Ngày nay Bác Hồ ngồi dịch sử Đảng Khác nhau một vực một trời.
Tôi đã về Pác Pó Không có tấm đá nào nh bàn cả Chỉ có tấm lòng vững nh bàn thạch của ngời cách mạng đã nhìn đá bàn Tình thế cách mạng trong nớc lúc ấy khá chông chênh Nhng chông chênh mấy, dựa trên tấm lòng cách mạng, Bác vẫn tiến hành sáng tạo lịch sử Dịch là chữ khiêm tốn của Ngời Bác đang viết sử Việt Nam, sử thế giới bằng thơ lục bát dân tộc Chữ dịch còn nói lên sự gắn bó với phong trào cách mạng quốc tế của Bác
Cuộc đời cách mạng thật là sang!
Một nhà thơ nào khác có thể kết thúc bài thơ bằng một câu thơ tả tình, tả cảnh, chìm trong phong cảnh, nhập vào cảnh Bác không làm văn nghệ.Bác làm thơ là để nói lên ý của mình, nói trắng ra ý mình Nhng câu thơ không khô khan nh một ý thẳng dựng mà vẫn tơi mát nhẹ nhàng, vì trong đó có cái mỉm cời Bác lạc quan, hay cời,
nh-ng đôi lúc khônh-ng khỏi cời chua chát Nhnh-ng lần này thì khônh-ng thế Lần này cái cời hơi triết lí một chút của một ngời từng chứng kiến tất cả sang trọng, giàu sang nhất trên
đời Với tấm lòng từng trải và baodung đó, Bác đánh gía sự vật Cuộc đời cách mạng thật là sang nh thế là so với tất cả cuộc đời khác mà Bác đã từng chứng kiến, hay từng sống
Đó là bài thơ mà hình nh trên đờng đi tiện tay ngời hái bên đờng, để lại bên đờng rồi tiếp tục đi Với Bác, con đờng và cái đích mới là chính
( Nghiên cứu, học tập thơ văn Hồ Chí Minh NXBKHXH,Hà Nội, 1979,tr.341 - 345 )
tiếng ngày xa và cả tiếng mai sau
Nguyễn Đăng Mạnh
Trang 3Một trong những nét độc đáo của phong cách nghệ thuật thơ trữ tình của Bác là quan hệ hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, trên cơ sở sự thống nhất biện chứng giữa tính truyền thống sâu sắc và tính đảng vững vàng Sự hoà hợp này th-ờng thể hiện một cách thú vị trong những bài thơ tức cảnh của Ngời Chẳng hạn, có thể tìm thấy trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó ( mùa xuân 1941 )
Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu đã chọn đa nguyên văn bài thơ này vào trong bài thơ dài Theo chân Bác của mình Đó là một trong những bài thơ hay nhất và tiêu biểu nhất của ngời: một bài thơ khẩu chiến, tức cảnh sinh tình mà đọc lên một cách tự nhiên Lời lẽ thì không thể giản dị hơn đợc Vậy mà càng đọc, càng thấm thía bao tình sâu, ý lớn, tởng chừng khai thác mãi không cùng Mới hay thơ Bác cũng nh con ngời Bác, bề ngoài cứ trong suốt nh ánh sáng ban ngày vậy thôi, mà phân tích ra thì có đủ cả bảy sắc cầu vồng
Bài thơ trớc hết là một lời đùa vui của Bác Hồ với cái nghèo của cách mạng, phảng phất nh bút pháp nói nghèo mà hoá ra sang thờng thấy ở các nhà thơ cổ điển để
nêu cao cái triết lí lạc đạo vong bần ở thì trong núi, trong hang, ăn thì rau măng cháo
bẹ, làm việc thì mợn ngay một phiến đá thiên tạo chông chênh bên bờ suối Kể nghèo thì quả thực là nghèo, vì đến những tiện nghi tối thiểu của đời sống thông thờng cũng không có nhng nói sang thì cũng đúng là sang chứ sao! Còn gì đàng hoàng hơn la flàm chủ cả một cơ ngơi rộng lớn và kì thú nh thế để ngày ngày sáng ra, tối vào ung dung mặc thích còn ăn uống thì sản vật sơn lâm đó, lúc nào cũng sẵn sàng Cũng có ngời hiểu câu thơ này theo nghĩa khác: sinh hoạt tuy kham khổ nhng tinh thần (ta) vẵn sẵn sàng tinh thần cách mạng Cách giải thích có vẻ nghiêm trang, khắc khổ và hơi lên gân nh thế e không phù hợp với phong cách thơ tơi vui của bài thơ, cũng không ăn nhập với bài thơ tự sự từ câu đầu đến câu 3, và nhất là không tơng xứng với tầm cỡ t t-ởng của bác hồ vĩ đại
Đọc câu thơ thấy nụ cời của Bác càng hồn nhiên, thoải mái bao nhiêu, càng cảm
động trớc nghị lực phi thờng của Bác bấy nhiêu Ngày xa, gặp phải lúc âm thịnh dơng
suy, bọn gian tà ngang ngợc tung hoành, những nhà nho tiết tháo thờng từ bỏ công
danh, phú quí để lánh đục về trong, cũng đã biết vui với đạo lí của mình trong cảnh nghèo túng thanh bạch Nhng chắc chắn cha có vị nào phải nếm trải cái nghèo đến mức nh Bác Hồ trong những ngày hàn vi của cách mạng ở hang Pác Bó đầu năm 1941 Hồi ấy, hàng tuần, Bác chỉ đợc ăn vài bữa cơm, còn thì toàn cháo ngô độn với măng tre, đọt bí Vài ngày một lần, Bác lại cùng với chú liên lạc lội suối, mò ốc để cải thiện
Đêm đêm, Bác ngủ trong hang lạnh, trải ổ rơm trên một tấm ván Sáng dậy có khi thấy cả rắn rết bò vào Vậy mà hồn thơ của Ngời vẫn cứ thanh thản, đờng hoàng nh sống trong cảnh giàu sang thật sự Bởi vì cũng là lạc đạo nhng đạo của Ngời là đáo lí tất thắng của giai cấp vô sản Chỉ có thể đứng trên đỉnh cao của t tởng thời đại ấy Bác mới
có thể đùa vui, thoải mái nh thế với chính những điều kiện sống vô cùng cực khổ của mình
Ta nghe thấy tiếng nói của cha ông trong tiếng nói của Hồ chủ tịch Nhận xét của
thủ tớng Phạm Văn Đồng rất đúng với bài thơ này về phong cách thơ Bác: kết hợp hài hoà gia\ữa tinh cổ điển và tính hiện đại
Trang 4Chẳng phải ngay từ câu đầu bài thơ đã vẽ ra trớc mắt ta hình ảnh một nhà hiền triết thủa xa đang khoan thai dạo bớc một vùng nớc non thanh tinh đó sao?
Sáng ra bờ suối, tối vào hang.
Bác Hồ đến nơi hang động này từ thủa nào vậy? Sáng sáng Ngời ra bờ suối hái thuốc hay ngồi câu trên một mỏm đá nào? Sinh hoạt của nhà hiền sĩ cố nhiên bao giờ cũng thanh bạch:
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Cái phong vị đạm bạc a thích đó đối với các nhà ẩn sĩ chẳng vẫn thờng đợc nhắc
đến trong thơ cổ đó sao?
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Thì ra trong số những yếu tố tạo nên tâm hồn phong phú của Bác Hồ, vẫn có cái yếu tố truyền thống mà ngời xa thờng gọi là thú lâm tuyền này Có điều các nhà hiền triết xa nhiều khi chỉ ăn rau rừng, măng núi trong tởng tợng, trong thơ mà thôi! Còn Bác Hồ thì cứ phải thởng thức thờng xuyên trong thực tế Câu thơ có cái gì nửa h nửa thực, phù hợp với không khí vui tơi, hóm hỉnh rất thích của bài tứ tuyệt
Tình cảm thiên nhiên cổ điển đó lại biểu hiện một cách khác trong câu thơ tha ba:
Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng.
Có lẽ một trong những chi tiết viu nhất của bài thơ là hai chữ chông chênh này.
Cần nhớ rằng bút pháp chung của bài thơ là kể và gợi hơn là miêu tả trực tiếp Nhng
đến cái chi tiết chông chênh này thì nhà thơ thấy cần phải tả, phải vẽ- Đó là tính từ miêu tả duy nhất của bài thơ Chính nhờ cái hình dáng chông chênh cụ thể đó của tảng
đá mà ta có thể hình dung đợc cặp mắt Bác Hồ đang nheo cời trớc cái bàn đá độc đáo của mình Sống giữa thiên nhiên, làm việc giữa đất trời khoáng đạt lại tựa luôn vào chiếc bàn đá thiên tạo kia mà viết, mà dịch sử Đảng,thì kể cũng thú vị chứ sao? Chắc hẳn đó là ý nghĩ rất vui của Bác khi ứng khẩu đọc lên hai tiếng chông chênh ấy Nhớ khúc hát Côn Sơn của Nguyễn Trãi xa:
Côn Sơn có suối nớc trong,
Ta nghe suối chảy nh cung đàn cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Ma tuôn, đá sạch ta nằm ta chơi…
Dĩ nhiên giữa hai nhà thơ của hai thời đại vẫn có khoảng cáhc dài dặc của mấy trăm năm lịch sử Cho nên, một ngời lấy đá Côn Sơn làm chiếu, một ngời lấy đá Pác
Bó làm bàn, tuy cùng chung một tình cảm gắn bó, chan hoà vói tạo vật, nhng thái độ xã hội, triết lí nhân sinh vẫn có những chỗ khác nhau về căn bản Ngời này tin ở thiên cơ, thiên mệnh, gặp khi thời thế đảo điên, không thể phò đời cứu nớc, đành lui về bầu bạn với mây ngàn hạc nội, phách suối đàn thông Ngời kia nắm chắc qui luật khách quan của lịch sử, đoán trớc thời cơ của cách mạng, mợn nơi núi rừng làm căn cứ địa để
Trang 5xây dựng lực lợng, nhen nhóm phong trào, chuẩn bị cho những cơn bão táp của lịch sử Một đằng là triết lí của ngời ẩn sĩ, từng nếm trải bao phen vinh nhục, cảm thấy đời
ng-ời nh mây nổi, nh chiêm bao, muốn dấn mình trong chốn lâm tuyền, nhập thân vào cái vĩnh cửu, mênh mông của tạo vât Một đằng là triết lí của ngời chiến sĩ, triết lí cải tạo thế giới để con ngời có thể làm chủ thiên nhiên, làm chủ lịch sử, làm chủ vận mệnh của mình Đó cũng là quan niệm thẩm mĩ của Bác Hồ trong bài Tức cảnh Chẳng phải trên bức tranh Pác Bó kia, trung tâm chú ý của nhà hoạ sĩ vẫn là con ngời đang hành
động đó sao? Một nét đậm duy nhất (chông chênh ) và gân guốc ( dịch sử Đảng) đã đa hình ảnh nhà hiền triết vô sản lên bình diện chính giữa nơi bức tranh, để đẩy lùi lại phía sau cái nền phông chấm phá của suối hang sơn thuỷ Với nét vẽ quyết định đó, Bác Hồ không ẩn đi mà hiện lên, không chỉ lạc đạo mà hành đạo, không phải là ẩn sĩ
mà là chiến sĩ Tinh thần chiến sĩ đó, chất thép cách mạng đó đã xác định tính hiện đại sâu sắc của bài thơ đúng nh quan niệm của Ngời:
Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
(Nhật kí trong tù)
Tinh thần thép đó không chỉ thể hiện ở câu này, câu khác, hoặc một số hình ảnh nổi trên bề mặt Nó thấm sâu vào toàn bộ kết cấu âm thanh, nhịp điệu của bài tứ tuyệt trên cái nền rộng rãi, bề thế của một vùng căn cứ địa cách mạng tạo nên bởi một loạt
âm vận vang xa, toả rộng theo chiều ngang: Sáng, ra, hang, măng,…bài thơ đã cắm xuống, đã đóng xuống theo chiều dọc, bằng sức mạnh dồn lại rất khoẻ của ba thanh trắc liên tiếp (dịch sử Đảng), một khối đá hiên ngang, sừng sững trên đó, Bác Hồ vĩ đại ngồi dịch Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô và đồng thời cũng viết lên những trang sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam đang chuyển sang một bớc ngoặt quyết định Cái dáng ung dung, tự hào, tự chủ của vị lãnh tụ khiến ta có thể hiểu nh vậy Và đó là sự thật
*
* *
Nh thế là trên những bức tranh thiên nhiên của Hồ Chủ Tịch, Con ngời bao giờ cũng là trung tâm, cũng là chủ thể Đó là tinh thần làm chủ thiên nhiên, cải tạo thế giới của ngời cộng sản Tinh thần ấy càng thể hiện nổi bật trong bài Pác Bó hùng vĩ:
Non xa xa, nớc xa xa, Chẳng phải thênh thang mới gọi là Đây suối Lê - nin, kia núi Mác, Hai tay xây dựng một sơn hà.
Một bài tứ tuyệt rất chính trị mà cũng rất thơ ở đây chủ nghĩa Mác – Lê nin đã thể hiện lên thành sơn thuỷ hữu tình
(Nhà văn, t tởng và phong cách
NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1979, tr.28 – 33)
Trang 6Trêng PTDL §«ng §«
Tæ bé m«n Ng÷ v¨n
Trang 7T liệu tham khảo môn ngữ văn
THCS
(Tài liệu lu hành nội bộ dành cho giáo viên và học sinh khối THCS tham khảo)
Hà Nội năm 2007
Hiểu thêm về giá trị bài
“bình ngô đại cáo” của nguyễn trãi trong chơng trình văn học trung học phổ thông
1 Bình Ngô đại cáo là một bài văn tiêu biểu nhất của Nguyễn Trãi đợc sáng tác
trong thời kì kháng chiến chống Minh thắng lợi vào thế kỉ XV Bình Ngô đại cáo đợc
Trang 8đa vào giảng dạy ở ba cấp học: Chơng trình văn học THCS, PTTH và Cao đẳng s phạm Bài viết này nhằm mục đích nêu lên một số vấn đề có tính chất gợi ý, tham khảo trong việc phân tích , đánh giá những giá trị t tởng – thẩm mĩ của Bình Ngô đại cáo nhằm góp phần vào việc dạy học và học tốt hơn thơ văn Nguyễn Trãi trong chơng trình văn học PTTH
2 Vấn đề văn bản
Nói đến văn bản của Bình Ngô đại cáo là nói đến nguyên tác Từ lâu, do trình độ,
do đối tợng chiếm lĩnh, văn thơ chữ Hán nói chung và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi nói riêng, chúng ta đều dạy và học qua bản dịch
Tuy nhiên, nh chúng ta đẫ biết, dù dịch giả có cố gắng bao nhiêu và tài năng thế nào đi chăng nữa thì bản dịch cũng chỉ là phiên bản (bản có tính chất trung gian) Lâu nay, một số dịch giả nổi tiếng nh cụ Bùi Kỷ, Bùi Văn Nguyên đã dịch bài Bình Ngô
đại cáo (là một thể văn chính luận chữ Hán) sang tiếng Việt Đây là một thành công
rất lớn của hai dịch giả nhng xét cho cùng cũng chỉ dến mức tiếp cận với nguyên tác Dịch văn chữ Hán đây là công việc chuyển đổi ngôn ngữ Nhất là các bài văn chữ Hán
có tầm vĩ mô về nội dung và nghệ thuật
Vấn đề chúng tôi muốn nghiên cứu trao đổi ở đây là bản dịch Bình Ngô đại cáo của Bùi Văn Nguyên (T liệu tham khảo văn học Việt Nam, tập II từ thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XVIII – NXB GD, HN, 1979) Xin đợc làm việc đối chiếu với văn bản
ở phần thứ nhất, trong văn bản nguyên tác có từ Đế (các Đế nhất phơng) lẽ ra
trong bản dịch thì dịch giả nên để nguyên “Đế” thì giá trị của tác phẩm càng lớn
Nh-ng dịch giả lại thay Đế bằNh-ng cách dịch là: Làm chủ HùNh-ng cứ
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đờng, Tống , Nguyên mỗi bên hùng cứ một phơng.
Rõ ràng, nếu so sánh Hùng cứ và Làm đế là rất khác nhau cả về tính hợp pháp và quyền lực
Trong văn học đời Lý thế kỉ XI, Lý Thờng Kiệt đã có bài thơ nổi tiếng Nam quốc
sơn hà và tác giả đã thể hiện lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc qua việc sử dụng từ
đế :
Nam quốc sơn hà Nam đế c Tiệt nhiên định phận tại thiên th
Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại h.
(Nam quốc sơn hà, Thơ chữ Hán, Lý Thờng Kiệt)
Trang 9Lý Thờng Kiệt tự xng Nam đế nhằm mục đích đối lập với Bắc đế (vua Trung Hoa) phủ nhận t tởng Trời không có hai mặt trời, đất không có hai Hoàng đế Điều đó khẳng định ý thức dân tộc đã thể hiện rõ trong t tởng của Lý Thờng Kiệt Tuy nhiên, trong tầm nhận thức của Lý Thờng Kiệt khi khẳng định về nền độc lập, chủ quyền dân tộc lại bị hạn chế bởi một quan niệm là dựa vào thiên nhiên (sách trời)
Đối với Nguyễn Trãi, sau một thời kì có bốn thế kỉ giành độc lập dân tộc, sau khi
đã có những triều đại Nam đế (từ Triệu, Đinh, Lý , Trần) tồn tại ngang hàng và luôn luôn chiến thắng với các triều đại Bắc đế (Hán , Đờng, Tống , Nguyên ) thì Nguyễn Trãi có đủ điều kiện để chiêm nghiệm, có đủ tiền đề lịch sử để so sánh, chứng minh về
vị thế của một quốc gia Đại Việt và đa ra một chữ Đế trong niềm tin và niềm tự hào của những ngời chiến thắng khi nắm chắc vận mệnh của dân tộc trong tay Đó cũng là tầm cao t tởng của một bậc đại nhân, đại trí và đại dũng Cho nên, bản dịch trong phần một, bỏ chữ Đế và thay bằng một từ khác là hiểu sai ý đồ của tác giả và làm giảm hẳn giả trị t tởng của Bình Ngô đại cáo
Lại nữa, ở phần thứ hai, tuy trong bài Bình Ngô đại cáo có cụm từ nguyên văn là
Manh lệ chi đồ tứ tập Nghĩa của từ Manh lệ là: Ngời dân cày và tôi tớ, dịch giả lại
dịch là :
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc, ngọn cờ phấp phới, Tớng sĩ một lòng phụ tử, hoà nớc sông chén rợu ngọt ngào…
Nh vậy, sử dụng từ Nhân dân trong bản dịch, một mặt nếu ta hiểu từ đó theo hiện nay thì nó mang tính hiện đại Mặt khác, hiểu từ Nhân dân thời bấy giờ thì từ đó chỉ
đối tợng phạm vi quá rộng, cha bao quát đợc bản chất tốt đẹp của đội quân Lam Sơn (dân lệ…)
Phần thứ ba của bài Bình Ngô đại cáo, ở phần nguyên tác có đoạn :
Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn
Dĩ chí nhân nhi địch cờng bạo
Đợc dịch là:
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cờng bạo
Bản dịch trên cha lột tả đợc thật đầy đủ nguyên tác Dĩ chí nhân nhi địch cờng
bạo dịch là thay cờng bạo ngời đọc dễ hiểu là đem chí nhân để thay thế cờng bạo ở
đây không nên hiểu là thay thế mà có nghĩa là làm thay đổi đi Cho nên, khi dịch Dĩ
chí nhân nhi địch cờng bạo cần nên hiểu là: Lấy sự chí nhân (của ta) mà làm thay đổi
Trang 10đi cờng bạo (của địch) tức là làm kẻ địch không còn cờng bạo nữa, đây là sự thay đổi
có ý nghĩa về chất Có hiểu nh vậy mới thấy hết đợc chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của Nguyên Trãi, của nghĩa quân Lam Sơn vì hạnh phúc của con ngời
3 Về thể loại và nguồn cảm hứng sáng tác.
Thể loại của Bình Ngô đại cáo thuộc loại văn chính luận Thể này xuất hiện rất sớm ở thời kì Tam đại (ở Trung Quốc) Trong sách Kinh th, có nhiều bài cáo, thí dụ bài
Thanh cáo, là bài cáo của vua Thang tuyên bố ở đất Bằng sau khi đánh thắng vua Kiệt
nhà Hạ
Nhìn chung kết cấu của một bài cáo thờng theo kết cấu sau đây:
Phần mở đầu nêu lên luận đề chính nghĩa và phần chứng minh luận đề đó
Phần thứ hai là phần xác định tội ác của giặc (trong hoặc ngoài nớc)
Phần thứ ba kể lại quá trình chinh phạt thắng lợi
Phần cuối là lời tuyên bố kết thúc
Bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết cũng dựa vào trình tự nói trên, nhng
đây là một bài cáo đặc biệt – một bài “Đại cáo có tầm cỡ, có ý nghĩa lịch sử và văn học trọng đại” nên khi phân tích tác phẩm trên cần chú ý đến đặc điểm này.
Bình Ngô đại cáo đợc Nguyễn Trãi sáng tác bắt nguồn từ hai cảm hứng : Cảm
hứng chính trị và cảm hứng sáng tác
Nghĩa quân Lam Sơn sau một thời kì cầm cự và tạm hoà hoãn, từ năm 1424, Lê Lợi đã chuyển sang thời kì phát triển chuẩn bị tổng phản công Đến năm 1427, sau khi
15 vạn quân tiếp viện của giặc tan tành, buộc Vơng Thông phải giảng hoà, nớc ta hoàn toàn giải phóng Đầu năm 1428 vào ngày 17 tháng 12 năm Đinh Mùi, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi thảo bài cáo này để tuyên bố cho dân biết là cuộc kháng chiến chống quân Minh đã thành công rực rỡ và đất nớc trở lại thanh bình Nguồn cảm hứng chính trị đa đến cho dân tộc một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai (sau bài thơ thần của Lý Thờng Kiệt) đầy ý nghĩa
Cảm hứng sáng tác đem đến cho lịch sử và dân tộc một kiệt tác văn chơng và chính sự hoà quyện hai nguồn cảm hứng của Nguyễn Trãi đã để lại cho dân tộc và văn học một áng “Thiên cổ hùng văn” – Bình Ngô đại cáo với một tác phẩm có tầm vĩ mô
về giá trị t tởng, thẩm mĩ của tác phẩm nghệ thuật về truyền thống lịch sử dân tộc, về một nền văn hoá Nguyễn Trãi là ngời khảo nghiệm và minh chứng một cách đầy đủ nhất về một loại văn chính luận mang đậm cảm hứng anh hùng ca (có quy mô về các phơng diện : Hình tợng, ngôn ngữ, màu sắc, âm thanh, nhịp điệu, không gian, thời gian…)
Nh vậy, ở đây, cảm hứng chính trị và cảm hứng sáng tác có sự kết hợp, hoà điệu với nhau làm nên một tác phẩm nghệ thuật bất tử Cảm hứng chính trị là bệ phóng