BÁO CÁO THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN BÁO CÁO THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
Trang 1Chủ biên: TS Hà Lương Tín - GVC
Đại tá, Trưởng khoa Khoa nghiệp vụ Kỹ thuật hình sự
Tham gia biên soạn:
LỜI NÓI ĐẦU
Trong Khoa học hình sự, Kỹ thuật hình sự là một bộ phận cấu thành và có vị trí quan trọng trong quá trình phát hiện, điều tra và phòng ngừa tội phạm Kỹ thuật hình
sự là bộ phận ra đời sớm của Khoa học hình sự, nó bao gồm hệ thống tri thức được xây dựng trên cơ sở tri thức của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và các ngành khoa học khác Vì vậy, Kỹ thuật hình sự là một bộ phận luôn được trẻ hóa, bởi nó phải cập nhật và phát triển cùng với sự phát triển của các ngành khác, phù hợp với cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn nhất định.
HỌC VIỆN CẢNH SÁT NHÂN DÂN KHOA NGHIỆP VỤ KỸ THUẬT HÌNH SỰ
TẬP BÀI GIẢNG
KỸ THUẬT HÌNH SỰ
DÙNG CHO CÁC LỚP LIÊN NGÀNH
Hµ Néi - 2014
Trang 2Mục tiêu cơ bản của các môn học trong lĩnh vực Kỹ thuật hình sự là cung cấp những kiến thức cơ bản, các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật của Kỹ thuật hình sự cho sinh viên các lớp, các hệ học không chuyên ngành kỹ thuật hình sự trong hoạt động phát hiện, điều tra và phòng ngừa tội phạm theo chức năng của từng lực lượng nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân Sau khi học xong các môn học trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, giúp cho sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản của từng lĩnh vực của kỹ thuật hình sự Đồng thời, biết vận dụng lý thuyết đã học vào hoạt động thực tiễn; biết ứng dụng, sử dụng các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật vào quá trình phát hiện, sao chép, thu thập chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục và những quy định của pháp luật phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy của giáo viên và sinh viên, đồng thời phù hợp với tiến trình cải cách công tác đào tạo trong giai đoạn hiện nay, tập thể giáo viên Khoa nghiệp vụ Kỹ thuật hình sự đã nghiên cứu kế thừa, chọn lọc các loại tài liệu của các nhà khoa học trước đó về lĩnh vực Kỹ thuật hình sự, đồng thời cập nhật các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan để biên soạn tập bài giảng
Kỹ thuật hình sự làm tài liệu giảng dạy, cũng như giúp cho sinh viên các lớp học, hệ học không chuyên ngành kỹ thuật là tài liệu nghiên cứu, học tập.
Tập bài giảng được biên soạn với mười bài, trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản về các lĩnh vực của kỹ thuật hình sự cho các hệ đào thuộc chuyên ngành điều tra tố tụng và điều tra trinh sát.
Khoa nghiệp vụ Kỹ thuật hình sự biên soạn tập bài giảng kỹ thuật hình sự nhằm đáp ứng những yêu cầu đào tạo các hệ học liên ngành trong tình hình mới Mặc
dù, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu kế thừa các tài liệu đã có để hoàn thiện, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thày cô giáo và các đồng nghiệp trong và ngoài Học viện để tập bài giảng tái bản sẽ hoàn thiện hơn.
Khoa nghiệp vụ Kỹ thuật hình sự trân trọng cảm ơn.
Trang 3Kỹ thuật hình sự là bộ phận cấu thành không thể thiếu và giữ một vai trò hết sứcquan trọng trong khoa học hình sự, vì:
Một là: Kỹ thuật hỡnh sự là một trong bốn bộ phận cấu thành của Khoa học hỡnhsự: Lý luận chung và phương phỏp luận của Khoa học hỡnh sự; Kỹ thuật hỡnh sự;Chiến thuật hỡnh sự và phương phỏp hỡnh sự
Hai là: Kỹ thuật hỡnh sự nghiờn cứu và sử dụng cỏc quy luật tự nhiờn, xó hội, kỹthuật Đặc biệt là cỏc quy luật về sự hoạt động, vận động của người và cỏc đối tượngvật chất, đồng thời nghiờn cứu những phản ỏnh vật chất được xuất hiện, tồn tại do sựhoạt động, vận động đú tạo ra
Ba là: Yêu cầu về tính khách quan, khoa học trong quá trình điều tra và xác lậpchứng cứ, đòi hỏi sự nhận thức của cán bộ điều tra phải vợt ra khỏi phạm vi của nhữngthụ cảm mang tính chủ quan và phải dựa trên những cơ sở khoa học đã đợc thừa nhận
Sự thật khách quan, chỉ có thể đợc làm rõ trên cơ sở khoa học của những quy luậtkhách quan và đợc chứng minh bằng những các phơng pháp khoa học và các phơngtiện kỹ thuật Chính vì vậy, khoa học hình sự đã và cần phải áp dụng các thành tựukhoa học kỹ thuật vào các quá trình phát hiện, điều tra, phòng ngừa tội phạm trongthực tiễn
Bốn là: Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học kỹ thuật và sự bùng nổthông tin đã dẫn tới một thực tế là: những quy luật của tự nhiên ngày càng đợc khámphá; những thành tựu của khoa học kỹ thuật ngày càng đợc ứng dụng nhanh chónghơn, rộng rãi hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thực tế cho thấy: người tộiphạm cũng đó và đang lợi dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các quỏ trỡnh thựchiện tội phạm, vì vậy đòi hỏi các cơ quan phòng, chống tội phạm phải nhanh chóngứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, để kịp thời phát hiện âm mu, phơngthức, thủ đoạn phạm tội, từ đó điều tra khám phá và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả
Năm là: Xuất phỏt từ thực tiễn của cuộc đấu tranh phũng, chống tội phạm Kỹthuật hỡnh sự nghiờn cứu, chế tạo những phương tiện kỹ thuật chuyờn dụng cho cuộcđấu tranh phũng, chống tội phạm
2 Đối tợng nghiên cứu
Việc xác định đối tợng của kỹ thuật hình sự, đã chứng tỏ mối quan hệ chặt chẽcủa kỹ thuật hình sự, với tư cỏch là một bộ phận của khoa học hình sự nói riêng và vớicác ngành khoa học kỹ thuật khác nói chung Kỹ thuật hình sự chỉ có thể phát triển,trên cơ sở tiếp thu nhanh chóng các thành tựu tiên tiến của khoa học tự nhiên và kỹthuật, ứng dụng nó một cách kịp thời vào các hoạt động của mình trong đấu tranhphũng, chống tội phạm
Là một bộ phận quan trọng của Khoa học hình sự, Kỹ thuật hình sự có đối tợngnghiên cứu sau đây:
- Một là: Nghiờn cứu quy luật hỡnh thành cỏc phản ảnh vật chất được hỡnh thành
và tồn tại trong cỏc vụ việc mang tớnh hỡnh sự
Đối tợng nghiờn cứu của kỹ thuật hình sự, trớc hết phải kể đến các quy luật của
tự nhiên mà các ngành khoa học cơ bản nh: toán học, vật lý học, hóa học, sinh học nghiên cứu, phát hiện Chính nhờ sự vận dụng những quy luật của tự nhiên, kỹ thuậthình sự đã xây dựng những phơng pháp khoa học mang tính đặc thù của khoa học hình
sự, như: phơng pháp phát hiện, thu lợm và đánh giá dấu vết hỡnh sự Trong quá trìnhphát triển, kỹ thuật hình sự luôn theo sát, nghiên cứu, áp dụng các thành tựu của khoahọc kỹ thuật vào thực tiễn đấu tranh phũng, chống tội phạm Nhờ đó, mà hình thànhcác lĩnh vực của kỹ thuật hình sự với những nguyên lý, phơng pháp, quy trình kỹ thuậtriêng, để giải quyết các nhiệm vụ đặc thù của mình
Quy luật hỡnh thành của cỏc phản ảnh vật chất được kỹ thuật hỡnh sự nghiờncứu với cỏc nội dung cơ bản: Cơ chế hỡnh thành: cỏch thức làm xuất hiện cỏc phản ảnhvật chất; Cỏc dạng tồn tại phổ biến của phản ảnh vật chất; Đặc điểm nhận biết; Khảnăng khai thỏc thụng tin chứa đựng trong cỏc phản ảnh vật chất
Trang 4Ngày nay, nhờ sự ứng dụng các thành tựu tiên tiến của nhiều ngành khoa học kỹthuật, trong kỹ thuật hình sự đã hình thành những bộ phận có tính đặc thù riêng nh: dấuvết cơ học, dấu vết đờng vân, sinh vật học hình sự, hóa hình sự, giám định âm thanh,giám định AND…
- Hai là: Hệ thống tri thức của cỏc ngành khoa học cú liờn quan đến hoạt độngcủa kỹ thuật hỡnh sự Để phục vụ cho cuộc đấu tranh phũng, chống tội phạm cú hiệuquả trong thời kỳ phỏt triển khụng ngừng của khoa học và cụng nghệ, Kỹ thuật hỡnh sựtất yếu phải nghiờn cứu, ứng dụng những thành tựu của nhiều ngành khoa học cú liờnquan như: Vật lý, Húa học, Sinh học, Y học, Cụng nghệ thụng tin… một cỏch cú chọnlọc phự hợp với mục đớch, yờu cầu, nội dung của hoạt động kỹ thuật hỡnh sự
- Ba l : à: Nghiờn cứu hệ thống phương phỏp, kỹ thuật, chiến thuật và cỏc chỉ dẫnkhoa học trong việc thực hiện cỏc hoạt động của kỹ thuật hỡnh sự như: Trong phỏthiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản cỏc phản ảnh vật chất cú ý nghĩa hỡnh sự; Trongviệc đỏnh giỏ, khai thỏc, sử dụng cỏc thụng tin từ cỏc phản ảnh vật chất; Trong lắp đặt,
sử dụng cỏc trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phũng chống tội phạm; Trong giỏmđịnh kỹ thuật hỡnh sự
- Bốn là: Hệ thống các phơng tiện kỹ thuật Nhúm đối tượng này bao gồm, tấtcả các dụng cụ phơng tiện, thiết bị, máy móc do con ngời nghiên cứu, chế tạo dựatrên những quy luật tự nhiên, những nguyên lý, những quy trình khoa học công nghệnhằm mục đích phục vụ cho các hoạt động có mục đích của con ngời Trong thực tế,các phơng tiện trong kỹ thuật hình sự, bao gồm: phơng tiện kỹ thuật của cỏc ngànhkhoa học đó sản xuất chế tạo được chọn lọc, ứng dụng trong hoạt động của kỹ thuậthỡnh sự và những phơng tiện có tính đặc thù của kỹ thuật hình sự, do kỹ thuật hình sựnghiên cứu chế tạo riêng phục vụ cho các hoạt động riêng của kỹ thuật hình sự
Xuất phỏt từ những vấn đề trờn cho thấy, Phương tiện kỹ thuật là đối tượngnghiờn cứu của kỹ thuật hỡnh sự cú tớnh đa dạng, nú bao gồm cỏc phương tiện kỹ thuậtchuyờn dụng và phương tiện kỹ thuật đa dụng Tựy vào yờu cầu của cuộc đấu tranhphũng, chống tội phạm, kỹ thuật hỡnh sự triển khai nghiờn cứu, sản xuất cỏc phươngtiện kỹ thuật cho phự hợp
3 Nhiệm vụ của kỹ thuật hình sự
Với đặc tính là: lĩnh vực mang tớnh khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, Kỹthuật hình sự thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Xây dựng phát triển, hoàn thiện những phơng pháp khoa học, những phơngtiện kỹ thuật để phát hiện, thu lợm và nghiên cứu, giám định dấu vết, vật chứng
Cựng với sự phát triển của các ngành khoa học, Kỹ thuật hỡnh sự đó kịp thờinghiên cứu, vận dụng, áp dụng những tri thức mới, những thành tựu tiên tiến của khoahọc kỹ thuật vào thực tiễn đấu tranh phũng, chống tội phạm, đõy là nhiệm vụ hàng đầucủa kỹ thuật hình sự Thực tế, trong đấu tranh phũng, chống tội phạm đó và sẽ nảysinh những nhu cầu về sử dụng phơng pháp khoa học, phơng tiện kỹ thuật Chỉ có xuấtphát từ thực tế và trên cơ sở các thành tựu khoa học kỹ thuật của các ngành khoa học
cú liên quan, kỹ thuật hình sự mới có khả năng xây dựng và hoàn thiện những phơngpháp khoa học và phơng tiện kỹ thuật mang tớnh chuyờn dụng, đáp ứng được sự đòi hỏicủa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tiễn Nú vừa là nhiệm vụ thựchiện chức năng thực tiễn của khoa học hình sự, vừa là con đờng phát triển tất yếu của
kỹ thuật hình sự nói riêng và Khoa học hình sự nói chung
- Xây dựng và hoàn thiện các phơng pháp, phơng tiện để phòng ngừa tộiphạm Kỹ thuật hình sự không chỉ phục vụ cho các hoạt động phát hiện, điều tra,truy tố, xét xử tội phạm; mà còn có nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý xãhội và phòng ngừa tội phạm Để thực hiện nhiệm vụ này, kỹ thuật hình sự phảikhông ngừng hoàn thiện các phơng pháp, phơng tiện để quản lý con ngời, ví dụ như:
Trang 5chụp ảnh, lăn tay trong việc cấp phát chứng minh thư nhõn dõn, căn cớc canphạm…; các phơng pháp, phơng tiện quản lý tội phạm, ví dụ như: tàng th tội phạm,tàng th quản lý phơng tiện đặc biệt ; các phơng tiện kỹ thuật chủ động phòng ngừatội phạm, ví dụ như: cỏc thiết bị kỹ thuật báo động, các thiết bị an toàn, theo dõi từ
xa, thiết bị cảnh bỏo và những hoạt động công khỏc, nh tuyên truyền giáo dục quaphơng tiện thông tin đại chúng để phòng ngừa tội phạm
- Nghiên cứu khoa học và phổ biến rộng rãi tri thức kỹ thuật hình sự phục vụthực tiễn Bám sát thực tiễn, tổng kết lý luận từ thực tiễn là con đờng phát triển tất yếucủa kỹ thuật hình sự, đây là vấn đề hết sức quan trọng, vì những công tác mà kỹ thuậthình sự tiến hành hết sức đa dạng và phức tạp, luôn gắn với những diễn biến phức tạpcủa tình trạng tội phạm Vì vậy, chỉ có qua thực tế, kỹ thuật hình sự mới kiểm nghiệm
đợc hiệu quả cỏc phương phỏp khoa học, cỏc phương tiện kỹ thuật đó được ứng dụng,
sử dụng Từ đó, đúc rút, xây dựng hoàn thiện lý luận, phơng pháp, phơng tiện kỹ thuậtcho phù hợp với thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
Bên cạnh, việc nghiên cứu khoa học là việc phổ biến tri thức kỹ thuật hình sựcho các lực lợng thực hiện nhiệm vụ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Mở rộngphổ biến kiến thức kỹ thuật hình sự đến với các lực lợng công an là cần thiết, vì tựytừng nhiệm vụ của cỏc lực lượng khác nhau trong bảo đảm ANCT và TTATXH, cáclực lợng đú trong ngành công an đều có liên quan đến công tác kỹ thuật hình sự
- Xây dựng và hoàn thiện những cơ sở lý luận về phơng pháp tổ chức, tiến hànhcông tác kỹ thuật hình sự trong thực tiễn Những tri thức kỹ thuật hình sự, cần đợc ápdụng nh thế nào, và làm thế nào để phát huy hiệu quả cao nhất, đòi hỏi phải có phơngpháp tổ chức cho phù hợp với thực tế xã hội, với tổ chức các lực lợng có liên quantrong cuộc đấu tranh phũng, chống tội phạm Vấn đề này, đặt ra nhiệm vụ cho kỹ thuậthình sự là phải nghiên cứu, xây dựng và phát triển những vấn đề có tính lý luận, làm cơ
sở cho việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác giữa các lực lợng có liên quan, nhằmphát huy cao nhất hiệu quả của kỹ thuật hình sự phục vụ cuộc đấu tranh phòng, chốngtội phạm
4 Vai trò của kỹ thuật hình sự
Vai trò quan trọng của kỹ thuật hình sự được thể hiện trên các phơng diện sau:
- Đối với quá trình phát hiện, điều tra và khám phá tội phạm: Công tác kỹ thuậthình sự góp phần nghiên cứu, thu thập các dấu vết, vật chứng, tài liệu, chứng cứ để làm
rõ các tình tiết, diễn biến của sự việc đã xảy ra; xác định sự việc xảy ra có hành viphạm tội hay không; xác định nguyên nhân, điều kiện, phơng thức thủ đoạn; công cụ,phơng tiện gây án; hậu quả, tác hại và xác định thủ phạm của vụ án, góp phần điều trakhám phá một cách toàn diện, có cơ sở khoa học đối với vụ, việc hình sự đã xảy ra
- Đối với các hoạt động xét xử: Kỹ thuật hình sự góp phần thu thập củng cốchứng cứ (phát hiện, thu thập, đánh giá, giám định ) để chứng minh một cỏch khoahọc về vụ tội phạm, kẻ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhằm xét xử đúngngời, đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội
- Đối với hoạt động phòng ngừa tội phạm: Kỹ thuật hình sự góp phần phát hiệnnhững phơng thức, thủ đoạn phạm tội mới; các nguyên nhân, điều kiện xảy ra các vụ,việc gây hậu quả nghiêm trọng; cỏc hành vi vi phạm phỏp luật; những sơ hở thiếu sóttrong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm để chủ động đề ra các biện phỏp
điều tra cho phù hợp, các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn tội phạm và các vụ việchình sự khác có hiệu quả hơn
5 Cỏc lĩnh vực của kỹ thuật hỡnh sự
Sự phát triển của kỹ thuật hình sự phụ thuộc vào sự phát triển của các ngànhkhoa học kỹ thuật và sự ứng dụng các thành tụ của các khoa học đó vào thực tiễn điềutra và phòng ngừa tội phạm, chính vì vậy "các bộ phận của kỹ thuật hình sự" là vấn đềmang tính lịch sử và phát triển Nhờ sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học kỹ
Trang 6thuật mà kỹ thuật hình sự ngày càng có tính chất chuyên sâu dẫn tới sự hình thànhnhiều lĩnh vực riêng biệt trong phạm vi kỹ thuật hình sự Sự phát triển mạnh mẽ nhấtcủa kỹ thuật hình sự đợc đánh dấu bằng sự ứng dụng hàng loạt các thành tựu khoa học
kỹ thuật trong những năm giữa thế kỷ 19 và từ đó đến nay kỹ thuật hỡnh sự đó hìnhthành nhiều bộ phận khác nhau, như:
a Nhiếp ảnh hình sự
Năm 1838 Louis Đaguerre (1787-1851) đã tìm ra phơng pháp ghi lại hỡnh ảnhcủa vật chụp bằng hóa chất Sự kiện đó mở ra khả năng phát triển và ứng dụng rấtnhanh thành tựu của ngành nhiếp ảnh vào đời sống xó hội Trong đú phải kể đến việcứng dụng đó v o à: quỏ trỡnh phỏt hiện, điều tra và phũng ngừa tội phạm, chớnh điều đú
đã đặt nền tảng cho bộ môn nhiếp ảnh hình sự ra đời và phát triển Ngày nay nhiếp ảnhhình sự ra đời và phát triển và là hoạt động không thể thiếu đợc trong công tác khámnghiệm hiện trờng, nghiên cứu giám định dấu vết và trong nhiều lĩnh vực khác của kỹthuật hình sự Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là vật lý,quang học, hóa học, cơ học, điện tử đã giúp cho công nghệ chụp ảnh phát triển tớimức độ hiện đại nh chụp ảnh thế giới vi mô, chụp ảnh bằng các sóng bức xạ mà mắtngời không thụ cảm đợc chính nhờ đó mà khả năng ứng dụng của nhiếp ảnh trong kỹthuật hình sự càng đợc mở rộng Nhiếp ảnh hình sự có những nhiệm vụ cơ bản là: Chụp
ảnh trong điều tra như: Chụp ảnh hiện trờng, dấu vết… Chụp ảnh trong công tác trinhsát… Chụp ảnh trong công tác giám định…Chụp ảnh Chụp ảnh trong công tác giám định… Chụp ảnh trong công tác giám định…Chụp ảnh Chụp ảnh trong cụng tỏc quản lý con ngườinhư: chụp ảnh chân dung (kể cả chụp ảnh căn cớc can phạm và ảnh phục vụ cấp phátgiấy tờ) Chụp ảnh phục vụ công tác tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học
b Hoá hình sự
Vào những năm đầu thế kỷ 19 các nhà điều tra hình sự ở các n ớc Tây Âu đã
sử dụng các phơng pháp phân tích hóa học, đã phân tích xác định độc chất ở tử thinhằm tìm ra nguyên nhân chết, xác định độc chất, cũng nh phơng pháp đầu độc Sựphát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là vật lý, hóa học đã tạo điều kiện mởrộng khả năng ứng dụng những tri thức hóa học trong điều tra tội phạm và dẫn tới
sự ra đời một lĩnh vực hết sức quan trọng của kỹ thuật hình sự đó là hóa hình sự.Nhiệm vụ cơ bản của hóa hình sự là:
- ứng dụng các thành tựu khoa học để xây dựng và hoàn thiện các phơng pháp,phơng tiện để phát hiện, ghi nhận, thu lợm, bảo quản và nghiên cứu giám định dấu vếthóa hình sự
- ứng dụng các phơng pháp phân tích hóa để giám định dấu vết, vật chứngtrong giám định kỹ thuật hình sự, cũng nh các lĩnh vực giám định khác nh giám địnhchữ viết, giám định tài liệu Sự phát triển cao của ngành hóa học hiện nay đã giúp cho
kỹ thuật hình sự có phơng pháp, phơng tiện hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu giám
định kỹ thuật hình sự, ví dụ: các thiết bị và phơng pháp phân tích quan phổ, sắc ký nhờ có các thiết bị đó mà hóa hình sự có thể phân tích xác định định tính, định lợngcủa các dấu vết ở dạng vi lợng Có thể nó cùng với các thiết bị quang học, các phơngpháp và phơng tiện phân tích quang phổ đã giúp kỹ thuật hình sự có khả năng nghiêncứu giám định các phản ánh vật chất ở các dạng vi mô
c Sinh vật học hình sự
Đến đầu thế kỷ 20, khi ngành sinh vật học đã phát triển đạt tới mức độ pháttriển cao, những thành tựu của nó đợc ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì sinhvật học hình sự mới có đợc vị trí quan trọng trong kỹ thuật hình sự Thực ra, từ thờiTrung cổ những thành tựu của sinh vật học đã đợc ứng dụng trong quân sự và trongkhoa học hình sự, ở thời kỳ này con ngời đã biết tận dụng khả năng khứu giác của chó
để huấn luyện bảo vệ các đoàn xe chở hàng hóa, trinh sát, cứu thơng Cho tới đầu thế
kỷ 20 khi nhà Bác học ngời Đức Paun Elengut phân biệt đợc máu ngời và máu độngvật (1901) và Lan Ianski (Tiệp Khắc) 1907 chia máu ngời thành bốn nhóm, thì máu ng-
ời đợc sử dụng nh là một chứng cứ quan trọng và điều đó đã dẫn tới sự ra đời và pháttriển của một lĩnh vực mới của kỹ thuật hình sự
Nhiệm vụ chủ yếu của sinh vật học hình sự là nghiên cứu ứng dụng nhữngthành tự sinh học vào khoa học hình sự Trên cơ sở các thành tựu đó mà xây dựng
và hoàn thiện các phơng pháp, phơng tiện phát hiện, thu lợm, bảo quản và nghiêncứu giám định các dấu vết sinh vật phục vụ công tác phát hiện, điều tra và phòng
Trang 7ngừa tội phạm Mọi hoạt động của con ngời từ lao động, học tập vui chơi giải trí
đến tất cả các sinh hoạt khác đều gắn liền với thế giới sinh vật, mặt khác bản thâncon ngời là một thực thể sinh vật, bởi vậy các dấu vết rất đa dạng và xuất hiện th ờngxuyên ở nhiều sự việc mang tính hình sự khác nhau Điều đó càng làm nổi bật vaitrò quan trọng của sinh vật học hình sự trong công tác phát hiện, thu l ợm, nghiêncứu giám định dấu vết sinh vật phục vụ cho quá trình điều ta khám phá các vụ án vàcác vụ việc mang tính hình sự đã xảy ra
d Đạn đạo hình sự
Là một bộ phận của kỹ thuật hình sự, đạn đạo hình sự chuyên nghiên cứu vềsúng đạn nhằm mục đích phục vụ cho công tác điều tra Khác với khoa học đạn đạoquân sự, đạn đạo hình sự không nghiên cứu sâu về tính năng, tác dụng, sức công phá của súng đạn, mà chủ yếu nghiên cứu các phản ánh vật chất hình thành trong quá trìnhbắn nh các dấu vết trên súng trên đầu đạn, vỏ đạn, trên vật cản Vì vậy, nhiệm vụ chủyếu của đạn đạo hình sự là nghiên cứu hoàn thiện các phơng pháp, phơng tiện để pháthiện, thu lợm, bảo quản và giám định dấu vết súng đạn nhằm truy nguyên khẩu súng
đã gây án hoặc đã bắn ở hiện trờng
e Dấu vết cơ học
Là một lĩnh vực của kỹ thuật hình sự nhằm tập hợp những lý luận về quy luậthình thành, tồn tại của các loại dấu vết cơ học nh: dấu vết công cụ, dấu vết chân giầydép, dấu vết phơng tiện giao thông Trên cơ sở đó nghiên cứu và hoàn thiện các phơngpháp phát hiện, thu lợm và nghiên cứu giám định loại dấu vết này Dấu vết cơ học lànhững phản ánh vật chất đợc hình thành do sự tác động của vật này (vật gây vết) lênvật khác (vật mang vết) Quá trình tác động này dẫn tới sự hình thành các dấu vết phản
ánh đặc điểm bề mặt tác động của vật gây vết trên vật mang vết và ngợc lại Các đối ợng gây ra các dấu vết cơ học rất đa dạng, nên các loại dấu vết cơ học cũng rất phứctạp và xuất hiện rất thờng xuyên trong các vụ việc mang tính hình sự Vì vậy khoa dấuvết cơ học giữ một vị trí quan trọng trong kỹ thuật hình sự
t-f Dấu vết đờng vân
Là lĩnh vực nghiên cứu các quy luật hình thành và tồn tại của đờng vân tay,vân chân của con ngời, cũng nh hệ thống đặc điểm của đờng vân để sử dụng vào cácmục đích đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Nhiệm vụ của khoa đờng vân là:
- Nghiên cứu hoàn thiện những phơng pháp, phơng tiện để phát hiện, thu lợm
và giám định đờng vân nhằm mục đích truy nguyên con ngời phục vụ cho công tác
điều tra, phòng ngừa và xét xử tội phạm
- Trên cơ sở phân loại một cách có hệ thống các đặc điểm đờng vân trên đốt
đầu ngón tay của con ngời, từ lâu kỹ thuật hình sự đã xây dựng tàng th để quản lý conngời trên cơ sở đờng vân tay
g Giám định chữ viết và kỹ thuật tài liệu
Là bộ phận tập hợp lý luận, phơng pháp, phơng tiện để nghiên cứu giám
định chữ viết tay, chữ đánh máy, chữ in, kỹ thuật chế bản, ấn loát nhằm truynguyên con ngời, phơng pháp, phơng tiện đã viết (in) ra các tài liệu
Cơ sở của việc nghiên cứu giám định chữ viết tay là sự riêng biệt có tính ổn
định của các đặc điểm chữ viết của từng ngời, từ đó có thể giám định để truynguyên con ngời qua chữ viết tay
Lĩnh vực giám định kỹ thuật tài liệu cũng rất đa dạng, nó bao gồm nhiều bộphần riêng biệt khác nh: giám định chữ đánh máy, chữ in, giám định công nghệ tàiliệu, hóa tài liệu mục đích của giám định kỹ thuật tài liệu nhằm truy nguyên phơngtiện ấn loát, xác định sự thật, giả của tài liệu, phơng pháp, phơng tiện làm giả giữagiám định chữ viết chữ ký và giám định kỹ thuật tài liệu có mối liên quan chặt chẽ, vìnhiều khi những yêu cầu giám định về các lĩnh vực này đợc đặt ra trên cùng một đối t-ợng giám định, ví dụ giám định xác định sự thật, giả của hộ chiếu, thẻ căn cớc
h Đặc điểm điểm dạng ngời
Nghiên cứu đặc điểm dạng ngời là một lĩnh vực mang tính truyền thống của kỹthuật hình sự Nghiên cứu đặc điểm dạng ngời có lịch sử phát triển lâu dài, đợc bắt đầu
từ việc đo đạc các bộ phận trên cơ thể con ngời từ những năm giữa thế kỷ 19 ở Pháp.Ngày nay, khoa học nghiên cứu đặc điểm dạng ngời đã hoàn thiện những phơng phápmô tả, ghi nhận, tỏi tạo các đặc điểm nhận dạng một cách khoa học thống nhất, làmcho cơ sở cho việc nhận dạng ngời, truy nguyên ngời qua đặc điểm nhận dạng Chính
Trang 8vì vậy, lĩnh vực nghiên cứu dạng ngời có vị trí quan trọng trong công tác điều tra, xét
xử cũng nh các hoạt động khác trong tố tụng hình sự Ví dụ: cấp phát giấy tờ, truy tìmngời mất tích, tung tích nạn nhân, nhận dạng khi bắt ngời, thi hành án Ngày nay, vớinhững thành tựu của khoa học nghiên cứu đặc điểm dạng ngời, khoa học hình sự ngàycàng hoàn thiện phơng pháp, phơng tiện nhằm khai thác sử dụng đặc điểm dạng ngờivào công tác phát hiện, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm
i Giám định âm thanh
Từ những năm 50 của thế kỷ 20 các nhà khoa học đã tìm đợc cách biến âmthanh (Audio) thành các đồ họa dới dạng các phổ âm Qua các phổ âm thanh ngời ta cóthể phân tích tiếng nói của con ngời nói riêng và âm thanh nói chung thành nhiều tham
số khác nhau nh: cờng độ, trờng độ, độ cao, tốc độ, tần số cơ bản, tần số cộng hởng với hàng trăm đặc điểm khác nhau Qua các phố âm thanh ngời ta có thể nhận ra các
đặc điểm và đo đợc các tham số âm học nh: cờng độ (db), trờng độ (s), tần số (hz), nhờ
đó các nhà khoa học hình sự đã nghiên cứu ứng dụng vào hoạt động điều tra và dần dầnhình thành lĩnh vực giám định âm thanh, nhận dạng tiếng nói (voice identificatin)nhằm truy nguyên con ngời (qua tiếng nói) hoặc đồ vật (ví dụ xe ô tô) qua âm thanh do
nó phát ra Giám định âm thanh là một lĩnh vực mới phát triển hiện tại đang đ ợc rấtnhiều nớc quan tâm, ví dụ: Mỹ, CHLB Đức, Bungari, Nam Phi, Trung Quốc
k Giám định gen
Trong những năm gần đây, nhờ sự ứng dụng những thành tựu khoa học tiêntiến của các ngành y học, sinh học, hóa học và đặc biệt nhờ sự tiến bộ nhảy vọt củacông nghệ sinh học, đã cho phép các nhà khoa học hình sự nghiên cứu giám định gennhằm truy nguyên con ngời qua các dấu vết máu Việc xác định gen mở ra khả năngmới để xác định sự đồng nhất của con ngời, bằng sự phân tích so sánh các loại gen cótính riêng biệt ở mỗi con ngời Giờ đây giám định dấu vết máu không chỉ dừng lại ởkhả năng xác định nhóm máu, mà truy nguyên đợc ngời đã để lại máu ở hiện trờng cho
dù dấu vết máu đó chỉ ở dạng vi vết Giám định gen là một lĩnh vực mới đang đ ợc đặcbiệt quan tâm ở các nớc ôtxtrâylia, Trung Quốc, Mỹ ở nớc ta lĩnh vực này đang đợctriển khai
l Kỹ thuật phòng chống tội phạm
Phòng chống tội phạm bằng các phơng tiện kỹ thuật là một nội dung quantrọng của công tác kỹ thuật hình sự, đặc biệt trong kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật vàtin học Chính vì vậy, từ lâu trong kỹ thuật hình sự đã hình thành lĩnh vực kỹ thuậtphòng chống tội phạm
Khái niệm kỹ thuật phòng chống tội phạm bao hàm tất cả phơng pháp, phơngtiện kỹ thuật đợc ứng dụng vào các lĩnh vực phát hiện, điều tra và phòng ngừa tộiphạm, trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học tiên tiến nhất của khoa học tự nhiên
và kỹ thuật, nhằm đảm bảo tính bí mật, bất ngờ và đạt hiệu quả công tác cao
6 Mối quan hệ giữa Kỹ thuật hỡnh sự với cỏc bộ phận khỏc của Khoa học hỡnh sự
Sự phát triển của Khoa học hình sự ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với sự pháttriển chung của các ngành khoa học, và làm cho bản thân Khoa học hình sự ng y c ngà: à: giữ đợc vị trí xứng đáng l à: một ngành khoa học trong hệ thống các ngành khoa học
Từ sự phát triển của lý luận, cũng nh thực tiễn trong phát hiện, điều tra vàphòng ngừa tội phạm đặt ra, khoa học hình sự trong sự phát triển của mình đã hìnhthành 4 bộ phận cấu thành và 4 bộ phận này có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhautrong hệ thống của khoa học hình sự
- Lý luận và phương phỏp luận chung (hay cũn gọi là hỡnh sự học đại cương):
Là bộ phận lý luận cơ bản của khoa học hình sự, nó có nhiệm vụ khái quát tổng kết lýluận đợc rút ra từ thực tế của những hoạt động phát hiện, điều tra và phòng ngừa tộiphạm, từ sự khái quát, tổng kết từ các thành phần của khoa học hình sự Trên cơ sở đóxây dựng thành hệ thống lý luận, cũng nh phơng pháp luận chung nhằm hớng dẫn vềmặt lý luận cũng nh phơng pháp luận cho các thành phần trong khoa học hình sự
- Kỹ thuật hỡnh sự: Trong hệ thống các bộ phận của khoa học hình sự, kỹ thuậthình sự là bộ phận thờng đợc coi là bộ phận mang tính chất khoa học tự nhiên và kỹ
thuật Chính vì thế, cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, các lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu của kỹ thuật hình sự ngày càng đợc mở rộng
Là một bộ phận của khoa học hình sự, kỹ thuật hình sự có nhiệm vụ nghiêncứu các quy luật hình thành dấu vết hình sự, một loại quy luật đặc biệt của diễn biếnhành vi phạm tội Từ đó kỹ thuật hình sự nghiên cứu, chọn lọc, áp dụng và phát triển
Trang 9các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào việc phát hiện, ghi nhận, thu lợm, bảo quản vànghiên cứu giám định dấu vết hình sự, xác lập chứng cứ, xác định nguyên nhân, điềukiện khi vụ việc mang tính hình sự đã xảy ra, góp phần vào quá trình điều tra, xét xử vàphòng ngừa tội phạm.
- Chiến thuật hình sự là bộ phận thứ ba trong khoa học hình sự: Chiến thuậthình sự là quá trình, là cách thức xử lý mu trí sáng tạo các tình huống nghiệp vụ nảysinh trong thực tiễn phát hiện, đấu tranh và phòng ngừa đối với từng vụ án cụ thể, từngloại đối tợng cụ thể và từng địa bàn cụ thể của các nhà điều tra nhằm đạt hiệu quảcao trong công tác đấu tranh và phòng ngừa từng laọi tội phạm cụ thể
Chiến thuật hình sự luôn gắn bó chặt chẽ với kỹ thuật hình sự Mỗi ph ơngpháp, phơng tiện kỹ thuật hình sự khi sử dụng để điều tra hay phòng ngừa tội phạm đềuphải có cách thức sử dụng hay biện pháp chiến thuật phù hợp nh: Chiến thuật khámnghiệm hiện trờng, chiến thuật tìm thu dấu vết, chiến thuật chuẩn bị và tiến hành giám
định, chiến thuật dùng phơng tiện kỹ thuật hiện đại để khám xét và phát hiện vật chứng
bị cất dấu, chiến thuật đặt bẫy kỹ thuật phòng chống tội phạm và phơng tiện kỹ thuậtbảo vệ Thực tế đã chứng minh cách làm việc kỹ thuật đơn thuần, coi thờng chiếnthuật hoặc ngợc lại đều dẫn đến thất bại hoặc làm giảm hiệu quả công tác
- Phơng pháp hình sự: là hệ thống những luận điểm khoa học, những điều chỉdẫn, cách thức tổ chức và tiến hành hoạt động điều tra và phòng ngừa từng loại tộiphạm cụ thể phù hợp với đặc điểm hình sự của từng loại tội phạm đó Phơng pháp hình
sự khai thác, sử dụng những thành tựu của kỹ thuật hình sự và chiến thuật hình sự vàohoạt động điều tra khám phá từng loại tội phạm cụ thể Sự phát triển của khoa học hình
sự cho thấy, tùy theo mức độ phát triển của khoa học hình sự mà phơng pháp hình sự
đ-ợc xây dựng ở các cấp độ khác nhau Hay hiểu một cỏch khỏc, phơng pháp hình sự là
hệ thống những tri thức, biện pháp, phơng pháp đặc trng, có chức năng nghiên cứunhững quy luật diễn biến của từng loại tội phạm, từ đó vận dụng những chiến thuật, ph-
ơng pháp chung, các phơng tiện kỹ thuật một cách có hiệu quả vào công tác phát hiện,
điều tra và phòng ngừa từng loại tội phạm cụ thể
Tóm lại: Khoa học hình sự là một ngành khoa học đã đợc hình thành và pháttriển từ thực tiễn của cuộc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Bốn bộ phận cấu thànhcủa Khoa học hình sự: Lý luận và phơng pháp luận chung, kỹ thuật hình sự, chiến thuậthình sự, phơng pháp hình sự đã đợc hình thành và phát triển từ thực tiễn đấu tranh vàphòng ngừa tội phạm Bốn bộ phận ấy có mối liên quan mật thiết, tác động qua lại vớinhau và thúc đẩy cho sự phát triển hoàn thiện của khoa học hình sự
7 Phơng tiện kỹ thuật hình sự
a Phơng tiện kỹ thuật kỹ thuật hỡnh sự sử dụng trong cụng tỏc phỏt hiện, thu thập chứng cứ
Phơng tiện phát hiện, thu lợm, củng cố các phản ánh vật chất có ý nghĩa hình sự
là những phơng tiện đợc nghiên cứu chế tạo dựa trên các nguyên lý, quy luật của khoahọc tự nhiên và kỹ thuật để phát hiện, thu lợm dấu vết, vật chứng cho phù hợp với cácquy luật hình thành, tồn tại và đặc điểm đặc trng của các loại phản ánh vật chất đú Cácphơng tiện kỹ thuật này, chủ yếu do kỹ thuật hình sự nghiên cứu, sản xuất và chế tạohoặc đặt hàng với các nhà sản xuất theo những yêu cầu và mục đích sử dụng riêng củamình, nh: Va ly khám nghiệm hiện trờng, các loại bột và hóa chất phát hiện dấu vết;các thiết bị chuyên dùng để chụp ảnh hình sự; các nguồn sáng đa năng để phát hiện,thu lợm dấu vết các loại phơng tiện kỹ thuật này phần lớn mang tính truyền thốngcủa kỹ thuật hình sự và đợc cải tiến, hoàn thiện nhờ vào việc áp dụng các tiến bộ củakhoa học kỹ thuật hiện đại
b Phơng tiện kỹ thuật hỡnh sự dựng trong giám định kỹ thuật hình sự
Phơng tiện giám định kỹ thuật hình sự là những phơng tiện được sử dụng trongcác hoạt động của công tác giám định Đặc điểm nổi bật của công tác giám định Kỹthuật hỡnh sự là sử dụng các thành tựu của cỏc ngành khoa học đã đợc thừa nhận, cựngvới các phơng tiện tiên tiến, hiện đại đợc kỹ thuật hình sự chọn lọc, ứng dụng, sử dụngtrong quỏ trỡnh giỏm định Ví dụ: Các phơng tiện đo độ cứng, độ đàn hồi, độ giòn vậtliệu; các thiết bị phân tích quang phổ, sắc ký; các thiết bị quang học Tuy nhiên,không thể thiếu đợc các thiết bị, phương tiện kỹ thuật mang tớnh chuyên dùng nh kính
Trang 10hiển vi so sánh; thiết bị chụp ảnh đầu đạn; máy giám định chuyên ngành hoặc đa năngmang tính đặc thù, như: Docubox, Docucenter…
c Phơng tiện kỹ thuật hỡnh sự phục vụ công tác kỹ thuật phũng chống tội phạm
Nội dung của công tác kỹ thuật hình sự đã chỉ rõ: Kỹ thuật hình sự phục vụ cuộc
đấu tranh phũng, chống tội phạm trên nhiều phơng diện khác nhau; từ việc phát hiện,
điều tra, xét xử đến việc phòng ngừa ngăn chặn tội phạm Chính vì vậy, phơng tiện kỹthuật hình sự còn có các phơng tiện phục vụ công tác quản lý xã hội, ví dụ: các phơngtiện kỹ thuật phũng chống tội phạm chủ động bảo vệ tài sản hoặc các vị trí có tầm quantrọng về chính trị, xã hội, các phơng tiện phòng ngừa ngăn chặn tội phạm, các phơngtiện phục vụ công tác tàng th căn cớc, hồ sơ
Sự tiếp cận và ứng dụng một cách nhanh chóng các thành tựu tiên tiến của khoahọc kỹ thuật là con đờng phát triển tất yếu của kỹ thuật hình sự nói chung và đa dạng,hiện đại các phơng tiện kỹ thuật hình sự nói riêng
II GIÁM ĐỊNH KỸ THUẬT HèNH SỰ
1 Khái niệm, cơ sở pháp lý của giám định định kỹ thuật hình sự
a Khái niệm
Giám định kỹ thuật hình sự là một trong những lĩnh vực giám định t pháp phục
vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật đợc qui
định trong Bộ luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật lao động do Bộ
T pháp quản lý Giám định kỹ thuật hình sự đồng thời là một biện pháp nghiệp vụ điềutra kỹ thuật của ngành công an, là một trong những nội dung quan trọng của công tác
kỹ thuật hình sự Giám định kỹ thuật hình sự là hoạt động của giám định viên dựa trêncơ sở lý luận truy nguyên hình sự, bằng những kiến thức khoa học về các lĩnh vực khoahọc kỹ thuật và những kinh nghiệm chuyên môn để giải quyết các yêu cầu về truynguyên đặt ra trong quá trình điều tra xét xử các vụ việc có tính hình sự hoặc tranhchấp khác về dân sự, hôn nhân gia đình
Kết quả giám định kỹ thuật hình sự sẽ giúp cho các cơ quan tố tụng (công an,Viện kiểm sát, Tòa án ), ngời tiến hành tố tụng có cơ sở khoa học để làm rõ sự thậtkhách quan các vụ việc đã xảy ra, cũng nh có chứng cứ để tiến hành khởi tố, truy tố vàxét xử vụ việc một cách khách quan, toàn diện và khoa học
Trờn cơ sở đú cú thể khỏi quỏt khỏi niệm về giỏm định kỹ thuật hỡnh sự như
sau: Giỏm định kỹ thuật hỡnh sự là một trong những lĩnh vực giám định t pháp của Nhà nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là một biện pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ của ngành Công an, do giám định viên Tư phỏp về Kỹ thuật hỡnh sự thực hiện tại Cơ quan giỏm định Kỹ thuật hỡnh sự, hoặc tại nơi tiến hành điều tra, dựa trên cơ sở lý luận truy nguyên hình sự, bằng những kiến thức khoa học về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm chuyên môn, sử dụng phương tiện giỏm định chuyờn dụng và cỏc phương phỏp giỏm định phự hợp, để nghiờn cứu xem xột và đưa
ra cỏc kết luận cú tớnh khoa học trả lời cỏc trưng cầu, yờu cầu giỏm định phục vụ cụng tỏc điều tra, truy tố, xột xử trong đấu tranh phũng chống tội phạm, hoặc tranh chấp khỏc về dõn sự, hụn nhõn gia đỡnh
b Cơ sở pháp lý của công tác giám định kỹ thuật hình sự
Giám định kỹ thuật hình sự là một lĩnh vực giám định t pháp Vì vậy, hệ thống
tổ chức, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan giám định, cũng nh của giám
định viên và trình tự tiến hành, cũng nh sử dụng kết quả giám định đều phải tuân thủcác quy định có tính pháp lý của Nhà nớc
Những quy định của pháp luật về giám định kỹ thuật hình sự đợc quy định tại
Bộ luật TTHS và Luật Giám định t pháp, được cụ thể hóa một số điểm cơ bản sau:
- Tổ chức giám định tư phỏp: Điều 12 Luật giỏm định tư phỏp quy định về tổchức giám định tư phỏp cụng lập về kỹ thuật hình sự, nh sau: Viện khoa học hình sựthuộc Bộ Công an; Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộctrung ơng; Phũng giỏm định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng
Trang 11- Ngời tiến hành giám định: Khoản 1 Điều 60 BLTTHS quy định: Ngời giám
định là ngời có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định đợc cơ quan tiến hành tốtụng trng cầu theo quy định của pháp luật
+ Điều 18 chơng IV Luật GĐTP quy định:
* Khoản 5 Điều 2: Ngời giám định t pháp bao gồm: Giám định viên t pháp vàngời giám định t pháp theo vụ việc
* Khoản 6 Điều 2: Giám định viên t pháp là ngời có đủ tiêu chuẩn quy định tạikhoản 1 Điều 7 của Luật này, đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền bổ nhiệm để thựchiện giám định t pháp
* Khoản 7 Điều 2: Ngời giám định t pháp theo vụ việc là ngời có đủ tiêu chuẩnquy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 18 và Điều 20 của Luật này, đợc trng cầu, yờucầu giám định
- Địa điểm tiến hành giám định: Khoản 1 điều 156 BLTTHS quy định việc tiếnhành giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra
- Thời gian tiến hành giám định: Khoản 1 điều 156 BLTTHS quy định việc tiếnhành giám định ngay sau khi có quyết định trng cầu giám định
Ngoài ra còn các quy định khác đợc thể hiện trong các điều của Bộ luật tố tụnghình sự, cũng nh trong Luật giám định t pháp, nh: Các vụ việc bắt buộc phải trng cầugiám định, quyền và nghĩa vụ của giám định viên, quá trình tiến hành giám định và kếtluận giám định, những hành vi bị nghiêm cấm đối với giám định viên
2 Đối tợng giám định
Đối tợng giám định là những đối tợng vật chất, đợc nghiên cứu trong quá trìnhgiám định, để giải quyết các yêu cầu giám định Thiếu đối tợng giám định hay đối tợnggiám định không đạt yêu cầu thì không thể tiến hành giám định đợc Đối tợng giám
định đợc chia thành 2 nhóm:
- Đối tợng cần giám định (còn gọi là mẫu giám định): Mẫu cần giám định có thể
là các phản ánh vật chất của một đối tợng nhất định (ví dụ nh: dấu vết thu đợc ở hiệntrờng), cũng có thể là những mẫu vật, tài liệu có liên quan đến vụ việc cần điều tra, xét
xử (ví dụ nh: giấy biên nhận tiền liên quan trong một vụ án kinh tế) Việc thu lợm, bảoquản chuyển giao mẫu cần giám định phải đợc thực hiện theo những quy định của phápluật tố tụng hình sự
- Đối tợng so sánh (Mẫu so sánh): là các đối tợng vật chất cụ thể hoặc các phản
ánh của các đối tợng đó, tuỳ theo từng lĩnh vực giám định và yêu cầu giám định mà cơquan yêu cầu giám định đặt ra
+ Mẫu so sánh là vật thể: Trong trờng hợp có thể so sánh trực tiếp giữa đối tợngcần giám định với đối tợng so sánh
Ví dụ đối tợng cần giám định là một nửa con dao bị gẫy thu ở hiện trờng, còn
đối tợng so sánh là một nửa con dao nghi vấn thu đợc ở đối tợng nghi vấn Để trả lờicâu hỏi 2 nửa con dao có phải là một con dao gẫy ra hay không? trong trờng hợp này
có thể tiến hành so sánh trực tiếp 2 nửa con dao với nhau (ghép khớp)
+ Mẫu so sánh là các phản ánh của ngời, vật thể nghi vấn có liên quan đến sựviệc đã xảy ra Đây là loại phổ biến nhất trong trờng hợp này các phản ánh có thể do:cơ quan yêu cầu giám định thu thập hoặc cơ quan giám định tạo ra qua thực nghiệm Cũng giống nh đối tợng cần giám định, đối tợng so sánh cũng cần phải đợc bảo quản,chuyển giao đúng các yêu cầu do tố tụng hình sự quy định
3 Các hình thức giám định
Công tác giám định kỹ thuật hình sự đợc tiến hành dới nhiều hình thức khácnhau Việc quyết định tiến hành giám định bằng hình thức nào là do cơ quan giám địnhquyết định, các hình thức giám định phổ biến là: giám định cá nhõn, giám định tập thể,giám định bổ sung và giám định lại đối với một số trờng hợp mà cơ quan yêu cầu giám
định có yêu cầu
- Giám định cá nhân: là hình thức giám định do một giám định viên chuyên khoa
đảm nhiệm toàn bộ hoạt động giám định do trng cầu giám định đạt ra Đây là hình thứcgiám định thờng đợc áp dụng đối với các trờng hợp giám định, mà yêu cầu giám định
Trang 12đơn lẻ về một lĩnh vực giám định hoặc những yêu cầu giám định ít phức tạp, không đòihỏi nhiều giám định viên tiến hành.
- Giám định tập thể: là hình thức giám định trong đó nhiều giám định viênthuộc một chuyên khoa cùng đảm nhiệm công tác giám định theo yêu cầu giám địnhthuộc chuyên khoa đó Trong giám định tập thể các giám định viên cùng đồng thời tiếnhành giám định hoặc độc lập tiến hành toàn bộ quá trình giám định sau đó đối chiếukết quả Giám định tập thể thờng đợc tiến hành để giải quyết những yêu cầu giám địnhphức tạp Giám định tập thể là nhằm đảm bảo sự chắc chắn của kết quả giám định
- Giám định bổ sung và giám định lại
Việc giám định bổ sung đợc thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám
định cha rừ, chưa đầy đủ hoặc khi phỏt sinh vấn đề mới liờn quan đến tỡnh tiết của vụ
ỏn, vụ việc đó được kết luận giỏm định trước đú Việc trưng cầu, yờu cầu giỏm định bổsung được thực hiện như giỏm định lần đầu
Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp cú căn cứ cho rằng kết luậngiám định lần đầu khụng chớnh xỏc hoặc trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
30 của Luật GĐTP
4 Các lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự
Hiện nay, trong sự phỏt triển của kỹ thuật hỡnh sự đó hỡnh thành 10 lĩnh vựcgiỏm định kỹ thuật hỡnh sự mang tớnh chuyờn biệt, cụ thể như: Giám định dấu vết đờngvân, trong đú bao gồm giỏm định đường võn tay, đường võn chõn; Giám định dấu vếtcơ học; Giám định dấu vết súng đạn; Giám định tài liệu, bao gồm hai lĩnh vực giỏmđịnh là giỏm định chữ viết, chữ ký và giỏm định kỹ thuật tài liệu; Giám định ảnh;Giám định cháy, nổ; Giám định kỹ thuật; Giám định âm thanh; Giám định Sinh học,trong đú cú giỏm định gen; Giám định hóa học, trong đú cú giỏm định cỏc chất ma tỳy
5 Hồ sơ giám định
Công tác giám định kỹ thuật hình sự, đợc phản ánh bằng hồ sơ giám định Hồ sơgiám định bao gồm: quyết định trng cầu giám định, văn bản ghi nhận quỏ trỡnh thựchiện giám định, kết luận giám định, và các tài liệu liên quan khác nh pháp luật quy
định (Điều 33 Luật giỏm định tư phỏp) Ngoài các tài liệu nói trên, hồ sơ giám định cóthể còn có các tài liệu có liên quan đến công tác giám định nh: báo cáo khám nghiệmhiện trờng, biên bản phát hiện thu lợm dấu vết, vật chứng, mẫu so sánh, báo cáo thínghiệm hoặc biên bản thực nghiệm điều tra
Nh vậy, hồ sơ giám định bao gồm không chỉ các tài liệu ghi nhận và phản ánhkết quả giám định của giám định viên và do giám định viên xác lập mà còn có các tàiliệu khác có liên quan đến công tác giám định do cơ quan trng cầu giám định gửi đến.Giám định viên và cơ quan giám định có trách nhiệm tập hợp sắp xếp các tài liệu đótheo trình tự có hệ thống thành "hồ sơ giám định" Từ sự khái quát trên, văn bản giám
định đợc hiểu là những tài liệu phản ánh và ghi nhận lại quá trình và kết quả giám định
kỹ thuật hình sự do giám định viên trực tiếp xác lập, các tài liệu đó gồm:
- Quyết định trng cầu, văn bản yờu cầu giám định và tài liệu kốm theo;
- Biên bản giao, nhận hồ sơ, đối tợng trưng cầu, yờu cầu giám định;
- Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định;
- Bản ảnh giám định (nếu cú);
- Kết luận giám định trớc đó hoặc kết quả xét nghiệm, thực nghiệm, giám định
do ngời khác thực hiện (nếu cú);
- Các tài liệu khác có liên qua đến việc giám định (nếu cú);
- Kết luận giám định tư phỏp
Hồ sơ giỏm định được lưu giữ ớt nhất ba mươi năm, kể từ ngày kết thỳc việcgiỏm định, trừ trường hợp phỏp luật cú quy định khỏc
Tổ chức giỏm định tư phỏp, tổ chức chuyờn mụn chịu trỏch nhiệm bảo quản,lưu giữ hồ sơ giỏm định do người giỏm định tư phỏp thuộc tổ chức mỡnh thực hiện
Trang 13Hồ sơ giám định phải được xuất trình theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng đang giải quyết vụ án.
Bài 2 DẤU VẾT HÌNH SỰ
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU VẾT HÌNH SỰ
1 Khái niệm, tính chất và phân loại dấu vết hình sự
a Khái niệm dấu vết hình sự
Trong lịch sử phát triển của khoa học hình sự nói chung và kỹ thuật hình sự nóiriêng, khái niệm dấu vết hình sự luôn được các nhà nghiên cứu khoa học hình sự quantâm Nội dung và bản chất khái niệm là cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng sựhình thành tồn tại của dấu vết, cũng như phương pháp, phương tiện phát hiện, ghinhận, thu lượm và đánh giá dấu vết phục vụ cho các hoạt động phòng, chống tội phạm
Thứ nhất, dấu vết hình sự phải là những phản ánh vật chất Khi một vụ việcmang tính hình sự xảy ra, xuất hiện các phản ánh; các phản ánh đó, tồn tại dưới haidạng cơ bản là phản ánh vật chất và phản ánh tinh thần Phản ánh vật chất xuất hiệndưới nhiều hình thức khác nhau, thể hiện đặc điểm của chúng trên các vật chất khác,tồn tại ở dạng vật thể và các chất cụ thể Dù ở hình thức tồn tại nào, phản ánh vật chấtcũng được con người tri giác trực tiếp được, như: cầm, nắm, sờ, mó, cân, đong, đo,
đếm, quan sát hình dạng, kích thước, màu sắc…
Dạng phản ánh tinh thần (phản ánh nhận thức cụ thể) hình thành theo cơ chếđặc biệt của quá trình tâm lý, thông qua tri giác, biểu tượng, trí nhớ và phản ánh đó tồntại trong vỏ não của con người Do vậy, không thể dùng các phương pháp phát hiện,thu thập thông thường kiểu “cơ học” mà phải sử dụng những phương pháp đặc biệt đểlàm cho phản ánh này bộc lộ ra, các phương pháp đó có thể là lấy lời khai, tự khai,nhận dạng, đối chất…
Xét về giá trị thông tin, không thể nói dạng phản ánh nào có ý nghĩa hơn dạngphản ánh nào Theo quy định tại Khoản 2 Điều 64 Bộ luật TTHS, thì cả hai dạng phảnánh này đều có thể trở thành chứng cứ Tuy nhiên, dưới góc độ của Khoa học hình sựthì dạng phản tinh thần dễ bị sai lệch hơn và cần dùng hai dạng phản ánh này để kiểm
định nhau
Trang 14Thứ hai, dấu vết hình sự hình thành trong mối quan hệ với tội phạm hoặc những
vụ, việc mang tính hình sự đã xảy ra
Vụ, việc mang tính hình sự là khái niệm dùng để chỉ những vụ việc khi xảy ralàm phương hại tới những khách thể nhất định được Bộ luật hình sự bảo vệ, làm ảnhhưởng tới an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Vụ, việc mang tính hính sự xảy ra
đã bao hàm trong đó là những vụ án, là những vụ tai nạn, vụ tệ nạn xã hội, ở đó có thể
có tội phạm hoặc không có tội phạm Mỗi vụ, việc mang tính hình sự xảy ra tất yếuxuất hiện và tồn tại dấu vết hình sự Mỗi dấu vết hình sự chứa đựng những lượngthông tin nhất định phản ánh diễn biến, bản chất của vụ viêc đã xảy ra, hay nói cáchkhác dấu vết hình sự là hệ quả tất yếu của vụ việc mang tính hình sự
Từ mối quan hệ biện chứng giữa dấu vết hình sự với vụ, việc mang tính chấthình sự, có thể khẳng định: Không có vụ việc mang tính hình sự nào xảy ra lại không
để lại dấu vết hình sự tại hiện trường, cũng như không có dấu vết hình sự nào lạikhông thuộc về một vụ, việc mang tính hình sự đã xảy ra Vì vậy, dấu vết hình sự là hệquả tất yếu của vụ việc mang tính hình sự, do đó việc phát hiện, thu thập, đánh giá dấuvết hình sự để phục vụ điều tra làm rõ bản chất vụ việc là điều hết sức cần thiết
Trên cơ sở đó, khái niệm dấu vết hình sự được hiểu như sau:
Dấu vết hình sự là những phản ánh vật chất, hình thành và tồn tại trong mối quan hệ tất yếu với vụ việc mang tính hình sự, cần được phát hiện, thu thập, đánh giá và
sử dụng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
b Tính chất của dấu vết hình sự
- Tính khách quan
Nhận thức được tính khách quan của dấu vết hình sự, tôn trọng tính khách quancủa dấu vết hình sự là một yêu cầu rất cao đối với cán bộ điều tra Mọi biểu hiện chủquan, phiến diện trong việc nghiên cứu, đánh giá dấu vết sẽ làm chệch hướng trongquá trình điều tra khám phá vụ án, gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm
Là các dạng cụ thể của vật chất hình thành do quá trình tác động cơ học, lý học,hoá học, sinh học gây trong các vụ việc mang tính hình sự Do vậy, dấu vết hình sựbao giờ cũng tồn tại mang tính tất yếu, khách quan, đồng thời cũng phản ánh một cáchkhách quan về đối tượng gây vết như: Loại vật gây vết, hình dạng kích thước, trạngthái, màu sắc, và một số thuộc tính khác giúp ta truy nguyên vật gây vết Ngoài ra, còncho chúng ta nhận thức được thời gian tồn tại của dấu vết, cũng như các yếu tố ảnhhưởng tới việc hình thành và tồn tại của dấu vết tại hiện trường
- Tính không gian, thời gian
Cũng như mọi hiện tượng vật chất, mỗi một hành vi phạm tội đều diễn ra trongmột không gian nhất định, và kéo dài trong một khoảng thời gian nào đó Vì vậy, tất cảcác đối tượng vật chất tham gia trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của tộiphạm, cũng như các phản ảnh của nó, đều phải tồn tại trong một không gian và mộtthời gian nhất định Chỉ khi nào nhận thức được một cách đầy đủ về vấn đề này, cácchủ thể nghiên cứu dấu vết hình sự mới tập trung phát hiện, thu thập dấu vết tại hiệntrường một cách thận trọng, tỉ mỉ, bởi hiện trường thường là nơi để dấu vết hình sựhình thành và tồn tại Tính không gian, thời gian của dấu vết hình sự còn chỉ ra, dấuvết hình sự chỉ hình thành có một lần và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định
mà thôi Đây là căn cứ khoa học để xác định vị trí, thời gian tồn tại của dấu vết, để cácđiều tra viên và giám định viên tiến hành phát hiện, ghi nhận, thu lượm được hết cácdấu vết trong quá trình tiến hành điều tra vụ án
- Tính phản ánh
Mọi vật chất đều có một thuộc tính cơ bản đó là thuộc tính phản ánh Dấu vếthình sự là một dạng tồn tại cụ thể của vật chất, do vậy nó cũng phải có tính phản ánh.Nhờ có tính phản ánh mà ta có thể nhận thức được sự tồn tại của dấu vết, đồng thời là
Trang 15cơ sở để tiến hành phát hiện ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá chúng Mặtkhác, trên cơ sở tính phản ánh, mà ta có thể nắm được nội dung thông tin của dấu vết,giúp cho quá trình điều tra được đúng đắn, có hiệu quả.
c Phân loại dấu vết hình sự
Dấu vết hình sự được hình thành và tồn tại ở hiện trường rất đa dạng và phongphú Việc phân loại dấu vết có nghĩa quan trọng trong việc đề ra các phương pháp pháthiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá phù hợp với quá trình hình thành, hìnhthức tồn tại, tính chất và đặc điểm của chúng Tuy nhiên, sự phân loại chỉ mang tínhtương đối và có một số cách phân loại dấu vết hình sự phổ biến sau:
- Căn cứ vào lịch sử phát triển của khoa học hình sự, dấu vết hình sự được chialàm hai loại: Dấu vết truyền thống (dấu vết cổ điển) và dấu vết hiện đại
+ Dấu vết truyền thống là những dấu vết được phát hiện, thu thập, sử dụngtrong công tác điều tra và xét xử tội phạm, ngay từ những buổi đầu sơ khai của khoahọc hình sự và từ đó ngày càng được bổ sung và phát triển cho đến ngày nay Sự hìnhthành của loại dấu vết này chủ yếu là do tác động cơ học Dấu vết đường vân tay; dấuvết chân, giày, dép; dấu vết súng đạn là điển hình của loại dấu vết truyền thống
+ Dấu vết hiện đại là những dấu vết hình sự được phát hiện, thu thập, sử dụngtrong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của khoa học, công nghệ như các dấu vết:cháy nổ, sinh học, hoá học, âm thanh Điển hình của loại dấu vết hình sự hiện đại làcác dấu vết có nguồn gốc từ người, có khả năng giám định gen
- Căn cứ vào trạng thái tồn tại của dấu vết hình sự ở hiện trường, chia dấu vếtthành các loại: Dấu vết là chất rắn; Dấu vết là chất khí; Dấu vết là chất lỏng; Dấu vết
là mùi vị; Dấu vết là âm thanh; Dấu vết là ánh sáng; Dấu vết là từ trường…
- Căn cứ vào chuyên ngành giám định kỹ thuật hình sự, chia dấu vết thành cácloại: Dấu vết đường vân: vân tay, vân chân; Dấu vết cơ học; Dấu vết sinh vật; Dấu vếthoá học; Dấu vết súng đạn; Dấu vết cháy, nổ và sự cố kỹ thuật
- Căn cứ vào cấu tạo dấu vết có các dạng như: Dấu vết in; Dấu vết lõm; Dấuvết trượt; Dấu vết cắt
- Dấu vết là phần vật thể được tách ra từ tổng thể của một vật thể nào đó, như:nghiên cứu dấu vết khớp
- Ngoài những cách phân loại cơ bản trên, dấu vết hình sự còn có thể được phânloại thành: Dấu vết ẩn, dấu vết hiện; vi vết, vĩ vết
2 Cơ chế hình thành và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành, tồn tại dấu vết hình sự
a Cơ chế hình thành dấu vết hình sự
Cơ chế hình thành dấu vết hình sự là cách thức hình thành của một dạng phảnánh vật chất (dấu vết hình sự), mà gắn liền với nó là giai đoạn tác động và giai đoạnphản ánh, nằm trong mối quan hệ với tội phạm hay vụ việc mang tính hình sự
Vận dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống, xác định các yếu tố trong cơ chếhình thành dấu vết hình sự cho thấy, dấu vết hình sự hình thành thông qua hai quátrình: quá trình tác động và quá trình phản ánh và những yếu tố cấu thành cơ bản làcác đối tượng (các hệ thống vật chất) tham gia trong các quá trình này Sơ đồ kháiquát về cơ chế hình thành dấu vết hình sự có thể được trình bày như sau:
QTTĐ
QTPA
DVHS
Trang 16(Chú thích: ĐTTĐ: Đối tượng tác động; ĐTBTĐ: Đối tượng bị tác động; QTTĐ: Quá trình tác động; QTPA: Quá trình phản ánh; DVHS: Dấu vết hình sự).
- Đối tượng tác động để tạo ra dấu vết hình sự bao gồm: Con người, công cụ
phương tiện, môi trường (sự vật và hiện tượng)
- Đối tượng bị tác động bao gồm: Con người, vật thể, môi trường Đối tượng bị
tác động cũng chính là đối tượng mang dấu vết hình sự còn những đối tượng bị tácđộng nhưng không mang dấu vết hình sự thì không có ý nghĩa
- Quá trình tác động của ĐTTĐ lên ĐTBTĐ về tổng thể là quá trình liên tục về
mặt thời gian và không gian Dấu vết hình sự hình thành trong quá trình thực hiệnhành vi của chủ thể tác động
- Quá trình phản ánh: Phản ánh là thuộc tính cơ bản của vật chất, mà dấu vết
hình sự là một dạng tồn tại vật chất cụ thể cho nên dấu vết hình sự cũng mang đặctính phản ánh, mà nội dung phản ánh lại đa dạng phong phú về vụ tội phạm hay vụviệc mang tính hình sự Nhờ đặc tính phản ánh của dấu vết hình sự, trên cơ sở đó đểphát hiện, thu thập, bảo quản, đánh giá cũng như khai thác giá trị thông tin từ dấu vếthình sự sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự
b Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của dấu vết hình sự
- Vật gây vết và vật mang vết
Vật gây vết và vật mang vết là hai yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong quátrình hình thành và tồn tại của dấu vết - xác định vấn đề này có ý nghĩa quan trọngtrong việc đánh giá và khai thác giá trị thông tin cuả dấu vết phục vụ cho công tác điềutra cũng như việc xác định phương pháp, phương tiện để phát hiện, ghi nhận, thulượm, bảo quản dấu vết, và việc tạo ra dấu vết thực nghiệm, thu mẫu so sánh ở đốitượng nghi vấn phục vụ cho công tác truy nguyên hình sự sau này
Khi nghiên cứu quá trình hình thành và tồn tại của dấu vết cần chú ý tới: Độcứng và tính bền vững của mặt kết cấu vật chát của vật gây vết và vật mang vết; loạidấu vết và sự tồn tại của nó trên các vật mang vết cụ thể; tính chất bề mặt của vậtmang vết: Nhẵn bóng, thô ráp màu sắc của bề mặt vật mang vết
- Tính chất cơ học của sự tác động qua lại giữa đối tượng gây vết và mang vếtYếu tố này gồm: Lực tác dụng, góc độ tác động, thời gian và tốc độ tác động.+ Lực tác động khác nhau thì tạo thành dấu vết khác nhau, thể hiện cùng vậtgây vết và mang vết như nhau nhưng lực tác động mạnh yếu khác nhau thì tạo thànhdấu vết khác nhau
+ Góc độ tác động: Cùng một vật gây vết và mang vết như nhau, nếu góc độ tácđộng khác nhau thì tạo ra các dấu vết khác nhau Góc độ tác động bao gồm: Góc đặt,góc trực diện (góc nghiêng) Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việcđánh giá cơ chế hình thành dấu vết, cũng như hình thức điều kiện các thuộc tính củađối tượng gây vết, nó là cơ sở cho việc thu mẫu so sánh, cũng như tạo ra dấu vết thựcnghiệm cho công tác truy nguyên hình sự
+ Thời gian tác động: Khi vật gây vết tác động vào vật mang vết, phải kéo dàitrong một khoảng thời gian nào đó để tạo ra một dấu vết cụ thể nào đó Nghiên cứuvấn đề này có ý nghĩa: Khi cùng một vật mang vết gây vết như nhau lực tác độnggiống nhau, nhưng thời gian tác động khác như sẽ cho chất lượng dấu vết khác nhau
+ Tốc độ tác động: Đó là vận tốc của sự tác động tạo ra một dấu vết cụ thể, tốc độtác động khác nhau cũng sẽ tạo ra chất lượng của dấu vết khác nhau
Tóm lại: Ba yếu tố trên có quan hệ mật thiết với nhau nếu thay đổi một trong
ba yếu tố cơ học đó thì cơ cấu dấu vết, cũng như chất lượng của nó sẽ thay đổi theo
- Môi trường nơi dấu vết hình sự hình thành, tồn tại
Trang 17Dấu vết hình thành và tồn tại ở hiện trường luôn chịu sự tác động của môitrường như: Nắng, mưa, gió, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm Dưới sự tác động của các yếu
tố đó, dấu vết luôn bị biến đổi theo thời gian
Tùy thuộc vào tính chất của từng loại dấu vết, cũng như vật mang vết mà điều kiệnmôi trường tác động làm cho nó biến đổi nhiều hay ít, nhanh hay chậm
3 Ý nghĩa hình sự của dấu vết hình sự trong phát hiện, đấu tranh, phòng chống tội phạm
a Dấu vết hình sự là căn cứ quan trọng để xác định bản chất của sự việc xảy ra
Dấu vết hình sự là hệ quả tất yếu của những tác động vật chất trong quá trìnhdiễn biến vụ việc mang tính hình sự Trong một vụ việc mang tính hình sự có nhiều sựtác động xảy ra, mỗi một sự tác động sẽ làm xuất hiện và tồn tại các dấu vết hình sựkhác nhau, mỗi dấu vết hình sự sẽ phản ánh cơ chế tác động, thời gian tác động vàdiễn biến sự tác động Nghiên cứu tổng thể dấu vết hình sự tại hiện trường cho phépxác định được bản chất của sự tác động từ đó xác định bản chất của sự việc xảy ra.Bản thân dấu vết hình sự chứa đựng những thông tin phản ánh về nguyên nhân hìnhthành ra nó Do vậy, sự hình thành của dấu vết hình sự không phụ thuộc vào ý muốnchủ quan của đối tượng gây ra dấu vết, khi xác định được nguyên nhân hình thành củamỗi loại dấu vết cũng chính là xác định được cơ chế hình thành của các dấu vết đó
b Dấu vết hình sự phản ánh thời gian và địa điểm xảy ra vụ việc
Địa điểm và thời gian xảy ra sự việc là hai yếu tố quan trọng đồng thời là nhữngvấn đề cần chứng minh trong quá trình điều tra vụ án Sự xuất hiện của dấu vết hình sựtại một vị trí nào đó tại hiện trường và sự phản ánh của dấu vết hình sự thể hiện ở màusắc, tình trạng phân hủy, độ mới cũ, sẽ phản ánh thời gian tồn tại của dấu vết và cũngchính là phản ánh của thời gian xảy ra sự việc
c Dấu vết hình sự phản ánh phương thức thủ đoạn gây án và diễn biến quá trình xảy ra sự việc
Xác định phương thức thủ đoạn gây án dựa trên cơ chế hình thành dấu vết hình
sự, xác định mối liên hệ giữa các dấu vết hình sự với nhau, giữa các dấu vết hình sựvới các phản ánh vật chất khác ở hiện trường, là cơ sở quan trọng để xác định diễnbiến của sự việc xảy ra, cách thức sử dụng công cụ phương tiện gây án của thủ phạm
d Dấu vết hình sự phản ánh công cụ và phương tiện gây án
Đây là thông tin rõ nét nhất của dấu vết hình sự Bản thân dấu vết hình sự là sảnphẩm của quá trình tác động vật chất xảy ra trong vụ việc mang tính hình sự Do đó,đặc điểm của dấu vết hình sự sẽ phản ánh thuộc tính, đặc điểm của đối tượng vật chấttác động đã tạo ra nó Ví dụ: một vết đâm trên cơ thể nạn nhân có bề mép sắc gọn, cóhai góc nhọn, có chiều dài, chiều rộng, chiều sâu là sự phản ánh đặc điểm của vật gâyvết là loại có một mũi nhọn và hai cạnh sắc; chiều dài vật gây vết tương đương chiềusâu của vết tương (nếu đâm ngập), chiều dày của vật gây vết tương đương chiều rộngcủa vết thương, chiều rộng của vật gây vết tương đương chiều dài của vết thương.Ngoài ra trên vết thương có thể xuất hiện các đặc điểm riêng phản ánh đặc điểm riêngcủa vật gây vết
e Dấu vết hình sự phản ánh về số lượng thủ phạm, trình độ chuyên môn, thói quen nghề nghiệp và những thông tin khác về đối tượng gây án
Thông qua việc phân tích số lượng dấu vết thu được, đánh giá đặc điểm của từngdấu vết, kết hợp với các thông tin khác có thể xác định được số lượng đối tượng để lạidấu vết Ví dụ: số lượng đầu mẩu thuốc lá, chủng loại thuốc lá, số lượng dấu chân, giầydép, kích thước có thể xác định được đối tượng để lại, căn cứ vào chiều hướng chuyểnđộng của dấu vết, có thể xác định được đối tượng thuận tay phải hay trái, căn cứ vào đặc
Trang 18điểm cá biệt của dấu vết sẽ cho biết về những đặc điểm riêng biệt của đối tượng gây radấu vết
g Dấu vết hình sự là cơ sở quan trọng để xây dựng giả thuyết điều tra
Điều tra tội phạm là một quá trình nhận thức của các chủ thể điều tra về một sựviệc mang tính hình sự đã xảy ra trong quá khứ Từ những thông tin thu thập được từdấu vết hình sự tại hiện trường, cùng với các tài liệu khác thu thập được từ các nguồnkhác như: lời khai của người bị hại, người làm chứng, bị can, bị cáo sẽ giúp cho cơquan điều tra xây dựng kế hoạch điều tra phù hợp với thực tiễn nhằm nhanh chóng xácđịnh sự thật khách quan của vụ án, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và vô tội,những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can bị cáo.Trong các căn cứ sử dụng xây dựng giả thuyết điều tra, nguồn thông tin được khai thác
từ dấu vết hình sự được coi là căn cứ đặc biệt quan trọng Từ dấu vết hình sự có thểxác định được tính chất vụ việc, xác định quy mô và phạm vi của cuộc điều tra Việcđịnh hướng điều tra là một bước rất quan trọng quyết định đến sự thành công của điềutra vụ án, định hướng đúng sẽ đạt được kết quả và làm cho quá trình điều tra đẩynhanh tiến độ, định hướng sai không những làm cho kết quả điều tra kéo dài thời gian,câu dầm, bế tắc nhiều khi còn gây ra hậu quả oan sai trong tố tụng hình sự, ví dụ: một
vụ trộm thì dấu vết để lại sẽ khác với một vụ tham ô tài sản sau đó giả tạo hiện trường
vụ trộm, một vụ tai nạn giao thông sẽ có hệ thống dấu vết khác với một vụ giết ngườisau đó giả tạo hiện trường tai nạn giao thông Trong xây dựng giả thuyết điều tra, từdấu vết hình sự có thể đặt ra các giả thuyết về: tính chất vụ việc, giả thuyết về công cụ,phương tiện gây án, giả thuyết về số lượng thủ phạm, giả thuyết về mô hình đối tượnggây án
h Dấu vết hình sự là cơ sở để xác lập nguồn chứng cứ pháp lý sử dụng trong điều tra, truy tố, xét xử
Bằng những phương pháp khoa học, phương tiện kỹ thuật hiện đại, cơ quangiám định, giám định viên Kỹ thuật hình sự tiến hành giám định dấu vết theo đúngtrình tự thủ tục đã được quy định trong các văn bản pháp lý Kết quả giám định đượcthể hiện trong kết luận giám định Từ kết quả giám định dấu vết hình sự, cho phép truynguyên trực tiếp ra con người, đồ vật, công cụ, phương tiện
k Nghiên cứu dấu vết hình sự là cơ sở để phòng ngừa tội phạm
Dấu vết hình sự phát hiện, thu thập, đánh giá tại hiện trường và giám định tạicác cơ quan giám định Kỹ thuật hình sự, giúp cho việc phát hiện ra những công cụ,phương tiện gây án, những phương thức, thủ đoạn phạm tội mới; những sơ hở thiếu sótcủa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân Đây là cơ sở quan trọng để đưa racác biện pháp phòng ngừa hữu hiệu
4 Phương pháp phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá dấu vết hình sự tại hiện trường
a Phát hiện dấu vết hình sự
Phát hiện dấu vết là sự tìm tòi, sàng lọc, chọn lọc những phản ánh vật chất tồntại ở hiện trường có liên quan đến vụ, việc hình sự đã xảy ra, làm cho dấu vết hình sựbộc lộ, từ đó có cơ sở tiến hành các khâu tiếp theo
Sự tồn tại của dấu vết hình sự ở hiện trường rất đa dạng, phong phú về chủngloại, màu sắc, kích thước, trạng thái… Do đó, muốn phát hiện dấu vết hình sự hiệu quảcần có những điều kiện nhất định Trước hết, cần có nguồn sáng tốt Để phát hiện dấuvết hình sự có thể tận dụng ánh sáng thiên nhiên hoặc sử dụng ánh sáng tự tạo phùhợp Đồng thời, sử dụng phương tiện kỹ thuật phù hợp cho việc phát hiện làm rõ dấuvết, các loại hoá chất, thuốc thử đặc hiệu cho từng loại dấu vết Cán bộ phát hiện dấuvết cần nắm vững quy luật hoạt động của từng loại tội phạm, quy luật hình thành từng
Trang 19loại dấu vết, biết sử dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp, chiến thuật khámnghiệm hiện trường; đồng thời phải có tác phong làm việc tỷ mỉ, thận trọng, khônglàm bừa, làm ẩu, nóng vội, ngại khó, ngại khổ Trong thực tiễn, để phát hiện dấu vếthình sự có hiệu quả thường sử dụng hai phương pháp phổ biến, đó là phương phápquan sát và phương pháp phán đoán.
- Phương pháp quan sát: Trên cơ sở nắm vững quy luật hình thành của các loạidấu vết hình sự, lực lượng khám nghiệm hiện trường sẽ sử dụng các giác quan, màchủ yếu là dùng thị giác để phát hiện dấu vết Trong quá trình quan sát có thể sử dụngcác phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, như các loại đèn chiếu sáng, các loại kính phóng đại,các loại bột chuyên dụng… Tiến hành quan sát cần tuân theo trình tự: quan sát từ xađến gần, từ chung đến riêng, từ diện đến điểm Tập trung quan sát vào những nơi khuấtkín, ngóc ngách ở hiện trường, những chỗ kín trên cơ thể tử thi… Khi phát hiện thấydấu vết cần đánh dấu phục vụ cho các khâu tiếp theo
Đồng thời với quá trình quan sát đòi hỏi cán bộ xử lý dấu vết cần phải kết hợpvới quá trình suy đoán để phát hiện dấu vết như: Đối với những vi vết hoặc dấu vết tồntại ở dạng ẩn tại hiện trường, nếu bằng phương pháp quan sát không phát hiện được thìcần thiết phải sử dụng phương pháp phán đoán Bản chất của phương pháp phán đoán
là dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ diễn biến tình hình sự việc đã xảy ra, quy luật hìnhthành của các loại dấu vết hình sự, dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, cán bộphát hiện dấu vết phán đoán vị trí nào có thể tồn tại dấu vết, tiến hành sử dụng cácphương tiện kỹ thuật và hoá chất để làm rõ hoặc thu lượm dấu vết hình sự một cáchngẫu nhiên phục vụ cho quá trình giám định tại cơ quan chuyên môn
- Phương pháp phát hiện dấu vết bằng cảm quan: là phương pháp dùng giác quan đểnhận biết trực tiếp, không thông qua việc sử dụng dụng cụ, máy móc, hóa chất
- Phát hiện bằng thuốc thử: là phương pháp dùng các phản ứng hóa học đặc trưngcủa mỗi chất, thông qua các thuốc thử để nhận biết Các loại thuốc thử thường được pha sẵn vàbảo quản trong ống nghiệm có nút kín, khi sử dụng sẽ tuân theo các nguyên tắc đã được hướngdẫn
- Phát hiện bằng phương tiện máy móc: là phương pháp sử dụng phương tiện
kỹ thuật hiện đại để phát hiện
- Phát hiện bằng các động vật: Là phương pháp dùng các động vật để phát hiệncác chất độc như cá vàng, chó nghiệp vụ
Các phương pháp phát hiện dấu vết trên tùy thuộc vào từng loại vụ việc xảy ra,
mà cán bộ xử lý dấu vết trên hiện trường áp dụng cho phù hợp
b Ghi nhận dấu vết hình sự
Là việc lưu giữ lại hình ảnh của dấu vết hình sự theo đúng trình tự, thủ tục tốtụng hình sự và phương pháp của kỹ thuật điều tra hình sự Tiến hành ghi nhận dấu vếthình sự tại hiện trường thường được thực hiện thông qua hoạt động cơ bản:
- Mô tả dấu vết vào biên bản khám nghiệm hiện trường
Mọi dấu vết phát hiện được trong quá trình khám nghiệm hiện trường đều phảiđược mô tả vào biên bản khám nghiệm hiện trường, theo đúng trình tự, thủ tục vàphương pháp của kỹ thuật hình sự và đúng luật định Mô tả dấu vết cần làm rõ các nộidung: Loại dấu vết, hình dạng dấu vết, trạng thái tồn tại của dấu vết, kích thước dấuvết, chiều hướng của dấu vết, vị trí của dấu vết
- Chụp ảnh dấu vết: Chụp ảnh dấu vết trong mối quan hệ với cảnh vật xungquanh, yêu cầu ảnh phải phản ánh vị trí của dấu vết, vật chứng so với cảnh vật xungquanh Chụp ảnh dấu vết trong mối quan hệ cả hệ thống dấu vết có ở hiện trường, yêucầu ảnh phải phản ánh được vị trí, chiều hướng từng dấu vết trong mối quan hệ tươngquan giữa các dấu vết với dấu vết và với cả hệ thống của nó Ảnh phải được chụp mộtcách trung thực và phản ánh khách quan về hình dạng, kích thước, trạng thái, màu sắc,
Trang 20chiều hướng và các đặc điểm của dấu vết Khi chụp ảnh dấu vết vật chứng cần tuân thủnguyên tắc đã quy định về chụp ảnh dấu vết vật chứng.
- Vẽ phác họa dấu vết vào sơ đồ hiện trường: Vẽ phác họa dấu vết, vật chứng làmột biện pháp ghi nhận dấu vết không thể thiếu được, là hình thức mô tả dấu vết và hệthống dấu vết ở hiện trường bằng hình vẽ với khả năng khái quát cao Nó vừa là hìnhthức ghi nhận dấu vết, vừa là tài liệu minh họa cho biên bản khám nghiệm hiện trường.Bản vẽ phải phản ánh được vị trí, chiều hướng dấu vết, vật chứng và mối tương quancủa chúng Khi vẽ cần tuân theo tỷ lệ nhất định và phải vẽ theo các ký hiệu đã quy địnhtrong tài liệu hướng dẫn về công tác khám nghiệm hiện trường
Ngoài các phương pháp ghi nhận cơ bản nêu trên, trong thực tế nếu điều kiệncho phép có thể sử dụng camera để ghi nhận dấu vết Đây là một trong những phươngpháp ghi nhận tốt, cần được ứng dụng rộng rãi
c Thu lượm dấu vết hình sự
Thu lượm dấu vết có một vị trí quan trọng trong quá trình xử lý dấu vết tại hiệntrường, là một trong các hình thức thu thập và củng cố chứng cứ Mặt khác, thu lượmdấu vết là tiền đề, cơ sở cho việc tiếp tục khai thác giá trị thông tin chứa đựng trong
đó Dấu vết thu lượm là cơ sở vật chất đầu tiên và quan trọng nhất cho công tác truynguyên hình sự được tiến hành
Thu lượm dấu vết không đúng phương pháp, sử dụng phương tiện thu lượmkhông phù hợp, tác phong làm việc cẩu thả, thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ làm hỏng dấuvết, làm mất đi những chứng cứ vật chất quan trọng, gây khó khăn cho công tác điều tra
vụ án Để thu lượm dấu vết có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, tuỳ thuộc vàotừng trường hợp cụ thể Các phương pháp thu lượm dấu vết phổ biến là:
- Thu dấu vết cùng với vật mang vết: Đây là phương pháp thu lượm tối ưu.Bằng phương pháp này dấu vết sẽ hạn chế bị biến đổi hoặc hư hỏng do quá trình thulượm tạo ra Dấu vết đảm bảo chất lượng và tính nguyên vẹn phục vụ tốt cho việc truynguyên Phương pháp này có thể áp dụng để thu lượm với hầu hết các dấu vết trênhiện trường với nguyên tắc: Vật mang vết phải có kích thước nhỏ, dễ vận chuyển, dễbảo quản Trường hợp các vật mang vết lớn, cồng kềnh, khó vận chuyển, khó bảo quảnhoặc trên vật có giá trị, xét thấy không thể thu được dấu vết cùng với vật mang vết thìcần phải sử dụng các phương pháp khác nhằm không làm thiệt hại đến kinh tế của tưnhân, tập thể và làm ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh
- Sao in dấu vết: Thường được áp dụng để thu lượm đối với các dấu vết tồn tại
ở trạng thái in lồi, nằm trên những vật mang có bề mặt cứng, phẳng, nhẵn Phương tiệndùng để sao in có thể là giấy fôli, giấy ảnh, phim nhựa, băng dính trong suốt Khinghiên cứu cần chú ý những dấu vết đã được sao in sẽ ngược chiều với dấu vết tại hiệntrường Muốn có kết quả sao in tốt, trong quá trình sao in không để tạo ra các túi khítrên bề mặt của vết với vật liệu dùng để sao in Nếu tạo các túi khí sẽ làm ngăn cáchvật liệu sao in với dấu vết, làm cho các đặc điểm của dấu vết không được sao in một cáchđầy đủ, thậm chí có thể làm hư hỏng dấu vết
- Đúc khuôn dấu vết: Phương pháp này áp dụng để thu lượm dấu vết lõm (hoặcdấu vết trượt, dấu vết hằn, dấu vết khoan ) Nguyên liệu dùng để đúc khuôn bao gồm:Thạch cao, bột cao su, xi mềm, si-li-côn Tùy vào tính chất phức tạp của dấu vết vàmức độ nông sâu của từng dấu vết cụ thể, để lựa chọn nguyên liệu cho phù hợp
- Thu dấu vết bằng các phương pháp bơm hút, thấm, cạo
Đối với dấu vết là chất lỏng phải sử dụng bơm hút sau đó cho vào bình thuỷ tinhsạch hoặc sử dụng túi Polyetylen chuyên dùng để đựng Hoặc sử dụng mảnh vải sạch đểthấm hết chất lỏng, sau đó để khô trong nhiệt độ bình thường
Đối với dấu vết là chất khí phải sử dụng bình hút khí đặc biệt (bình con chuột)
để thu lượm
Trang 21d Bảo quản dấu vết hình sự
Bảo quản dấu vết là giữ gìn tính nguyên vẹn của dấu vết, tránh làm mất mát,thất lạc, hoặc làm hư hỏng dấu vết và vật mang vết, nhằm bảo đảm khả năng sử dụngdấu vết và vật mang vết với hiệu quả cao nhất
Dấu vết phải được bảo quản ngay tại hiện trường và an toàn trong quá trình vậnchuyển nhất là các dấu vết là chất độc, chất nổ, chất cháy Bảo quản phải đúng quycách, phải lựa chọn phương pháp bảo quản thích hợp với từng loại dấu vết và vật mangvết Phương pháp bảo quản phải đảm bảo theo nguyên tắc và phương pháp của kỹthuật hình sự Để đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý, khi bảo quản dấu vết, dấu vết phảiđược niêm phong cẩn thận, đúng trình tự và thủ tục pháp luật với nguyên tắc: dấu vếtkhi bảo quản phải bảo đảm an toàn, phải được ghi chú rõ ràng loại dấu vết, số dấu vết,tên hoặc bí số vụ án, nơi xảy ra, ngày tháng năm xảy ra, ngày tháng năm thu lượm vàbảo quản Khi gói, bọc phải được dán hoặc đóng dấu niêm phong
Tùy thuộc chủng loại dấu vết, số lượng, kích thước dấu vết, tình trạng của dấuvết để lựa chọn phương pháp, phương tiện bảo quản phù hợp như: đóng gói, đựngtrong bìa các-ton, đựng trong phong bì, trong túi nilon, trong chai lọ
e Đánh giá dấu vết hình sự
Dấu vết hình sự là những phản ánh vật chất, xuất hiện và tồn tại ở hiện trườngtrong mối quan hệ với vụ việc mang tính hình sự Mỗi dấu vết hình sự đều chứa đựngmột lượng thông tin nhất định về vụ việc mang tính hình sự xảy ra Nếu phát hiện, thuthập, đánh giá khai thác thông tin từ dấu vết hình sự một cách đầy đủ, tập hợp thành
hệ thống, có thể biết được về sự thật của vụ việc đang được tiến hành điều tra Đặcbiệt những thông tin được khai thác qua đánh giá dấu vết hình sự ngay tại hiện trường
là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhiều khi quyết định tới sự thành bại của quátrình điều tra
Có thể hiểu đánh giá dấu vết hình sự là hoạt động của các chủ thể được phápluật quy định, dựa trên cơ chế hình thành, cấu tạo, tính chất, đặc điểm của dấu vếthình sự và những kiến thức chuyên môn, cùng với kinh nghiệm thực tiễn của chủ thểđánh giá, chủ thể đánh giá sẽ tác động trực tiếp vào dấu vết bằng nhiều phương phápnhư quan sát, đo đạc, phân tích, so sánh tổng hợp, thực nghiệm, thí nghiệm để từ đókhai thác triệt để thông tin hình sự có trong dấu vết phục vụ điều tra, xử lý tội phạm
- Nguyên tắc đánh giá dấu vết hình sự
+ Đánh giá dấu vết hình sự tại hiện trường phải khách quan, toàn diện, khoahọc và đúng pháp luật
+ Đánh giá dấu vết hình sự tại hiện trường phải nhanh chóng, kịp thời và phải đặtchúng trong mối quan hệ với các dấu vết, vật chứng và các tin tức tài liệu khác
- Căn cứ đánh giá dấu vết hình sự
Đánh giá dấu vết hình sự có thể dựa vào một số căn cứ như:
+ Hình thức tồn tại của dấu vết tại hiện trường: in lồi, in lõm; lõm, trượt, cắt;rắn, lỏng, khí…
+ Đặc điểm của dấu vết: hinh dạng, màu sắc, kich thước, hướng chuyển động,mối quan hệ của dấu vết với các dấu vết khác
+ Tình trạng của dấu vết: khô, ướt, sự bám bụi, sự phân hủy, số lượng
+ Mối quan hệ giữa các dấu vết, giữa dấu vết với các vật chứng, đồ vật, tửthi… tại hiện trường
- Những thông tin khai thác qua đánh giá dấu vết hình sự tại hiện trường có thểrút ra được nhưng thông tin sau: Cơ chế hình thành của dấu vết; thời gian xuất hiện vàtồn tại của dấu vết; chất lượng của dấu vết; mối quan hệ của dấu vết với vật gây vết,
Trang 22với nguồn gốc của dấu vết, khả năng khai thác thông tin của dấu vết; lựa chọn đượcnhững dấu vết có đủ yếu tố giám định để ra quyết định trưng cầu giám định, thu mẫu
so sánh Kết quả đánh giá dấu vết hình sự tại hiện trường tuy không phải là chứng cứpháp lý sử dụng trong điều tra, truy tố, xét xử, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việcxây dựng các giả thuyết điều tra, kế hoạch điều tra, định hướng hoạt động điều trađược nhanh chóng, kịp thời
g Tài liệu gửi giám định dấu vết hình sự
- Quyết định trưng cầu giám định là một căn cứ pháp lý của hoạt động giámđịnh Hoạt động giám định chỉ được tiến hành khi có văn bản trưng cầu giám định của
cơ quan điều tra và các cơ quan khác do luật định Để đảm bảo tính thống nhất tronghoạt động tố tụng, Bộ Công an đã ban hành mẫu Bản trưng cầu giám định Bản trưngcầu giám định đảm bảo giá trị pháp lý phải đảm bảo các yêu cầu về hình thức và nộidung cần thiết
Về mặt hình thức, bản trưng cầu giám định đảm bảo các yêu cầu sau đây:
+ Bản trưng cầu giám định phải thực hiện theo mẫu thống nhất mà Bộ Công an
đã ban hành (Mẫu số 36 Quy định ban hành theo Quyết định số 1351/QĐ-BCA(C11)ngày 16-11-2004), trong đó phải ghi đầy đủ các mục đã quy định
+ Người trưng cầu giám định phải đúng thẩm quyền mà luật tố tụng quy định.+ Ngôn ngữ sử dụng trong trưng cầu giám định là tiếng Việt phổ thông, khôngđược sử dụng phương ngữ hoặc ngôn ngữ dân tộc thiểu số
+ Bản trưng cầu giám định phải được người trưng cầu giám định ghi rõ chứcdanh tư pháp và ký tên, đóng dấu của cơ quan điều tra
Nội dung bản trưng cầu giám định phải thể hiện được: Người trưng cầu giámđịnh phải ghi rõ cơ quan giám định hoặc người giám định được trưng cầu để thực hiệncông tác giám định Phải ghi rõ lĩnh vực giám định để giải quyết yêu cầu đặt ra Nêutóm tắt tình hình sự việc liên quan đến việc trưng cầu giám định
+ Phải mô tả đối tượng giám định Đối tượng nghiên cứu trong giám định dấuvết gồm đối tượng giám định và mẫu so sánh Đối tượng giám định có thể là dấu vếtnguyên bản, ảnh dấu vết, dấu vết được thu lượm bằng các phương pháp sao in, đúckhuôn bằng các vật liệu với các phương pháp khác nhau Trong bản trưng cầu giámđịnh phải mô tả chi tiết và làm rõ các thông tin như: Đối tượng cần giám định là loại gì(dấu vết, sao in dấu vết ); Đặc điểm của các đối tượng này; Trong những trường hợpcần thiết, phải mô tả cả phương pháp phát hiện thu lượm để cơ quan giám định hoặcngười giám định có thể đánh gía được các biến đổi có thể đã xảy ra
+ Nêu yêu cầu giám định một cách cụ thể, rõ ràng
Trường hợp trưng cầu giám định bổ xung, cơ quan trưng cầu giám định phải cóbản trưng cầu giám định bổ xung (Mẫu số 37 Quy định ban hành theo Quyết định số1351/QĐ-BCA(C11) ngày 16-11-2004) Ngoài các thủ tục pháp lý như trưng cầu giámđịnh lần đầu, trưng cầu giám định bổ sung phải mô tả mẫu vật gửi giám định bổ sung
và nêu rõ yêu cầu giám định bổ sung
Trong trường hợp trưng cầu giám định lại, cơ quan trưng cầu giám định phải cótrưng cầu giám định tương tự như trưng cầu giám định lần đầu ngoài ra phải gửi kèmtheo tất cả các tài liệu liên quan đến hoạt động giám định trước đó mà cơ quan trưngcầu giám định đã nhận được từ cơ quan giám định như: bản kết luận giám định, mẫuvật giám định, các tài liệu có liên quan khác mà cơ quan hoặc người giám định đãhoàn trả cho cơ quan trưng cầu giám định Cơ quan trưng cầu giám định cũng có thểgửi kèm theo các tài liệu khác có liên quan mà cơ quan điều tra thu thập được có thể
có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu đáng giá dấu vết của cơ quan giám định
- Đối tượng giám định
Trang 23+ Đối tượng cần giám định, bao gồm các đối tượng là vật mang hoặc nghi là vậtmang dấu vết; ảnh chụp dấu vết; bản sao dấu vết.
+ Mẫu so sánh, bao gồm các đồ vật, vật thể; các dấu vết và phản ánh của conngười: Mẫu so sánh là các đồ vật, vật thể; Mẫu so sánh là dấu vết và phản ánh của conngười; Mẫu so sánh là các chuẩn khoa học mà khoa học đã chứng minh và thừa nhận
II NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOẠI DẤU VẾT THƯỜNG GẶP
1 Nghiên cứu dấu vết đường vân tay
a Cơ chế hình thành dấu vết đường vân tay và những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành dấu vết trên hiện trường
Đường vân tay có ở lòng bàn tay, các ngón tay của con người, đó chính là cácđường gấp da nhỏ chạy kề sát nhau theo nhiều hướng khác nhau Ngoài ra, đường lõmxen giữa các đường vân gọi là khe giữa hai đường vân (còn gọi là rãnh đường vân)
Đường vân tay của người trưởng thành, có chiều cao từ 0,1 mm đến 0,4 mm,rộng từ 0,2 mm đến 0,7 mm Trên các đường vân có nhiều lỗ mồ hôi nối tiếp nhau Cứ
1 cm đường vân có từ 9 đến 18 lỗ mồ hôi, đường kính các lỗ mồ hôi từ 0,08 đến 0,25
mm (mỗi lỗ mồ hôi có hình dạng, kích thước riêng và có thể dùng như một đặc điểmriêng trong giám định) Khe giữa hai đường vân bao giờ cũng có kích thước chiềungang bé hơn đường vân
Đường vân tay của người có ba tính chất đặc trưng cơ bản là: tính riêng biệt,tính ổn định tương đối về hình thức và tính phục hồi Đây là cơ sở khoa học cho việcnhận dạng, truy nguyên con người qua dấu vết đường vân tay
- Cơ chế hình thành dấu vết đường vân tay
Quá trình hoạt động của người luôn sử dụng đôi bàn tay của mình vào việc thựchiện các hoạt động, các thao tác như: cầm, nắm, sờ mó, tì, ấn, xách, xô đẩy… vào công
cụ, phương tiện, đồ vật, tài sản thì tại các vị trí tiếp xúc giữa lòng bàn tay, các ngóntay với bề mặt vật thể đó, dấu vết vân tay được hình thành Dấu vết vân tay là hình ảnhcủa sự tác động, phản ánh hình dạng, đặc điểm bên ngoài của đường vân trên lòng bàntay và ngón tay của người
Dấu vết đường vân tay là một trong những loại dấu vết được hình thành khi taytiếp xúc với bề mặt của vật mang vết có tính chất vật lý khác nhau; tùy theo các hìnhthức tác động, lực tác động mạnh, yếu khác nhau mà dấu vết đường vân được hìnhthành theo những dạng khác nhau như:
+ Dấu vết vân tay ở dạng dấu vết in, bao gồm in lõm và in lồi
+ Dấu vết vân tay mồ hôi
+ Dấu vết vân tay ở dạng dấu vết lõm
- Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của dấu vết đường vân tay+ Tính chất mồ hôi, thành phần định lượng của mỗi chất có trong mồ hôi củangười ta không hoàn toàn giống nhau Cùng một lượng mồ hôi như nhau, người nào cóthành phần các axítamin nhiều hơn các muối (mồ hôi dầu) thì chất lượng dấu vết sẽ tốthơn, sự tồn tại của nó ở hiện trường sẽ bền vững hơn và ngược lại nếu các muối nhiềuhơn các axítamin (mồ hôi muối), thì chất lượng dấu vêt sẽ kém hơn
Nếu cùng một thành phần định lượng như nhau, người nào có lượng mồ hôi bàitiết nhiều hơn, thì dấu vết để lại sẽ có chất lượng cao hơn, và lượng mồ hôi ít hơn thìchất lượng dấu vết sẽ kém hơn
+ Độ cao của đường vân: độ cao đường vân tay người ta cũng có sự khác nhau
và nó ảnh hưởng tới chất lượng dấu vết, do nó tạo ra ở hiện trường Thông thường,chiều cao đường vân tay càng lớn thì chất lượng dấu vết để lại càng tốt, thuận lợi choviệc làm rõ dấu vết đạt kết quả cao Nếu độ cao của đường vân tay kém thì chất lượngdấu vết càng giảm Đặc biệt trong những trường hợp đường vân tay bị bào mòn do tínhchất của một quá trình lao động nào đó (thợ xây chẳng hạn) hoặc da tay bị bóc lớp biểu
Trang 24bì do cơ thể thiếu chất, đường vân tay quá phẳng, dấu vết sẽ bị mờ nhoè do đường vân
và khe giữa hai đường vân Càng tiếp xúc vào vật trong quá trình hình thành dấu vết,làm cho khả năng phân biệt đường vân và khe giữa hai đường vân có nhiều khó khăn
+ Tính chất vật lý của vật mang vết: tính chất vật lý của vật mang vết có tác độngkhông nhỏ tới chất lượng của dấu ở hiện trường, tính chất đó bao gồm màu sắc, bề mặtnhẵn bóng hay không, độ cứng mềm của vật mang vết Trên thực tế bề mặt của vậtcàng nhẵn bóng bao nhiêu thì dấu vết để lại càng rõ ràng bấy nhiêu như gương, kính, sắt
mạ kền chẳng hạn Màu sắc của vật mang vết khác màu sắc của dấu vết in (có màu) thìdấu vết càng rõ Độ cứng mềm của vật mang vết có tính chất quyết định tới hình thứcthể hiện của dấu vết Vật cứng thì giữ lại dấu vết in; vật mềm sẽ hình thành trên đó dấuvết lõm
+ Tuổi của dấu vết (hay thời gian tồn tại của dấu vết): là khoảng thời gian từ khidấu vết được hình thành đến khi tiến hành phát hiện và làm rõ nó
Dấu vết còn mới, thời gian tồn tại dấu vết ở hiện trường còn ít, sự tác động củađiều kiện tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, gió, ánh sáng vào dấu vết còn ở mức hạnchế, dấu vết bị biến đổi ít, mặt khác lượng nước có trong mồ hôi chưa bị bay hơinhiều, các chất hữu cơ và vô cơ chưa bị “khô” do tác động của nhiệt độ môi trường
do đó dấu vết có khả năng bám dính cao với bột hoá chất mà ta sử dụng, dấu vết sẽhiện rõ và đạt chất lượng tốt hơn Kết quả đó sẽ giảm dần nếu thời gian tồn tại của dấuvết càng lâu, vết càng cũ
+ Lực tác động, thời gian tác động: là hai yếu tố quan trọng trong quá trình hìnhthành dấu vết Lực tác dụng sinh ra trong quá trình cầm, nắm, tỳ, ấn vào vật mangvết Lực tác dụng, thời gian tác động như thế nào thì tạo ra dấu vết như thế ấy Thôngthường, lực tác động mạnh, thời gian tác động lâu thì dấu vết vân tay để lại có chấtlượng cao và ngược lại thời gian tác động nhanh, lực tác động yếu thì chất lượng củadấu vết kém, dấu vết mờ nhạt, các đặc điểm riêng của dấu vết thể hiện không rõ ràng
b Phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá dấu vết đường vân tay tại hiện trường
- Phát hiện, làm rõ dấu vết đường vân tay
+ Phát hiện dấu vết đường vân tay ở hiện trường thường sử dụng hai phươngpháp sau:
* Quan sát và kết hợp với việc sử dụng phương tiện kỹ thuật, để xác định dấuvết đường vân tay ở vị trí nào trên các vật mang vết Để quan sát và phát hiện được cácdấu vết, cần sử dụng phương tiện kỹ thuật thích hợp khi quan sát như: kính lúp cầmtay, ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo (đèn chiếu xiên, nguồn sáng của máyPOLYLIGHT) với góc chiếu phù hợp Thông thường, vết chiếu càng nông thì gócchiếu càng bé Mắt quan sát phải ở vị trí tia khúc xạ của ánh sáng
Với những vật nhỏ có thể cầm lên nghiêng đi, nghiêng lại trước nguồn sáng cógóc chiếu phù hợp để cho ta nhìn thấy rõ dấu vết Vật lớn có thể điều chỉnh bằng cáchnghiêng đầu… Khi cầm vật cần chú ý không để lại dấu vết và xoá mất dấu vết của tộiphạm Muốn vậy, phải cầm ở vị trí trái qui luật cầm nắm đối với từng đồ vật cụ thểnhư cầm nắm vào cạnh, mép Những nơi kín, khuất khó quan sát, nếu nghi có dấu vếtvân tay thì phải sử dụng gương soi làm gương phản chiếu để quan sát
Đối với dấu vết đường vân tay lõm hoặc in lõm, in lồi có màu sắc do tay códính các chất màu như máu, sơn bằng phương pháp quan sát, đa số các dấu vết đềuđược phát hiện
* Phán đoán phát hiện dấu vết là việc dựa vào cơ chế hình thành dấu vết đườngvân tay, sự phân tích, suy luận lôgíc để phát hiện dấu vết
Để phán đoán tốt cần phải nắm được tính chất, quá trình diễn biến của vụ việyxảy ra Phải nắm vững quy luật hoạt động của tội phạm; quy luật diễn biến hành vi
Trang 25phạm tội, quy luật cầm nắm, tỳ, ấn đối với từng đồ vật cụ thể, cần nhận định đồ vật
đó có thể có dấu vết để lại hay không, vị trí của dấu vết trên các đồ vật đó hoặc trên cơ
sở dấu vết này, để xác định dấu vết kia Cần chú ý tới khu vực lối ra, lối vào, đặc biệt
là khu vực xung quanh dấu vết bị cậy phá, bất cứ khu vực, vị trí nào bị xáo trộn như làngăn bàn bị mở, tủ bị cậy phá, tài liệu bị lục sót… Khi đã nhận định những nơi, vị tríhoặc đồ vật có thể tồn tại dấu vết vân tay thì cần tập trung phương tiện hỗ trợ để tạonguồn sáng vào vật Nguồn sáng đó có thể là ánh sáng tự nhiên hay nguồn sáng nhântạo như: đèn pin, đèn chiếu xiên
Khi phát hiện dấu vết vân tay do mồ hôi để lại, cần sử dụng các phương tiện, kỹthuật hỗ trợ như đèn cực tím, đèn hồng ngoại, tia lade, máy soi đa phổ để soi với góc
độ thích hợp làm cho dấu vết phát quang, dễ phát hiện
Để phát hiện dấu vết đường vân tay ở hiện trường thường sử dụng các loại ánhsáng như ánh sáng trắng, các ánh sáng đơn sắc bằng các đèn Polilight, poliray, máy soi
đa phổ để làm phát quang dấu vết
+ Làm rõ dấu vết đường vân tay: Đối với loại dấu vết đường vân tay mồ hôi,tồn tại ở dạng dấu vết ẩn khó nhìn thấy, để ghi nhận, thu lượm được cần tiến hành làmhiện rõ dấu vết Một số phương pháp làm hiện rõ dấu vết đường vân tay mồ hôi:
* Phương pháp lý học (quét bột)
Do tính chất và thành phần cấu tạo mồ hôi mà dấu vết vân tay do mồ hôi để lại
có khả năng bám dính với một số bột hoá học Phương tiện sử dụng là: bột hoá học,chổi lông chuyên dụng hoặc bình phun bột
Bột dùng để làm rõ dấu vết đường vân cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:nhỏ, mịn và khô; có khả năng bám dính trên bề mặt vật mang vết; có khả năng bóctách ra khỏi vật mang vết; không vón cục, kết dính vào nhau; có độ tương phản cao sovới màu bề mặt vật mang vết Chổi lông sử dụng phải mềm và khô ráo
Bột hóa học được sử dụng để làm hiện rõ dấu vết vân tay bằng phương pháp lýhọc bao gồm: Bột ô xít nhôm; Bột ô xít đồng một; Bột ô xít đồng hai; Bột ô xít kẽm;Bột ô xít chì; Bột ô xít sắt; Bột grapít (chì); Bột sắt; Muội khói; Bồ hóng; Bột đồngnhũ; Bột thạch cao… Các loại bột này sử dụng có hiệu quả khi dấu vết vân tay tồn tại
ở hiện trường từ 7 ngày trở xuống Nếu dấu vết 1 ngày tuổi thì sử dụng các loại bột,còn dấu vết từ 1 đến 4 ngày tuổi thì sử dụng xông hơi I-ốt là hiệu quả nhất
Cách tiến hành rắc bột vào vết cần tuỳ đặc điểm, tính chất của vật mang vết mà
áp dụng cho phù hợp như: Dấu vết để lại trên giấy thì đổ bột trực tiếp lên giấy, sau đóláng đi láng lại nhiều lần, khi vết hiện rõ (tuyệt đối không dùng chổi để quét bột trongtrường hợp này); Vật mang vết có bề mặt thẳng đứng, dùng bình phun bột vào vết,dùng chổi lông quét nhẹ một chiều trực tiếp vào vết; Vật mang vết có bề mặt nằm ngang,dùng chổi lông chấm bột sau đó gõ để bột rơi phủ đầy và kín vết, dùng chổi lông quét nhẹmột chiều Hoặc có thể dùng bình phun bột vào vết thay cho việc dùng chổi lông chấm bột
Đối với vật không bị nóng chảy do tác dụng nhiệt như sắt tráng men, sắt mạkền, sứ, kính sử dụng nhựa tổng hợp P.V.C, nhựa thông, cao su, long não (băngphiến), bột xốp bảo vệ máy đốt cháy để muội khói bám đen dấu vết và dùng chổilông quét nhẹ một chiều vết sẽ hiện rõ
Dùng chổi nam châm để quét bột sắt trên các vật mang vết không phải là sắtnhư đồ nhựa, gỗ
Sử dụng phương pháp quét bột cần lưu ý: Khi quan sát phát hiện và khẳng định
có dấu vết đường vân mồ hôi thì phải chụp ảnh trước, sau đó mới dùng bột để quét.Dùng loại bột có độ tương phản cao với màu của vật mang vết Dấu vết đường vândính bụi, dính chất mầu, mất bụi, dính máu không dùng phương pháp quét bột Phảikiểm tra chất lượng bột và chổi trước khi quyết định quét bột lên vật mang vết Cáchkiểm tra có hiệu quả nhất là thực nghiệm trên vật cùng loại, nếu nhận thấy có kết quả
Trang 26tốt mới tiến hành làm trên vật mang vết Không lạm dụng phương pháp quét bột vào tất
cả các trường hợp, chỉ áp dụng trong trường hợp với bề mặt phẳng nhẵn
* Phương pháp hóa học là phương pháp sử dụng một số hoá chất, cho tác dụngvới một số chất có trong mồ hôi, làm dấu vết nổi rõ, có màu mà ta nhận biết được
Hoá chất dùng để làm rõ dấu vết bao gồm:
Dung dịch Nin Hy drin: Dung dịch được đưa vào bình phun, phun lên chỗ nghi
có dấu vết, có thể nhúng cả vật mang vết vào bình (chậu) đựng dung dịch, hoặc dùngque thuỷ tinh có quấn bông tẩm dung dịch và quét lên chỗ nghi có dấu vết Sấy khô vếtdưới bóng đèn pha; bếp điện vết tay sẽ hiện lên có màu đỏ Phản ứng xảy ra là dodung dịch Nin Hy drin tác dụng với axítamin trong mồ hôi Trường hợp vân tay trêngiấy, có thể dùng một tờ giấy khác gấp đôi, nhúng vào dung dịch, sau đó kẹp tờ giấy
có dấu vết vào giữa Dùng bàn là hơi nóng, là nhẹ lên giấy sau một thời gian vết sẽhiện rõ
Dung dịch Nitơrát bạc (AgNO3): Phương pháp tiến hành làm rõ dấu vết tương
tự như đối với dung dịch Ninhydrin Việc sấy khô có thể tíên hành dưới ánh sáng củađèn hồng ngoại Vết hiện lên có màu trắng và sau đó dưới tác dụng của ánh sáng vết sẽchuyển thành màu nâu sẫm
Phản ứng xảy ra là doAgNO3tác dụng với NaCl có trong mồ hôi Bạc kết tủa có
màu trắng: Dưới tác dụng của ánh sáng, bạc chuyển thành màu nâu sẫm (Dung dịchnày phải được bảo quản trong lọ màu)
Dung dịch Alô xan (C4H2O4N2): Phương pháp tiến hành như đối với hai dungdịch trên sau 10 đến 12 giờ vết sẽ hiện rõ
Dung dịch Benzidin (C6H4NH22): Dung dịch Bezidin chỉ dùng để làm rõ dấuvết vân tay có dính máu Dùng giấy pôly trong suốt bóc bỏ một tấm mê-ca, rồi nhúnglớp thuốc gêlatin trên tấm mê-ca còn lại vào dung dịch Sau đó phơi khô, nơi thoánggió dán lớp gêlatin lên dấu vết, gỡ ra và dán tấm mê ca đã bóc bỏ lên lớp gêlatin đểbảo vệ dấu vết, vết sẽ hiện rõ và có màu xanh đậm Hoặc có thể phun, quét, nhúng vàodung dịch
Để việc phát hiện dấu vết vân tay đạt hiệu quả cao nhất tránh làm hư hỏng dấuvết, phải sử dụng phương pháp, phương tiện kỹ thuật thích hợp Trước khi quyết địnhviệc lựa chọn phương pháp, phương tiện nhất thiết phải làm thực nghiệm Thựcnghiệm phải tiến hành trên vật mang vết tương tự hoặc ở vị trí khác trên vật mang vết
đã được xác định chắc chắn là không có dấu vết của tội phạm để lại
Chỉ sử dụng phương pháp hoá học để làm rõ dấu vết vân tay trong nhữngtrường hợp xét thấy việc sử dụng phương pháp lý học sẽ không mang lại hiệu quả
* Phương pháp I-ốt: I-ốt (I2) có tính thăng hoa Dựa vào đó, người ta có haicách làm rõ dấu vết bằng hơi I-ốt: Phương pháp I-ốt lạnh, Phương pháp I-ốt nóng.Bằng hơi I-ốt, có thể làm hiện rõ dấu vết vân tay để lại trên tường vôi, vách đất, giấy,vải I-ốt là một chất ô xi hoá mạnh, có thể làm cháy vật mang vết và làm hư hỏng dấuvết, do vậy: tuyệt đối không để vật mang vết tiếp xúc trực tiếp với I-ốt tinh thể
* Phương pháp xông keo là phương pháp phát hiện dấu vết đường vân, dựa trênnguyên lý bốc hơi, sinh nhiệt, đông cứng, phản ứng với dấu vân tay của cyanoacrylate.Dấu vết thu được có thể nhìn thấy dưới ánh sáng thông thường hoặc phát quang
Phương pháp này áp dụng với các dấu vết tương đối lâu, không cho phép quétbột thì tiến hành xông keo; xông keo được sử dụng trên những bề mặt không thẩm thấunylon, băng dính, gương, sành sứ… Dấu vết đường vân phát hiện bằng phương phápxông keo có màu trắng, do đó để tạo độ tương phản của dấu vết đường vân trong trườnghợp bề mặt vật mang vết là màu trắng hoặc nhiều màu, sau khi xông keo được vài phút,đợi cho keo tương đối khô ta có thể dùng bột đen để quét nhẹ, dùng bột phát quang hoặc
Trang 27sử dụng bằng phương pháp nhuộm màu (không dùng chổi quét bột lên vật mang là túinylon) Phương pháp này cần thận trọng vì hơi keo rất độc.
* Một số phương pháp khác làm hiện rõ dấu vết đường vân như: Sử dụng ánhsáng laser để phát hiện dấu vết đường vân trong những vật mang vết đặc biệt, có bềmặt sù sì, thô ráp Dùng tia phóng xạ để phát hiện dấu vết đường vân trên vải, trên dangười Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, các phương pháp này vẫn chưa đượcnghiên cứu và ứng dụng một cách rộng rãi
- Ghi nhận dấu vết đường vân tay bằng các phương pháp mô tả dấu vết, chụp
ảnh và vẽ phác họa dấu vết Trong chụp ảnh dấu vết đường vân, cần chú ý phải phải
phân biệt rõ đường vân và khe giữa hai đường vân cũng như các đặc điểm riêng của
nó Khi chụp cần chọn máy ảnh có ống nối hoặc chụp được ở chế độ Macro, có chânmáy, dây bấm để chụp ở tốc độ chậm
- Thu lượm dấu vết đường vân tay
+ Thu lượm dấu vết cùng vật mang vết áp dụng với những vật mang vết nhỏ,nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở hoặc với những vật mà có thể tách một phần vậtmang vết để thu dấu vết mà không ảnh hưởng tới kinh tế cũng như các vấn đề khác cóliên quan
+ Sao in dấu vết thường được áp dụng để thu lượm đối với dấu vết vân tay mồhôi đã làm rõ bằng phương pháp lý học Vật liệu dùng để sao in dấu vết bao gồm: giấypôly, băng dính trong suốt
+ Đúc khuôn để thu lượm dấu vết lõm bằng bột thạch cao hoặc silicon
Ngoài ra chụp ảnh đặc tả dấu vết đường vân chính là một phương pháp thu lượm dấuvết bởi bức ảnh chụp có thể được sử dụng trong đánh giá, giám định
- Bảo quản dấu vết đường vân tay: Với những dấu vết được thu lượm bằngphương pháp thu cùng vật mang vết hoặc đúc khuôn dấu vết thì cần phải đóng hộp đểđựng, với những dấu vết được thu lượm bằng phương pháp sao in, thì sử dụng phong
bì để bảo quản dấu vết Chỉ thu lượm bảo quản những dấu vết có giá trị truy nguyên,đối với những dấu vết không có đủ yếu tố giám định, thì chỉ cần ghi nhận dấu vết,đánh giá và khai thác những giá trị thông tin cần thiết mà không cần thiết phải thulượm và bảo quản chúng
- Đánh giá dấu vết đường vân tay: Dấu vết đường vân tay là một loại dấu vếthình sự cụ thể, do vậy đánh giá dấu vết đường vân tay cũng tuân theo những nguyêntắc, phương pháp của đánh giá dấu vết hình sự nói chung Qua nghiên cứu, việc đánhgiá dấu vết đường vân tay tại hiện trường có thể dựa trên các căn cứ sau đây:
+ Căn cứ vào hình thái đường vân lòng bàn tay để xác định dấu vết do phần nàocủa lòng bàn tay để lại
+ Căn cứ vào hình thái đường vân đốt đầu ngón tay
Nếu là loại vân hình cung, cách xác định như sau: Tưởng tượng một đườngthẳng từ trên xuống dưới đi qua đỉnh các đỉnh cung, đường thẳng đó xiên sang bên bênphải, dấu vết thuộc bàn tay phải và ngược lại
Nếu là loại vân hình quai, căn cứ vào hướng quay của chân quai: quay về bênphải, dấu vết thuộc bàn tay phải và ngược lại
Nếu là vân hình xoáy: Vân xoáy ốc từ trong ra ngoài thuận chiều kim đồng hồthì dấu vết thuộc bàn tay trái, ngược chiều kim đồng hồ thì thuộc bàn tay phải; Vânxoáy hình bầu dục: Tưởng tượng một đường thẳng đi qua tâm điểm từ trên xuốngdưới, đường thẳng đó xiên về phía nào thì dấu vết vân tay của bàn tay bên đó; Vânxoáy hình chữ S: Nếu xoáy chữ S thuận là dấu vết của bàn tay trái, xoáy chữ S nghịch
là của bàn tay phải; Ngoài ra với vân hình xoáy, căn cứ vào vị trí của 2 tam phân điểmchính, tam phân điểm ở bên nào cao hơn thì dấu vết thuộc bàn tay bên đó
Trang 28Tuy nhiên qua tính toán của các nhà khoa học xác định, các căn cứ nêu trên chỉđúng 95% còn 5% thường trái với qui luật Trong 5% trái qui luật, thì ngón trỏ chiếmkhoảng 3% còn 2%, thường rơi vào các ngón khác còn lại (nói cách khác, trong 100mẫu đường vân trái qui luật thì 70% thuộc về ngón trỏ, 10% thuộc về ngón giữa, 10%thuộc vê ngón út, 5% còn lại thuộc về ngón cái)
Đối với hình thái đường vân đốt giữa và đốt gốc, 95% đường vân đốt giữa vàđốt gốc ngón cái, ngón trỏ bàn tay trái thì xiên phải, 99% đường vân đối với ngón útbàn tay trái thì xiên trái, tay phải sẽ ngược lại Các ngón giữa và ngón nhẫn không tuântheo một quy luật nào cả
+ Căn cứ cấu trúc tự nhiên của bàn tay; căn cứ vào cơ chế cầm nắm, tì tựa củatay để xác định dấu vết bàn tay nào, do ngón nào của bàn tay để lại và cơ chế hìnhthành dấu vết
Nếu vật bị cầm nắm, dấu vết của các ngón tay sẽ có chiều hướng in đậm về phíatrong của càng cua kể cả hai bàn tay
Nếu bàn tay ấn vào vật có mặt phẳng, các ngón (trỏ, giữa, nhẫn, út) của bàn taynào thì in lệch và đậm về phía đó, ngón cái có chiều hướng ngược lại
Trong tư thế cầm vật, giữa các đốt (thứ nhất và thứ hai; thứ hai và đốt gốc) của cácngón tay sẽ tạo ra dấu vết có chỗ khuyết góc, miệng góc quay về bên nào thì dấu vết thuộcbàn tay bên đó, dấu hiệu này thường xuất hiện ở ngón trỏ và ngón giữa
Theo cấu tạo chung thì ngón giữa là cao nhất, rồi đến ngón nhẫn, ngón trỏ, út vàthấp nhất là ngón cái
Nếu cầm nắm vật, thì bốn ngón (trỏ, giữa, nhẫn và út) nằm một phía, còn ngóncái thì nằm về phía đối diện
Ngón trỏ có hình bầu dục vẹt một bên, phần vẹt về bên phải là ngón trỏ của bàntay trái, vẹt về bên trái là ngón trỏ của bàn tay phải; Ngón cái nằm đơn độc, có kíchthước lớn nhất dạng hình đống rơm có một phần dòng đường vân trên chạy song song
và xiên về một phía, dòng đường vân đó xiên về bên nào thì dấu vết đó là của ngón cáithuộc bàn tay bên đó; Ngón nhẫn, ngón giữa thường có hình chữ nhật, ngón út thường
có kích thước bé nhất
+ Căn cứ vào hình dạng, kích thước của dấu vết; vị trí xuất hiện của dấu vết đểđánh giá dấu vết phần nào bàn tay để lại, cơ chế hình thành dấu vết và một số đặc điểmcủa người để lại dấu vết (bàn tay, ngón tay có sẹo, tay thuận)
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp còn có thể căn cứ vào độ cũ, mới, bóng, sángcủa dấu vết; mật độ bám dính còn nhiều hay ít của mồ hôi của dấu vết đường vân bámdính trên vật mang vết để đánh giá dấu vết đường vân hình thành, tồn tại ở hiện trườngvới khoảng thời gian nhất định là bao lâu
+ Căn cứ vào đặc điểm đường vân để đánh giá dấu vết đủ yếu tố giám định haykhông Để đánh giá dấu vết đủ yếu tố giám định hay không, các chủ thể phải có kiếnthức cơ bản về những đặc điểm của đường vân, đó là cơ sở cho việc thu hay thu dấuvết đường vân để giám định
Có các căn cứ sau đây: Phải nhận rõ vân và rãnh vân; phải nhận rõ đặc điểmchung (cung, quai, xoáy), tối thiểu phải nhận rõ 8 đặc điểm riêng Nếu không nhận rõđặc điểm chung, tối thiểu phải nhận rõ 12 đặc điểm riêng Những đặc điểm riêng đóphải có sự liên kết, không được chọn đặc điểm riêng mà tiếp theo không nhận rõđường vân Khi số đặc điểm riêng nhận biết được ít hơn 8 đặc điểm (nhận biết đượcđặc điểm chung) hoặc ít hơn 12 đặc điểm (không nhận biết được đặc điểm chung) thìdấu vết không đủ điều kiện giám định
c Tài liệu gửi giám định dấu vết đường vân tay
Tài liệu gửi giám định dấu vết đường vân tay gồm bản trưng cầu giám định(quyết định trưng cầu giám định hoặc bản yêu cầu giám định) và đối tượng giám định
Trang 29(dấu vết đường vân thu được tại hiện trường và chỉ bản mẫu so sánh) Câu hỏi yêu cầu
giám định thường là: dấu vết đường vân tay phát hiện tại hiện trường có phải của Nguyễn Văn A để lại Ngoài ra có thể gửi dấu vết đường vân tay đi tra cứu trong tàng
thư tra cứu vân tay tự động (VAFIS)
2 Nghiên cứu dấu vết chân, giày, dép
Có thể nói, mọi hoạt động của con người nói chung, hoạt động của tội phạm ởhiện trường nói riêng đều gắn liền với quá trình vận động Quá trình đó tất yếu đượcphản ánh trên các đối tượng mà chân, giày, dép tiếp xúc như đường đi, lối đi, vườntược, sân thềm, nền nhà, mặt bàn ghế… bằng hệ thống dấu vết chân, giày, dép Vậy,
đề có thể khai thác được thông tin từ các đối tượng vật chất đó phục vụ cho công tácđiều tra tội phạm thì cần hiểu rõ dấu vết chân, giày, dép được hình thành tại hiệntrường như thế nào? Yếu tố nào tác động tới sự hình thành dấu vết chân, giày, dép?
a Cơ chế hình thành dấu vết chân, giày, dép tại hiện trường
Quá trình đi lại, do tác động của trọng lượng cơ thể cùng với trọng lượng của
đồ vật mà con người mang theo dồn nén lên bề mặt vật mang vết, tại vị trí tiếp xúc trên
bề mặt của vật bị tác động sẽ hình thành dấu vết chân, giày, dép Dấu vết chân, giày,dép hình thành ở hiện trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Trọng lượng
cơ thể, trọng lượng của các đồ vật mà con người mang vác theo, mầu sắc cũng nhưtính chất bề mặt, kết cấu vật chất của vật mang vết, thiết diện tiếp xúc, tốc dộ tác độngcủa bàn chân trong quá trình bước đi, trạng thái chuyển động (đi, đứng, chạy, nhảy…).Nếu làm thay đổi một trong các yếu tố đó thì hình thức thể hiện và cơ cấu dấu vết cũngthay đổi theo Ví dụ: Nếu đi trên đất bùn ướt thì dấu vết lớn hơn bàn chân; Đi trên cátkhô, đất bụi dày thì kích thước dấu vết nhỏ hơn bàn chân hoặc khi đứng dấu vếtthường lớn hơn khi đi… Do vậy, khi nghiên cứu dấu vết ở hiện trường cần chú ý phântích điều kiện và cơ chế hình thành dấu vết để có sự đánh giá dấu vết được đầy đủ,chính xác, đặc biệt trong công tác thu mẫu so sánh giám định, cần tạo ra điều kiện vàcác yếu tố tương tự để thu mẫu được đảm bảo khoa học
Do tính chất bề mặt và kết cấu vật chất của vật mang vết khác nhau mà dấu vết hìnhthành ở hiện trường có các loại: dấu vết in, dấu vết lõm, dấu vết trượt
- Dấu vết in hình thành khi vật mang vết cứng kết hợp với hiện tượng di chuyểnvật chất giữa bàn chân người hoặc đế giày, dép với vật mang vết khi chúng tác động vàonhau Cũng như dấu vết tay, dấu vết chân, giày, dép hình thành dưới dạng in lồi là do
mồ hôi bàn chân hoặc do bàn chân, đế giày, dép có dính một lớp mỏng vật chất tác độnglên bề mặt những vật mang vết sạch Dấu vết chân, giày, dép hình thành dưới dạng inlõm khi bàn chân người, giày, dép lấy đi một lớp mỏng vật chất phủ trên bề mặt của vậtmang vết
- Dấu vết lõm được hình thành trên các vật mang vết mềm như đất ướt, đất bùn,đất cát, đường nhựa nóng chảy…
- Dấu vết trượt được hình thành trên những bề mặt trơn, nhẵn bóng hoặc trênnhững bề mặt thẳng đứng khi con người đi, chạy nhảy, leo trèo bị trượt chân
b Phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá dấu vết chân người, giày, dép tại hiện trường
- Phát hiện dấu vết chân người, giày, dép tại hiện trường
Trước khi vào hiện trường, trong giai đoạn quan sát hiện trường nhiệm vụ đầutiên của cán bộ khám nghiệm là phải chú ý phát hiện dấu vết chân, giày, dép So vớidấu vết tay, việc phát hiện dấu vết chân không đòi hỏi kỹ thuật cao, thời gian nhiều,phương tiện hiện đại Để phát hiện dấu vết chân thông thường sử dụng hai phươngpháp là:
+ Phương pháp quan sát: Để phát hiện dấu vết chân, giày, dép có hiệu quả, cầnchọn vị trí có tầm quan sát tốt Cán bộ khám nghiệm phải nắm chắc quy luật đi lại của
Trang 30người, quy luật hoạt động của tội phạm ở hiện trường để quan sát tìm kiếm dãy bước
đi của thủ phạm và các dấu vết chân, giày, dép riêng lẻ Chú ý các đường vào, thoátkhỏi hiện trường Để tạo điều kiện cho quá trình quan sát thuận lợi có thể sử dụng cácnguồn sáng chiếu rõ khu vực hiện trường
+ Phương pháp phán đoán: Trong một số trường hợp, đối với những dấu vếtchân mồ hôi để lại trên nền mang vết sạch, dấu vết ở dạng ẩn hoặc dấu vết chân để lại
ở những vị trí khuất bị đồ vật che lấp cần áp dụng phương pháp phán đoán để pháthiện dấu vết Đối với dấu vết chân in lồi do mồ hôi để lại thì áp dụng các phương pháplàm rõ tương tự như dấu vết vân tay mồ hôi như: Phương pháp vật lý, phương pháphóa học, phương pháp dùng tinh thể I ốt, phương pháp xông keo, phương pháp dùngcác loại nguồn sáng và bước sóng khác nhau…
Phương tiện và phương pháp phát hiện dấu vết chân, giày dép ở hiện trườngđược sử dụng như đối với dấu vết tay
- Ghi nhận dấu vết chân, giày, dép
+ Chụp ảnh dấu vết chân, giày, dép
Trường hợp xuất hiện một dãy bước đi: Tiến hành chụp ảnh, ghi nhận cả dãybước đi Nếu chụp một kiểu ảnh không ghi nhận được hết, thì sử dụng phương phápchụp ảnh ghép đối với cả dãy bước chân Qua đánh giá xác định là dãy bước đi là củamột người thì chọn một dấu vết chân, giày, dép bên phải và bên trái rõ các đặc điểmnhất để chụp
Trường hợp phát hiện dấu vết chân, giày, dép riêng lẻ, khi chụp phải đảm bảo ghinhận được hai nội dung cơ bản là ghi nhận được vị trí của dấu vết tại hiên trường và ghinhận đặc tả dấu vết chân, giày, dép đó Khi chụp ảnh ghi nhận vị trí cần đặt số thứ tự bêncạnh dấu vết và lấy khuôn hình rộng Khi chụp đặc tả từng dấu vết chân, giày, dép phảituân thủ nguyên tắc của chụp ảnh dấu vết vật chứng như: Đặt thước tỉ lệ bên cạnh dấuvết; Trục ống kính phải vuông góc với bề mặt của dấu vết; Phải điều chỉnh các thông
số kỹ thuật đê tăng độ nét chiều sâu của bức ảnh; Quá trình chụp ảnh không được sửdụng biện pháp làm thay đổi nội dung bức ảnh Khuôn hình kiểu ảnh trong trường hợpnày phải đảm bảo lấy đầy được hình ảnh của dấu vết
+ Đo đạc và vẽ phác họa dấu vết chân, giày, dép
Tại hiện trường có dãy bước đi, trước hết đo dãy bước chân, sau đó chọn hai vếtcủa hai chân trái và phải rõ ràng và đầy đủ đặc điểm nhất tiến hành đo đạc
Tiến hành đo dãy bước đi: Dãy bước đi là hệ thống gồm nhiều bước chân củamột người, vết nọ cách vết kia một khoảng cách nhất đinh do quá trình đi lại tạo ra.Cách đo đạc tiến hành như sau:
A, B, C, D, E là điểm giữa đường viền gót dấu vết chân hoặc giày, dép
X là trục xác định hướng chuyển động
AI là chiều rộng của bước đi
AB, CD là chiều dài của bước chân trái
BC, DE là chiều dài bước chân phải
AC là khoảng cách giữa hai bước của chân phải
BD là khoảng cách giưa hai bước của chân trái
Góc ABC là góc bước chân phải
Góc BCA là góc bước chân trái
Góc EQX là góc bước bàn chân phải
Góc DPX là góc bước bàn chân trái
Góc giữa trục bàn chân trái với trục của dãy bước đi là góc bước bàn chân trái,góc bước bàn chân phải thì ngược lại
Trường hợp gặp một dãy bước đi gồm nhiều bước chân, thì đo tất cả các số đotương ứng để xác định số đo trung bình cộng của chúng
Trang 31Phương pháp đo dấu vết một bàn chân thông dụng nhất như sau:
Đo dấu vết chân phải (dấu vết chân trái xác định tương tự):
Xác định điểm giữa của đường viền gót chân: O ; Tại O kẻ một đường thẳngtiếp tuyến: OX ; Tại điểm tiếp tuyến dựng đường OY vuông góc với OX : OY là trụccủa bàn chân; Tại điểm cao nhất của ngón cao nhất, thường là ngón cái hoặc ngón ápcái kẻ đường vuông góc với OY và hạ đường vuông góc với OX, được A1: A1 làchiều dài của bàn chân
Bằng phương pháp tương tự, xác định chiều dài của các ngón còn lại là A2, A3,A4, A5
Tại khoảng rộng nhất của phần dưới các ngón và phần gót chân,, chỗ hẹp nhấtcủa phần gan bàn chân kẻ đường vuông góc với OY được: B1: Chiều rộng phần dướicác ngón chân; B2: Chiều rộng gan bàn chân; B3: Chiều rộng gót chân
Cách đo dấu vết giày, dép:
O điểm giữa đường viền gót giày, dép (chân trái)
OX đường thẳng tiếp tuyến
c1 Chiều rộng đế trước; c2 Chiều hẹp đế giữa; c3 Chiều rộng đế gót
Những số liệu đo được phải ghi đầy đủ vào bản vẽ phác họa và biên bản khámnghiệm hiện trường Bản phác họa cần vẽ trên giấy kẻ ô vuông mm2, với vết chânriêng lẻ thì vẽ theo tỷ lệ 1/1 Cần ve đầy đủ tất cả những đặc điểm quan sát được Pháchọa dãy chân cần có tỷ lệ chính xác Bản vẽ dấu vết là loại tài liệu có giá trị lớn trongviệc nhận định và sàng lọc đối tượng gây vết, là một tài liệu cần thiết đối với công tácđiều tra
+ Mô tả vào biên bản khám nghiệm hiện trường: Dấu vết chân, giày, dép cầnđược mô tả tỉ mỉ, khách quan, chính xác vào trong biên bản khám nghiệm hiện trường,đảm bảo giá trị pháp lý của dấu vết Tại hiện trường, xuất hiện dãy bước đi phải ghinhận được vị trí, chiều hướng, kích thước, đặc điểm, số lượng của dấu vết Nếu xuấthiện dấu vết riêng lẻ cũng phải ghi nhận được vị trí, loại, hình dạng, kích thước, chiềuhướng, hình thức tồn tại
Ngoài ra, quá trình khám nghiệm hiện trường có thể sử dụng phương pháp quayphim để ghi nhận Quá tình quay phim phải ghi nhận từ chung đến riêng, ghi nhận cảdãy bước đi và đặc tả từng dấu vết cụ thể
- Thu lượm dấu vết chân, giày, dép
+ Thu dấu vết cùng vật mang vết: Nếu dấu vết chân, giày, dép tồn tại trênnhững vật mang vết nhỏ, gọn, áp dụng phương pháp thu dấu vết cùng vật mang vết làphương pháp tối ưu nhất Với những vật mang vết lớn, nếu điều kiện cho phép thì táchmột phần vật mang vết để thu lượm dấu vết Đây là phương pháp tối ưu vì khi thulượm như vậy chất lượng của dấu vết không bị ảnh hưởng
+ Sao in dấu vết: Với những dấu vết in mồ hôi sau khi làm rõ bằng phươngpháp vật lý, tiến hành sao in dấu vết như đối với dấu vết tay Vật liệu sao in có thể làbăng dính trong suốt, băng dính chuyên dùng, giấy ảnh… Quá trình sao in chú ý khôngtạo ra các túi khí ngăn cách giữa vật liệu sao in và dấu vết, nếu không dễ làm mất đặcđiểm của dấu vết trên vật liệu sao in
+ Đúc khuôn dấu vết: Đối với những dấu vết lõm trên mặt đất, cát… áp dụngphương pháp thu dấu vết bằng phương pháp đúc khuôn thạch cao hoặc dùng silicon.Muốn đúc khuôn được tốt thì thạch cao phải đảm bảo chất lượng là khô, mịn
Trang 32Tại hiện trường xuất hiện dãy bước đi xác định của cùng một đối tượng để lại,phải chọn một dấu vết tốt nhất của bàn chân, giày, dép trái và phải để đúc khuôn Nếutrong dấu vết có các vật lạ, dùng panh nhạ nhàng gắp nhặt các vật lạ ra khỏi dấu vết.
Đúc khuôn thạch cao có 2 phươg pháp là: Đúc khuôn thạch cao ướt vầ đúckhuôn thạch cao khô
Phương pháp đúc khuôn thạch cao ướt: Được áp dụng đối với trường hợp dấu
vết chân, giày, dép dạng lõm để lại trên các vật mang vết có độ kết cấu vật chất tươngđối bền vững
Phương pháp đúc khuôn thạch cao khô: Được áp dụng trong trường hợp dấu
vết chân, giày, dép dạng lõm để lại trên các vật mang vết có độ kết cấu vật chất khôngbền vững như: đất cát, đất bụi…
- Bảo quản dấu vết chân, giày, dép
Đối với những dấu vết thu lượm bằng cách thu dấu vết cùng vật mang vết nhỏgọn, mỏng, kết cấu vật chất bền vững hoặc thu lượm bằng cách sao in dấu vết bảoquản trong túi giấy hoặc túi Polyetylen chuyên dụng
Đối với những dấu vết thu lượm bằng cách thu dấu vết cùng vật mang vết dầy,kết cấu vật chất không quá bền vững hoặc thu lượm bằng phương pháp đúc khuôn phảidùng hộp hoặc đóng hộp để bảo quản Việc bảo quản phải tiến hành cẩn thận, đúngyêu cầu và qui cách kỹ thuật để dấu vết không bị hư hỏng khi cất giữ và vận chuyển
- Đánh giá dấu vết chân người, giày, dép tại hiện trường: Trong quá trình khámnghiệm hiện trường, việc đánh giá dấu vết chân người, giày, dép đã được phát hiện,thu thập được có thể khai thác được những thông tin quan trọng phục vụ cho hoạt độngđiều tra vụ án được nhanh chóng, chính xác và kịp thời Qua hoạt động đánh giá dấuvết chân, giày dép có thể khai thác được những thông tin sau:
+ Đặc điểm của đối tượng để lại dấu vết
Xác định chiều cao tương đối của đối tượng qua dấu vết: Kích thước các bộ
phận trong cơ thể con người phát triển theo những tỉ lệ nhất định và tuân theo nhữngqui luật khách quan của di truyền học Nếu bộ phận nào đó vượt ra khỏi quy luật nàythì con người sẽ có những dị hình, dị dạng Vì vậy giữa bàn chân người và chiều cao
cơ thể cũng có những tỉ lệ nhất định Nhìn chung với những con người cơ thể pháttriển cân đối thì chiều cao cơ thể gấp khoảng 6,8; 6,9 đến 7 lần chiều dài bàn chân.Tuy vậy, trong thực tế số đo này chỉ có giá trị tương đối, bởi vì một bộ phận khôngnhỏ con người sự phát triển giữa bàn chân và chiều cao cơ thể không hoàn toàn tuântheo tỷ lệ đó
Kỹ thuật hình sự Liên Xô cũ đưa ra công thức tính chiều cao cơ thể con ngườiqua dấu vết chân như sau:
CDDV nam – 2,9Chiều cao nam =
0,14
CDDV nữ - 2,2Chiều cao nữ =
0,14Qua thực nghiệm, Kỹ thuật hình sự Liên Xô còn đưa ra bảng tính tầm cao conngười qua dấu vết chân và giày dép như sau:
Đối với dấu vết chân: Chiều cao cơ thể = (chiều dài vết chân + 20) x hệ số
Đối với dấu vết giày, dép: Chiều cao cơ thể = chiều dài DV giày (dép) x hệ số
B ng h s nhân ảng hệ số nhân ệ số nhân ố nhânChiều dài vết chân (mm) Chiều dài vết giày dép(mm) Hệ số để nhân
Trang 33Chiều cao cơ thể = (265 + 20) x 6,12 = 1744,42 mm ≈ 1,74 m
Nếu chiều dài dấu vết giày đo được là 27,5 cm (275 mm) Hệ số để nhân là6,25 Áp dụng công thức tính chiều cao sẽ được chiều cao tương đối của đối tượng là:
Chiều cao cơ thể = 275 x 6,25 = 1718,75 ≈ 1,72 m
+ Xác định cỡ giày, dép
Trên thế giới hiện nay sử dụng hai hệ thống đo cỡ giày, dép Dựa vào hai hệthống này, có hai cách tính cỡ giày, dép qua dấu vết đo được tại hiện trường
Phương pháp 1: Tính cỡ giày căn cứ cách cấu tạo cỡ giày dựa vào số đo của
phần đế trỏng của giày đo bằng đơn vị Stic của Anh quốc Đơn vị Stíc bằng 2/3 cmhay bằng 6,67 mm Muốn tính cỡ giày áp dụng công thức sau:
DV – 10
C = (tính bằng mm)
6,67Trong đó: C: Cỡ giày; DV: chiều dài vết giày đo được (mm); 10 mm: sự chênhlệch về kích thước của phần đế trong và đế ngoài của giày
Ví dụ: Chiều dài dấu vết giày đo được là 28,3 cm, cỡ giày là:
(28,3cm – 1cm)
C = = 40,95 ≈ 41
6,67
Phương pháp 2: Tính cỡ giày căn cứ vào cách cấu tạo cỡ giày dựa vào chiều
dài bàn chân Tính cỡ giày như sau:
Đối với dấu vết chân áp dụng công thức:
C = DVC + (1 + m)Đối với dấu vết giày áp dụng công thức:
C = DVG – (1 + m)Trong đó: C: Cỡ giày; DVC: Chiều dài dấu vết chân; DVG: Chiều dài dấu vếtgiày; 1: Độ chênh lệch giữa đế trong và đế ngoài của giày; m: Độ chênh lệch giữachiều dài bàn chân với đế trong (từ 1 - 2 cm)
Mũi giày ngắn và tròn: m = 1 cm
Mũi giày dài và tròn: m = 1,5 cm
Mũi giày dài và nhọn: m = 2 cm
+ Nhận định giới tính của đối tượng thông qua nghiên cứu dãy bước đi:
Nam bước chân thường dài từ 60–80 cm, góc bước bàn chân từ: 180–250
Nữ bước chân thường dài từ 40 – 60 cm, góc bước bàn chân từ: 120 – 200
Đối với nữ gan bàn chân thường đầy hơn nam giới nên phản ánh đặc điểm nàytrên dấu vết chân
Cỡ giày, dép và cấu tạo mũi, đế gót giày, dép nữ thường bé hơn nam
Trang 34+ Xác định sự vận động của đối tượng tại hiện trường: Khi nghiên cứu về dấuvết chân tại hiện trường có thể xác định được đường vào và thoát khỏi hiện trường củathủ phạm; truy lùng đối tượng theo dấu vết chân, giày dép: Qua việc xác định được vị trícủa dấu vết, chiều hướng của dấu vết chân, giày dép và chiều hướng của dãy bước đitrên hiện trường Có thể biết được đối tượng đã đột nhập vào hiện trường bằng cách nào
và theo lối nào Thông tin này sẽ giúp cho cơ quan điều tra khoanh vùng được đối tượngnghi vấn, xác định được nơi rình, ẩn nấp của đối tương khi chuẩn bị thực hiện tội phạm,
từ đó có thể tìm thêm các loại dấu vết hình sự khác
Một số quy luật về trạng thái vận động có thể đánh giá được qua dấu vết chân,giày dép:
Khi đứng: Dấu vết 2 bàn chân thường ngang hàng nhau, trục hai bàn chân tạo
với nhau thành hình chữ V, trọng lượng cơ thể dồn nhiều vào gót Vì vậy dấu vết inđậm hơn ở phần gót, dấu vết lõm phần gót sâu hơn phần mũi bàn chân
Khi đi: Dấu vết hai bàn chân thường cách nhau một khoảng nhất định và
thường bằng 1/2m Trọng lượng cơ thể dồn đều vào bàn chân Vì vậy dấu vết để lạiđều nhau
Khi chạy: Chiều dài nước lớn (đối với người trưởng thành thường trên 1m), đất
cát bắn về phía sau, trục bàn chân thường song song, nếu chạy nhanh thì chỉ có mũibàn chân chạm đất, vì vậy mũi bàn chân có độ sâu lớn
Khi nhảy: Chiều dài bước rất lớn,, góc vết có độ sâu lớn, đất cát hất cả về hai
phía trước và sau
Phụ nữ có thai chiều dài bước giảm, chiều rộng bước tăng, vết hằn phần gót sâuhơn so với lúc bình thường
Người mang vác nặng chiều rộng bước tăng, chiều dài bước giảm
Người say rượu, tâm thần: Bước đi thường lộn xộn, hướng đi ngoằn ngoèo,
chiều dài bước chân không đều…
Đi giật lùi: Hướng đi không tự nhiên, các bước đi không đều nhau, chiều rộng
bước tăng, góc bước giảm, mép dấu vết lướt về phía sau gót, đất cát hất theo hướngchuyển động
Người chân thọt: dáng đi khập khiễng, bước đi không rõ rệt, đối với người cụt
chân thì thiếu dấu vết của một bàn chân va thường có dấu vết nạng hai bên dấu vết…
+ Xác định số lượng đối tượng, hoạt động và di chuyển của từng đối tượng tạihiện trường Qua số lượng và đặc điểm của dấu vết chân, giày, dép trên hiện trường cóthể cho biết số lượng đối tượng tham gia, từ đó có những giả thuyết về đối tượng nghivấn, xác định những tên đồng phạm tham gia vào vụ việc tránh để lọt tội phạm Từ hệthống dấu vết chân, giày, dép trên hiện trường sẽ cho chúng ta biết được diễn biến hoạtđộng của các đối tượng từ đó giúp cho việc xác định diễn biến của sự việc xảy ra hoặccần thiết cho việc dựng lại hiện trường và tiến hành thực nghiệm điều tra
+ Đối với những vụ án xảy ra chưa lâu, có thể sử dụng chó nghiệp vụ để truylùng thủ phạm theo dấu vết nóng, đó là dấu vết nguồn hơi ở dấu vết chân, giày, dép đểlại hiện trường Cũng từ dấu vết này có thể dùng chó nghiệp vụ để giám biệt nguồn hơitìm ra thủ phạm
+ Khi nghiên cứu dấu vết chân, giày, dép ở hiện trường chú ý đánh giá pháthiện các trường hợp đối tượng sử dụng một số thủ đoạn khác nhằm đối phó đánh lạchướng cơ quan điều tra như: sử dụng giày, dép khác giới, khác cỡ số, đánh tráo giày,
đi ngược dép, đi ngang, đi tất, vừa đi vừa xóa, đi giả động vật 4 chân…
c Tài liệu gửi giám định dấu vết chân, giày, dép
- Quyết định trưng cầu giám định: Cơ quan giám định pháp lý tiến hành giámđịnh đấu vết vật, chứng dựa trên cơ sở tiếp nhận yêu cầu giám định của cơ quan trưngcầu giám định Khi tiếp nhận trưng cầu giám định, cần kiểm tra về các vấn đề sau:
Trang 35+ Đối tượng giám định có đủ số lượng, có được đóng gói bảo quản, niêm phongđúng như đã ghi trong văn bản trưng cầu giám định hay không?
+ Chất lượng đối tượng giám định đáp ứng được yêu cầu giám định hay không?Bản yêu cầu giám định phải nêu rõ: Tình tiết sự việc xảy ra, các vấn đề có liênquan đến cơ chế hình thành dấu vết, công tác phát hiện, thu lượm, bảo quản dấu vết,mẫu so sánh…
Cần chú ý kiểm tra trưng cầu giám định lần đầu, giám định bổ sung hay giámđịnh lại; nội dung trưng cầu giám định có phù hợp không; có phù hợp với khả năng vàđiều kiện giám định Ngoài ra phải thống kê đầy đủ, mô tả cặn kẽ, chi tiết các dấu vếtvật chứng gửi đi giám định, các dấu vết vật chứng này phải đảm bảo đủ số lượng vàchất lượng phục vụ quá trình giám định… Trong trường hợp kiểm tra thấy chưa đảmbảo thì có thể từ chối giám định hoặc yêu cầu bổ sung cho đầy đủ, sau đó tiếp nhậntrưng cầu giám định
- Dấu vết chân, giày, dép thu được ở hiện trường gửi giám định phải đảm bảođầy đủ số lượng, chất lượng, nguyên bản gốc đối với dấu vết được thu cùng vật mangvết, hoặc các trường hợp bản sao dấu vết bằng khuôn đúc thạch cao, giấy pôly Dấuvết có được đóng gói bảo quản, niêm phong đúng như đã ghi trong văn bản trưng cầugiám định hay không
Dấu vết chân, giày, dép thu được ở hiện trường phải đảm bảo được khả năngphân tích các đặc điểm chung như: hình dáng chung của bàn chân và từng phần bànchân, các kích thước của bàn chân, tỷ lệ cao thấp giữa các ngón, kích thước các số đo,hình dạng đế giày và mũi của đế giày và các đặc điểm riêng như: vết sẹo, vết rỗ, vếtchai trên dấu vết chân; các vết mòn vẹt, đứt rách, nốt chỉ khâu vá trên giày dép… Nếuxem xét, phân tích xác định chính xác dấu vết mẫu giám định không đủ yếu tố giámđịnh thì cơ quan giám định có quyền từ chối giám định hoặc yêu cầu cơ quan điều tra
bổ sung mẫu giám định
Dấu vết chân, giày, dép thu được từ đối tượng nghi vấn (Mẫu so sánh) có thểđược tiến hành công khai hoặc bí mật nhưng phải đảm bảo chất lượng tốt, đủ yếu tốgiám định và cần làm rõ phương pháp thu mẫu, làm rõ những tác động có thể làm nó
bị biến đổi…
3 Nghiên cứu dấu vết công cụ
Công cụ được con người sản xuất dùng để làm phương tiện trong lao động, sảnxuất của cuộc sống hàng ngày vô cùng phong phú và đa dạng, gồm nhiều chủng loạikhác nhau Trên thực tế, các loại công cụ đó thường bị các đối tượng phạm tội sử dụng
để làm phương tiện gây án hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Quá trình
sử dụng các loại công cụ để tác động lên một đối tượng vật chất nào đó được gọi làcông cụ gây vết (vật gây vết), còn các đối tượng vật chất bị tác động được gọi là vậtmang vết Vậy, dấu vết công cụ được hình thành như thế nào, khi vật gây vết tác độnglên vật mang vết? Dấu vết hình sự được hình thành từ các công cụ gây vết tồn tại dướihình thức nào? Để trả lời câu hỏi đó, cần nghiên cứu cụ thể một số nội dung sau:
a Cơ chế hình thành và đặc điểm dấu vết công cụ
- Cơ chế hình thành dấu vết công cụ: Dấu vết công cụ là một loại dấu vết hình
sự cụ thể, hình thành do sự tác động qua lại giữa công cụ gây vết với các đối tượng vậtchất Cơ chế hình thành dấu vết công cụ cũng tuân theo cơ chế hình thành dấu vết hình
sự nói chung: Sự tác động qua lại của công cụ với các vật mang vết dưới hình thức tácđộng cơ học, như: cạy, đóng, đập, phá, cắt, đẽo, chặt sẽ làm xuất hiện và tồn tại cácdấu vết công cụ trên các vật mang vết đó Dấu vết công cụ bao giờ cũng gắn với vậtmang vết, phản ánh hình dạng, kích thước, đặc điểm của phần tiếp xúc của công cụgây vết với vật mang vết Công cụ được tội phạm sử dụng rất phong phú và đa dạng,gồm nhiều chủng loại khác nhau, có loại mang tính chuyên dùng do tự chế tạo ra, như
Trang 36công cụ bằng sắt một đầu nhọn, 1 đầu bẹt, có lưỡi sắc; ống tuýp bẻ khóa xe; móc mởkhóa hộp… có loại là công cụ thông dụng được dùng trong sản xuất, cũng như trongsinh hoạt như dao, kéo, búa, kìm, cưa, khoan
Trong các vụ việc hình sự đã xảy ra, nếu có sự tác động của công cụ lên các đốitượng vật chất tại hiện trường, thì tại vị trí đó sẽ xuất hiện dấu vết của công cụ Đốitượng bị tác động (vật mang vết) sẽ nhận và mang đặc điểm, hình dạng của phần công
cụ tác động Các dấu vết này tồn tại dưới hình thức nào? Mức độ phản ánh ra sao phụthuộc vào điều kiện và cơ chế hình thành dấu vết; đặc điểm, tính chất của công cụ,cũng như đối tượng bị tác động
Mỗi hình thức tác động khác nhau, hình thành nên mỗi loại dấu vết khác nhau,nhưng có thể khái quát thành 3 loại dấu vết cơ bản, đó là:
+ Dấu vết lõm: Dấu vết được hình thành do vật gây vết tác động (thẳng) trựcdiện vào bề mặt của vật mang vết dưới hình thức đóng, đập, cạy, tì, ấn… làm cho bềmặt của vật mang vết biến dạng, dấu vết hình thành nằm lõm sâu xuống dưới bề mặtcủa vật mang vết
Dấu vết lõm hình thành tương đối dễ và đặc trưng khi vật gây vết có độ cứnghơn vật mang vết; bản thân vật mang vết không có tính đàn hồi thì dấu vết được hìnhthành Dấu vết lõm phản ánh một phần hay toàn bộ hình dạng, kích thước và nhữngđặc điểm riêng khác của phần tiếp xúc giữa vật gây vết và vật mang vết Mức độ thểhiện của dấu vết hoàn toàn phụ thuộc vào lực tác động và tính chất vật chất của vật gâyvết và vật mang vết
+ Dấu vết cắt: Dấu vết cắt là loại dấu vết được hình thành khi lưỡi cắt của vậtgây vết tác động trực diện vào bề mặt của vật mang vết, làm cho bề mặt vật mang vết
bị lõm xuống hoặc đứt rời ra Tại vị trí tiếp xúc dấu vết hình thành là các đường xướcsong song nằm trên bề mặt của các mặt cắt
Công cụ có lưỡi cắt bao gồm 2 loại:
Loại 1 lưỡi cắt: gồm các công cụ cắt như: đục, rìu, dao, cuốc, thuổng, xẻng…
Quá trình tạo dấu vết, công cụ một lưỡi cắt chỉ tác động từ một phía vào vật bị cắt vàtạo thành 2 mặt cắt và 2 góc cắt
Loại 2 lưỡi cắt: gồm các công cụ cắt như: kéo, kìm… Trong quá trình hình
thành dấu vết, công cụ 2 lưỡi cắt tác động vào vật mang vết từ hai phía dưới sức néncủa lực sinh ra trong quá trình cắt, tại vị trí tác động vật bị cắt có thể đứt rời ra thànhtừng phần Dấu vết hình thành do công cụ hai lưỡi cắt tác động sẽ tạo thành 4 mặt cắt
và 4 góc cắt
+ Dấu vết trượt: được hình thành khi công cụ gây vết tác động có tính chất dichuyển vào bề mặt vật mang vết, tại vị trí tiếp xúc trên bề mặt vật mang vết dấu vếtđược hình thành là những đường xước chạy song song với nhau Loại dấu vết nàykhông phản ánh rõ đặc điểm chung của công cụ, mà chỉ phản ánh một số đặc điểmriêng của công cụ, mỗi vết sứt mẻ trên công cụ sẽ tạo ra những đường xước tương ứngvới các vết sứt mẻ đó ở công cụ
Dấu vết trượt hình thành có thể chia thành 3 loại trượt cơ bản sau:
Trượt điểm: Trượt điểm là dấu vết trượt được hình thành khi một điểm của
công cụ hoặc tất cả các đặc điểm của công cụ quy tụ làm một, khi tác động nó tạo ramột đường xước đơn độc trên bề mặt của vật mang vết Dấu vết trượt điểm khôngphản ánh được thuộc tính chung và thuộc tính riêng của vật gây vết, do vậy mà loạidấu vết này không có giá trị truy nguyên, mà chỉ có giá trị thông tin về những vấn đềnào đó phục vụ cho quá trình điều tra
Trượt mặt: là dấu vết trượt được hình thành do toàn bộ các điểm trên cùng một
mặt phẳng của đối tượng gây vết tiếp xúc và chuyển động trên bề mặt của vật mangvết tạo ra Do đó, trên thực tế, đối với dấu vết trượt mặt, người ta chỉ có thể lấy đoạn
Trang 37đầu và đoạn cuối của dấu vết để giám định truy nguyên Nhưng trong quá trình tạo radấu vết thực nghiệm, đòi hỏi phải nắm được chính xác điều kiện và cơ chế hình thànhdấu vết ở hiện trường Đặc biệt là việc nghiên cứu để xác định góc đặt trong quá trìnhtạo vết.
Trượt vạch: Dấu vết trượt vạch được hình thành khi lưỡi cắt của công cụ hay
một cạnh nào đó của nó tiếp xúc và chuyển động trên bề mặt của vật mang vết tạothành nhiều vết Trong sự hình thành dấu vết trượt vạch thì góc trực diện và góc đặtđóng vai trò quan trọng:
Góc trực diện (góc nghiêng) là góc tạo bởi mặt phẳng của vật gây vết hướng về phíachuyển động với bề mặt của vật mang vết trong quá trình tạo vết
Góc trực diện: bao giờ cũng phải lớn hơn 00 và nhỏ hơn 1800 khi góc trực diệnbằng 00 hoặc 1800 thì dấu vết sẽ là trượt mặt
Góc đặt: góc đặt hay còn gọi là góc mở hoặc góc gặp được hình thành bởi mộtcạnh nào đó của vật gây vết tiếp xúc với vật mang vết với đường thẳng vuông góchướng chuyển động của vật gây vết trong quá trình tạo vết Góc đặt có thể thay đổi từ
00 đến ≤ 900 Khi góc đặt bằng 900 thì sẽ hình thành dấu vết trượt điểm Khi góc đặtbằng 00 thì chiều ngang dấu vết lớn nhất và bằng chiều dài phần tiếp xúc của vật gâyvết Góc đặt càng nhỏ thì dấu vết có chiều ngang càng lớn Khi góc đặt càng lớn thìchiều dài ngang vết càng nhỏ Vì vậy, muốn xác định chính xác chiều rộng của lưỡicông cụ tạo vết phải xác định được góc đặt và điểm bắt đầu của vết trượt Vấn đề này
có ý nghĩa lớn trong việc nhận định công cụ gây vết, truy tìm công cụ và tạo vết thựcnghiệm trong giám định hình sự
Ngoài 2 góc cơ bản nói trên, khi nghiên cứu dấu vết công cụ nói chung, dấu vếttrượt nói riêng, cần chú ý tới góc lệch Góc lệch là góc tạo bởi sự chênh lệch nhau của
2 đầu vật tạo vết với mặt phẳng vật mang vết
- Đặc điểm dấu vết công cụ trong một số trường hợp cụ thể
+ Đặc điểm dấu vết của công cụ có lưỡi cắt:
Dấu vết của công cụ 1 lưỡi cắt: Công cụ 1 lưỡi cắt bao gồm: Dao, rìu, đục,
cuốc, xẻng được dùng để đục, chặt, cắt các đối tượng Nếu công cụ sắc, dưới tácđộng mạnh của lực, lưỡi cắt xâm nhập vào đối tượng sẽ để lại dấu vết trên đối tượng bịcắt, mặt cắt nói chung phẳng, trên bề mặt vết cắt có nhiều đường xước nhỏ song song,phản ánh các thuộc tính riêng của vật gây vết Khi nghiên cứu dấu vết ở hiện trườngcần xác định nơi bắt đầu và nơi kết thúc của vết cắt, vết chặt Thông thường, phía bắtđầu thường gọn, phía kết thúc thường bị gẫy, xước, các thớ của vật cắt có hướng theohướng chuyển động của lưỡi cắt Khi nghiên cứu dấu vết 1 lưỡi cắt cần phân biệt gữadấu vết cắt chặt và dấu vết cứa, dấu vết cắt thường sắc gọn, vết cứa do có sự chuyểnđộng tới, lui của lưỡi cắt, vì vậy mặt vết thường có những đường nét nham nhở, rấtkhó trong công tác giám định
Dấu vết của công cụ 2 lưỡi cắt: bao gồm các loại kìm, kéo Khi sử dụng các
loại công cụ này để cắt thì thường có các vết xước nhỏ song song với nhau trên cácmặt cắt Do cấu tạo lưỡi cắt ở mỗi loại có sự khác nhau nên hình dạng cắt khác nhau,căn cứ vào hình dạng của vết cắt để xác định công cụ được sử dụng cắt và để lại ở hiệntrường, giúp cho ta truy tìm công cụ
+ Đặc điểm dấu vết trên kính khi sử dụng công cụ đập kính
Nghiên cứu vết của kính vỡ, nhằm xác định phía kính bị tác động, vị trí đứngđập kính trên cơ sở đó để xác định vụ án có thật hay giả tạo Khi tác động một lựcmạnh vào kính, kính bị vỡ thành các mảnh, các mảnh kính lớn thường rơi ở vị trí đốidiện với phía đứng đập kính, một số mảnh kính nhỏ và rất nhỏ thì bắn ngược trở lại cóthể dính, găm, bám vào đầu tóc, quần áo… của người đập Để xác định chính xáchướng đập kính người ta phải căn cứ vào đặc điểm đường nứt ở trên kính bị vỡ
Trang 38Kính bị đập vỡ thường tạo thành 2 đường nứt, đó là đường nứt dọc và đườngnứt vòng Quan sát theo bề dày của tấm kính ta thấy trên bề mặt của đường nứt cónhững nếp gợn sóng hình rẻ quạt Nếu đó là đường nứt dọc thì hướng lực tác động sẽ
đi từ nhỏ đến lớn của hình rẻ quạt Nếu đó là đường nứt vòng thì hướng lực tác động
sẽ đi từ lớn đến nhỏ của hình rẻ quạt
Căn cứ vào chiều dài vết nứt có thể xác định được tốc độ đập kính nhanh haychậm, mạnh hay yếu: Tốc độ đập kính càng nhanh, lưc đập kính càng mạnh thì chiều
dà các đường nứt càng ngắn Tốc độ đập kính càng chậm, lực đập kính càng yếu thìcác đường nứt trên kính càng dài
Nếu kính bị đập ở nhiều vị trí khác nhau thì có thể xác định được thứ tự các vếtđập Vết đập trước các đường nứt dọc phát triển tự nhiên, và bị mờ dần về cuối vếtnứt, không có dấu hiệu bị dừng đột ngột, vết đập sau các đường nứt của nó phát triểnkhông tự nhiên, bị dừng đột ngột khi gặp phải đường nứt của vết đập trước
Khi nghiên cứu các mảnh kính vỡ cần chú ý phát hiện các dấu vết đường vântay, dấu vết máu… có thể có ở trên đó
+ Đặc điểm dấu vết trên khóa khi sử dụng công cụ mở, phá khóa:
Những dấu vết trên khóa bị mở, bị phá:
Những dấu vết trên khóa bị mở bằng cách chọn chìa khóa: Ở mặt sau thành hộp
khóa xuất hiện những vết xước mới có hình tròn đồng tâm, vết này không phù hợp vớichìa khóa của chính nó Có thể có mẫu chìa khóa bị gãy lại ở trong đó Có thể tìm thấymạt kim loại ở hiện trường khi tội phạm mang dũa đến để mài, gọt lại chìa khóa chophù hợp
Dấu vết xuất hiện trên khóa khi dùng các que sắt đặc biệt: Trong ổ khóa sẽ có
nhiều vết xây xát mới xuất hiện không tuân theo một qui luật chuyển động nhất định
và thường có hình cung
Trường hợp sử dụng kìm đặc biệt để mở khóa, thường xảy ra đối với khóa hộp
ở cửa đã được khóa, nhưng chìa khóa vẫn cắm ở phía trong cửa khóa Ta sẽ thấy ở
đầu chìa khóa có nhiều vết xây xát
Thủ phạm có thể dùng các vật cứng như mũi dao, đục để đưa vào khe hở giữa
khóa và khung cửa để đẩy then khóa, ở then khóa có các vết xây sáy và ở khung cửacũng như mặt khóa cũng xuất hiện loại dấu vết này
Nếu khóa bị bẻ hoạc phá khóa như đập vỡ khóa, cắt bỏ hoặc tháo gỡ đinh khuy khoa bằng cách: cưa, cắt vòng khóa, bẻ gãy vòng khóa, đập vỡ khóa, tháo gỡ bi khóa,
cạy phá hộp khóa… thì trên hiện trường ta sẽ tìm thấy các phần của khóa hoặc khuykhá hỏng rơi lại ở hiện trường, tìm thấy mạt sắt chốt bi, bi và lò xo bi; trên cửa và trênkhóa có thể tìm thấy vết lõm, vết hằn, vết xây xước, cũng như sự biến dạng của vòngkhóa, hộp khóa…
Trong quá trình phát hiện, thu lượm và bảo quản dấu vết khóa cần chú ý pháthiện thu lượm các dấu vết khác có liên quan như dấu vết vân tay, dấu vết sơn, dấu vếtmạt kim loại, dấu vết khớp…
Đối với những khóa nghi bị mở bằng chìa khóa lạ tuyệt đối không được thựcnghiệm, mà phải bảo quản để gửi đi giám định Cần phải hỏi sở chủ để biết được tìnhtrạng kỹ thuật của khóa tước khi khóa bị mở, bị phá, hỏi số lượng chìa khóa, nhữngngười sử dụng chìa, số chìa bị mất và thời gian mất chìa khóa…
+ Dấu vết đặc trưng của công cụ cưa: Vết cưa là một loại đặc biệt của vết cắt,trong quá trình hình thành vết cưa thì góc trực diện và góc đặt gần như không thay đổi.Dấu vết cưa không có giá trị trong công tác truy nguyên đồng nhất Nghiên cứu dấuvết cưa có thể giúp ta giải quyết được những vấn đề cơ bản sau: Xác định chiều rộngcủa răng cưa; Cưa cùn hay sắc; Cưa từ phía nào; Nơi bắt đầu cưa và nơi kết thúc cưa;Xác định kỹ xảo của người dùng cưa; Xác định vụ án có thật hay giả tạo; Mùn cưa
Trang 39giúp ta giám định dấu vết hóa học Ngoài ra còn có thể xác định được tình trạng kỹthuật của cưa như răng cưa có bị sứt mẻ không, lưỡi cưa thẳng hay cong vênh, sốlượng răng cưa trong một khoảng nhất định.
+ Dấu vết đặc trưng của công cụ khoan: Khoan là một loại dụng cụ khi tácđộng vào vật bị khoan bằng chuyển động tròn xoay quanh trục của nó tại một điểm cốđịnh trên vật bị khoan thì tạo thành phía khoan và lỗ khoan
Nghiên cứu dấu vết khoan có thể xác định được các vấn đề sau: Tội phạm đãdùng khoan gì để khoan; Xác định phía khoan; Xác định đường kính của mũi khoan,đường kính mũi khoan thường bằng đường kính lỗ khoan; Trường hợp khoan chưathủng, nền lỗ khoan của một số loại khoan có tác dụng trong công tác truy nguyênđồng nhất Một số loại khoan thường gặp: Khoan đinh, khoan tâm (khoan trung tâm),khoan con rắn, khoan kim loại
+ Dấu vết đặc trưng do sử dụng công cụ đào tường, khoét gạch, dỡ ngói
Đào tường, khoét gạch, dỡ ngói là một trong những thủ đoạn mà bọn tội phạmthường sử dụng để đột nhập vào nhà cửa, kho tàng… Nghiên cứu loại dấu vết nàynhằm xác định hướng đào tường, khoét gạch, dỡ ngói là từ trong ra hay từ ngoài vào từ
đó xác định vụ án có thật hay giả tạo
Đào tường thường xuất hiện dấu vết của công cụ được sử dụng để đào bới như:cuốc, thuổng, mai… phía đào kích thước lỗ đào thường lớn, đất đã đào bới được hất raphía đứng bới, trên đó thường có dấu vêt chân, giày dép; nếu chui qua có thể xuất hiệndấu vết của đầu gối, phần ngón chân và bàn tay và có thể xuất hiện vết trượt
Dỡ ngói, ngói được dỡ ra thường đặt về một bên nơi bị dỡ, phía dưới các viênngói thường xuất hiện dấu vết vân tay, rui mè có thể bị gãy, bị cắt bằng cưa, bằng dao
và ở tường, cây cột điện…gắn với nơi bị dỡ có thể xuất hiện dấu vết leo trèo
Quá trình nghiên cứu vết đào tường, dỡ ngói cần chú ý tìm thu các dấu vết khác
có liên quan như: dấu vết vân tay, dấu vết chân, lông tóc, bông vải sợi, dấu vết máu…
b Phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, đánh giá dấu vết công cụ
- Phát hiện dấu vết công cụ bằng phương pháp quan sát: để quan sát tốt có thể
sử dụng kính lúp cầm tay, sử dụng nguồn sáng nhân tạo và tự nhiên chiếu ở góc thíchhợp Đồng thời, phải nắm vững qui luật hoạt động của tội phạm, qui luật sử dụngphương tiện cạy phá và qui luật hình thành dấu vết cạy phá ở hiện trường để phát hiệndấu vết
- Ghi nhận dấu vết công cụ
+ Mô tả vào biên bản khám nghiệm: Khi mô tả cần nói rõ vật mang vết, vị trídấu vết trên vật mang, hình dạng, kích thước và chiều hướng dấu vết, loại dấu vết, sốlượng dấu vết và mối tương quan giữa chúng trên cùng một vật mang
+ Chụp ảnh: để ghi nhận hệ thống dấu vết, đặc trưng từng dấu vết riêng lẻ Việcchụp dấu vết phải chụp theo nguyên tắc chụp ảnh dấu vết vật chứng, phải đặt thước tỉ
lệ cạnh dấu vết, phải chiếu sáng ở góc độ thích hợp để ghi nhạn đầy đủ các đặc điểmchung và riêng của dấu vết
+ Vẽ vào sơ đồ hiện trường: cần vẽ vật mang vết và dấu vết công cụ ở trên đó,đây là một phương pháp ghi nhận không thể thiếu được Ngoài việc củng cố và bổsung cho biên bản và bản ảnh hiện trường, thì bản vẽ dấu vết theo phương pháp tỉ lệcòn ghi nhận được những đặc điểm cơ bản của dấu vết
- Thu lượm và bảo quản dấu vết công cụ
Đối với dấu vết trượt, dấu vết cắt, tốt nhất là thu lượm dấu vết cùng vật mangvết, để tránh nhầm lẫn với dấu vết do cán bộ khám nghiệm tạo ra cần được đánh dấu rõràng và ghi nhận cụ thể vào biên bản
Đối với dấu vết lõm, trường hợp không thu được cùng vật mang vết thì phảitiến hành đúc khuôn dấu vết, bằng cách sử dụng xi mềm ấn vào vết lõm, dấu vết sẽ in
Trang 40lên si mềm Hoặc sử dụng silicon để đúc khuôn dấu vết, phương pháp tiến hành tương
tự như đúc khuôn bằng thạch cao Đúc khuôn bằng silicon có ưu điểm có thể láy đượccác dấu vết lõm sâu mà không sợ bị hỏng đặc điểm của vết, bảo quản an toàn, không
sợ bị vỡ
Dấu vết và vật mang vết cần được bảo quản theo đúng qui cách kỹ thuật, tránh
va chạm, cọ sát gây ra sự sứt mẻ, vỡ, gẫy dấu vết, với những dấu vết trên kim loại cầnbảo quản riêng lẻ, tránh va chạm cọ sát gây ra những vết xước mới
Trong khi khám nghiệm hiện trường cần chú ý tìm, thu công cụ gây án ngay tạihiện trường Công cụ gây án tìm được cũng phải được bảo quản cẩn thận, tuyệt đốikhông được sử dụng nó để thực nghiệm ngay tại hiện trường
- Đánh giá dấu vết công cụ
Căn cứ vào hình dạng, cấu trúc, kích thước của dấu vết công cụ để đánh giá loạicông cụ, kết cấu độ lớn của công cụ, vị trí xuất hiện cao hay thấp của dấu vết công cụtrên vật mang vết để nhận định về chiều cao của người sử dụng công cụ;
Căn cứ vào chiều hướng của dấu vết công cụ để đánh giá đối tượng sử dụngcông cụ thuận tay nào;
Căn cứ vào mức độ lõm, trượt, cắt của dấu vết công cụ để đánh giá nhận địnhlực tác động, nhận định về thể lực, sức khỏe của đối tượng;
Căn cứ vào các góc độ, thành, cạnh, đáy của dấu vết công cụ để đánh giá gócđặt của công cụ, chiều dài cạnh tác dụng của công cụ, góc nghiêng của công cụ khi tạodấu vết;
Căn cứ vào trạng thái cũ hay mới của dấu vết để đánh giá nhận định thời gianxuất hiện, tồn tại của dấu vết tại hiện trường;
Căn cứ vào các đặc điểm của dấu vết để đánh giá chất lượng của dấu vết
c Tài liệu gửi giám định dấu vết công cụ
- Bản trưng cầu giám định
Cơ quan giám định tiến hành giám định dấu vết vật chứng dựa trên cơ sở tiếpnhận yêu cầu giám định của cơ quan điều tra
Bản yêu cầu giám định phải nêu rõ: Tình tiết sự việc xảy ra, các vấn đề có liênquan đến cơ chế hình thành dấu vết, công tác phát hiện, thu lượm, bảo quản dấu vết vàmẫu so sánh…
Cần chú ý kiểm tra là trưng cầu giám định lần đầu, giám định bổ sung hay giámđịnh lại; nội dung trưng cầu giám định có phù hợp với khả năng và điều kiện giám định.Ngoài ra, trong bản yêu cầu giám định phải thống kê đầy đủ, mô tả cặn kẽ, chi tiết các dấuvết vật chứng gửi đi giám định; các dấu vết vật chứng gửi giám định cần phải đảm bảo đủ
số lượng và chất lượng phục vụ cho quá trình giám định
Tiến hành lập biên bản giao, nhận đối tượng giám định, gồm: Thời gian, địađiểm giao, nhận đối tượng giám định; họ, tên đại diện bên giao và bên nhận đối tượnggiám định; tên đối tượng giám định; cách thức bảo quản đối tượng giám định; tìnhtrạng đối tượng giám định; tài liệu hoặc đồ vật liên quan; chữ ký của đại diện bên giao
và bên nhận đối tượng giám định
Trong trường hợp bản yêu cầu giám định không đạt yêu cầu thì người phụ trách
ra công văn từ chối nhận giám định, ghi rõ lý do từ chối
- Dấu vết công cụ thu được ở hiện trường
Dấu vết công cụ thu được ở hiện trường phải đảm bảo đầy đủ số lượng, chấtlượng, nguyên bản gốc đối với với dấu được thu cùng vật mang vết, hoặc các trườnghợp bản sao dấu vết bằng khuôn đúc thạch cao, giấy pô ly được đóng gói bảo quản,niêm phong đúng như đã ghi trong văn bản trưng cầu giám định Giám định viên tiếpnhận và kiểm tra tình trạng bao bì đóng gói, niêm phong đối tượng giám định và sốlượng đối tượng giám định