GIÁO TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…”. 2. Khái niệm về dân tộc ít người Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số. “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người”. Ví dụ (Tày, Việt, Thái, Mường, Hoa...), đây là một hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử. Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: Hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
*****************
GIÁO TRÌNH
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
( Bản thảo lần 2)
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
Bài 1:KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 1
I Vài nét về dân tộc và dân tộc ít người 1
1 Khái niệm về dân tộc 1
2 Khái niệm về dân tộc ít người 1
II Nhận diện nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam 1
1 Các tỉnh Miền núi phía bắc 1
2 Các tỉnh thuộc Tây nguyên 6
3 Các tỉnh thuộc Tây Nam bộ 7
4 Các tỉnh Duyên hải miền Trung 10
III Một số chính sách của nhà nước về nhóm dân tộc ít người 11
1 Về Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực 13
2 Về Chính sách đầu tư phát triển bền vững 13
3 Về chính sách phát triển giáo dục và đào tạo 14
4 Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số 15
5.Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số 15
6.Chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá 15
7 Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số 16
8 Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số 16
9 Chính sách y tế, dân số 16
10 Về chính sách thông tin - truyền thông 17
11 Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý 17
12 Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái 17
13 Chính sách quốc phòng, an ninh 18
IV Một số vấn đề cơ bản mà nhóm dân tộc ít người gặp phải 18
1 Vấn đề nghèo đói 18
2 Vấn đề Văn hóa, lối sống 18
3 Vấn đề sức khỏe và vệ sinh môi trường 19
4 Vấn đề giáo dục 19
Bài 2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CƠ BẢN KHI LÀM VIỆC VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 21
2.1 Lý thuyết hệ thống 21
2.2 Lý thuyết nhu cầu 22
2.3 Lý thuyết vai trò xã hội (Social role theory) 23
2.4 Lý thuyết thân chủ trọng tâm 24
Trang 32.7 Ứng dụng của thuyết nhận thức- hành vi (cognitive- hehavioral theory) 28
Bài 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 30
I Nhận diện vấn đề nghèo đói ở vùng các dân tộc ít người 30
1 Thực trạng nghèo đói 31
1.1 Tỷ lệ nghèo đói 31
1.2 Đời sống và thu nhập 34
1.3 Kết cấu hạ tầng 36
1.4 Y tế, giáo dục 37
1.5 Khả năng tiếp cận các dịch vụ kết cấu hạ tầng và kỹ thuật sản xuất mới 38
2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói 39
II Quy trình và kỹ năng giải quyết vấn đề nghèo đói theo tiến trình của công tác xã hội (theo tiến trình phát triển cộng đồng) 43
1 Phương pháp phát triển cộng đồng trong việc xóa đói giảm nghèo 43
2 Một vài đặc điểm của cộng đồng nghèo 44
3) Thảo luận nhóm 48
4) Xác định, phân loại và xếp hạng các vấn đề 48
Bài 4:54CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ VĂN HÓA, LỐI SỐNG ĐỐI VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 54
I Xác định và phân tích vấn đề văn hóa lối sống của nhóm dân tộc ít người 54
1 Những đặc điểm văn hóa đặc trưng của dân tộc ít người 54
2 Lối sống cơ bản trong cộng đồng dân tộc ít người 56
3 Phân tích hậu quả ảnh hưởng của các hủ tục văn hóa đến cộng đồng dân tộc ít người 56
3.1 Thực trạng một số hủ tục văn hóa ở cộng đồng dân tộc ít người 57
3.2 Hậu quả, ảnh hưởng của các hủ tục văn hóa đến cộng đồng dân tộc ít người 59
4 Phân tích nguyên nhân dẫn đến lối sống lạc hậu của cộng đồng dân tộc ít người 61
4.1 Nguyên nhân chủ quan 61
4.2 Nguyên nhân khách quan: 62
II Quy trình bảo tồn và phát huy văn hóa cho cộng đồng dân tộc ít người theo tiến trình của công tác xã hội, đảm bảo hiệu quả bền vững 63
1 Hạn chế và tiến tới xóa bỏ các hủ tục văn hóa lạc hậu 63
2 Xây dựng quy trình Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống 66
2.1 Quy trình bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các di sản văn hóa ở đồng bào dân tộc ít người 66
2.2 Quy trình cải tạo các tập quán, hủ tục lạc hậu 68
Bài 5: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VỚI NHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI 82
Trang 4I Xác định và phân tích vấn đề chất lượng giáo dục đối với nhóm dân tộc ít người 82
1 Những vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đối với nhóm dân tộc ít người 82
2 Hậu quả ảnh hưởng của quan niệm lạc hậu về giáo dục ảnh hưởng đến đến cộng đồng dân tộc ít người 83
3 Phân tích nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục ở vùng dân tộc ít người 84
3.1 Kinh tế của gia đình của các em học sinh còn nhiều khó khăn: 84
3.2.Chất lượng đội ngũ giáo viên 85
3.3 Ngành giáo dục và đào tạo chưa thực sự quan tâm sâu sát 85
II Quy trình giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục cho dân tộc ít người theo tiến trình của công tác xã hội, đảm bảo hiệu quả bền vững 86
1 Hạn chế và tiến tới xóa bỏ các quan niệm lạc hậu về giáo dục trong nhóm dân tộc ít người 86
2 Xây dựng quy trình giúp đỡ dân tộc ít người nâng cao chất lượng GD 89
BÀI 6: MỘT SỐ CÔNG CỤ LÀM VIỆC CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 91
1 Các phương pháp Công tác xã hội 91
1.1 Công tác xã hội cá nhân 91
1.2 Công tác xã hội nhóm 97
2 Một số kỹ năng Công tác xã hội 107
2.1 Kỹ năng quan sát 107
2.2 Kỹ năng lắng nghe 109
2.3 Kỹ năng xử lý sự im lặng 113
2.4 Kỹ năng thấu cảm 114
2.5 Kỹ năng diễn giải 116
2.6 Kỹ năng tóm tắt 117
2.7 Kỹ năng đặt câu hỏi 118
2.8 Kỹ năng làm rõ vấn đề 121
2.9 Kỹ năng phản hồi 122
2.10 Kỹ năng tự bộc lộ 123
2.11 Kỹ năng cung cấp thông tin 124
2.12 Kỹ năng đương đầu 125
2.13 Kỹ năng thỏa thuận 126
2.14 Kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực 127
2.15 Kỹ năng điều phối 128
2.16 Kỹ năng lãnh đạo nhóm 129
3 Một số kỹ thuật Công tác xã hội 133
Trang 53.2 Kỹ thuật thăm dò, mô tả, làm thông thoáng 133
3.3 Kỹ thuật phản ánh tình huống cá nhân 133
3.4 Kỹ thuật phản ánh phát triển 133
3.5 Kỹ thuật chuyển dịch tình cảm xuôi/ngược 134
3.6 Kỹ thuật giải mẫn cảm hệ thống 135
3.7 Kỹ thuật huấn luyện sự quyết đoán 136
3.8 Kỹ thuật định hình cho hành vi 136
3.9 Kỹ thuật làm mẫu 137
3.10 Kỹ thuật sử dụng quan hệ cộng tác 137
3.11 Kỹ thuật sử dụng bài tập về nhà 137
3.12 Kỹ thuật sử dụng mô hình A-B-C 138
3.13 Kỹ thuật tái xác lập 139
3.14 Kỹ thuật lập lịch trình hoạt động 139
3.15 Kỹ thuật giao nhiệm vụ 139
3.16 Kỹ thuật đóng kịch phân vai 140
3.17 Kỹ thuật sử dụng liệu pháp cơ cấu gia đình 140
3.18 Kỹ thuật mô tả vấn đề 141
3.19 Kỹ thuật phát triển các mục tiêu hoàn chỉnh 142
3.20 Kỹ thuật “câu hỏi có phép lạ” 143
3.21 Kỹ thuật sử dụng mệnh đề “Tôi” (Nhân viên xã hội hướng dẫn thân chủ) 143
3.22 Kỹ thuật chiếc ghế trống 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
Trang 6Bài 1:
KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
I Vài nét về dân tộc và dân tộc ít người
1 Khái niệm về dân tộc
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do
sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…”
2 Khái niệm về dân tộc ít người
Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người”.
Ví dụ (Tày, Việt, Thái, Mường, Hoa ), đây là một hình thái đặc thùcủa một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình pháttriển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản: ngônngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàngnghìn năm lịch sử
Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đanghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: Hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốcgia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồngdân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểuhiện thành ý thức tự giác tộc người
II Nhận diện nhóm dân tộc ít người ở Việt Nam
1 Các tỉnh Miền núi phía bắc
Các tỉnh miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống của gần 30 tộc người
Trang 7Mường), Thái - Ka-Đai (Tày, Nùng, Thái, Giáy, Bố Y, Lào, Lự, La Ha, LaChí, Sán Chay, Cờ Lao, Pu Péo), Tạng - Miến (Lô Lô, La Hủ, Phù Lá, HàNhì, Cống, Si La), Hmông - Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Môn - Khmer(Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Mảng) và Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu) Theo sốliệu Tổng điều tra dân số năm 2009, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng gần62% tổng dân số của cả khu vực miền núi phía Bắc Tuy nhiên, sự phân bốcủa họ ở các tỉnh không đồng đều Các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu sốhơn cả (chiếm 50% dân số chung trở lên) là Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn,Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên Quang vàYên Bái Các địa phương còn lại (Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên vàQuảng Ninh) đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỷ lệ dưới 50% Mức chênhlệch giữa nhóm có tỷ lệ cao và nhóm có tỷ lệ dân tộc thiểu số thấp là rất lớn:Tại Cao Bằng, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 95%, nhưng ở tỉnh QuảngNinh, dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 11%
Một số tộc người ở miền núi phía Bắc còn được chia thành các nhómđịa phương hoặc nhóm dân tộc học: Tộc người Thái có các nhóm Thái Đen,Thái Trắng; người Tày có nhóm Pa Dí, Thu Lao, Tày Bốc (Tày Cạn) và TàyNặm (Tày Nước); người Nùng có các nhóm như Nùng Dín, Nùng Lòi, PhànSlình, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Cháo; người Hmông có các nhóm chính
là Hmông Hoa, Hmông Đen, Hmông Trắng, Hmông Xanh; người Hà Nhì cócác nhóm Cồ Chồ, Lạ Mí và Hà Nhì Đen; người Phù Lá được chia thành 2nhóm Pu La và Xá Phó; người La Hủ có các nhóm La Hủ Na (Đen) và La Hủ
Sư (Vàng); Sán Chay có 2 nhóm là Cao Lan và Sán Chí, v.v Truyền thốngvăn hóa của các nhóm địa phương hoặc nhóm dân tộc học thuộc một tộcngười có thể rất khác nhau Có nhiều trường hợp, các nhóm của cùng một tộcngười nhưng không hiểu ngôn ngữ của nhau Ví dụ, nhóm Tu Dí ở Lào Caiđược coi là một nhóm địa phương của tộc Bố Y, nhưng họ lại không thểgiao tiếp được với bộ phận người Bố Y đang sinh sống tại Hà Giang; nhómCao Lan và nhóm Sán Chí (thuộc tộc Sán Chay) gần như thuộc 2 họ ngôn ngữhoàn toàn khác nhau (ngôn ngữ Cao Lan gần gũi tiếng Tày - Thái, ngôn ngữ
Trang 8Sán Chí gấn tiếng Hán hơn); nhóm Pu La và nhóm Xá Phó của tộc người Phù
Lá có thể được coi như 2 tộc người riêng biệt vì trong thực tế, rất khó có thểtìm thấy những đặc điểm chung cả trong ý thức tự giác tộc người thể hiện quatên tự gọi/tên gọi, phương thức mưu sinh, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội vàvăn hóa tinh thần
Đa số người dân các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đều sinhsống ở khu vực nông thôn Ngay cả ở các địa phương mà dân tộc thiểu sốchiếm số đông, tại các đô thị hoặc khu vực thị tứ, chưa hẳn họ đã chiếm tỷ lệcao hơn người Kinh Tình trạng cư trú này đã xuất hiện tại các tỉnh lỵ/huyện
lỵ miền núi từ trước năm 1954, nhưng đặc biệt được đẩy mạnh từ những nămđầu 1960 khi chính phủ thực hiện chương trình đưa người Kinh từ các tỉnhđồng bằng lên khai hoang miền núi
Một đặc điểm dễ nhận thấy nữa là phần lớn các tộc người thiểu số ởmiền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ địa lý riêng biệt, tình trạng xencư/cộng cư là phổ biến Tại nhiều huyện, không chỉ có hiện tượng xencư/cộng cư trong phạm vi huyện/xã mà thậm chí cả ở cấp thôn bản Trướcđây, quá trình xen cư/cộng cư chỉ thấy ở các dân tộc thiểu số với nhau, saungày hòa bình lập lại (1954), nhiều nhóm người Kinh ở các tỉnh đồng bằngsông Hồng đi khai hoang/xây dựng vùng kinh tế mới đã xen cư/cộng cư vớicác dân tộc thiểu số tại chỗ, tạo nên những bức tranh đa sắc màu Tình trạngxen cư/cộng cư đã góp phần đẩy nhanh quá trình giao lưu/tiếp biến giữa cáccộng đồng tộc người Đồng thời, việc trao đổi hôn nhân giữa các dân tộc thiểu
số với nhau, giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh ngày càng nhiều hơnkhiến cho cấu trúc dân số-tộc người ở nhiều nơi bị biến dạng đáng kể
Trong xã hội truyền thống của đa số các tộc người miền núi phía Bắc,giữa các làng bản chỉ có quan hệ liên làng - quan hệ đồng đẳng giữa các đơn
vị xã hội đồng cấp Tuy nhiên, ở các dân tộc Thái, Tày và Mường, ngoài quan
hệ liên làng, còn có các mô hình chính trị - xã hội lớn hơn, ví dụ như mô
Trang 9Tày Đó là mối quan hệ siêu làng, là những hình thức sơ khai của nhànước Mỗi “mường” hay “quằng” được hình thành trên cơ sở của một vàichục làng bản, nhưng đều có phạm vi lãnh thổ và hệ thống luật tục riêng.Đứng đầu “mường” và “quằng” là các chúa đất thế tập và đồng thời cũng là
‘chủ linh hồn’ của toàn vùng lãnh thổ Thành phần cư dân trong các tổ chứcsiêu làng của người Mường khá thuần nhất; nhưng các “mường” của ngườiThái hay “quằng” của người Tày thường có thêm nhiều làng bản của một sốtộc người thiểu số khác Quan hệ làng, liên làng và siêu làng tạo nên môitrường dung dưỡng ý thức tự giác, lưu giữ và phát triển văn hóa tộc người.Trong cả hệ thống chính trị xã hội làng, liên làng và siêu làng, người già vànhững người hành nghề tôn giáo - những người có nhiều kiến thức về luật tục
và tri thức địa phương về các mặt văn hóa, xã hội và đời sống kinh tế củacộng đồng - có vai trò quan trọng đặc biệt
Mặc dù các tộc người ở miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ riêng,nhưng mỗi làng bản truyền thống đều có một phạm vi cư trú được xác định -bao gồm đất ở, đất canh tác, các loại rừng/đất rừng và các nguồn nước Chế
độ sở hữu trong khuôn khổ làng bản là sự thống nhất của 2 mặt đối lập: Sởhữu cộng đồng đối với các nguồn lực tự nhiên và sở hữu tư nhân đối vớithành quả lao động của mỗi gia đình Luật tục của mọi tộc người đều quyđịnh: Quyền sở hữu đối với các nguồn lực tự nhiên trong phạm vi lãnh thổmỗi thôn làng bản luôn thuộc về tập thể cộng đồng Để bảo vệ quyền sở hữu
ấy, đã có những “thoả ước” trong phạm vi cộng đồng và kết quả của nó chính
là các bộ luật tục và thông lệ xã hội được duy trì từ nhiều đời Việc đảm bảocác quyền của mỗi thành viên trong công xã luôn được coi là một trong nhữngtiêu chí đạo đức và chuẩn mực ứng xử xã hội Để luật tục hay các thông lệđược duy trì và có hiệu lực cần thiết, các thiết chế tự quản được hình thành.Hoạt động của các thành viên trong thiết chế tự quản xưa không chỉ chịu sựgiám sát của cộng đồng mà còn bị ràng buộc bởi nỗi ám ảnh về sự giám sátcủa thần linh, các thế lực siêu nhiên và mặc cảm đạo đức gắn với lòng tự
Trang 10trọng Chính vì thế, mặc dù hoạt động phi lợi nhuận, nhưng các thành viêntrong bộ máy tự quản làng bản xưa đều có ý thức trách nhiệm cao Đối vớimỗi người dân, ý thức về sự tuân thủ chặt chẽ luật tục và các thông lệ đã trởthành nếp sống tự giác Trái với điều đó, người ta có thể bị cộng đồng ruồng
bỏ và đó cũng là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với mỗi người
Gắn với môi trường tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao, từ lâu ngườidân các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã luôn duy trì các mô hình đadạng sinh kế Các nhóm tộc người sống ở vùng núi thấp hoặc ở các thunglũng chân núi (như Tày, Nùng, Thái, Mường, Sán Dìu) vừa làm ruộngnước/ruộng bậc thang, vừa tận dụng các mảnh nương trên các sườn đồi gầnnơi cư trú để trồng trọt các loại nông sản ngoài lúa như chuối, bông, sắn, đu
đủ, mía, ngô, khoai để bổ sung cho nền kinh tế tự cấp tự túc của gia đình.Trong khi đó, mô hình nông nghiệp chủ yếu của các nhóm dân tộc thiểu sốsống tại các vùng cao (Hmông, Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, v.v ) là canhtác nương rẫy (gieo trỉa lúa nương và trồng các loại hoa màu) Với mô hìnhnày, người dân phát hoang các mảnh nương trong phạm vi sở hữu của cộngđồng để trồng trọt trong vài năm Sau đó, họ để hoang các mảnh nương cũ đãbạc màu khoảng từ 10 đến 20 năm đủ để đất phục hồi độ phì rồi quay lạicanh tác tiếp Nếu như ở các chân ruộng nước và ruộng bậc thang, lúa là câytrồng duy nhất thì trên các mảnh nương rẫy, đa canh và xen canh là mô hìnhtrồng trọt phổ biến Ngay tại các nương lúa, người dân cũng thường gieo thêmbầu, bí hoặc các loại dưa; phần đất bao quanh nương được trồng các loại hoamàu như ngô, khoai, rau và cây thuốc Người dân thường giải thích rằng, bầu,
bí hay dưa là những loại cây giữ hồn lúa, nếu không trồng xen, lúa sẽ không
có bông Nhưng dưới góc nhìn của các nhà nông học, các loại cây họ bầuđược trồng xen lúa chính là nhằm mục đích giữ ẩm cho đất Đó cũng là mộtkiến thức truyền thống cần được quan tâm trong bối cảnh ngày nay
Ngoài trồng trọt, các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc còn có nhiều
Trang 11bắt hái lượm và trao đổi hàng hóa Các loại gia súc, gia cầm được nuôi khôngchỉ để làm thức ăn hay như một hình thức tích lũy mà còn được dùng cho cáchoạt động văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của gia đình và cộng đồng Tất cả cácnghi lễ tín ngưỡng (theo chu kỳ mùa vụ, trong chu trình đời người như sinhđẻ/đặt tên con/cưới hỏi/ma chay, cầu an hay cúng bói chữa bệnh) đều có vậthiến sinh (lợn, gà, vịt hoặc trâu, bò, dê) Trong một số truyền thống văn hóa,vật nuôi trong gia đình, đặc biệt là gia súc lớn có sừng, còn được xem như làmột tiêu chí để phân loại giàu nghèo giữa các gia đình Các nghề thủ công giađình truyền thống của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc chủ yếu chỉphục vụ nhu cầu tự thân Nhiều nghề trong đó phản ánh rất rõ tâm thức hướngrừng/gắn với rừng như nghề chế tác đồ gỗ, làm mây tre đan Đặc biệt, kinh
tế tự nhiên/săn bắt hái lượm trước đây có vai trò rất quan trọng đối với mỗigia đình và cộng đồng Người dân các tộc người thiểu số miền núi phía Bắckhông chỉ biết khai thác lâm/thổ sản từ rừng (gỗ để làm nhà, củi đun, rauxanh, thịt thú rừng, cây thuốc, v.v…) mà còn rất giỏi trong việc đánh bắt độngvật thủy sinh phục vụ đời sống Việc giao thương/trao đổi hàng hóa giữa cácdân tộc hay khu vực đã xuất hiện từ rất sớm và đặc biệt phát triển mạnh ởvùng Đông Bắc Hệ thống chợ vùng cao ở đây đến nay vẫn được xem là một
sự độc đáo văn hóa
2 Các tỉnh thuộc Tây nguyên
Tây Nguyên là vùng lãnh thổ nằm ở phía tây của Nam Trung Bộ, phíabắc giáp với miền núi tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp với miền núi các tỉnhduyên hải Nam Trung Bộ, phía Tây giáp với Lào, Campuchia và phía namgiáp với các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Ninh Thuận Diện tích tự nhiên củaTây Nguyên là 5.465.960 ha, chiếm khoảng 1/6 diện tích tự nhiên của cảnước, bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.Hiện nay, Tây Nguyên có dân số khoảng 5.000.000 người với hơn 40 nhómdân tộc bao gồm cả người Kinh và các dân tộc khác như: Êđê, M'nông,Giarai, Bana, Xedang, Giẻ Triêng, Brâu, Romam, K'ho, Mạ, Churu, Thái,
Trang 12Tày, Nùng, vv Hầu hết các nhóm dân tộc được coi là các cư dân bản địa củaTây Nguyên và họ hiện đang duy trì một số nền văn hóa riêng của họ, sự khácbiệt và truyền thống đã có từ hàng ngàn năm từ thời tiền sử Bộ phận dân tộcthiểu số lại chia thành hai bộ phận là dân tộc thiểu số mới đến hơn 30 dân tộc
và dân tộc thiểu số tại chỗ hơn 10 dân tộc Đáng chú ý trong đó là bộ phận cácdân tộc thiểu số tại chỗ, gồm 4 ngôn ngữ Nam Đảo: Gia Rai; Ê Đê; CHu Ru;Raglai và 9 dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơmer: Ba Na; Xơ Đăng; GiẻTriêng; Brâu; Rơ Măm; Hơrê; Mạ; Mnông; Cơ Ho Những dân tộc này sốngxen kẽ với các dân tộc mới đến và người Kinh để tạo nên một khối đoàn kếtvới những nét văn hoá đặc sắc Tây Nguyên truyền thống: Văn hoá Cồngchiêng; các lễ hội truyền thống cùng với sự đa dạng của các công trình kiếntrúc đáng kinh ngạc, từ nhà "Rông" của các dân tộc thiểu số, các chùa, đềnthờ được thiết kế theo phong cách phương đông
3. Các tỉnh thuộc Tây Nam bộ.
Tây Nam Bộ còn được gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp,Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang
Tây Nam Bộ có vùng biển rộng tiếp giáp với các nước trong khốiASEAN, với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ (trong đó 40 đảo có dân sinh sống); có
17 huyện chạy ven biển Đông bao bọc cả vùng Tây Nam Bộ với 700 km bờ
Trang 13gồm 7 huyện là Đức Huệ, Mộc Hoá, Vĩnh Hưng, Tân Hồng, Hồng Ngự, AnPhú, Tân Châu; có ba cửa khẩu quốc tế và bốn cửa khẩu quốc gia Tây Nam
Bộ còn có hải phận giáp với Thái Lan, Campuchia thuộc hai tỉnh Kiên Giang
và Cà Mau
Đặc điểm tự nhiên nổi bật và ít có trên cả nước của Tây Nam Bộ làvùng có gần một nửa diện tích bị ngập lũ từ 3 đến 4 tháng mỗi năm, vừa cómặt hạn chế đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sốngcủa dân cư nhưng đồng thời cũng tạo nhiều thuận lợi đối với việc khai thácnguồn lợi từ thuỷ sản, tăng độ phì nhiêu cho đất trồng trọt và làm sạch môitrường Người Khmer đến định cư sớm nhất ở vùng châu thổ sông Cửu Long
Họ vốn là những người nông dân Khmer nghèo khổ đến đây làm ăn sinh sống
để tránh sự áp bức, bóc lột của chế độ Ăng Co Nhưng về sau, do nội chiến và
sự giết chóc của quân Xiêm, những người di cư Khmer đến vùng đồng bằngchâu thổ sông Cửu Long ngày càng đông hơn Nét nổi bật văn hoá của ngườiKhmer chính là chùa Khmer đây là điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội của đồngbào Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục), do sư cả đứng đầu.Thanh niên Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồiđức hạnh và kiến thức Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, tạo nênbản sắc dân tộc của mình trên một nền tảng văn hoá chung, một lịch sử chungcủa tất cả các dân tộc Việt Nam thống nhất Đồng bào Khmer sống xen kẽ vớiđồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp
Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục, tập quán và có nền vănhoá nghệ thuật rất độc đáo Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn,đội ghe Ngo… Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc,ngày lễ lớn như: Chôn chơ nam thơ mây (Lễ năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta(xá tội vong nhân), Oóc bom boóc (lễ cúng trăng) Người Khmer biết thâmcanh lúa nước từ lâu đời Họ thường cư trú ở những vùng có điều kiện địa lý -
tự nhiên khó khăn, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
Trang 14Người Chăm ở Tây Nam Bộ là một bộ phận của cộng đồng ngườiChăm từ miền Trung Bộ đến sinh sống tại đây Vào thế kỷ XIV – XV, một bộphận người Chăm ở Ninh Thuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thànhtừng làng (Palay) dọc theo sông Hậu, trên các cù lao thuộc các huyện PhúChâu, Phú Tân, Châu Phú, tỉnh An Giang vào nửa đầu thế kỷ XIX.
Về tôn giáo, nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi (Islam), mộttôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ Đa số người Chăm sống ở AnGiang, nhóm sống ở Tân Châu (An Giang) và nhóm sống ở Tây Ninh đều cưtrú giáp biên giới Trung tâm văn hoá của cộng đồng người Chăm là các thánhđường, nơi sinh hoạt tín ngưỡng Islam của cộng đồng Ở Nam Bộ, số ngườiChăm tuy không đông, nhưng sự hiện diện của những masjid (tiểu thánhđường) với lối kiến trúc đặc trưng, bề thế, uy nghi đã thể hiện tiềm lực tinhthần tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm
Người Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 200.000 người,chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2%dân số Hoa toàn quốc Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu, TiềnGiang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau…Trong khu vực Tây Nam Bộ, ngượclại với dân tộc Khmer sống tương đối cách biệt với dân tộc khác, người Hoasống rất hoà đồng với các dân tộc khác nhằm mục đích làm ăn, mua bán.Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh, thương mại, chịu khó, chíthú, có bí quyết làm ăn, ít quan tâm đến chính trị Họ ít tham gia các hoạtđộng của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa lạirất cao Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổchức chặt chẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả Về tôn giáo, ngoài tínngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật Bên cạnhnhững nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, qua nghithức hành lễ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh nguyệt
cư sĩ Lâm Phật học hội Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông
Trang 15là hình thức tương trợ trong cộng đồng người Hoa, giúp cầu cúng, viếng thămnhững gia đình Hoa có tang lễ hay gặp khó khăn trong cuộc sống
Các hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa tại nhiều tỉnh ởđồng bằng sông Cửu Long đã góp phần thúc đẩy giao lưu văn hoá mạnh mẽvới các nước Châu á trong khu vực qua việc đưa về Việt Nam nhiều tượngPhật từ các nước, các văn hoá phẩm, pháp khí, kinh tạng từ Trung Quốc,Myanma…
4. Các tỉnh Duyên hải miền Trung
Vùng duyên hải miền Trung gồm 6 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng trựcthuộc trung ương Diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 38.236,42 km2; dân
số toàn vùng là 8.186.871 người, mật độ trung bình 214 người/km2 (số liệuthống kê năm 2010) Phần lớn dân cư trong vùng sinh sống chủ yếu ở vùngđồng bằng ven biển Vùng miền núi ở phía tây của vùng là nơi sinh sống củacác tộc người thiểu số, với mật độ dân cư thưa thớt hơn
Vùng duyên hải miền Trung có diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn ôm gọnmặt phía tây, nhiều nơi núi còn nhô ra sát biển bao lấy cả ba mặt đồng bằng,hoặc ngay giữa đồng bằng người ta thấy nổi lên những khối núi Người dânbản địa sinh sống ở vùng đồi núi này là các tộc người thiểu số như Katu, Cor,Cadong, Raglai, Xêđăng, Giẻ - Triêng, Hrê, Bana, Chăm,… đồng bào dân tộc
ở đây hoàn toàn quen thuộc và gắn bó với núi rừng Họ biết cách chinh phục
tự nhiên, khai thác những vùng đất bằng hoặc đất thung lũng phục vụ việccanh tác lúa nước, canh tác nương rẫy trồng lúa khô và các loại hoa màu khác.Đồng thời, họ sống cùng rừng nên biết cách trồng rừng, bảo vệ rừng và khaithác tài nguyên rừng, trong đó có những sản phẩm quý như trầm hương,những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như quế…
Một đặc trưng lớn nhất và cơ bản trong đời sống của người dân miềnnúi là nếp sống nương rẫy Đây là nếp sống chủ đạo và bao trùm lên tất cả cáctộc người trong Vùng Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên
Trang 16vùng đất khô của sơn nguyên Về xã hội, nếp sống nương rẫy duy trì các quan
hệ cộng đồng công xã làng buôn, các quan hệ bình đẳng, dân chủ của xã hộinguyên thủy, Có thể nói, toàn bộ đời sống vật chất cũng như đời sống tinhthần của dân tộc miền núi duyên hải miền Trung gắn bó với rừng núi vànương rẫy, từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghi lễ, đời sống tình cảm… Đó
có thể được gọi chung là văn hóa rừng
Có thể nói, các tộc người cùng sinh sống trên vùng núi duyên hải miềnTrung có những nét tương đồng và khá đặc trưng về quan niệm ứng xử giữathế giới người sống và người chết, từ đó tạo nên cả một hệ thống những tậptục, nghi lễ, sinh hoạt văn hóa xung quanh thế giới người chết, tạo nên mộthiện tượng văn hóa dân gian mang tính tổng thể - sinh hoạt nhà mồ Từ đó, họsáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ, tượng nhà mồ, các nhạc cụ, bài hát,điệu múa dành riêng cho sinh hoạt lễ hội nhà mồ
III Một số chính sách của nhà nước về nhóm dân tộc ít người
Nước ta có 54 dân tộc anh em với hàng chục ngôn ngữ, khoảng 12 tôngiáo, trong đó có các tôn giáo lớn của thế giới: Đạo Phật, Thiên Chúa giáo,Cao Đài, Tin Lành, Hòa Hảo, đạo Hồi,… Cùng với truyền thống yêu chuộnghòa bình của người dân Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nướckhông xảy ra xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo Đảng và Nhà nước ta luôn coitrọng quyền của các nhóm thiểu số, cũng như việc tăng cường khối đoàn kếtdân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Cụ thể như: tạiĐiều 5, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu
rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống
và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển mọi
Trang 17thiểu số” Đó chính là sự bình đẳng về mọi mặt trong việc thực hiện quyền
phát triển của mỗi dân tộc như xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, pháttriển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đóinghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa vàtruyền thống tốt đẹp của các dân tộc
Thực hiện Đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước, nhiềuChương trình mục tiêu quốc gia lớn, dành ưu tiên cho vùng đồng bào các dântộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai và đã đem lại thành quả to lớn.Chương trình 134 hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở; Chương trình 135 phát triển kinhtế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, giúp đỡ đồng bào dân tộc ở vùng sâu,vùng xa; Nghị quyết 30a thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho 62huyện nghèo trong toàn quốc, chủ yếu vẫn thuộc vùng đồng bào các dân tộcthiểu số là những ví dụ Chỉ tính riêng Chương trình 135, sau 12 năm thựchiện (1999 - 2010), chương trình đã góp phần làm thay đổi diện mạo nôngthôn miền núi, nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu Theo báo cáo của Ủy ban Dântộc, thực hiện Chương trình này giai đoạn 2 (2006-2010), được triển khai tại1.848 xã thuộc 50 tỉnh, ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng,trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu đô-la Từ nguồn vốn trên,Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu nhưđiện, đường, trường, trạm; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 2,2 triệu hộ; đào tạotập huấn nâng cao năng lực cho trên 460.000 cán bộ xã, thôn bản và hỗ trợkinh phí cho gần 930.000 lượt học sinh con em các hộ nghèo giảm tỷ lệnghèo các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn từ 47,5% năm 2006 xuống còn28,8% năm 2010
Ngày 14/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc Nghị định này quy địnhcác hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng,đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắcvăn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
Trang 18chủ nghĩa Việt Nam với một số chính sách cụ thể cho đồng bào dân tộc thiểu
số như:
1 Về Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực
Kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc từ nguồn ngân sách nhà nướctheo quy định về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinhphí hợp pháp khác để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc với các vùngkhác Quy hoạch, đào Chính sách về giáo dụctạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lýnguồn lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ, có chế độ đãi ngộ hợp lý
2 Về Chính sách đầu tư phát triển bền vững
Đảm bảo việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiếtyếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh củatừng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực, tự cườngcủa các dân tộc
Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệptrong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiênđặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xãhội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động
là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và cáccông trình phúc lợi công cộng khác Khôi phục và phát triển các ngành nghềthủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chếkinh tế thị trường
Chủ đầu tư các dự án quy hoạch, xây dựng có ảnh hưởng tới đất đai,môi trường, sinh thái và cuộc sống của đồng bào các dân tộc, phải công bốcông khai và lấy ý kiến của nhân dân nơi có công trình, dự án được quyhoạch, xây dựng; tổ chức tái định cư, tạo điều kiện để người dân đến nơi định
cư mới có cuộc sống ổn định tốt hơn nơi ở cũ
Thực hiện các chương trình, đề án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc
Trang 19nông dân thiếu đất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ phát triển kinh tế, giao đất,giao rừng cho hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu laođộng, ngành nghề, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bềnvững.
Tổ chức phòng, chống thiên tai và ứng cứu người dân ở vùng bị thiêntai, lũ lụt Có chính sách hỗ trợ kịp thời những dân tộc thiểu số có khó khănđặc biệt để ổn định và phát triển
3 Về chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốcgia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thùdân tộc
Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dântộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trungtâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứuhình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số đểđẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho họcsinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và chovay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cưtrú của sinh viên dân tộc thiểu số Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu sốrất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khókhăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học Đào tạo nguồn nhânlực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểmtừng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc
tế Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộcthiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc
Trang 20Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộcđược đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổthông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thườngxuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc.
Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vàoĐại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệmtiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốtnghiệp
4 Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợpquy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt,cán bộ quản lý các cấp Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiếtphải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số
Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ,cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cáccấp.Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quy hoạch, đào tạo, bồidưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
5.Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số
Người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số được bồi dưỡng, tập huấn,được hưởng chế độ đãi ngộ và các ưu đãi khác để phát huy vai trò trong việcthực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của địa phương
6.Chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá
Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giátrị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dântộc Việt Nam Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc cóchữ viết Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hoá truyền thống tốt
Trang 21Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các
di tích lịch sử, văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng
Đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xâydựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹpcủa đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hoá - thể thao dân tộctheo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
7 Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số
Bảo tồn và phát triển các môn thể dục, thể thao truyền thống của cácdân tộc Đầu tư xây dựng và hỗ trợ các hoạt động thể dục, thể thao, xây dựngsân vận động, nhà thi đấu, trung tâm tập luyện thể dục thể thao ở vùng dân tộcthiểu số
8 Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số
Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệmôi trường, sinh thái; hỗ trợ quảng bá, đa dạng hoá các loại hình, các sảnphẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển
du lịch
9 Chính sách y tế, dân số
Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được sử dụng các dịch vụ y tế;thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế cho đồng bào dântộc thiểu số theo quy định của pháp luật Tập trung xây dựng, củng cố, mởrộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh chođồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặcbiệt khó khăn
Hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian vàphương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Trang 22Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từngdân tộc theo quy định của pháp luật Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hoá y tế,thực hiện chính sách ưu tiên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào cáchoạt động đầu tư, phát triển y tế ở vùng dân tộc thiểu số.
10 Về chính sách thông tin - truyền thông
Đầu tư phát triển thông tin - truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cungcấp một số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụthông tin
Xây dựng, củng cố hệ thống thông tin tình hình dân tộc và tổ chứcthực hiện chính sách dân tộc Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
về dân tộc; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hìnhkinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thiên tai, lũ lụt ở vùng dân tộc thiểu số
Áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệthống cơ quan công tác dân tộc Tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụngngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng
11 Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệtkhó khăn được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy địnhcủa pháp luật
Chính quyền các cấp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chươngtrình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý phù hợp với từngđối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số
Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, đa dạng hoácác hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục, tập quáncủa đồng bào dân tộc thiểu số
12 Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái
Sử dụng, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, môitrường, sinh thái vùng dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật Bảo vệ,
Trang 23truyền, giáo dục, vận động đồng bào ở vùng có tài nguyên để nâng cao nhậnthức bảo vệ môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học.
13 Chính sách quốc phòng, an ninh
Xây dựng, củng cố, quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu, vùngsâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảmbảo an ninh chính trị và giữ vững trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số
Cơ quan nhà nước, đồng bào các dân tộc ở vùng biên giới và hải đảo cótrách nhiệm cùng các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân vàchính quyền địa phương bảo vệ đường biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật
tự an toàn xã hội và tăng cường quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước lánggiềng ở vùng biên giới và hải đảo theo quy định của pháp luật…
IV Một số vấn đề cơ bản mà nhóm dân tộc ít người gặp phải
1 Vấn đề nghèo đói
Các khái niệm về nghèo đói đã được nghiên cứu và công bố rộng rãi đểtìm ra nhiều biện pháp giải quyết, tuy nhiên vấn đề nghèo đói vẫn tồn tại chođến ngày nay và ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt đối với người dânsống ở vùng nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Vấn đề nghèo đói là vấn đề luôn luôn xảy ra đối với đồng bào các dântộc miền núi Mặc dù hiện nay các chính sách của nhà nước luôn có sự quantâm đặc biệt đối với họ, các chính sách bảo hiểm, đất đai, nhà cửa và các điềukiện sinh hoạt Tuy nhiên chúng ta nhận thấy rằng cái nghèo vẫn dai dẳngbám lấy họ Điều này đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà nghiên cứu chính sách,đâu đó đã tìm ra nguyên nhân nhưng chưa giải quyết được nguyên nhân gốc
rễ của vấn đề nghèo đói
2 Vấn đề Văn hóa, lối sống
Văn hóa của mỗi tộc người là tổng thể các yêu tố: tiếng nói, văn hóasản xuất, văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần Đó là: lối sống,phong cách sống, cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hộigiữa con người với con người; giữa con người với cộng đồng, sắc thái tâm lý,
Trang 24tình cảm, quan niệm về chân, thiện, mỹ, quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh.Tập quán trong sinh hoạt đời thường, trong chu kỳ của một đời người, lễ nghi,tín ngưỡng, vv… Vấn đề văn hóa và lối sống của nhóm người dân tộc thiểu
số ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng ở những nét văn hóa truyền thống đặc sắccần được phát huy và bảo tồn: không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyêncủa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên: Ê Đê, Cơ Ho, Gia Rai, Ba Na; XơĐăng; Giẻ Triêng, Bên cạnh đó thì vẫn còn nhiều dân tộc thiểu số có nhiều
hủ tục, lối sống lạc hậu cần được xóa bỏ Đây thực sự là một vấn đề nan giải
và gặp nhiều khó khăn bởi không phải một sớm một chiều mà có thể xóa bỏngay được mà cần phải có thời gian và quá trình làm việc khoa học, lâu dài
3 Vấn đề sức khỏe và vệ sinh môi trường
Chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường xanh sạch đẹp đó là mục tiêuchung và nỗ lực hết mình của toàn Đảng, toàn dân ta trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Việc chăm sóc sức khỏe và thực hiệncông bằng trong khám chữa bệnh cho người dân nói chung mà đặc biệt làngười nghèo cũng như người dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa là vấn đềluôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Thực tế cho thấy rằng, việc khám
và chữa bệnh cho người dân tộc thiểu số cũng như tuyên truyền nhóm dân tộcthiểu số tham gia vệ sinh và bảo vệ môi trường trong sạch là một trong nhữngvấn đề đã và đang được giải quyết trong tổng thể các vấn đề nhằm mục tiêuxóa đói, giảm nghèo, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vữnghơn cho nhóm dân tộc thiểu số ở nước ta
4 Vấn đề giáo dục
Giáo dục miền núi nằm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lựcmiền núi Việc đầu tư và nâng cao chất lượng giáo dục ở đây thực sự đã trởthành nhiệm vụ trọng tâm không chỉ đối với riêng ngành giáo dục mà còn cầnphải có sự phối hợp của nhiều ban ngành, đoàn thể khác ở các địa phương nơi
có đông đồng bào là con em miền núi theo học Trong những năm qua, ngành
Trang 25trường ngày càng đông lên, chất lượng học tập cũng được nâng cao rõ rệt Sỡ
dĩ có được những thành tích này là do sự phát triển của mạng lưới trường lớptại các địa bàn tạo điều kiện thuận lợi cho con em đến trường Việc đầu tư cho
sự nghiệp giáo dục miền núi đã được nhiều cơ quan chính quyền, đoàn thể địaphương quan tâm coi giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu Bên cạnh đó,thời gian qua ở các địa phương cũng đã ban hành một số chính sách riêng đểđẩy mạnh sự phát triển của giáo dục miền núi như lập trường bán trú ở từng
xã, cấp học bổng cho tất cả học sinh người dân tộc thiểu số
Trang 26Bài 2 Một số lý thuyết cơ bản khi làm việc với nhóm dân tộc ít người
2.1 Lý thuyết hệ thống
Mục đích Đây là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụngtrong công CTXH, đặc biệt khi đi tìm hiểu đánh giá về hệ thống xung quanhNCT Bởi nó cho nhân viên CTXH biết rằng NCT đang thiếu nhưng gì vànhững hệ thống mà họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống
là hướng đến những cái tổng thể và mang tính hòa nhập
Ứng dụng Ứng dụng của lý thuyết này trong quá trình thực hànhCTXH có quan hệ và cần thiết nhất trong suốt quá trình bắt đầu của tiến trìnhtrợ giúp, khi các vấn đề của thân bắt đầu được định rõ và lượng giá Lý thuyếtnày cũng hướng nhân viên CTXH có thể nhận biết những điểm khả thi và cácmức độ can thiệp với vấn đề của thân chủ sau đó là lựa chọn một hay nhiềucách tiếp cận phù hợp và hiệu quả nhất
Đây là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong côngtác xã hội, đặc biệt khi đi tìm hiểu đánh giá về hệ thống xung quanh thân chủ.Bởi nó cho nhân viên CTXH biết rằng thân chủ đang thiếu nhưng gì và những
hệ thống mà họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống làhướng đến những cái tổng thể và mang tính hòa nhập
Đại diện cho những người theo thuyết hệ thống là Hasson, Macoslee,Siporin,…Trong đó 2 tác phẩm nổi tiếng về ứng dụng những quan điểm hệthống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus, Minahan
Những hệ thống mà nhân viên CTXH làm việc là những hệ thống đadạng: hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội…Hay còn được phânthành các loại hệ thống như sau:
+ Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè, người đưa thư…
+ Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn…
+ Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, hay hệ
Trang 27Vấn đề xã hội xảy ra khi thân chủ là NCT không tiếp cận được vớinhững hệ thống đó hoặc có vấn đề với việc tiếp cận các hệ thống trên Bởi vậythuyết hệ thông cung cấp cho NV CTXH có cái nhìn toàn diện về vấn đề TCđang gặp phải và có kế hoạch giúp đỡ họ một cách hiệu quả Thuyết này quantrọng trong việc xác định những yếu tố trong hệ thống sinh thái mà thân chủđang sống, nhân viên CTXH sẽ nhìn nhận xem thân chủ liên hệ chặt chẽ vớiyếu tố nào, chưa chặt chẽ với yếu tố nào Ví dụ trong việc tìm hiểu hệ thốngchính sách hỗ trợ xã hội cho than chủ là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn thì lý thuyết này được ứng dụng vào việc rà soát, đánh giá các chínhsách hỗ trợ xã hội cho trẻ em trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay nhằm lýgiải và đánh giá đúng mức độ hiệu quả cũng như những tồn tại Điều đó giúpcho việc nhìn nhận xem trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nóiriêng đã tiếp cận và sử dụng một cách hợp lý nhất những hỗ trợ ưu đãi củanhà nước hay chưa Từ đó, song song với quá trình can thiệp với từng vấn đề
cụ thể, nhân viên CTXH có thể kết hợp, huy động đuợc các nguồn lực có sẵn,những hệ thống chính sách cần thiết còn ẩn hoặc thân chủ chưa có điều kiệntiếp nhận để giúp cho quá trình can thiệp được được hiệu quả
2.2 Lý thuyết nhu cầu
Mục đích Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ,được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý họcnhân văn (humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhucầu (Hierarchy of Needs) của con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này
có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoahọc
Ứng dụng Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếpcác nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản (basic needs): ăn uống, hít thở không khí…
- Nhu cầu về an toàn (safety needs): tình yêu thương, nhà ở, việc làm…
- Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hoà nhập
Trang 28- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): được chấp nhận có vị trítrong một nhóm người, cộng đồng, xã hội…
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):nhu cầu đượchoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình…
Hệ thống nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp.Nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp ở phía dưới Các nhu cầu trên luôn tồn tại vàđan xen lẫn nhau Thang bậc nhu cầu này của Maslow ứng dụng vào dự án đểxác định, đánh giá nhu cầu thực tế của thân chủ Khi xác định được nhữngnhu cầu nào là quan trọng và cần được đáp ứng đầu tiên của NCT, nhân viênCTXH sẽ có cơ sở để thiết lập kế hoạch can thiệp và huy động các nguồn lựcliên quan Nói cách khác, quá trình thực hành CTXH là quá trình trợ giúpNCT trong việc đáp ứng và tự đáp ứng một cách bền vững những nhu cầu cònthiếu hụt của mình
2.3 Lý thuyết vai trò xã hội (Social role theory)
Mục đích Đây là một trong những lý thuyết cơ bản được sử dụng trongnghiên cứu xã hội học và có ứng dụng mạnh mẽ trong thực hành CTXH Vềmặt trị liệu cho những bệnh nhân tâm thần với sử dụng chương trình phục hồichức năng dựa vào cộng đồng thì những khái niệm và ứng dụng của thuyếtnày đặc biệt hiệu quả NCT với những thiếu hụt trong quá trình thực hiện vaitrò xã hội của mình thì việc áp dụng lý thuyết này trong can thiệp cũng manglại nhiều hiệu quả
Ứng dụng Những nghiên cứu của xã hội học đã tạo nên sự đóng gópđáng kể cho thực hành CTXH Ứng dụng của Thuyết Vai trò xã hội từ xã hộihọc, và khái niệm chủ chốt về thực hiện chức năng xã hội (rút ra từ lý thuyếtnày), có thể mang tới đóng góp đáng kể hơn nữa cho thực hành CTXH Lýthuyết Vai trò xã hội là một quá trình biến đổi cho việc phục hồi chức năngdựa vào cộng đồng, nghĩa là đây là lý thuyết nền tảng cho sự cung ứngchương trình dẫn dắt sự thích nghi và thực hiện chức năng xã hội Thích nghi
Trang 29chứng của tình trạng bệnh tâm thần và đáp lại một cách hợp lý với nhữngmong đợi của những người khác trong môi trường xã hội Thực hiện chứcnăng xã hội được định nghĩa như những hành vi có tính quy chuẩn trong mộthoàn cảnh xã hội Việc thiết lập những hành vi đặc trưng cho sự thích nghihoặc thực hiện các chức năng xã hội một cách thích hợp không áp đặt lên thânchủ bởi các nhà trị liệu Hơn nữa, những can thiệp lâm sàng được thiết lập đểtrợ giúp thân chủ khám phá những hành vi cho chính bản thân họ.
2.4 Lý thuyết thân chủ trọng tâm
Mục đích Đây là một lý thuyết của trường phái Tâm lý học nhân vănphát triển theo quan điểm của Carl Rogers Thuyết này rất quan trọng trong trịliệu tâm lý, tham vấn cho thân chủ mà đặc biệt là NCT Những nhà tâm lí họcnhân văn đã nêu lên các nguyên tắc hoạt động của mình như sau:
- Hướng đến việc nghiên cứu nhân cách và những kinh nghiệm của conngười là phương hướng nghiên cứu chính Còn việc nghiên cứu hành viphương hướng phụ
- Dựa vào sự tự đánh giá, tự thực hiện, tự lựa chọn để đánh giá chấtlượng phát triển con người
- Quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh cũng như những đặc điểmriêng của mỗi cá nhân
Ứng dụng Lý thuyết này được ứng dụng nhiều trong thực hành CTXH
ở quá trình tham vấn Trong nhiều trường hợp nhân viên CTXH xã hội khôngchỉ đơn thuần là một người tìm kiếm và liên kết các nguồn lực mà còn đóngvai trò là nhà tham vấn và hỗ trợ tham vấn cho thân chủ Phương pháp thamvấn thân chủ trọng tâm lúc đầu được gọi là liệu pháp thân chủ trọng tâm vàsau đó được gọi là phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân, hướng tiếpcận của Carl Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việctrợ giúp thân chủ mà còn được xem là cách sống của con người Theo C.Rogers trong tham vấn nếu nhà tham vấn tạo được một mối tương giao địnhtính bằng: Một sự chân thực trong suốt, trong đó nhà tham vấn sống với các
Trang 30cảm quan thực của mình; một sự nhiệt tình tôn trọng và chấp nhận thân chủnhư một cá nhân riêng biệt; một khả năng nhạy cảm để nhìn thế giới của thânchủ y như thân chủ nhìn họ, thì thân chủ sẽ:
- Kinh nghiệm và hiểu được những phương diện của chính mình màtrước đây bị đè nén
- Thấy mình trở nên hợp nhất hơn, có thể hành động hữu hiệu hơn Trởnên giống mẫu người mà mình ao ước muốn trở thành, tự chủ và tự tin hơn
- Trở nên người hơn, độc đáo hơn và sự bộc lộ hơn
- Hiểu người khác và chấp nhận người khác hơn
- Có thể đương đầu với những vấn đề của đời sống một cách thích đáng
và dễ chịu hơn
Từ những nguyên tắc cơ bản trên, nhân viên CTXH sẽ áp dụng vào quátrình trị liệu cùng với sự hỗ trợ của bác sỹ tâm lý và những chuyên gia thamvấn.Trong quá trình trị liệu có thể áp dụng và phối hợp nhiều phương phápkhác nha, tuy nhiên một nguyên tắc bất di bất dịch đó là bao giờ cũng phải đặtthân chủ là trọng tâm Phải làm sao nâng cao tối đa quyền tự quyết, vấn đềgiải quyết được dựa trên cơ sở nhận thức đã thông suốt mới là vấn đề lâu dài
2.5 Ứng dụng dựa trên thuyết trao đổi (exchange theory)
Mục đích Đây là lý thuyết được sử dụng nhiều trong kinh tế học và xãhội học, tuy nhiên nó cũng có ứng dụng to lớn trong thực hành CTXH Khảnăng ứng dụng của thuyết này nhằm tăng cường chức năng xã hội cho cánhân, nhóm, gia đình,tổ chức nói chung và NCT nói riêng bằng cách thừanhận xu hướng hành động của những người xung quanh dựa trên quan niệm
và sự so lợi ích và tránh đuợc những chi phí (hay nói cách khác đây là sự lựachọn hợp lý trong hành động)
Ứng dụng Những quan điểm cơ bản của thuyết trao đổi bắt nguồn từ
những lĩnh vực của kinh tế học hành vi và tâm lý học hành vi Phương pháptiếp cận này dựa trên sự quan sát về tính tư lợi như là một nhân tố then chốt
Trang 31nhiều lợi ích nhất và tránh như chi phí tới mức tối đa có thể, hướng tới phạm
vi xem xét, giải thích và dự báo những hành vi và quyết định của cá nhân, giađình, nhóm và tổ chức Thuyết trao đổi cho rằng thân chủ có thể làm những gì
họ lĩnh hội và trở thành tính tư lợi cá nhân cũng như những điều đó sẽ đưa họđền gần hơn việc thu được bất cứ điều gì họ nhận định là có giá trị, đángmong đợi, và mang lại lợi nhuận Hơn nữa, thân chủ cũng tránh xa nhữnghành động có thể là nguyên nhân khiến họ đánh mất thức họ thấy giá trị hoặcmong đợi có đuợc Quyền lực đang được nhận thức bởi tính tư lợi trong cáclựa chọn của thân chủ tăng cường sự chính xác của một đánh giá và đồng thời
là hiệu quả của một can thiệp Tính tư lợi của thân chủ có thể được nhận dạng
và kết hợp chặt chẽ, ở khu vực có thể, sự rõ ràng của những kế hoạch canthiệp Trong bối cảnh của thực hành CTXH cấp độ vi mô, thuyết trao đổi chorằng rằng một thân chủ sẽ quyết định việc sử dụng các dịch vụ xác định (ví
dụ, tham vấn, nhóm hỗ trợ, nhóm trị liệu) riêng rẽ khi và chỉ khi họ tin rằngnhững lợi ích từ việc sử dụng nó (ví dụ, cảm thấy tốt hơn, ngăn ngừa nhữnghậu quả tiêu cực) nhiều hơn chi phí phải bỏ ra Trong trường hợp này, chi phíbao gồm tiền phải trả, thời gian, mất sự riêng tư và căng thẳng
2.6 Ứng dụng của mô hình lấy nhiệm vụ làm trọng tâm
Mục đích Có thể nói, với tính chất ứng dụng cao của CTXH thì môhình can thiệp lấy nhiệm vụ là trọng tâm là một nét đặc thù của riêng CTXH,tuy chưa được xây dựng dưới hệ thống một lý thuyết, nhưng các nhân viênCTXH luôn cần phải tìm hiểu và ứng dụng mô hình này như là một trongnhững khung sườn thực hành chủ chốt trong quá trình làm việc với thân chủ.Ứng dụng quan trọng của nó là tăng cường chức năng xã hội cho thân chủthông qua việc sử dụng cấu trúc can thiệp nhấn mạnh vào các bước hành động
để thay đổi của chính thân chủ đó (là quá trình giao cho thân chủ nhữngnhiệm vụ cụ thể mang tính bắt buộc hoặc không bắt buộc phải hoàn thànhtrong quá trình hực hiện kế hoạch can thiệp hoặc là trị liệu, trong đó thân chủđóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện các nhiệm vụ đó
Trang 32Ứng dụng Cách tiếp cận này được sử dụng để làm việc với cá nhân,nhóm, gia đình và những nhóm nhỏ và có thể thích hợp để làm việc bớinhững thân chủ không có sự tự nguyện Vì vậy, sự nhấn mạnh của nó tậptrung vào các hành động và sự hoàn thiện dựa trên các nhiệm vụ được đồngthuận, mô hình này cũng đặc biệt có ích với những thân chủ đang cố gắngquản lý các vấn đề bắt nguồn từ sự thiếu hụt các nguồn lực như việc làm, nhà
ở, chăm sóc hàng ngày, vận chuyển, v v Sau khi thảo luận về tình trạnghoặc các vấn đề của mình, nhiều thân chủ hiểu họ cần làm gì tuy nhiên lạikhông thể tiếp tục và có những hành động cần thiết để thay đổi một cách đáng
kể tình trạng đó Ứng dụng của mô hình này là quá trình trợ giúp thân chủ cóđược các hành động thay đổi đó Các hoạt động đặc biệt được gọi là nhiệmvụ
Những nhiệm vụ được sử dụng có thể nhiều dạng: ra quyết định trongmột khung thời gian xác định, tìm kiếm các nguồn lực, học tập các kỹ năng,bày tỏ mối quan tâm tới một người lao động… Những nhiệm vụ lớn có thểđược chia nhỏ trong các nhiệm vụ nhỏ hơn vì thân chủ sẽ trải nghiệm nhữngthành công và duy trì các động lực Ưu tiên bố trí nhằm giới hạn số lượng cácnhiệm vụ xuống chỉ 2 hoặc 3 yêu cầu 1 tuần Cấu trúc và giới hạn thời giangiúp cho thân chủ luôn luôn tập trung và huy động các nguồn lực nội tạiMôhình này mang tính trải nghiệm cá nhân và nhấn mạnh cao sự giám sát và đolường mức độ hoàn thành của các nhiệm vụ Mô hình nhấn mạnh vào hoạtđộng và mức độ hoàn thành của các nhiệm vụ không nên giải thích như thiếuhụt mối quan tâm đến suy nghĩ và cảm xúc bên trong của thân chủ Tuy vậyhướng tiếp cận này dựa vào quan niệm rằng con người có nhiều khả năng đểthay đổi như là kết quả của việc thực hiện các hành động hơn là việc cho đó làkết quả của sự thảo luận bình thường về tư duy và cảm nghĩ của họ Nhữngnhà thực hành lấy nhiệm vụ làm trọng tâm rút ra từ nhiều lý thuyết và kỹthuật nhằm giúp thân chủ hoàn thành những nhiệm vụ được thỏa thuận
Trang 332.7 Ứng dụng của thuyết nhận thức- hành vi (cognitive- hehavioral theory)
Mục đích Tăng cường chức năng xã hội bằng việc hỗ trợ thân chủ họcnhững cách thức xác thực và rõ ràng về việc lĩnh hội, tư duy và giải thíchnhững trải nghiệm cuộc sống của chính mình
Ứng dụng Cách tiếp cận theo lý thuyết này này yêu cầu thân chủ phải
có khả năng nhận thức cần thiết và sẵn sàng đầu tư thời gian cần thiết để giámsát và phân tích các cách thức mà mình tư duy đồng thời thực hành các kỹthuật phù hợp để thay đổi những thói quen cố hữu trong suy nghĩ của mình.Thuyết hành vi-nhận thức đặc biệt hữu hiệu đối với các vấn đề về suy giảmlòng tự trọng và những suy nghĩ về việc tự chuốc lấy những thất bại Nó cũng
có thể được sử dụng với trẻ em (ở độ tuổi lên 10 hoặc hơn 1 chút), trẻ vị thànhniên là những đối tượng đang phát triển và định hình những hình mẫu trong tưduy của chúng, và tất nhiên là ứng dụng được cho cả những người trưởngthành Ứng dụng trong thực hành của lý thuyết này kết hợp những khái niệmđược lựa chọn từ lý thuyết học hỏi và áp dụng phân tích hành vi với nhữngthuyết khác rút ra từ việc nghiên cứu quá trình nhận thức Ví dụ, làm thế nàomọi người tư duy và thông tin về quá trình đó) Nó cũng đồng thời trọng tâmvào sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những nhận thức (tư duy), cảm xúc và hành
vi Những hành vi có vấn đề và những đau khổ cá nhân thường được bắtnguồn từ những suy nghĩ cứng nhắc, không hợp lý và không hoàn hảo cũngnhư từ những niềm tin không thực tế, không được tìm thấy về cách thức màchúng nên tồn tại (theo sự mong đợi của cá nhân) Ví dụ, mọi người luôn tồntại những niềm tin của mình rằng một người giữ người khác từ sự bất hòa, họđối mặt với thời gian khủng hoảng bởi đây là một mong đợi không thực tế.Trong suốt quá trình trị liệu nhận thức-hành vi, thân chủ được trợ giúp nhậnbiết, giám sát, kiểm tra, và thay đổi những hình mẫu suy nghĩ đó và những giảđịnh khiếm khuyết mang tới sự gia tăng của vấn đề Thân chủ cũng được dạynhững kỹ năng đặc thù và thủ tục để nhận biết nội hàm và tương tác trong suy
Trang 34nghĩ của họ, đánh giá tính đúng đắn trong nhận thức của mình cùng vớinhững giả định và cách xem xét các sự kiện cũng như các trạng thái qua quansát kỹ tường tận hơn Rất nhiều kỹ thuật đã được sử dụng như: tái cấu trúcnhận thức, phân tích hợp lý, tạo mô hình vai trò, trình bày lại hành vi, chuyểndịch ngược, gây tê, chuyển đổi sự phá hủy, ngập lụt nhận thức, v v Trongphạm vi khung sườn thực hành ứng dụng lý thuyết này có những phân chia,như liệu pháp hợp lý hóa cảm xúc và liệu pháp nhận thức Những nhà thựchành và các nhà lý thuyết có sự bất đồng về không phải nhấn mạnh về mặtnhận thức cũng không phải về mặt hành vi của cấu trúc nhận thức-hành vi vàđồng ý với việc họ làm để thay đổi tiến trình nhận thức về cơ bản như sự sángsuốt, trí nhớ, xử lý thông tin, cân nhắc và ra quyết định.
Trên đây chỉ là những lý thuyết cơ bản được lựa chọn trong quá trìnhthực hành CTXH nói chung và can thiệp với NCT nói riêng Thực ra bản chấtcông tác xã hội rất đa dạng và qua mỗi cách thức tiếp cận khác nhau, nó cầnphải sử dụng những lý thuyết khác nhau để lý giải và trị liệu Cũng cần lưu ýrằng không một phương pháp nào hay một lý thuyết nào là tốt hơn nhữngphương pháp khác và nhân viên CTXH cần phải có những hiểu biết cơ bản từnhiều phương pháp đa dạng Khung sườn thực hành của một phương pháp cóthể gồm nhiều quan điểm và vốn ngày càng đa dạng của các lý thuyết và môhình thực hành Từ tất cả các khung sườn thực hành liên quan tới việc trợgiúp con người thay đổi, nhân viên CTXH phải thường xuyên nhận thức rõ vềtoàn bộ cá nhân- những điều con người đang nghĩ, đang cảm nhận và nhữnghành vi sinh học nhằm sinh tồn, sinh trưởng và phát phụ thuộc vào nhữngtương tác liên tục giữa con người và môi trường sống của bản thân mình
Trang 35Bài 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚINHÓM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI
I Nhận diện vấn đề nghèo đói ở vùng các dân tộc ít người
Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏamãn các nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theotrình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán địa phương
Nghèo đói ở các nhóm dân tộc ít người đã và đang là vấn đề có tínhchất toàn cầu Nó hiện tồn phổ biến ở các quốc gia đa tộc người trên thế giới
Ở Việt Nam, tuy chỉ có trên 10 triệu người (xấp xỉ 14% nhân khẩu toàn quốc),nhưng các nhóm dân tộc ít người cư trú trên địa bàn vùng cao rộng lớn, chiếmhơn 2/3 lãnh thổ quốc gia, là địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninhquốc phòng và môi trường sinh thái của cả nước Thực tế cho thấy, đa sốnhóm dân tộc ít người sinh sống ở những vùng điều kiện tự nhiên khôngthuận lợi, cô lập về mặt địa lý, 90% người dân sống chủ yếu nhờ vào hoạtđộng nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp còn thấp vì năng suất chưa cao,đất sản xuất thì có hạn, diện tích đất bình quân đầu người rất thấp Hoạt độngnông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thời tiết khí hậu Giao thông đi lại gặpnhiều khó khăn, trình độ dâ trí so với mặt bằng dân trí nói chung của cả nướccòn rất thấp, phong tục tập quán sản xuát và sinh hoạt còn quá lạc hậu so vớivùng nông thôn đồng bằng (gia đình đông con, cưới xin, ma chay tốn kém)
Với thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 141 trong 179 nước trênthế giới theo xếp hạng phát triển của Liên Hiệp Quốc vào năm 2007, ViệtNam hiện tuy không nằm trong 48 nước đói nhèo nhất nhưng cũng đang làquốc gia cận nghèo Trong ba khu vực phân theo địa lý và dân số ở Việt Nam(đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi), vùng nông thôn miềnnúi, với đa số cư dân là các nhóm dân tộc ít người đã và đang là khu vực cóquy mô mức độ nghèo đói sâu sắc nhất, thể hiện trên các phương diện: Tỷ lệnghèo đói, đời sống và thu nhập (ăn, mặc, ở, kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục,
Trang 36văn hóa, khả năng tiếp cận các dịch vụ kinh kế xã hội mới và cách thức khaithác tài nguyên)
Thực tiễn cho thấy do những đặc thù về điều kiện tự nhiên và trình độphát triển xã hội, nghèo đói đang diễn ra trầm trọng và sâu sắc ở các nhómdân tộc ít người Việt Nam, cũng như giảm nghèo ở các nhóm dân tộc ít người
sẽ còn là cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ Trong khung cảnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, giảm nghèo cho các dân tộc ít người trở thànhmục tiêu hàng đầu trong quốc sách với vùng cao của chính phủ Việt Nam
1 Thực trạng nghèo đói
1.1 Tỷ lệ nghèo đói
Nhiều năm qua, nhất là từ năm 1989 đến nay, được Đảng và Nhà nướcđặc biệt quan tâm đầu tư phát triển nhưng do cơ sở hạ tầng lạc hậu, địa hình
bị chia cắt phức tập, trình độ dân trí còn hạn chế nên mặc dù đã có nhiều tiến
bộ so với thập niên 80 trở về trước, nhưng kinh tế - xã hội của đồng bào dântộc ít người còn thấp kém hơn so với bình quân chung của cả nước và một sốkhu vực khác Nghèo đói vẫn là một thách thức lớn và là một mục tiêu màViệt Nam phải giải quyết trong nhiều năm tới vì kết quả xóa đói giảm nghèochưa đồng đều Một số vùng, khu vực, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc ítngười tỷ lệ đói nghèo khá cao, hoặc là rất cao như Hòa Bình, Điện Biên, KonTum hơn 50%; Sơn La, Lai châu, Quảng Bình trên dưới 40% Ở nhiều huyện,
xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng miền núi có các đồng bào dân tộc ít ngườisinh sống như vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, tỷ lệ hộ đóinghèo chiếm đến 60 – 70%
Các số liệu thống kê dưới đây về tỷ lệ hộ nghèo ở các dân tộc ít ngườicủa nhiều tổ chức khác nhau bằng việc xem xét và so sánh tỷ lệ hộ nghèo giữacác vùng tập trung nhóm dân tộc ít người với các vùng có hoặc có ít ngườidân tộc Cũng lưu ý rằng, do đánh giá đói nghèo bằng nhiều tiêu chí khácnhau nên tỷ lệ đói nghèo đưa ra của các tổ chức nghiên cứu là khác nhau Dù
Trang 37thế nào, những dẫn liệu đó đều cho nhận thức thống nhất là so với cả nước, tỷ
lệ hộ đói nghèo ở các dân tộc ít người luôn cao hơn
Theo thống kê của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, đến cuối năm
2006 toàn Việt Nam còn 58 huyện (thuộc 19 tỉnh) có tỷ lệ hộ nghèo trongtổng số hộ của huyện trên 50% Những thay đổi về hành chính (chia táchhuyện) sau đó đã đưa số huyện nghèo lên thành 61 huyện (thuộc 20 tỉnh) Tuynhiên, kết quả điều tra huyện nghèo tại thời điểm tháng 2 năm 2009 lên tới 63huyện (thuộc 20 tỉnh) trong đó có 43 huyện ở vùng Tây Bắc 61 huyện nghèobao gồm 797 xã và thị trấn, phần lớn tại khu vực miền núi và biên giới nơi cóđồng bào dân tộc ít người sinh sống Tỷ lệ hộ nghèo ở đây cao gấp 3,5 lầnmức bình quân của cả nước Dân số các huyện nghèo là 2,4 triệu người, trong
đó có tới 90% là người các dân tộc ít người Thu nhập bình quân đầu người ởđây chỉ khoảng 2,5 triệu đồng/năm
Theo kết quả điều tra công bố ngày 30/5/2011 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, cả nước có 3.055.566 hộ nghèo, 1.612.381 hộ cậnnghèo Trong đó, khu vực có các dân tộc ít người sinh sống như Đông Bắcchiếm 19,03%, Tây Bắc 7,74%, Khu 4 cũ 18,92%, Duyên hải Miền Trung10,91%, Tây Nguyên 8,6% Nếu xem xét tỷ lệ nghèo đói theo vùng lãnh thổthì so với vùng đồng bằng như Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung,Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, các vùng miền núi tập trung cácđồng bào dân tộc ít người như miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên thường có tỷ lệ
hộ nghèo cao hơn nhiều
Theo đánh giá của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, lấy chuẩnnghèo như đã giới thiệu, tỷ lệ hộ nghèo ở 2 vùng tập trung người dân tộc sovới tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng khác trong các năm từ 2008 đến 2011 như sau:
Bảng 1: Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng lãnh thổ có các dân tộc ít người sống tập trung trong tương quan với tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng lãnh thổ khác (2008 – 2011)
(Hai vùng có đông các dân tộc ít người được in đậm)
Trang 38173 nghìn đồng; 2006: 213 nghìn đồng; 2008:280 nghìn đồng.Th eo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.
Trang 39Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011 hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống
Xét về từng dân tộc, các nhóm dân tộc ít người ở Tây Bắc, TrungTrường Sơn và Tây Nguyên là nhóm có tỷ lệ đói nghèo cao nhất Dân tộcPakô-Vân Kiều ở Quảng Trị là 58,5% và 60,3%; Jarai ở Tây Nguyên là29,2% Dân tộc Mông và Dao là hai dân tộc có dân số tương đối lớn, sống rảirác khắp các miền trong cả nước tỷ lệ nghèo đói cũng lên đến 35% và 27,1%.Đây là những nhóm dân tộc sinh sống ở những vùng tài nguyên thiên nhiênnghèo nàn, địa hình bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, vẫn còn tập quán
du canh, du cư, phát rừng làm nương rẫy, trình độ canh tác còn lạc hậu, kinhtế-xã hội chưa phát triển hoặc mới bắt đầu tiếp cận phát triển Một bộ phậnđồng bào vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực nhất là vào nhữngtháng giáp hạt hoặc sau những đợt thiên tai
Trên đây là những dẫn liệu về tỷ lệ hộ nghèo đói ở các vùng lãnh thổmiền núi, nơi ngoài dân tộc ít người, còn tỷ lệ đáng kể người Kinh Nếu khảosát riêng đối tượng người dân tộc thiểu số thì sẽ còn cao hơn nhiều so với tỷ
lệ hộ nghèo đói đã dẫn ra Nhìn chung, sự chênh lệch về tỷ lệ hộ nghèo có thểthay đổi qua các thời kỳ, từng năm, nhưng những dẫn liệ trên cho thấy tỷ lệ
hộ nghèo ở vùng các dân tộc ít người những năm qua đều đã và đang cao hơnnhiều so với ở vùng người Kinh và so với toàn quốc
1.2 Đời sống và thu nhập
Đời sống và thu nhập của người dân tộc ít người thấp hơn nhiều so vớiđời sống và thu nhập của người Kinh, đặc biệt là ở các xã vùng III Các hộdân đói nghèo cao đã kéo theo nhiều hệ lụy, như: Chất lượng dân số khôngđạt yêu cầu, đời sống nhân dân khó khăn, ăn, ở, sinh hoạt còn tạm bợ, mất
vệ sinh, hay xảy ra các bệnh tật, dịch bệnh Trong việc chăm sóc, giáo dục trẻnhằm phát triển thế hệ mai sau, tương lai cũng gặp không ít trở ngại vì vàomùa giáp hạt nhà không có gạo ăn là học sinh lại nghỉ học ở nhà Hiện số học
Trang 40sinh bỏ học giữa chừng, thường hay nghỉ học là các em dân tộc Khơ Múchiếm tỷ lệ 90%
Ở nhiều vùng dân tộc ít người và miền núi , do cuộc sống du canh du
cư, so với người Kinh, điều kiện sinh hoạt còn rất nhiều khó khăn và tạm bợ.Hầu hết nhà cửa được làm nhỏ hẹp từ tranh tre nứa lá Khác với nhà ở dân tộcKinh, ngôi nhà sàn ở nhiều làng dân tộc ít người không phải là tài sản đáng
Bảng 3: Tỷ lệ phần trăm dân số có nhà ở chia theo loại nhà và dân tộc
(Nguồn: Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, tháng 3/2011)
Các số liệu trong bảng 3 cho thấy, trong số 6 dân tộc được nghiên cứu,dân tộc Kinh có điều kiện nhà ở tốt nhất, có tới 88% dân tộc Kinh được sốngtrong nhà kiên cố hoặc bán kiên cố Đứng thứ hai là dân tộc Mường với 72%
số người dân tộc này sống trong nhà kiên cố hoặc bán kiên cố Dân tộc Khơ
me và dân tộc Mông có điều kiện nhà ở kém nhất, chỉ có 37% người Khơ mesống trong loại nhà kiên cố hoặc bán kiên cố, tỷ lệ này ở dân tộc Mông là46%
1.3 Kết cấu hạ tầng