1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu thuật ngữ marketing anh – việt

201 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Trên cơ sở tập hợp, miêu tả, so sánh, đối chiếu các thuật ngữ marketing cơbản được sử dụng trong hai ngôn ngữ Anh, Việt hiện nay, nghiên cứu đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-HÀ THỊ HƯƠNG SƠN

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ MARKETING ANH – VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS TRẦN TRÍ DÕI

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận án “Đối chiếu thuật ngữ marketing Anh –Việt” sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ của những tổ chức và cá nhân sau, những người mà tác giả luận án xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất:

- Tập thể lãnh đạo, giáo sư, các nhà khoa học, giảng viên, cán bộ Khoa ngôn ngữ, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam;

- Lãnh đạo Trường Đại học kinh tế quốc dân, Khoa ngoại ngữ kinh tế, Khoa marketing cùng tập thể các nhà khoa học, đồng nghiệp công tác tại Trường Đại học kinh tế quốc dân;

- GS.TS Trần Trí Dõi, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn;

- Ban biên tập Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, Tạp chí Nhân lực Khoa học

xã hội; Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư;

- Các Trường, Viện, Khoa đào tạo, trung tâm nghiên cứu …về lĩnh vực marketing trong nước;

- Gia đình, bạn bè …

Chính nhờ sự hướng dẫn, giảng dạy, góp ý, động viên, hỗ trợ … tận tình kể trên mà tác giả mới có đủ kiến thức, phương pháp, động lực và thời gian để hoàn thành luận án đúng tiến độ và với chất lượng tốt nhất có thể.

Trân trọng,

Hà Thị Hương Sơn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả trong luận án là trung thực, chưa từng được ai công bố ở đâu và trong bất kỳcông trình nào khác

Tác giả luận án

Hà Thị Hương Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 9

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam 9

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt 22

1.2 Cơ sở lý luận 24

1.2.1 Lý thuyết về thuật ngữ 24

1.2.2 Lý thuyết về định danh 40

1.2.3 Lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu 41

1.3 Tiểu kết 46

Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ MARKETING ANH –VIỆT 48

2.1 Đơn vị cơ sở cấu tạo nên thuật ngữ 48

2.2 Nhận diện thuật ngữ marketing Anh, Việt 49

2.3 Cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Anh 49

2.3.1 Thuật ngữ marketing tiếng Anh là từ đơn 49

2.3.2 Thuật ngữ marketing tiếng Anh là từ phái sinh 50

2.3.3 Thuật ngữ marketing tiếng Anh là từ ghép 552

2.3.4 Thuật ngữ marketing tiếng Anh là cụm từ 55

2.4 Cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Việt 66

2.4.1 Thuật ngữ marketing tiếng Việt là từ đơn 66

2.4.2 Thuật ngữ marketing tiếng Việt là từ ghép 66

2.4.3 Thuật ngữ marketing tiếng Việt là cụm từ 68

2.5 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ marketing Anh – Việt 78

2.5.1 Điểm tương đồng 78

2.5.2 Nét khác biệt 79

2.6 Tiểu kết 82

Trang 5

Chương 3: ĐỐI CHIẾU CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH

DANH CỦA THUẬT NGỮ MARKETING ANH – VIỆT 85

3.1 Con đường hình thành thuật ngữ 85

3.2 Đối chiếu thuật ngữ marketing Anh – Việt về con đường hình thành 88

3.2.1 Con đường hình thành thuật ngữ marketing tiếng Anh 88

3.2.2 Con đường hình thành thuật ngữ marketing tiếng Việt 98

3.2.3 Nhận xét về con đường hình thành thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt 102

3.3 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ marketing Anh – Việt 103

3.3.1 Định danh thuật ngữ 103

3.3.2 Các phạm trù ngữ nghĩa thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt 104

3.3.3 Đặc điểm định danh thuật ngữ marketing Anh- Việt thuộc từng phạm trù ngữ nghĩa 106

3.3.4 Nhận xét đặc điểm định danh thuật ngữ marketing Anh – Việt 121

3.4 Tiểu kết 129

KẾT LUẬN 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

Trang 7

1 Tính cấp thiết của đề tài

MỞ ĐẦU

Thuật ngữ học, với vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển khoa họccủa mỗi quốc gia luôn là mảng đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong vàngoài nước Nghiên cứu về thuật ngữ mang ý nghĩa thời sự và thực tiễn sâu sắc vìthuật ngữ luôn gắn với nhu cầu phát triển đi lên của xã hội loài người nhằm chinhphục những tri thức mới Ở Việt Nam, đứng trước quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa của đất nước, nhiệm vụ đặt ra là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, khoa học,

kỹ thuật Nhiệm vụ đó không thể thực hiện được nếu thiếu sự đóng góp của khoahọc, trong đó có thuật ngữ học Không chỉ là công cụ của quá trình nhận thức và tưduy khoa học, thuật ngữ còn giúp tiếp nhận và phổ biến các tri thức trong các lĩnhvực chuyên môn phục vụ sự phát triển đất nước, giúp nâng tầm vị thế của nước nhàtrên trường quốc tế Trong các lĩnh vực chuyên môn đó, kinh tế luôn đóng vai trò làmột trong những lĩnh vực then chốt, và vì vậy việc nghiên cứu hệ thuật ngữ về kinh

tế có giá trị ngày càng to lớn

Mặt khác, trong các hoạt động kinh tế, kinh doanh, hoạt động marketingngày càng đóng vai trò quan trọng như là yếu tố thiết yếu quyết định thành công củamột doanh nghiệp Xét về khía cạnh khoa học, ngành marketing là một trong nhữngchuyên ngành cơ bản của khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh; kiến thức vềmarketing được vận dụng cho nhiều chuyên ngành khác nhau như ngân hàng tàichính, du lịch khách sạn, quản trị kinh doanh … Để góp phần thúc đẩy kinh tế pháttriển, công tác đào tạo, nghiên cứu và tuyên truyền, giới thiệu về marketing như làmột công cụ kinh doanh cần được quan tâm Để làm được điều này, rất cần có ngônngữ chuyên ngành, trong đó, thuật ngữ marketing là không thể thiếu

Trong khi đó, ở nước ta, gần như chưa có một công trình khoa học nàonghiên cứu chuyên sâu về hệ thống thuật ngữ marketing tiếng Việt, nhất là nhữngcông trình có sự đối chiếu với thuật ngữ marketing trong tiếng Anh, một trongnhững ngôn ngữ thông dụng trong hoạt động kinh tế thế giới Chính vì thế, hiện nayviệc vay mượn từ ngữ tiếng Anh nói chung, vay mượn thuật ngữ marketing tiếng

Trang 8

Anh nói riêng, đang còn khá nhiều vấn đề còn phải trao đổi, tranh luận, chưa thể cóđược sự thống nhất ý kiến Chẳng hạn, đó là vấn đề giữ nguyên dạng hay phải phiên

âm các thuật ngữ, hay đặt thuật ngữ mới đối với các trường hợp vay mượn, v.v

Trong một tình hình như thế, theo khảo sát ban đầu của chúng tôi, có nhữngvấn đề sau đây nổi lên cần được tiếp tục giải quyết đối với các thuật ngữ marketingcủa tiếng Việt trong sự đối chiếu với các thuật ngữ marketing tiếng Anh được sửdụng tại Việt Nam là:

- Thuật ngữ marketing tiếng Việt chưa biểu đạt được ch nh xác khái niệm;

- Nhiều thuật ngữ marketing đồng nghĩa cùng được sử dụng mà chưa lựachọn được dạng chuẩn hóa;

- Nhiều thuật ngữ marketing có trong tiếng Anh mà chưa được sử dụng trongtiếng Việt

Từ những vấn đề đặt ra như thế, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ marketing Anh – Việt” để nghiên cứu với hy vọng phục vụ cho nhu cầu giảng

dạy, học tập và nghiên cứu về thuật ngữ marketing trong tiếng Việt, góp phần tiến

tới xây dựng bộ từ điển Thuật ngữ marketing Việt – Anh phục vụ cho phát triển kinh

tế bền vững ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở tập hợp, miêu tả, so sánh, đối chiếu các thuật ngữ marketing cơbản được sử dụng trong hai ngôn ngữ Anh, Việt hiện nay, nghiên cứu được thựchiện với mục đ ch tìm ra các đặc điểm tương đồng và dị biệt nếu có về mặt cấu tạo,con đường hình thành và đặc điểm định danh giữa chúng để từ đó cung cấp cáctham khảo hữu ích giúp người sử dụng thuộc các đối tượng khác nhau có thể hiểu

và diễn đạt đúng, đầy đủ các thuật ngữ này, góp phần nâng cao hiệu quả của việcgiảng dạy, học tập, nghiên cứu và tiếp cận chuyên ngành marketing – một chuyênngành ngày càng thể hiện vai trò hết sức quan trọng trong các ngành khoa học vềkinh tế hiện nay ở Việt Nam

Xuất phát từ mục đ ch nghiên cứu đó, luận án đã đặt ra các câu hỏi sau:

(1) Thuật ngữ marketing tiếng Anh giống và khác thuật ngữ marketing hiện

có trong tiếng Việt như thế nào về đặc điểm cấu tạo?

Trang 9

(2) Con đường hình thành thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việtgiống và/hoặc khác nhau như thế nào?

(3) Có sự tương đồng và khác biệt nào không giữa đặc điểm định danh củathuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt?

Để trả lời các câu hỏi này, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa các quan điểm lý luận và hướng tiếp cận khi nghiên cứu vềthuật ngữ khoa học trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay ở mức độ đủ để phục vụnhiệm vụ nghiên cứu của luận án, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu;

- Tập hợp, miêu tả, so sánh, đối chiếu các thuật ngữ marketing tiếng Anh vàtiếng Việt thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án trên các phương diện đặc điểmcấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh để tìm ra sự tương đồng vàkhác biệt nếu có

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trước hết ở nội dung nghiêncứu bao gồm đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh củathuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt Các nội dung khác bao gồm chuyểndịch tương đương thuật ngữ marketing Anh –Việt và chuẩn hóa thuật ngữmarketing tiếng Việt vì vậy nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án

Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của luận án còn được giới hạn ở đối tượngnghiên cứu, cụ thể là số lượng thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt đượctập hợp và lựa chọn Đối với thuật ngữ marketing tiếng Anh, số lượng thuật ngữđược khảo sát giới hạn ở 1940 thuật ngữ marketing tiếng Anh bao trùm tất cả cáclĩnh vực và khía cạnh tiếp cận marketing từ việc lập kế hoạch đến triển khai thựchiện marketing, định giá, truyền thông, định vị và kênh phân phối, nội dung và ýtưởng marketing, thị trường và khách hàng, sản phẩm và dịch vụ, marketing trựctuyến… được trích xuất từ cuốn từ điển “Dictionary of marketing” của CharlesDoyle, do nhà xuất bản Oxford University Press công bố năm 2011 [94] Ngược lại,với thuật ngữ marketing tiếng Việt, chỉ 1225 thuật ngữ được khảo sát; trong đó có

202 thuật ngữ chỉ hoạt động marketing, 154 thuật ngữ chỉ hoạt động nghiên cứu

Trang 10

marketing, 169 thuật ngữ chỉ thị trường và khách hàng, 157 thuật ngữ chỉ sản phẩm

và thương hiệu, 91 thuật ngữ chỉ giá, 151 thuật ngữ chỉ kênh phân phối và bán hàng,

168 thuật ngữ chỉ truyền thông và quảng cáo và 133 thuật ngữ chỉ marketing trựctuyến Vì hiện tại chưa có từ điển chuyên ngành về thuật ngữ marketing tiếng Việt,các thuật ngữ này được tập hợp chủ yếu từ các nguồn tư liệu là giáo trình, sách thamkhảo hiện đang được sử dụng để đào tạo kiến thức và kỹ năng nghiên cứu về lĩnhvực marketing tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân – đơn vị công tác của nghiêncứu sinh – bao gồm:

(1) Trương Đình Chiến (2013), Giáo trình quản trị marketing, NXB Đại họckinh tế quốc dân, Hà Nội

(2) Trương Đình Chiến (2016), Giáo trình truyền thông marketing t ch hợp,NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội

(3) Trần Minh Đạo (2012), Marketing quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốcdân, Hà Nội

(4) Trần Minh Đạo (2015), Giáo trình marketing căn bản, NXB Đại học kinh

tế quốc dân, Hà Nội

(5) Kotler, P (2007), Marketing căn bản, Bản dịch, NXB Lao động xã

hội(6) Lưu Văn Nghiêm (2008), Marketing dịch vụ, NXB Đại học kinh tế quốcdân, Hà Nội

(7) Nguyễn Viết Lâm (2007), Giáo trình nghiên cứu marketing, NXB Đạihọc kinh tế quốc dân, Hà Nội

(8) Tạp ch marketing Việt Nam, các sách báo, tài liệu chuyên khảo vềmarketing trực tuyến và ngoại tuyến …

Điều này cũng giải thích tại sao số lượng thuật ngữ được dùng để so sánh đốichiếu giữa hai hệ thuật ngữ lại không tương đương nhau (1940 so với 1225); haynói cách khác, đối tượng thuật ngữ marketing tiếng Việt được nghiên cứu có giớihạn chỉ trong các thuật ngữ hiện đang được sử dụng trong môi trường học thuật.Các đối chiếu về quy mô, số lượng thuật ngữ vì vậy cũng nằm ngoài phạm vi củaluận án này

Trang 11

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng hướng tiếp cận

đa ngành, liên ngành và quan điểm mở, trong đó thuật ngữ marketing được đặttrong bối cảnh nghiên cứu gồm nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học(nghiên cứu t nh có lý do của cách đặt thuật ngữ, xuất phát từ thực tiễn và lý luận),ngôn ngữ học (nghiên cứu thuật ngữ marketing như một phạm trù ngôn ngữ học vớicách thức cấu tạo, phương thức biểu đạt …), kinh tế học (marketing là một thuậtngữ kinh tế, cần được hiểu trên nền kiến thức về kinh tế, kinh doanh), công nghệthông tin (marketing trực tuyến) nhưng lấy cách tiếp cận ngôn ngữ học làm cơ sở.Đồng thời, dữ liệu nghiên cứu cũng được lựa chọn theo hướng tiếp cận động (ngữliệu được cập nhật dựa trên nguồn tư liệu mở, đang được nghiên cứu và sử dụng) vàtĩnh (hệ thống từ điển) Với cách tiếp cận đó, luận án sẽ sử dụng các phương pháp

và các thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

a) Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp so sánh đối chiếu là phương pháp chủ đạo được luận án ápdụng để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các thuật ngữ marketingAnh - Việt về các phương diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và con đườnghình thành Cơ sở đối chiếu, vì vậy được xác định là yếu tố cấu tạo thuật ngữ, mốiquan hệ ngữ pháp cũng như mô hình liên kết giữa các yếu tố này trong một thuậtngữ; các phạm trù ngữ nghĩa, phương thức định danh, đặc trưng ngữ nghĩa đượclựa chọn để định danh và mô hình định danh hay cách thức tạo thành thuật ngữ …Dựa trên các cơ sở đối chiếu này, luận án đi vào phân t ch đối chiếu lý thuyết vớithủ pháp đối chiếu song song được thực hiện qua việc miêu tả đồng thời hai hệ thuậtngữ để từ đó phát hiện ra những sự tương đồng và khác biệt

b) Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo và địnhdanh của từng thuật ngữ: yếu tố tạo nên mỗi thuật ngữ; đặc điểm ngữ pháp và từloại của các yếu tố; mô hình các tầng bậc quan hệ của các yếu tố cấu tạo thuật ngữ;các đặc trưng ngữ nghĩa và mô hình định danh từng phạm trù thuật ngữ Nhờ sử

Trang 12

dụng phương pháp này, tác giả nghiên cứu hy vọng sẽ chỉ ra một cách cụ thể, rõ nét,đầy đủ đặc điểm của thuật ngữ marketing về cấu tạo, định danh, con đường hìnhthành để từ đó cung cấp những định hướng cần thiết cho việc chỉnh lý hay cấu tạothuật ngữ marketing mới.

c) Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp

Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được sử dụng để phân t ch đặcđiểm cấu tạo của một thuật ngữ xét theo thành tố trực tiếp Áp dụng phương phápnày, mỗi thuật ngữ được phân tích ra hai thành tố trực tiếp, sau đó nếu còn có thể thìmỗi thành tố trực tiếp này lại được phân đôi ra thành hai thành tố trực tiếp nhỏ hơn nhờ vậy, có thể chỉ ra được thuật ngữ này được cấu tạo theo mô hình mấy bậc,mối quan hệ giữa các thành tố trực tiếp thuộc mỗi bậc cũng như mối quan hệ giữacác đại thành tố trực tiếp tạo nên thuật ngữ

d) Thủ pháp thống kê

Thủ pháp thống kê được sử dụng để có các số liệu định lượng, từ đó có cơ sởrút ra những nhận xét, đánh giá mang t nh định tính về từng phương diện đối chiếu(chẳng hạn, về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ, từ loại, mô hình cấu tạo, các đặcđiểm định danh…) của thuật ngữ marketing trong hai ngôn ngữ Anh, Việt

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đóng góp mới về khoa học của luận án thể hiện trước hết ở việc đã giớithiệu được một cách khái quát cơ sở lý luận liên quan đến thuật ngữ nói chung vàthuật ngữ marketing nói riêng Đặc biệt, luận án đã tổng kết được 8 học thuyết vàhướng tiếp cận về thuật ngữ, trong đó bao gồm cả những hướng tiếp cận mới nhưTiếp cận thuật ngữ theo đường hướng giao tiếp hay văn hoá … Đồng thời, kháiniệm về thuật ngữ marketing cũng được xác lập và làm rõ

Ngoài ra, dựa trên quan điểm thống nhất về yếu tố cấu tạo cơ sở của thuậtngữ (là hình vị đối với từ, là từ đối với cụm từ), luận án đã xác định được các kiểu

mô hình cấu tạo thuật ngữ marketing Anh –Việt, đồng thời phát hiện những điểmtương đồng và dị biệt giữa hai hệ thuật ngữ về phương diện đơn vị ngữ pháp, đặc

Trang 13

điểm từ loại, phương thức cấu tạo và số lượng yếu tố cấu tạo.

Cuối cùng, đóng góp mới của luận án còn thể hiện ở việc cung cấp mộtbức tranh khá rõ ràng về con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữmarketing tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những đóng góp của luận án có ý nghĩa trên cả phương diện lý luận và thựctiễn Thứ nhất, về mặt lý luận, là công trình đầu tiên nghiên cứu về hệ thống thuậtngữ marketing tiếng Anh trong sự đối chiếu với thuật ngữ marketing tiếng Việt,luận án giúp tìm ra những đặc trưng riêng của hai hệ thuật ngữ này, làm cơ sở lýthuyết cho việc nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận ángiúp hệ thống hóa các thuật ngữ marketing tiếng Việt hiện đang còn xuất hiện tảnmạn; đồng thời đề xuất các phương hướng để thống nhất cách cấu tạo, xây dựngthuật ngữ cũ và mới, tạo tiền đề cho sự ra đời của cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếuchuyên ngành marketing Việc này sẽ giúp người sử dụng thuộc các đối tượng khácnhau có thể hiểu và diễn đạt đúng, đầy đủ các thuật ngữ marketing Anh, Việt, gópphần nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về marketing,một lĩnh vực mới và quan trọng trong các ngành khoa học về kinh tế ở Việt Namhiện nay

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có bốcục gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý thuyết liên quan đến luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên

thế giới và ở Việt Nam, các đường hướng tiếp cận thuật ngữ marketing hiện naytrên thế giới, các vấn đề lý luận về khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ marketing, cáctiêu chuẩn cần có của thuật ngữ cũng như phân biệt thuật ngữ với một số đơn vị cóliên quan như từ thông thường, từ nghề nghiệp và danh pháp Ngoài ra, để xây dựngkhung lý thuyết vững chắc cho luận án, Chương 1 cũng đề cập một cách khái quátcác nội dung về định danh, từ và cấu tạo từ và đối chiếu ngôn ngữ

Trang 14

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ marketing Anh – Việt, là một trong hai chương ch nh của luận án, chương 2 tập trung phân t ch làm

rõ các điểm tương đồng và dị biệt giữa thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt

về đặc điểm cấu tạo xét trên phương diện yếu tố cấu tạo, cũng như mô hình và quan

Phần Kết luận, ngoài việc tóm tắt kết quả nghiên cứu và nhận xét về việc

thực hiện nhiệm vụ của luận án còn đặt ra vấn đề cần chỉnh lý và thống nhất thuậtngữ marketing ở Việt Nam để đảm bảo t nh khoa học và quốc tế của lớp từ vựngchuyên ngành này

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ

LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, trải qua quá trình phát triển vài trăm năm, bắt đầu từ thế kỷ 18[118] thuật ngữ chủ yếu được nghiên cứu theo ba hướng: cấu tạo thuật ngữ; chuẩnhóa thuật ngữ; và lý luận về thuật ngữ trong phát thanh, thuật ngữ trong doanhnghiệp, về từ vựng và hiện tượng ngữ pháp trong văn bản chuyên môn v.v

Ở thế kỷ 18, nghiên cứu về thuật ngữ “bắt đầu manh nha với điểm chung cùngtạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặcbiệt” [14] Tuy nhiên, các nhà khoa học trong giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở việcchú ý đến sự đa dạng của hình thức (forms) và mối quan hệ giữa hình thức và nộidung (concepts) chứ chưa đề cập đến bản chất của nội dung hay nền tảng của việctạo ra thuật ngữ mới Các nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này bao gồm các côngtrình trong lĩnh vực hóa học của Lavoisier và Berthollet hay trong lĩnh vực thực vật

và sinh học của Linne

Vì vậy, ý tưởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỷ 20 mới hìnhthành Ở thế kỷ này, cùng với sự phát triển như vũ bão và các thành tựu đạt được vềcông nghệ là nhu cầu không ngừng tăng lên về việc đặt tên cho các khái niệm mớicũng như sự thống nhất các thuật ngữ Kết quả là đã xuất hiện các công trìnhnghiên cứu thực tiễn về thuật ngữ trong một số lĩnh vực chuyên môn với sự thamgia của các kỹ sư và kỹ thuật gia.Việc nghiên cứu thuật ngữ nhờ vậy có được địnhhướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội Tuynhiên trong suốt những năm đầu thế kỷ 20, thuật ngữ chưa nhận được sự quan tâmđặc biệt nào của cả các nhà ngôn ngữ học và các nhà khoa học xã hội Từ nhữngnăm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ mới thực sự diễn ra một cách đồng thời, vớinhững công trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả Liên Xô cũ, Cộng hòa Séc

Trang 16

và Áo Những công trình này được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành khoahọc thuật ngữ trên thế giới Toàn bộ quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giớitrong vòng một thế kỷ qua đã được Cabré tiếp thu từ Auger [84] tổng kết thành ba

xu hướng nghiên cứu chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ; thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ Dưới đây, chúng tôi

sẽ tập trung tìm hiểu hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệthống ngôn ngữ bởi vì chúng liên quan trực tiếp đến đề tài luận án

Khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệthống ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc tới ba trường phái cổ điển(classical schools) và cũng là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhấttrên thế giới đó là Áo (Viên), Xô Viết và Cộng hòa Séc (Praha) Theo Cabré [82;7],các trường phái này đã tiếp cận thuật ngữ theo ba hướng chính:

 Coi thuật ngữ là một môn học liên ngành nhưng độc lập nhằm phục vụcác ngành khoa học và kỹ thuật;

 Tiếp cận thuật ngữ theo triết học, chủ yếu quan tâm đến việc phân loạimang t nh logic của các hệ thống khái niệm và cách tổ chức các đơn vị trithức;

 Tiếp cận thuật ngữ theo ngôn ngữ học, coi thuật ngữ là một thành phầnphụ của các hệ thống con của ngôn ngữ nói chung là từ vựng ngôn ngữ vàngôn ngữ đặc biệt

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của E.Wüster (1898-1977) Ông không chỉ được coi là người đầu tiên tạo nên diện mạo

của công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 mà còn là người

có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này

Ch nh ông là người đầu tiên đưa ra quan điểm về hệ thống hóa các phương phápnghiên cứu thuật ngữ, xây dựng các nguyên tắc làm việc với thuật ngữ và trình bày

sơ lược một số luận điểm về phương pháp luận trong việc xử lý dữ liệu thuật ngữ.Những tư tưởng và quan điểm mới về thuật ngữ này của Wüster chịu sự ảnh hưởng

Trang 17

của bốn nhà khoa học mà Wüster gọi là “người cha tinh thần” (intellectual fathers)của lý thuyết về thuật ngữ: Đó là Ferdinand de Saussure - người đầu tiên chú ý đếnbản chất hệ thống của ngôn ngữ nói chung cũng là người góp phần vào xây dựngtính hệ thống của thuật ngữ; là Alfred Schlomann - người đầu tiên xem xét bản chấtmang tính hệ thống của các từ ngữ đặc biệt; là E Dressen - người tiên phong trongviệc nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chuẩn hóa ngôn ngữ trong đó có chuẩn hóathuật ngữ; và thứ tư là J E Holmstrom - học giả giúp phổ biến các thuyết về thuậtngữ trên phạm vi toàn thế giới [117] Dưới ảnh hưởng của Wüster, xuất phát từ nhucầu truyền tải kiến thức và giao tiếp hiệu quả trong lĩnh vực chuyên môn của cácnhà kĩ thuật và khoa học, trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo đã phát triển đượcmột kho tàng lý luận gồm các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu về thuật ngữtập trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hoá cácthuật ngữ và các khái niệm.

Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc (1930s) tiếp cận thuật ngữ theo quan điểm của ngôn ngữ học chức năng với đại diện tiêu biểu là Lubomir Drodzvà Ferdinand de Saussure Cơ sở lý luận của trường phái này được dựa trên

lý thuyết về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ văn hoá nhằm miêu tả ngôn ngữ chuyênngành theo đặc điểm cấu trúc và chức năng, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quantrọng Các nghiên cứu cả lý thuyết và ứng dụng của các nhà khoa học và ngôn ngữhọc thuộc trường phái thuật ngữ học của Cộng hoà Séc tuy vậy vẫn tập trung vàochuẩn hoá ngôn ngữ và thuật ngữ

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết được hình thành năm 1933 bởi

Lotte và Caplygil với những tư tưởng được trình bày trong cuốn “Những nguyên lý

cơ bản về cấu trúc của thuật ngữ khoa học và kỹ thuật” của Lotte xuất bản năm

1961 và sau này là “Hướng dẫn biên soạn và chỉnh lý thuật ngữ khoa học và kỹthuật” Ngay từ thời kì đầu, trường phái này chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiêncứu về thuật ngữ của của Wüster.Vì vậy cũng như trường phái nghiên cứu thuật ngữcủa Áo, trường phái thuật ngữ Xô Viết chủ yếu nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa cáckhái niệm và các thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa

Trang 18

đa ngôn ngữ của Liên bang Xô Viết trước đây.

Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên cứuthuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ như là một phương tiện đểdiễn đạt và giao tiếp Cũng từ ba trường phái này, hai học thuyết ban đầu về thuậtngữ đã được hình thành và định hướng cách tiếp cận cho toàn bộ các nghiên cứu kể

từ 1930 đến thập niên 90

Đến nay, có thể tóm lược 8 học thuyết và hướng tiếp cận chính khi nghiêncứu về thuật ngữ như sau

a) Học thuyết chung về thuật ngữ (còn gọi là học thuyết truyền thống hay cổ

điển) do Wüster khởi xướng trên cơ sở năm nguyên lý và hướng tới sự chuẩn hóathuật ngữ, coi trọng tính chính xác của khái niệm mà nó biểu hiện và không chấp

nhận sự đồng nghĩa Theo giải thích của Temmerman [124], năm nguyên lý này

Mặc dù, với Học thuyết chung về thuật ngữ, Wüster đã lần đầu tiên giúp thuậtngữ học có được địa vị như một khoa học độc lập trong ngôn ngữ học, các nhà phêphán cho rằng các nguyên lý của Học thuyết này mang t nh lý tưởng hơn là thực tế[83] rằng Học thuyết đã bỏ qua đặc trưng cú pháp, ngữ dụng học của ngôn ngữ cũng

Trang 19

như t nh đa dạng, phức tạp của các từ ngữ chuyên ngành trong môi trường giao tiếp toàn cầu [86].

b) Học thuyết mở rộng được phát triển từ Học thuyết chung của Wüster sau

khi ông qua đời Các học trò của Wüster đã tiếp tục chỉnh sửa và bổ sung lý thuyếtcủa nhà tiền bối này với một số điểm đáng chú ý Cụ thể, Học thuyết mở rộng đãthừa nhận và chấp nhận ở một mức độ nhất định, có kiểm soát hiện tượng đồngnghĩa của thuật ngữ; coi mục đ ch chuẩn hóa trong phát triển thuật ngữ ở phạm vitoàn thế giới là một phần của việc hoạch định ngôn ngữ; mở rộng đơn vị thuật ngữ

ở bậc ngữ cú; và mô tả được quá trình hình thành thuật ngữ mới Tuy vậy, cũnggiống như Học thuyết chung về thuật ngữ, Học thuyết mở rộng trung thành vớihướng tiếp cận ưu tiên khái niệm và tính chính xác của khái niệm trong quá trìnhđịnh danh

Nếu như lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới giai đoạn kể từ sau 1930đến cuối thế kỷ XX được đánh dấu bởi sự ra đời của ba trường phái cổ điển và tươngứng với đó là hai học thuyết về thuật ngữ kể trên, thì thuật ngữ học ngày nay ghinhận thêm sự xuất hiện của các hướng tiếp cận và học thuyết mới về thuật ngữ,mang tính bổ sung và kế thừa hoặc phản biện lại các học thuyết cổ điển

c) Hướng tiếp cận văn bản (textual approach) do nhóm nghiên cứu

Terminologie et Intelligence Artificielle (TIA) đứng đầu là Didier Bourigault vàMonique Slodzian đề xuất năm 1999 và hiện đang được áp dụng tại trung tâmnghiên cứu Centre de Recherche en Ingenierie Multilingue (CRIM) của Pháp Đặcđiểm nổi bật của hướng tiếp cận văn bản này đó là việc tìm kiếm hoặc tạo ra cáckho dữ liệu về thuật ngữ để từ đó có thể phát hiện mối quan hệ giữa các đơn vị thuậtngữ, xác định tính hiệu lực của các thuật ngữ mới hay các chuyển dịch thuật ngữ ởcác ngôn ngữ khác nhau dựa trên ý kiến của các chuyên gia Đây là một trong nhữnghướng tiếp cận mới, đi ngược lại với học thuyết truyền thống về thuật ngữ

d) Thuật ngữ học xã hội do Francois Gaudi khởi xướng năm 2003 tập trung

nghiên cứu thuật ngữ trong phạm vi rộng bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, ngữ dụng,

xã hội và lịch sử Có thể nói hướng tiếp cận đa ngành đa phương diện này là một sự

Trang 20

đối lập với đường hướng tiếp cận truyền thống của Wüster Gaudi đã phản biện lạicác luận điểm trong Học thuyết chung về thuật ngữ khi cho rằng nghiên cứu vềthuật ngữ không thể bỏ qua phương pháp nghiên cứu lịch đại vì bản chất tự nhiênkhông thể cưỡng lại được của ngôn ngữ là tính lịch sử, đa nghĩa và đồng nghĩa của

nó Ông cũng cho rằng các khái niệm và định nghĩa thay đổi, phát triển theo thờigian và môi trường xã hội, vì vậy không thể coi khái niệm là một thực thể cố định,tồn tại trước khi được định danh Hướng tiếp cận thuật ngữ tốt nhất theo ông là xemxét khía cạnh ngôn ngữ học trong giao tiếp xã hội

e) Thuật ngữ học nhận thức xã hội học của Rita Temmerman ra đời năm

2000 hướng tới đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ sử dụng trong mục đ ch chuyênbiệt Bà và nhóm nghiên cứu của mình chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu trườnghợp về phân loại và đặt tên trong ngành sinh học và các ngành có liên quan như ditruyền học, vi trùng học, di truyền phân tử …Điểm khác biệt của lý thuyết về thuậtngữ học theo quan điểm nhận thức học xã hội của Temmerman so với các họcthuyết khác, theo Benitez [76], chính là sự nhấn mạnh vào tổ chức khái niệm(conceptual organization) và kết cấu phạm trù theo quan điểm tiếp cận ngôn ngữhọc nhận thức Đặc biệt, trái ngược với Học thuyết chung về thuật ngữ của Wüstertrong đó hệ thống khái niệm được tổ chức theo mối quan hệ phụ thuộc chung chung

theo kiểu loại của, phần của, cách phân loại theo nhận thức xã hội có cấu trúc mang

tính khuôn mẫu và khái niệm được biểu hiện theo mô hình nhận thức Ngoài ra, có

lẽ đây cũng là học thuyết đầu tiên nghiên cứu thuật ngữ học trên bình diện lịch sử

và cách tiếp cận mang tính lịch đại một cách chân thực và đầy đủ nhất

f) Học thuyết theo đường hướng giao tiếp của Maria Teresa Cabré ra đời

năm 2003 hay còn gọi là Học thuyết những cánh cửa (Theory of Doors) xuất phát từhai giả định Giả định thứ nhất coi hệ thuật ngữ đồng thời là “một tập hợp các nhucầu, một tập hợp các hoạt động thực tiễn để giải quyết các nhu cầu này và một lĩnh

vực hiểu biết thống nhất” [84] Giả định thứ hai cho rằng các yếu tố cấu tạo nên hệ

thuật ngữ ch nh là cái được gọi là đơn vị thuật ngữ Các đơn vị của hệ thuật ngữmang t nh đa phương diện khi vừa là đơn vị của tri thức, vừa là đơn vị của ngôn ngữ

và đơn vị của giao tiếp Vì vậy, hướng tiếp cận khi nghiên cứu về thuật ngữ làhướng tiếp cận đa ngành Mô tả thuật ngữ cần bao quát tất cả các yếu tố liên quan

Trang 21

đến nhận thức (khái niệm được biểu thị); ngôn ngữ (thuật ngữ - từ ngữ); và giao tiếp

xã hội (tình huống sử dụng) Từ hai giả định này, Cabré đưa ra một mô hình tiếpcận, nghiên cứu về thuật ngữ (Học thuyết những cánh cửa) với nỗ lực nhằm địnhhình một lý thuyết chung, tập hợp tất cả các nhánh nghiên cứu về thuật ngữ đươngthời Mô hình trình bày các cách tiếp cận nghiên cứu trực tiếp đơn vị thuật ngữ từnhiều hướng (cửa) khác nhau nhưng không đồng thời cùng nhau dù xuất phát từ lýthuyết nào Mỗi cánh cửa tiếp cận được mở ra bởi một lý thuyết phù hợp, miễn là lýthuyết đó chấp nhận t nh đa phương diện của thuật ngữ (xem sơ đồ) Đây là đónggóp có ý nghĩa sâu sắc của Cabré đối với thuật ngữ học, đánh dấu một bước pháttriển mới trong lịch sử nghiên cứu của lĩnh vực này

Trang 22

Sơ đồ: Mô hình học thuyết về thuật ngữ theo đường hướng giao tiếp của

Cabré (Nguồn Cabré [84])Giả thuyết 1

Thuật ngữ

Tập hợp các

nhu cầu

Tập hợp cáchoạt động thực tiễn đểgiải quyết nhu cầu Lĩnh vực hiểu biếtthống nhất

Giả thuyết 2

Đơn vị

Thuật ngữ

Đơn vịnhận thức

Đơn vịngôn ngữ

Thành phầnnhận thứcKHÁI NIỆM

Thành phầnngôn ngữTHUẬT NGỮ

LÝTHUYẾTNHỮNGCÁNHCỬA

Đơn vị giaotiếp

Thành phầngiao tiếpTÌNH HU NG

Ngữ cảnh đặc biệt

Khung giao tiếp đặc biệt

Đặc trưng từ vựng Văn bản

Trang 23

g) Quan điểm tiếp cận thuật ngữ học theo đường hướng nhận thức của Pamela Faber Benítez (Frame-based Terminology) năm 2016 xuất phát từ giả

thuyết cho rằng cách tốt nhất để nghiên cứu về thuật ngữ là xem xét sự thể hiện củachúng trong văn bản Các văn bản khoa học, kỹ thuật thường là nơi tập trung nhiềunhất các thuật ngữ chuyên ngành Các văn bản này có chức năng truyền tải kiếnthức, và thường tuân theo các khuôn mẫu nhằm giúp người đọc dễ hiểu Thuật ngữchuyên ngành xuất hiện trong các văn bản này thường là các cụm danh từ ghép,mang ý nghĩa đặc thù thuộc một lĩnh vực nhận thức nào đó, và có cấu trúc khácnhau tùy thuộc từng ngôn ngữ Vì vậy, để có thể hiểu được các thuật ngữ này, cần

có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn, hiểu được khái niệm mà nó diễn đạt, mốiquan hệ mệnh đề của văn bản chứa đựng nó, cũng như sự tương quan giữa các kháiniệm trong nội hàm lĩnh vực đó Như vậy, có thể thấy quan điểm của Pamela FaberBenitez chứa nhiều điểm tương đồng với lý thuyết thuật ngữ học theo đường hướnggiao tiếp và thuật ngữ học nhận thức xã hội

h) Hướng tiếp cận về văn hóa do Diki-Kidiri đề xuất 2008 Theo ông, cách

nhìn nhận thế giới của con người sẽ quyết định cách họ phân loại, sắp xếp, đặt tên

và chia nhóm mọi thứ mà họ cảm nhận và lĩnh hội được; và văn hóa ch nh là yếu tốquyết định cách con người nhìn nhận về thế giới Hướng tiếp cận thuật ngữ từ góc

độ văn hóa nhằm mục đ ch tối ưu hóa vai trò của thuật ngữ trong việc cung cấp kiếnthức tốt hơn và th ch đáng hơn về sự phát triển của công nghệ Ông đề xuất biếnthuật ngữ học thành quy tắc của việc tạo ra và phân bổ kiến thức của một nền vănhóa cụ thể [86] Đóng góp của Diki-Kidiri đó là nhấn mạnh vai trò của kiến thức vềvăn hóa bên cạnh kiến thức về ngôn ngữ và lĩnh vực chuyên môn trong cách thứctạo ra thuật ngữ mới

Như vậy, có thể kết luận rằng cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới thuậtngữ học được tiếp cận theo hướng mở, đa chiều, đa phương diện với lý luận vàphương pháp tiếp cận đặc thù bởi mỗi nhà nghiên cứu Các học thuyết và đườnghướng tiếp cận trong lĩnh vực này vì vậy vẫn đang trên đường hướng tới một sự kết

Trang 24

nối để hình thành một học thuyết chung nhất, mang t nh định hướng cho toàn bộ cácnghiên cứu Trong quá trình phát triển độc lập và riêng lẻ của mình, các nhà nghiêncứu về thuật ngữ học đi theo hai hướng mang t nh đối ngược nhau [118] Hướngthứ nhất, coi thuật ngữ học như một khoa học thực sự, hướng thứ hai coi thuật ngữhọc chỉ là thực hành, hay nghệ thuật sử dụng Những người theo hướng thứ nhất tậptrung phát triển khung lý thuyết về Thuật ngữ học giúp cho các nhà ngôn ngữ học,các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khoa học nhận thức và các nhà ngôn ngữ xã hộihọc có thể mô tả được cách thức tạo thành và phát triển của thuật ngữ Sản phẩm từcác nghiên cứu của họ là lý thuyết hợp nhất về Thuật ngữ học Ngược lại, nhữngngười ủng hộ hướng thứ hai cho rằng mục đ ch ch nh của thuật ngữ là để sử dụngcho giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn giữa các nhà khoa học, hay giao tiếp giữanhững người trung gian (phiên dịch, biên dịch viên, bán chuyên gia) và để biên soạn

từ điển hay chú giải từ vựng chuyên ngành Thuật ngữ vì vậy đóng vai trò là công

cụ giao tiếp, là đ ch đến Đầu ra của những nghiên cứu thuộc hướng này là các từđiển chuẩn hóa cho từng lĩnh vực chuyên ngành chẳng hạn như từ điển thuật ngữkinh tế, từ điển thuật ngữ công nghệ thông tin … Mặc dù vậy, khi dự đoán về

sự phát triển của thuật ngữ học trong tương lai, đa số các nhà khoa học đều điđến sự thống nhất cho rằng thuật ngữ học sẽ tiếp tục phát triển không ngừngnhằm đi đến một lý thuyết chung nhất về thuật ngữ, đồng thời, cùng với sự pháttriển về kinh tế, kỹ thuật, đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa sâu rộng, nhu cầu hệthống và chuẩn hóa về thuật ngữ để loại bỏ các rào cản trong hợp tác thươngmại, khoa học kỹ thuật … giữa các quốc gia là động lực tự nhiên và đòi hỏi bắtbuộc để việc nghiên cứu về thuật ngữ học tiếp tục hoàn thiện

Tuy nhiên, theo nhận thức của chúng tôi, tuy có nhiều cách tiếp cận trongnghiên cứu về thuật ngữ như trên nhưng cơ bản đều là sự phát triển của cách tiếpcận do Wüster khởi xướng dựa trên cơ sở năm nguyên lý và hướng tới sự chuẩn hóacủa thuật ngữ, coi trọng tính chính xác của khái niệm mà nó biểu hiện và khôngchấp nhận sự đồng nghĩa

Trang 25

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việthầu như chưa được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trong hơn nửa thập kỷ qua,việc nghiên cứu trong lĩnh vực thuật ngữ học đã phát triển rất mạnh mẽ nhất là từsau những năm 70 của thế kỉ XX Sự phát triển của thuật ngữ học ở Việt Nam chịuảnh hưởng từ sự phát triển của tiếng Việt nói chung đã trải qua các thời kỳ như sau:Trước năm 1945: Tiếng Việt phát triển mạnh mẽ trước những thay đổi trongcác lĩnh vực để phục vụ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Sự pháttriển này được đánh dấu bằng việc gia tăng vốn từ vựng và đa dạng về cấu trúc ngữpháp tiếng Việt, đặc biệt là sự phổ biến của chữ quốc ngữ Đây là những chất liệuđầu tiên của thuật ngữ sau này Nghiên cứu về thuật ngữ trong giai đoạn sơ khai nàychỉ mới dừng lại ở một số quan điểm bàn về cách xây dựng thuật ngữ tiếng Việt, cụthể là chất liệu tạo nên thuật ngữ, chẳng hạn như thuật ngữ nên được xây dựng từtiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Hán hay tiếng An Nam Tuy nhiên đến năm 1942, vớitác phẩm “Danh từ khoa học”, lần đầu tiên, vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa họcđược Hoàng Xuân Hãn xem xét một cách khá có hệ thống Ông đề ra tám tiêu chuẩncủa thuật ngữ và ba phương sách xây dựng thuật ngữ khoa học có giá trị ứng dụngđến tận ngày nay, bao gồm: dùng tiếng thông thường, phiên âm và lấy gốc chữ nho[22] Vận dụng ba phương sách này, những cuốn thuật ngữ học đối chiếu lần lượt rađời Tên tuổi của Hoàng Xuân Hãn, vì vậy được gắn với lịch sử của thuật ngữ họchiện đại ở Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945: Sự chuyển mình của đất nước từ nửaphong kiến, thuộc địa sang một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có ý nghĩa to lớnđối với chính sách phát triển tiếng Việt Tiếng Việt giữ vai trò là ngôn ngữ quốc giavới chữ viết và văn tự riêng Chức năng của tiếng Việt cũng được mở rộng theohướng tự chủ hơn Thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt nhờ vậy cũng được tăng lên

cả về số lượng và quy mô, đặc biệt là sau năm 1954, khi miền Bắc tiến hành xâydựng chủ nghĩa xã hội thì việc nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ lại càng có nhiều

Trang 26

bước tiến mới.

Cũng trong giai đoạn này, ở miền Nam, công tác xây dựng thuật ngữ ghi nhậnnhững thành tựu ban đầu với đóng góp của Lê Văn Thới trong việc soạn thảonguyên tắc hướng dẫn xây dựng danh từ chuyên môn Trước đó, Đào Trọng Đủ vàĐàm Quang Hậu cũng sớm đưa ra những quan điểm riêng về chất liệu xây dựngthuật ngữ tiếng Việt Cụ thể, trong khi Đào Trọng Đủ chủ trương “Việt hoá‟ tức là

sử dụng đặc điểm ngữ âm và chữ viết của tiếng Việt hiện hành để tạo thuật ngữ,thì Đàm Quang Hậu lại ủng hộ việc chuyển dịch và vay mượn thuật ngữ khoa họcChâu Âu

Những năm 60: Đây cũng là thời kỳ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về sốlượng thuật ngữ Sự phát triển mạnh mẽ về số lượng thuật ngữ trong giai đoạn nàycũng đồng thời đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng đối với các nhà nghiên cứu, đó

là làm thế nào để thống nhất đường hướng chung về xây dựng thuật ngữ Trước tình

hình đó, năm 1960 Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã ban hành “Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” và một bản nguyên tắc xây dựng

thuật ngữ khoa học xã hội Năm 1983, Bộ giáo dục công bố Quyết nghị của Hộiđồng chuẩn hóa chính tả và Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ về những quy định liênquan đến vấn đề sử dụng thuật ngữ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt, vấn đề chuyểnnhững phụ tố trong thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt để cấu tạo thuật ngữ củatiếng Việt Đây là những văn bản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tácthống nhất và chuẩn hóa thuật ngữ, tạo điều kiện tiền đề cho sự phát triển về chiềusâu của lĩnh vực nghiên cứu này ở các giai đoạn tiếp theo

Sau năm 1985 đến nay: Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của thuật ngữtrên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng với những thành tựu đáng ghi nhận

cả về số lượng và chất lượng Trên bình diện lý thuyết, xuất hiện những công trìnhmang tính tổng kết và phân tích sâu sắc về quá trình hình thành và phát triển của

thuật ngữ ở Việt Nam cả lịch sử và hiện đại Tiêu biểu trong số này phải kể đến “Sự phát triển của từ vựng nửa sau thế kỉ XX” của Hà Quang Năng (2009) [45], công

Trang 27

trình tổng kết những giai đoạn phát triển của thuật ngữ tiếng Việt, nêu rõ những conđường hình thành thuật ngữ và giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước

ngoài vào tiếng Việt Hay Nguyễn Đức Tồn (2016) với "Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại" [67] đề cập những thành tựu mới nhất nghiên cứu về tình hình nghiên cứu,

xây dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay Đặc biệt, bên cạnh những vấn

đề lý luận mang tính truyền thống về thuật ngữ như định nghĩa thuật ngữ, định danhngôn ngữ, xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú ýđến các hướng tiếp cận mới về thuật ngữ, mở rộng hơn so với quan điểm mang tính

truyền thống về chuẩn hóa và hệ thống hóa Ví dụ, công trình "Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam"

của Lê Quang Thiêm (2015)[59] đã phân tích sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt

theo định hướng văn hóa; đặt nghiên cứu thuật ngữ trong mối quan hệ với sự pháttriển, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ; chuyển từ xem xét thuật ngữ nhưmột lớp từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng sang coi thuật ngữ như một phânngành khoa học độc lập

Ngoài ra, những năm gần đây, các công trình khoa học, luận án tiến sĩ nghiêncứu về thuật ngữ tiếng Việt nói riêng, hoặc thuật ngữ tiếng Việt trong sự đối chiếuvới ngôn ngữ nước ngoài nở rộ ở các ngành khoa học từ truyền thống đến hiện đại,

từ cơ bản đến chuyên sâu như tin học, y học, khoa học quân sự, kinh tế, xây dựng,

du lịch, hành ch nh, điện tử ([21], [44], [37],[27], [20], [28], [17] …) Đóng góp

cơ bản của những luận án nêu trên là đã bước đầu hệ thống hóa được các quan điểm

lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trên cơ

sở đó phân t ch đặc điểm cấu tạo của một hệ thuật ngữ cụ thể, mô hình hóa các kiểucấu tạo của hệ thuật ngữ đó Không chỉ có vậy, nhiều luận án thuộc lĩnh vực so sánhđối chiếu còn xác lập, thống kê và tìm ra hệ số tương quan về mô hình, số lượng cácthuật tố cấu tạo nên thuật ngữ ở tiếng Việt và ngôn ngữ được đối chiếu, qua đó cungcấp cái nhìn đa chiều, giúp thuật ngữ Việt xác lập được vị trí, tình trạng phát triểncủa mình so với thế giới

Trang 28

Bên cạnh sự phát triển về mặt lý thuyết và phương pháp luận, thuật ngữ học ởViệt Nam còn đạt được những thành tựu to lớn trong nghiên cứu ứng dụng Cụ thể,trong những năm gần đây, người ta chứng kiến một số lượng bùng nổ các từ điểnthuật ngữ chuyên ngành, đặc biệt là thuật ngữ của những ngành kinh tế mũi nhọn,ngành khoa học mới như tin học, điện tử viễn thông Theo Chu Bích Thu [62], tính

từ 1994 đến tháng 6 năm 1999, có tới 55 cuốn từ điển đối dịch thuật ngữ, chiếm47% tổng số từ điển song ngữ được xuất bản

Mặc dù vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa thống nhất triệt để liên quan đếntiêu chuẩn thuật ngữ, xử lý thuật ngữ vay mượn hay chuẩn hoá thuật ngữ, có thể kếtluận một cách chung nhất là thuật ngữ học Việt Nam đã trải qua quá trình phát triểnlâu dài với nhiều thành tựu đáng ghi nhận Trước xu thế hội nhập và nhu cầu pháttriển đất nước, thuật ngữ học chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo hướng

đa dạng về cách tiếp cận nhưng thống nhất về nhận thức và quan điểm lý luận nhằmhướng tới sự chuẩn hóa của thuật ngữ, coi trọng tính chính xác của khái niệm mà nóbiểu hiện và theo xu thế không chấp nhận sự đồng nghĩa trong xây dựng thuật ngữ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ marketing tiếng Anh

và tiếng Việt

Marketing là một trong những lĩnh vực nghiên cứu thu hút được nhiều sựquan tâm của các học giả, các nhà khoa học trên thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứumang tính lý thuyết về thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt hiện tại vẫn cònthiếu Nghiên cứu về thuật ngữ marketing vì vậy tập trung ở lĩnh vực ứng dụng,được đánh dấu bằng sự ra đời của các cuốn từ điển, cả từ điển giấy và từ điển trựctuyến, trong thời gian vài thập kỷ trở lại đây Trong số các từ điển về thuật ngữmarketing tiếng Anh đó, đáng chú ý là những công trình sau:

- Từ điển marketing trực tuyến của Hiệp hội marketing Hoa Kỳ “Dictionary:

American Marketing Association” [74] Được xây dựng trên cơ sở của cuốn từ điểngiấy năm 1995, điểm đặc biệt của cuốn từ điển điện tử này là không chỉ cung cấpthông tin tra cứu các thuật ngữ marketing từ cơ bản đến không thông dụng mà còn

Trang 29

thường xuyên cập nhật các thuật ngữ mới, bắt kịp với xu thế của thời đại và đáp ứngnhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về marketing của nhiều đối tượng sử dụng khác nhau.

Có lẽ vì vậy mà không có gì là cường điệu hóa khi nói đây là cuốn bách khoa thư vềthuật ngữ marketing

- Từ điển thuật ngữ marketing (Dictionary of Marketing Terms) của Jane

Imber và Betsy- Ann Toffler, xuất bản năm 2008 bởi Barron‟s Business Guides[99] Với khoảng 4000 mục từ, đây là cuốn từ điển đồ sộ nhất về thuật ngữ liênquan đến marketing Các chủ doanh nghiệp nhỏ, người làm marketing trực tuyến,nhà phân tích truyền thông, viết quảng cáo hay sinh viên thương mại … đều có thểtìm ở đây các định nghĩa về khái niệm marketing lý thuyết cũng như ứng dụng thựchành marketing Tuy nhiên, do phạm vi và quy mô rộng, cuốn từ điển này dườngnhư bao quát cả các thuật ngữ thương mại nói chung, vì vậy làm giảm đi t nh chấttham khảo chuyên sâu của tác phẩm

- Từ điển marketing nâng cao “The Advanced Dictionary Marketing: Putting

Theory to Use” của Scott Dacko năm 2008 [91] Thay vì tập trung vào thuật ngữmarketing căn bản, tác giả cuốn từ điển giấy này cung cấp cho các nhà nghiên cứuhoặc ứng dụng chuyên sâu về marketing, sinh viên … những lý thuyết, khái niệmtrừu tượng, quy luật … về marketing mà thông thường không được đề cập trong cáccuốn từ điển cùng loại Vì vậy, đây có thể coi như cuốn sách tham khảo đặc biệt vềthuật ngữ chuyên ngành marketing

- Từ điển marketing “Dictionary of marketing” với khoảng trên 2,600 mục từ

của Charles Doyle, do nhà xuất bản Oxford University Press công bố năm 2011[94] Cuốn từ điển này cung cấp các thuật ngữ về kỹ thuật marketing truyền thống

và hiện đại, bao gồm cả những thay đổi gần đây trong hoạt động marketing thựctiễn, như việc sử dụng các công cụ trực tuyến hay marketing toàn cầu Có thể nói,đây là một trong số những từ điển khá toàn diện về thuật ngữ marketing tiếng Anhmặc dù được biên soạn theo hướng marketing ứng dụng Ưu điểm khác của

“Dictionary of Marketing” là ngoài từ điển giấy, còn có phiên bản điện tử (Từ

Trang 30

tuyến) của cùng tác giả, giúp việc tra cứu được thuận tiện và dễ dàng.

Ngoài ra, còn rất nhiều các cuốn từ điển, thư mục từ vựng, chú thích từ ngữkhác về về lĩnh vực marketing trên các trang web chuyên ngành hoặc diễn đàn traođổi về học thuật Tuy nhiên, điểm hạn chế của các công trình này là chỉ dừng lại ởphạm vi mang tính tập hợp, sắp xếp các thuật ngữ marketing hiện có theo thứ tựbảng chữ cái chứ chưa có công trình nào chỉ ra được đặc điểm chung về mô hìnhcấu tạo, cách thức định danh các thuật ngữ marketing tiếng Anh Thiết nghĩ, đâycũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho người học và nghiêncứu, đặc biệt khi ngôn ngữ mẹ đẻ của họ không phải là tiếng Anh; làm giảm hiệuquả của việc phổ biến và phát triển tri thức chung, thống nhất về marketing trêntoàn thế giới

Đối với thuật ngữ marketing tiếng Việt, số lượng các công trình nghiên cứurất hạn chế, tập trung chủ yếu ở phong cách và ngữ nghĩa ngôn ngữ quảng cáo [25].Ngoài ra, hiện cũng chưa có một từ điển thuật ngữ chuyên ngành marketing nàoxuất hiện trên thị trường ngoài một số bài viết, chia sẻ về từ vựng marketing online(tiếp thị trực tuyến) trên các mạng xã hội và Tạp chí marketing Việt Nam

Nói tóm lại, nghiên cứu về thuật ngữ marketing Việt – Anh – Việt là mộthướng nghiên cứu mới, hứa hẹn sẽ có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn Chính vì

thế, việc lựa chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ marketing Anh – Việt” để nghiên cứu

là nhằm góp phần vào định hướng nghiên cứu rộng hơn đó

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Lý thuyết về thuật ngữ

1.2.1.1 Khái niệm thuật ngữ

Tìm kiếm một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ ở Việt Nam nói riêng cũngnhư trên phạm vi toàn thế giới nói chung trong bối cảnh hiện nay là điều rất khó,nếu không muốn nói là không thể

Trên thế giới, các định nghĩa về thuật ngữ khác biệt nhau theo ba hướng:

Trang 31

thuật ngữ được coi như một lĩnh vực nghiên cứu độc lập; thuật ngữ có nghĩa côngtác về thuật ngữ; hay thuật ngữ được hiểu là hệ thống từ vựng của một ngành, mộtlĩnh vực chuyên môn nhất định.

Coi thuật ngữ như một lĩnh vực nghiên cứu, các học giả, tổ chức khác nhau

đã quan niệm một cách tổng quát, thuật ngữ học là một khoa học nghiên cứu về cấutrúc, sự hình thành, phát triển, tình hình sử dụng cũng như cách thức quản lý các hệthuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học đa dạng [101], [100]; hay ngắn gọn và cụ thểhơn thì thuật ngữ là khoa học nghiên cứu về các đơn vị thuật ngữ (chuyên ngành),khái niệm và mối quan hệ giữa chúng [77], [115] Tóm lại khái niệm thuật ngữ theohướng thứ nhất đã đặt Thuật ngữ ở một địa vị ngang bằng về mặt khoa học với cácngành nghiên cứu khác, trong đó có ngôn ngữ Vì vậy, thuật ngữ ở đây cần đượchiểu là thuật ngữ học, chứ không phải là một đơn vị hay hệ thống thuật ngữ đơn lẻ

Ở hướng thứ hai, khái niệm thuật ngữ trùng với công tác hoặc công việc vềthuật ngữ hay các hoạt động biên soạn từ điển thuật ngữ Cụ thể, đó là việc tập hợpthuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên môn trong một hoặc nhiều ngôn ngữ, lựa chọnthuật ngữ đã có hoặc tạo ra thuật ngữ mới, và thêm vào cơ sở dữ liệu thuật ngữ đãđược sưu tầm theo quy tắc và quy trình riêng của thuật ngữ để phục vụ nhu cầu sửdụng trong tương lai Công tác về thuật ngữ có thể mang tính hệ thống hoặc phi hệthống tùy thuộc vào mục đ ch và hoàn cảnh thực hiện Chẳng hạn, biên dịch mộtthuật ngữ để phục vụ giao tiếp là công việc mang tính tức thời và bộc phát, nhưngtập hợp các thuật ngữ của một ngành khoa học lại đòi hỏi tính hệ thống Định nghĩa

về thuật ngữ theo hướng này có thể kể đến Sager với tuyên bố “thuật ngữ là tập hợpcác hoạt động thực tiễn và phương pháp liên quan đến việc sưu tầm, mô tả và trìnhbày thuật ngữ” [119; 2] Sageder dẫn lời Dubuc, Nkwenti-Azeh và một số nhànghiên cứu khác cho rằng “thuật ngữ là hoạt động giải quyết nhu cầu xã hội vềchính trị hay kinh tế”[118; 126] hay Strehlov và Wright [123] xem thuật ngữ lànghệ thuật phân t ch các đơn vị thuật ngữ trong ngữ cảnh, và là nghiên cứu mộtcách có hệ thống việc đặt tên và gắn nhãn mác cho các khái niệm với mục đ ch phát

Trang 32

triển từ vựng của một lĩnh vực nào đó Như vậy, có thể thấy điểm chung trong cácđịnh nghĩa theo hướng thứ hai đó là xác định mục đ ch cuối cùng của công tác vềthuật ngữ là nhằm hỗ trợ và tối ưu hóa giao tiếp giữa các chuyên gia và nhà chuyênmôn những người quan tâm đến một ngôn ngữ được chuẩn hóa và thống nhất.

Ngược lại, khi coi thuật ngữ là hệ thống từ vựng thuộc một ngành khoa họchoặc lĩnh vực chuyên môn nhất định, các hiệp hội và nhà nghiên cứu đã thể hiện rõquan điểm không coi thuật ngữ là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập dù xét về mặt lýthuyết như hướng thứ nhất hay hoạt động thực tiễn như hướng thứ hai Tiêu biểutrong số đó phải kể đến định nghĩa được đưa ra bởi “Đơn vị điều phối thuật ngữ củaNghị viện Châu Âu (IATE‟s TermCoord – Terminology Coordination Unit of Inter-Active Terminology for Europe)” Định nghĩa của đơn vị này cho rằng thuật ngữ làtập hợp các tên gọi của một ngôn ngữ đặc biệt Ngôn ngữ đặc biệt ở đây được hiểu

là ngôn ngữ của một ngành, lĩnh vực khoa học đặc thù, không mang tính toàn dân.Bằng cách dùng từ “đặc biệt” các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức này đã ngầm địnhthuật ngữ vừa có điểm chung và riêng với ngôn ngữ thông thường Cụ thể hơn,thuật ngữ không nằm ngoài hệ thống ngôn ngữ, nhưng các đơn vị của thuật ngữ cónhững đặc điểm khác biệt so với các đơn vị ngôn ngữ khác [125] Sự “đặc biệt” nàyđược Brenes [ 80] dẫn lời Hjørland giải th ch rõ hơn là “từ vựng kỹ thuật”, có mức

độ kết dính nhất định với nhau do cùng thuộc một lĩnh vực chuyên môn và có phạm

vi sử dụng khác nhau [82] Cùng quan niệm, Kageura cũng định nghĩa thuật ngữ là

“từ vựng của một lĩnh vực chuyên môn” [102; 9] Từ vựng này chính là các kháiniệm được thể hiện bằng đơn vị từ hoặc ngữ, và như vậy thuật ngữ chính là tập hợpcác khái niệm thuộc một phạm vi chuyên môn

Tổng kết lại, trên thế giới khái niệm thuật ngữ phụ thuộc vào quan điểm củatừng nhà nghiên cứu cũng như mục đ ch của họ khi xây dựng định nghĩa

Ở Việt Nam, định nghĩa về thuật ngữ khác nhau giữa các nhà nghiên cứu thểhiện ở hình thức của thuật ngữ, cách xem xét mối quan hệ giữa thuật ngữ với kháiniệm mà nó biểu thị, và vị trí của thuật ngữ học trong ngôn ngữ học nói chung và từ

Trang 33

vựng học nói riêng.

Khác với các nhà khoa học trên thế giới khi coi thuật ngữ học như một ngànhkhoa học riêng biệt với đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu đặc thù,các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam coi thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ, cụthể là từ vựng học, và như vậy thuật ngữ học được nghiên cứu với tư cách là mộtphần của hệ thống từ vựng hơn là một ngành khoa học riêng biệt Tuy nhiên, cùngquan điểm như vậy nhưng về mặt câu chữ vẫn có thể chỉ ra một số khác biệt giữacác nhà ngôn ngữ Cụ thể, Nguyễn Văn Tu [69; 176], Nguyễn Thiện Giáp [19;304,305] coi thuật ngữ là nhóm từ hoặc ngữ mang ý nghĩa đặc biệt, được sử dụngtrong các ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật …Hoàng VănHành [23; 26] khẳng định “toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợpthành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân,Vương Toàn [50], hệ thống thuật ngữ này nằm sẵn có trong từ vựng của mỗi ngônngữ, nhưng nó chỉ được sử dụng “trong ngôn ngữ chuyên môn”, ở một hoàn cảnh

và phạm vi giao tiếp cụ thể, mang t nh đặc thù Hoặc như Đỗ Hữu Châu [7; 122] nhấn mạnh thêm, tuy nằm trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ nhưngthuật ngữ khác với “từ ngữ thông thường” ở chỗ thuật ngữ là “những từ chuyênmôn”, là “thuật ngữ khoa học, kỹ thuật” thuộc các ngành “khoa học kỹ thuật côngnghiệp, khoa học tự nhiên hay xã hội”

121-Sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu càng được thể hiện đa chiều hơn khi đisâu vào bản chất của định nghĩa về thuật ngữ Đó ch nh là mối quan hệ giữa thuậtngữ, khái niệm và sự vật Đa số các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Văn Tu [69],Vân Lăng, Như Ý [40], Hoàng Văn Hành [23], Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân,Nguyễn Quang, Vương Toàn [50] đều cho rằng thuật ngữ biểu thị “khái niệm”.Khái niệm ở đây được hiểu là khái niệm về sự vật, hành động, thuộc tính, quátrình … Và như vậy tập hợp của hệ thống các khái niệm chính là hệ thuật ngữ.Khái niệm trong các định nghĩa này không tách rời với sự vật, đối tượng, hànhđộng mà nó biểu đạt Trong khi đó, Đỗ Hữu Châu [6; 167] lại phân biệt rõ thuật

Trang 34

ngữ “biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, hiện tượng …” Tức là, kháiniệm và sự vật được coi như hai đối tượng khác nhau, sự vật (hiện tượng) tồn tạitrong thực tế và khái niệm ch nh là tư duy, sự hiểu biết của con người về sự vật (hiệntượng) đó Đây có thể coi như một định nghĩa mở rộng về thuật ngữ Cùng quanđiểm như vậy, Nguyễn Thiện Giáp [18; 308-309] cũng định nghĩa thuật ngữ “là têngọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng” hay Nguyễn Đức Tồn [64]đúc kết cô đọng rằng thuật ngữ “biểu hiện một khái niệm hay một đối tượng”.

Như vậy, về mặt nội dung thuật ngữ là hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đểdiễn đạt các khái niệm về sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khoa học, chuyênmôn nhất định Vậy về mặt hình thức, thuật ngữ là gì? Từ hay cụm từ (ngữ) haycụm từ cố định? Đa số các nhà ngôn ngữ học Việt ngữ đều cho rằng thuật ngữ là từ,hay cụm từ (ngữ) Nguyễn Thiện Giáp [18] sử dụng thêm khái niệm “cụm từ cốđịnh” để miêu tả đơn vị của thuật ngữ ngoài từ ngữ Cụm từ cố định, như cách hiểucủa nhóm Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến [12], là đơn vịtương đương từ, bao gồm một số từ hợp lại thành một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữvới cấu tạo và ngữ nghĩa ổn định Tuy nhiên, tác giả luận án về cơ bản đồng tình vớiquan điểm cho rằng việc coi “cụm từ cố định” là đơn vị của thuật ngữ có thể làmgiảm tính khoa học của thuật ngữ vì cụm từ cố định thường mang tính thành ngữ,tức là có sắc thái biểu cảm rõ nét, điều mà không thể có ở thuật ngữ khoa học

Kế thừa những quan điểm, định nghĩa về thuật ngữ ở trên, trong luận án nàytác giả chấp nhận định nghĩa để làm việc về thuật ngữ như sau:

Thuật ngữ là tập hợp từ, cụm từ được dùng để biểu thị những khái niệm, đối tượng thuộc một ngành khoa học, một lĩnh vực chuyên môn xác định.

Đến đây, có một vấn đề đặt ra là cần phân biệt rõ thuật ngữ với một số đơn vịliên quan trong cả Tiếng Anh và Tiếng Việt

1.2.1.2 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị có liên quan trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 35

Trong Tiếng Anh, thuật ngữ (terminology) thường được phân biệt với từ vựng (lexicology), bảng từ vựng chuyên ngành (glossary) và danh pháp(nomenclature).

Theo Brenes [80], khác với terminology, lexicology nghiên cứu về từ thông

thường, không liên quan đến kiến thức chuyên ngành Cụ thể hơn, UNESCO giảithích rõ thuật ngữ là ngôn ngữ dùng cho các mục đ ch chuyên môn bao gồm giaotiếp chuyên môn, truyền đạt và tiếp cận tri thức, thông tin chuyên ngành trong khi

đó từ thông thường phục vụ mục đ ch giao tiếp hàng ngày Đồng thời, cộng đồngnhững người sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành có những quy tắc riêng đối với ngônngữ của họ mà không nhất thiết phải giống hoàn toàn những quy tắc dành cho ngônngữ toàn dân

Tuy nhiên, Cabré [84] lại cho rằng thuật ngữ giống các đơn vị từ vựng khác

về đặc điểm ngữ âm, âm vị, ngữ pháp, rằng tất cả các đơn vị từ vựng thông thườngđều có khả năng trở thành thuật ngữ Điểm khác biệt duy nhất giữa thuật ngữ và từthông thường nằm ở khía cạnh ngữ nghĩa và ngữ dụng, tức thuật ngữ chỉ là các đơn

vị từ vựng mang nghĩa đặc biệt Hơn thế, trong thế kỷ hiện nay, khi khoa học và kỹthuật đã đi vào mọi lĩnh vực thiết yếu của đời sống, ngôn ngữ chuyên ngành có tácđộng mạnh mẽ đến ngôn ngữ thông thường thì ranh giới giữa hai lớp từ vựng nàytrong nhiều trường hợp sẽ khó phân định

Bên cạnh lexicology, terminology cũng được phân biệt với nomenclature.

Nomenclature được định nghĩa là một tập hợp hay hệ thống các tên gọi hay thuậtngữ được sử dụng trong một lĩnh vực khoa học hoặc nghệ thuật bởi một cá nhânhay cộng đồng hoặc ngắn gọn hơn, là một tập hợp hay hệ thống các tên gọi [93],

hay cách đặt tên một cách có hệ thống [114] Theo định nghĩa này, dường như

nomenclature và terminology có nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, Sager [119],

Cabré [82] và những người đồng quan điểm đều phân biệt nomenclature khác với terminology ở chỗ, terminology là một phần của từ vựng học và vì vậy cũng là một phần của ngôn ngữ nhưng nomenclature là một hệ thống tạo ra các thuật ngữ mới

Trang 36

cho một lĩnh vực cụ thể, nó bao gồm một tập hợp các quy tắc ngoài ngôn ngữ, cácquy tắc này nếu càng t và được sử dụng một cách thống nhất với các kết quả giốngnhau thì càng lý tưởng.

Giống với các nhà nghiên cứu trên thế giới, các nhà nghiên cứu ở Việt Namthường phân biệt thuật ngữ với các khái niệm liên quan bao gồm từ thông thường,

từ nghề nghiệp và danh pháp Trước hết, cần khẳng định thuật ngữ không phải làdanh pháp Xét về nội dung trong khi thuật ngữ là tập hợp các tên gọi chỉ các đốitượng, khái niệm khoa học thuộc một lĩnh vực chuyên môn thì danh pháp, theo cáchgiải thích của nhóm Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [12;220] bị giới hạn ở tên gọi của cụ thể của các đối tượng được dùng trong từng ngànhkhoa học mà thôi Những tên gọi này, “không gắn trực tiếp với các khái niệm khoahọc” [18; 270] hay nói cách khác không nhất thiết phản ánh bản chất của đối tượng

mà nó gọi tên, mà thay vào đó chỉ là cái “nhãn” [72; 235] mang t nh ước lệ, trừutượng, được dán theo quy tắc nào đó cho những sự vật đơn nhất trong một ngànhkhoa học nhằm mục đ ch dễ phân loại, nhận biết nó với các đối tượng khác Nhưvậy, mỗi ngành khoa học có thể có các quy tắc đặt tên, dán “nhãn” riêng xuất phát

từ nhu cầu của mình.Về mặt hình thức, đơn vị cấu tạo của thuật ngữ là các từ hoặchình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể, nghĩa của thuật ngữ vì vậy “ t nhiều tương ứng với

ý nghĩa của các từ cấu tạo nên chúng Nhưng danh pháp có thể được quan niệm làmột chuỗi kế tiếp nhau của các chữ … là một chuỗi các con số … hay bất kì các têngọi võ đoán nào” [18; 270] Theo đó, “thương hiệu”, “thị trường”, “doanh nghiệp”,

“đại lý” là v dụ về thuật ngữ trong lĩnh vực marketing nhưng “thương hiệu bột giặtOMO”, “thương hiệu bia Sài Gòn”, “thị trường Hà Nội”, “doanh nghiệp A”, “đại lýB” … là các v dụ về danh pháp Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là giữadanh pháp và thuật ngữ hoàn toàn không có mối liên hệ nào Theo Hà Quang Năng[46; 200], danh pháp và thuật ngữ chia sẻ nhiều đặc điểm chung bao gồm tínhkhông phụ thuộc ngữ cảnh của nghĩa, t nh phi biểu cảm trong sắc thái hay tính rõràng về mục đ ch trong sử dụng và “t nh bền vững và khả năng tái hiện trong lời

Trang 37

nói” Mặt khác, trong quá trình sử dụng, người ta cũng đã ghi nhận những trườnghợp danh pháp đã chuyển thành thuật ngữ khi tính khái quát của nó vượt ra khỏiphạm vi tên gọi riêng của sự vật để trở thành một khái niệm khoa học riêng chẳnghạn như “Facebook marketing”.

Một khái niệm khác cũng dễ gây nhầm lẫn với thuật ngữ đó là từ nghềnghiệp.Từ nghề nghiệp, theo Nguyễn Thiện Giáp “là những từ ngữ biểu thị công cụ,sản phẩm lao động, và quá trình sản xuất của một nghề nào đó”[18; 303] Từ nghềnghiệp, vì vậy có phạm vi sử dụng hẹp, thường gắn với một cộng đồng xã hội nhấtđịnh, tức là được lưu hành và sử dụng trong môi trường gồm những người làm cùngmột nghề Ví dụ, “hàng trôi bảo hành” (tức là hàng hoá đã hết hoặc sắp hết bảohành ch nh hãng nhưng vẫn được các cửa hàng bán ra cam kết bảo hành) hay “trôihàng” (nghĩa là xung đột kênh) là những từ nghề nghiệp được sử dụng bởi nhữngngười làm nghề marketing mà người ngoài khó có thể hiểu được vì chúng không cótrong từ điển thuật ngữ Từ nghề nghiệp khác với thuật ngữ ở chỗ “ý nghĩa biểu vậttrùng với sự vật, hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồngnhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó” [8; 648-649] Đồng quan điểm,Nguyễn Thiện Giáp thêm rằng “từ nghề nghiệp là những tên gọi duy nhất của hiệntượng trong thực tế, và đồng thời lớp từ này có thể dễ dàng chuyển hóa thành từthông thường khi những khái niệm của chúng được sử dụng phổ biến trong xã hội,làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc” [18; 303] Điểm khác biệt đáng lưu

ý nữa giữa từ nghề nghiệp và thuật ngữ nằm ở chỗ từ nghề nghiệp thường mang sắcthái biểu cảm, “gợi hình ảnh” cao, nhưng “mức độ khái quát của các ý nghĩa biểuniệm của chúng” lại không bằng thuật ngữ [8; 649-68] Tuy nhiên, điều này không

có nghĩa các tác giả phủ nhận xu hướng xâm lấn giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp,

cụ thể là quá trình thuật ngữ hóa từ nghề nghiệp khi những làng nghề thủ côngtruyền thống, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế, phát triển thành các ngành sản xuất công nghiệp, từ nghề nghiệp khi đóđược “chuyển thẳng lên thành thuật ngữ” [8; 649], mặt khác, các thuật ngữ khoa

Trang 38

học cũng được sử dụng nhiều hơn trong các làng nghề thủ công để bắt kịp xu thếcủa thời đại hay tự “hiện đại hóa mình”[8; 649] Sự phân biệt thuật ngữ và từ nghềnghiệp trong những trường hợp như thế này thường chỉ mang tính lý thuyết, vì trênthực tế thật khó để chỉ ra đâu là từ nghề nghiệp đã được thuật ngữ hóa, đâu là thuậtngữ được dùng phổ biến trong giao tiếp của cộng đồng người cùng nghề Xét nghềmarketing ở Việt Nam chẳng hạn, đây được xem là một nghề khá mới mẻ với cáccông cụ, sản phẩm, quy trình thực hành hầu hết đều được học hỏi và vận dụng từnhững kiến thức lý thuyết và thực tiễn trên thế giới, chính vì vậy ngôn ngữ được sửdụng để giao tiếp giữa những người làm nghề marketing có sự tương đồng với cácthuật ngữ, khái niệm khoa học, chứa đựng kiến thức chung của nhân loại về lĩnhvực này và thường không được phân biệt rạch ròi giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệpmarketing.

Trong khi ranh giới giữa thuật ngữ và danh pháp hay thuật ngữ và từ nghềnghiệp vẫn còn đang tiếp tục được bàn luận thì vấn đề phân biệt giữa thuật ngữ và

từ thông thường lại có vẻ rõ ràng và thống nhất hơn về mặt quan điểm giữa các nhànghiên cứu Cụ thể, mặc dù được coi là có nhiều điểm chung về chất liệu cấu tạonhư ngữ âm, âm vị và ngữ pháp vì đều thuộc từ vựng của một ngôn ngữ, nhưng vẫn

có thể chỉ ra sự khác biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường, sự khác biệt đó nằm ởnghĩa biểu hiện và phạm vi sử dụng của các đơn vị này Theo nhóm Mai Ngọc Chừ,

Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến, thuật ngữ “có nội hàm sâu hơn và đượcbiểu thị một cách logic chặt chẽ hơn” [12; 220] so với từ thông thường CònNguyễn Thiện Giáp [18; 276] cho rằng nghĩa của thuật ngữ “có tính chất chuyênmôn hóa”, mang t nh hệ thống và không còn sắc thái biểu cảm như từ thông thường.Mặt khác, phạm vi sử dụng của thuật ngữ cũng hẹp hơn so với từ thông thường.Thuật ngữ được giới hạn trong giao tiếp chuyên môn giữa những chuyên gia, nhàkhoa học hay biên phiên dịch … thuộc một lĩnh vực nào đó, trong khi từ thôngthường là ngôn ngữ của toàn dân, bất kỳ ai cũng có thể sử dụng được

Như vậy, sự phân biệt giữa thuật ngữ và các khái niệm liên quan trong cả

Trang 39

Tiếng Anh và Tiếng Việt tuy khác nhau dựa trên mục đ ch, phương diện, phạm vi

so sánh nhưng đều thống nhất ở một điểm đó là khẳng định vị trí riêng biệt củathuật ngữ như một đối tượng nghiên cứu độc lập với các tính chất và đặc điểm riêngcủa mình, không trùng lẫn với từ thông thường, từ nghề nghiệp hay danh pháp.Phần dưới đây sẽ làm rõ hơn các tiêu ch phân biệt thuật ngữ

1.2.1.3 Các tiêu chuẩn cần có của một thuật ngữ

Thuật ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, nhưng không phải bất

cứ đơn vị từ vựng nào cũng có thể trở thành thuật ngữ, càng không phải cứ từ ngữnào diễn đạt các khái niệm và đối tượng khoa học cũng được coi là thuật ngữ Thuậtngữ có những tiêu chí riêng phân biệt nó với các đơn vị từ vựng khác Các tiêu chínày thay đổi tuỳ theo nhà nghiên cứu Cụ thể, theo Corsunop và Sumburuva [13]thuật ngữ cần có 4 tiêu chuẩn, trong khi đó, Infoterm [100] hướng dẫn 7 quy tắc tạothành thuật ngữ có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ, hoặc ISO [101] lại đề xuất 12tiêu chuẩn đặt thuật ngữ …Điều thú vị là, các quan niệm này dù xuất phát từ cácquốc gia và thời điểm khác nhau nhưng đều thống nhất cho rằng thuật ngữ cần đảmbảo các tiêu chuẩn về tính chính xác, tính hệ thống và đơn nghĩa T nh ch nh xácnên được hiểu bao gồm cả chính xác về mặt nội dung và hình thức thể hiện (ngônngữ ngắn gọn, đủ nghĩa) Mặc dù vậy, sẽ là thiết sót nếu không đề cập đến sự khácbiệt đáng lưu ý trong các đề xuất về tiêu chuẩn của thuật ngữ ở trên Cụ thể, ngoài 3tiêu chí trùng lặp như trên, có xu hướng cho rằng thuật ngữ ngày nay còn đòi hỏiphải có tính phù hợp trong ngữ cảnh và mục đ ch giao tiếp hay hình thức của thuậtngữ cần tương đồng với các đơn vị từ vựng khác của ngôn ngữ về mặt cấu tạo, cáchviết, và phiên âm; hoặc việc chấp nhận thuật ngữ vay mượn tiếng nước ngoài khitrong nước không có từ tương đương

Ở Việt Nam, từ ý kiến khởi đầu của Hoàng Xuân Hãn, các nhà ngôn ngữ saunày như Lê Khả Kế, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, NhưÝ… cũng đã có những đề xuất khá đa dạng về tiêu chuẩn của thuật ngữ Tuy các lờiphát biểu và diễn giải có thể không hoàn toàn giống nhau, nhưng nếu tổng hợp lại

Trang 40

thì có thể nói, có 8 tiêu chuẩn cơ bản được đặt ra với một thuật ngữ Đó là: 1/Tínhchính xác; 2/T nh đơn nghĩa; 3/Tính ngắn gọn; 4/Tính chặt chẽ về mặt kết cấu;5/Tính hệ thống; 6/Tính quốc tế; 7/Tính dân tộc (có màu sắc ngôn ngữ dân tộc,phù hợp với đặc điểm Tiếng Việt); và 8/T nh đại chúng (dễ dùng, dễ hiểu, dễ nhớ,

dễ nói, dễ viết) Từ đây có thể thấy điểm tương đồng giữa các nhà ngôn ngữ trongnước và trên thế giới trong quan điểm về tiêu chuẩn của thuật ngữ thể hiện qua cácyêu cầu về t nh ch nh xác, đơn nghĩa, ngắn gọn và hệ thống của một thuật ngữ Đâyđược xem như yêu cầu cơ bản nhất, là điều kiện cần để xem một từ ngữ có phải làthuật ngữ hay không Điểm khác biệt, nếu thật sự tồn tại giữa các nhà ngôn ngữtrong quan niệm về tiêu chuẩn của thuật ngữ có lẽ nằm ở điều kiện đủ của một thuậtngữ: thuật ngữ có tính dân tộc, đại chúng hay quốc tế? Trong khuôn khổ của luận

án này, tác giả đồng quan điểm với Nguyễn Đức Tồn [64] khi cho rằng tiêu chuẩnđại chúng chỉ là thứ yếu, không thể hiện nội hàm của khái niệm, bởi lẽ thuật ngữchỉ được các nhà khoa học hay các nhà chuyên môn sử dụng trong giao tiếp vớinhau chứ không phải để quần chúng sử dụng, nên t nh đại chúng hay dễ dùngkhông phải là bắt buộc Hơn nữa, khoa học hay lĩnh vực chuyên môn chứa đựngnhững tri thức mang tính nhân loại, phổ biến trên toàn thế giới, tính dân tộc củathuật ngữ nếu có chỉ là cái vỏ bề ngoài của ngôn ngữ thuộc mỗi quốc gia, và hiểnnhiên sẽ khác nhau từ ngôn ngữ này đến ngôn ngữ khác, hay nói cách khác tínhdân tộc không có giá trị khu biệt một thuật ngữ với một từ phi thuật ngữ Mặtkhác, trong số các tiêu chuẩn cơ bản được cả các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước đề xuất cho một thuật ngữ có những tiêu chuẩn mang nội dung trùng lặphoặc bao hàm nhau Chằng hạn t nh ch nh xác đã bao hàm t nh đơn nghĩa, t nh hệthống và tính chặt chẽ có cùng một nội dung Chính vì vậy, khi rút gọn lại, có haithuộc tính cần và đủ đối với thuật ngữ là:

- Tính khoa học

- Tính quốc tế

Tính khoa học của thuật ngữ được hiểu bao gồm tính chính xác, tính hệ thống

Ngày đăng: 11/07/2019, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu (2002), Tiếng Việttrên đường phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt", tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội2. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu (2002), "Tiếng Việt"trên đường phát triển
Tác giả: Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 2. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2002
3. Belakhov L.Ju. (1976), Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ, Như Ý dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ
Tác giả: Belakhov L.Ju
Năm: 1976
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng, từ, từ ghép, đoản ngữ Nxb. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng, từ, từ ghép, đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 1975
6. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1962
8. Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập: Từ vựng – Ngữ nghĩa, T1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng –Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
9. Trương Đình Chiến (2013), Giáo trình quản trị marketing, NXB Đại học KTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị marketing
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: NXB Đại họcKTQD
Năm: 2013
10. Trương Đình Chiến (2016), Giáo trình Truyền thông marketing tích hợp, NXB Đại học KTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền thông marketing tích hợp
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2016
11. Trương Đình Chiến (2017), Bàn về một số khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn marketing tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Marketing tại Việt Nam từ lý thuyết đế thực tiễn”, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số khác biệt giữa lý thuyết và thựctiễn marketing tại Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Marketingtại Việt Nam từ lý thuyết đế thực tiễn
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2017
12. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2009), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
14. Trần Ngọc Đức (2018), Đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thuật ngữ cơ khí trong tiếng Anh và tiếngViệt
Tác giả: Trần Ngọc Đức
Năm: 2018
15. Trần Minh Đạo (2013), Giáo trình marketing căn bản, NXB Đại học KTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình marketing căn bản
Tác giả: Trần Minh Đạo
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2013
17. Quách Thị Gấm (2015), Nghiên cứu về các thuật ngữ báo chí tiếng Việt, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về các thuật ngữ báo chí tiếng Việt
Tác giả: Quách Thị Gấm
Năm: 2015
18. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Các phương pháp đối chiếu ngôn ngữ, Nxb Giáo DụcVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đối chiếu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NxbGiáo DụcVN
Năm: 2010
19. Nguyễn Thiện Giáp (2013), Ba cách xác định từ và hình vị tiếng Việt, Tạp ch Khoa học ĐHQGHN, tập 29 số 4, tr 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba cách xác định từ và hình vị tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2013
20. Lê Thanh Hà (2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch tiếng Anh - tiếng Việt, luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thuật ngữ du lịch tiếng Anh - tiếng Việt
Tác giả: Lê Thanh Hà
Năm: 2014
21. Nguyễn Thị Bích Hà (2004), Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại Nhật Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại NhậtViệt
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
22. Hoàng Xuân Hãn (1948), Danh từ khoa học,Vĩnh Bảo, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ khoa học
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Năm: 1948
23. Hoàng Văn Hành (1983), "Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếngViệt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
24. Cao Xuân Hạo (1999), Tiếng Việt: mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, tr.210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
25. Nguyễn Thị Thu Hiền (2013), Tìm hiểu các đặc trưng phong cách của ngôn ngữ quảng cáo tiếng Việt (trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Anh, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các đặc trưng phong cách của ngônngữ quảng cáo tiếng Việt (trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w