1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu thuật ngữ marketing anh – việt tt

27 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 396,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều đó, luận án xác định các nhiệm vụ chính bao gồm: - Hệ thống hóa các quan điểm lý luận và hướng tiếp cận khi nghiên cứu về thuật ngữ ở mức độ đủ để phục vụ nhiệm vụ nghiê

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Trí Dõi

Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp

Phản biện 2: PGS.TS Phạm Văn Tỉnh

Phản biện 3: PGS.TS Trần Kim Phượng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại vào hồi… giờ… phút,

ngày……tháng……năm……… ……

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về thuật ngữ mang ý nghĩa thời sự và thực tiễn sâu sắc

vì thuật ngữ luôn gắn với nhu cầu phát triển đi lên của xã hội loài người nhằm chinh phục những tri thức mới Ở Việt Nam, đứng trước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, thuật ngữ khoa học, trong đó

có thuật ngữ marketing, góp phần thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật Mặt khác, ngành marketing là một trong những chuyên ngành cơ bản của khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh; kiến thức về marketing được vận dụng cho nhiều chuyên ngành khác nhau như ngân hàng tài chính, du lịch khách sạn, quản trị kinh doanh … Tuy nhiên, hiện nay hiểu biết về marketing và thuật ngữ marketing còn hạn chế do thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy nghiên cứu về thuật ngữ marketing tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt sẽ giúp việc tiếp nhận, hiểu và vận dụng chính xác hệ thuật ngữ này trong thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với mục đích tìm ra các đặc điểm tương đồng và dị biệt nếu có về mặt cấu tạo, con đường hình thành vàđịnh danh giữa hai hệ thuật ngữ Để làm được điều đó, luận án xác định các nhiệm vụ chính bao gồm:

- Hệ thống hóa các quan điểm lý luận và hướng tiếp cận khi nghiên cứu về thuật ngữ ở mức độ đủ để phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu;

- Tập hợp, miêu tả,so sánh, đối chiếu các thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt nếu có

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trước hếtởđặc điểm cấu tạo, con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ

Trang 4

marketing tiếng Anh và tiếng Việt Ngoài ra, đối tượng khảo sát của luận

án cũng giới hạn ở 1940 thuật ngữ marketing tiếng Anh trích xuất từ Từ điển marketing của Doyle công bố năm 2011và 1225 thuật ngữ marketingTiếng Việt được thu thập từ các nguồn tư liệu khác nhau vì hiện tại chưa có từ điển chuyên ngành về thuật ngữ marketing tiếng Việt Do hai nguồn dữ liệu không tương đương

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng hướng tiếp cận thuật ngữ dựa trên quan điểm của các nhà ngôn ngữ Đồng thời, dữ liệu nghiên cứu cũng được lựa chọn theo hướng tiếp cận động và tĩnh (hệ thống từ điển) Với cách tiếp cận đó, luận án sử dụng các phương pháp và các thủ pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích thành tố trực tiếp, và thủ pháp thống kê

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đóng góp mới về khoa học của luận án thể hiện trước hết ở việc

đã giới thiệu được một cách khái quát cơ sở lý luận liên quan đến thuật ngữ nói chung và thuật ngữ marketing nói riêng Đặc biệt, luận án đã tổng kết được 8 học thuyết và hướng tiếp cận về thuật ngữ, trong đó bao gồm cả những hướng tiếp cận mới như Tiếp cận thuật ngữ theo đường hướng giao tiếp hay văn hoá … Đồng thời, khái niệm về thuật ngữ marketing cũng được xác lập và làm rõ

Ngoài ra, dựa trên quan điểm thống nhất về yếu tố cấu tạo cơ sở của thuật ngữ (là hình vị đối với từ, là từ đối với cụm từ), luận án đã xác định được các kiểu mô hình cấu tạo thuật ngữ marketing Anh –Việt, đồng thời phát hiện những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thuật ngữ về phương diện đơn vị ngữ pháp, đặc điểm từ loại, phương thức cấu tạo và số lượng yếu tố cấu tạo

Cuối cùng, đóng góp mới của luận án còn thể hiện ở việc cung cấp một bức tranh khá rõ ràng về con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu

Trang 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những đóng góp của luận án có ý nghĩa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Thứ nhất, về mặt lý luận, là công trình đầu tiên nghiên cứu về hệ thống thuật ngữ marketing tiếng Anh trong sự đối chiếu với thuật ngữ marketing tiếng Việt, luận án giúp tìm ra những đặc trưng riêng của hai hệ thuật ngữ này, làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận án giúp hệ thống hóa các thuật ngữ marketing tiếng Việt hiện đang còn xuất hiện tản mạn; đồng thời đề xuất các phương hướng để thống nhất cách cấu tạo, xây dựng thuật ngữ cũ

và mới, tạo tiền đề cho sự ra đời của cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu chuyên ngành marketing Việc này sẽ giúp người sử dụng thuộc các đối tượng khác nhau có thể hiểu và diễn đạt đúng, đầy đủ các thuật ngữ marketing Anh, Việt, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu về marketing, một lĩnh vực mới và quan trọng trong các ngành khoa học về kinh tế ở Việt Nam hiện nay

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án

có bố cục gồm 3 chương: Chương 1- Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số

vấn đề lý thuyết liên quan đến luận án; Chương 2 - Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ marketing Anh – Việt và Chương 3 -Đối chiếu con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ marketing Anh –Việt

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ

LÝ THUYẾTLIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

a Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Trên thế giới, thuật ngữ có lịch sử hình thành và phát triển vài trăm năm, bắt đầu từ thế kỷ 18 Các nghiên cứu về thuật ngữ được Cabré tiếp thu từ Auger [84] tổng kết lại thành ba xu hướng chính: theo sự điều chỉnh

Trang 6

phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, theo định hướng dịch và theo định hướng

kế hoạch hoá ngôn ngữ.Cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu về thuật ngữ chịu ảnh hưởng của ba trường phái (Xô Viết, Séc và Áo) và 8 học thuyết cũng như hướng tiếp cận Điểm đặc biệt là, ngoài các học thuyết mang tính

cổ điển dựa trên cách tiếp cận của Wüster , gần đây đã xuất hiện các quan điểm mới trong nghiên cứu thuật ngữ chẳng hạn như đường hướng giao tiếp của Cabré, hay hướng tiếp cận văn hoá của Diki-Kidiri Ở Việt Nam, nghiên cứu trong lĩnh vực thuật ngữ học phát triển mạnh mẽ kể từ sau thập niên 70 của thế kỷ 20 Nội dung các nghiên cứu tập trung vào định nghĩa thuật ngữ, các tiêu chí phân biệt thuật ngữ, vấn đề xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ

Trong lĩnh vực thuật ngữ ngành marketing, các nghiên cứu còn hạn chế cả về số lượng và phạm vi

b Cơ sở lý luận

i Cơ sở lý luận về thuật ngữ

1 Khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ marketing

Từ các quan điểm, định nghĩa khác nhau về thuật ngữ, luận án

chấp nhận định nghĩa để làm việc về thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là tập

hợp từ ngữ được dùng để biểu thị những khái niệm, đối tượng thuộc một ngành khoa học, một lĩnh vực chuyên môn xác định.Dựa trên định nghĩa

này, luận án quan niệm thuật ngữ marketing là những từ, cụm từ biểu hiện khái niệm và đối tượng thuộc bản chất, nguyên lý, chiến lược, quy trình, truyền thông, nghiên cứu … và công cụ marketing

2 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị phi thuật ngữ trong tiếng

Anh và tiếng Việt

Sau khi đã xác lập được khái niệm, thuật ngữ trong tiếng Việt được phân biệt với danh pháp, từ nghề nghiệp và từ thông thường, trong tiếng Anh là nomenclature, glossary và lexicology Sự phân biệt này được dựa trên cả hình thức và nội dung biểu thị của thuật ngữ và khẳng định vị trí riêng biệt của thuật ngữ so với các đơn vị còn lại

Trang 7

3 Các tiêu chuẩn cần có của một thuật ngữ

Theo quan điểm của luận án, thuật ngữ được nhận diện và phân biệt bằng hai tiêu chí: tính khoa học và tính quốc tế Tính khoa họ được

hiểu bao gồmtính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn.Tính quốc tế

được hiểu là quốc tế về nội dung của thuật ngữ

ii Lý thuyết về định danh

Định danh theo cách hiểu thông thường là “đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng” [52; 517] Trong lĩnh vực ngôn ngữ, định danh được hiểu rộng hơn là quá trình tạo ra các khái niệm về hiện thực khách quan dựa trên chất liệu là các đơn vị ngôn ngữ như từ, cụm từ, ngữ cú và câu Về nguyên tắc, khi định danh cần đảm bảo tên gọi của sự vật, đối tượng phải mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và khu biệt về nghĩa Có hai phương thức định danh đó là định danh trực tiếp và định danh gián tiếp Nếu định danh trực tiếp là quá trình định danh“ở dạng” sơ cấp, ban đầu thì định danh gián tiếp là quá trình thứ cấp, diễn ra sau

1.2.3 Lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu

Là một bộ phận của ngôn ngữ học đồng đại, ngôn ngữ học đối chiếu nghiên cứu so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kì để xác định những điểm giống nhau và khác nhau (đặc biệt là những điểm khác nhau) giữa các ngôn ngữ đó, không tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh có cùng thuộc loại hình hoặc quan hệ cội nguồn với nhau hay không

Đối chiếu ngôn ngữ phải tuân theo nguyên tắc và phương pháp riêng

Trong khuôn khổ của luận án, từ được quan niệm là đơn vị nhỏ

nhất có nghĩa độc lập, có thể giữ một chức năng ngữ pháp nhất định và có thể quy về một từ loại nào đó Ngược lại, khái niệm cụm là một tổ hợp tự

do với 3 đặc điểm: gồm một thành tố trung tâm và một hay nhiều thành tố phụ đứng trước hoặc sau để bổ sung ý nghĩa cho trung tâm; quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ chủ yếu là quan hệ chính phụ; và mang đặc trưng ngữ pháp của trung tâm

Trang 8

c Tiểu kết

Nội dung Chương 1 đã trình bày một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đề cập và phân tích các giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau của thuật ngữ và nghiên cứu thuật ngữ; đồng thời nêu bật được các trường phái, học thuyết

và hướng tiếp cận thuật ngữ từ cổ điển đến hiện đại Từ đó, luận án đã đi đến xác lập khung lý thuyết cho nghiên cứu đối chiếu hệ thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt về các phương diện lý luận thuật ngữ, định danh, đối chiếu ngôn ngữ và quan niệm về từ, cụm từ

Trang 9

CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ MARKETING

ANH –VIỆT 2.1 Đơn vị cơ sở cấu tạo nên thuật ngữ

Luận án sử dụngkhái niệm đượctiếp thu từ quan điểm của các nhà ngôn ngữ Nga do Lotte khởi xướng, gọi đơn vị cơ sở cấu tạo nên thuật ngữ

là yếu tố cấu tạo thuật ngữ, hay ngắn gọn hơn là yếu tố, kí hiệu chung là Y

Theo đó, yếu tố được hiểu là đơn vị có nghĩa từ vựng tham gia trực tiếp cuối cùng vào việc cấu tạo các thuật ngữ khác nhau trong một lĩnh vực khoa học hay lĩnh vực chuyên môn Về mặt hình thức, yếu tố có cấu tạo là hình vị hay từ tuỳ theo thuật ngữ là từhay cụm từ một cách tương ứng.Về mặt ngữ nghĩa, mỗi yếu tố biểu hiện một khái niệm hay đối tượng khoa học hoàn chỉnh hoặc một bộ phận, đặc trưng của khái niệm đó Và như vậy,

các thuật ngữ nhưgiá, cầu, cung, market, product sẽ có cấu tạo gồm 1 yếu

tố, trong khi relationship/ marketing sẽ gồm có 2 yếu tố và lựa chọn/ thị

trường/ mục tiêu có cấu tạo gồm 3 yếu tố

2.2 Nhận diện thuật ngữ marketing Anh, Việt

1940 thuật ngữ marketing tiếng Anh và 1225 thuật ngữ marketing tiếng Việt được khảo sát là những từ, cụm từ chỉ khái niệm và đối tượng thuộc bản chất, nguyên lý, chiến lược, quy trình, truyền thông, nghiên cứu

… và công cụ marketing Những thuật ngữ này về mặt hình thức là những

từ hoặc cụm từ được cấu tạo từ ít nhất 1 yếu tố trở lên; về mặt nội dung, mỗi thuật ngữ phải thể hiện một khái niệm hoặc đối tượng marketing hoàn chỉnh và độc lập

2.3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Anh

Luận án mô tả đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ marketing tiếng Anh trên các phương diện miêu tả từ loại, phương thức cấu tạo, số lượng yếu tố cấu tạo và mô hình cú pháp hay mối quan hệ giữa các yếu tố trong một thuật ngữvà đi đến một số nhận định

Thứ nhất số lượng thuật ngữ marketing tiếng Anh là cụm từ chiếm

Trang 10

đa số với 1275/1940 thuật ngữ, trong đó chủ yếu là cụm danh từ Thuật ngữ marketing là từ (từ đơn, từ phái sinh và từ ghép)chỉ chiếm 34.3 % với tổng số 665 thuật ngữ Điều này cho thấy tính chặt chẽ và ngắn gọn của hệ thuật ngữ marketing tiếng Anh chưa phải là lý tưởng

Về phương thức cấu tạo, thuật ngữ marketing được tạo thành từ bốn phương thức chính là từ hóa hình vị, phương pháp phụ gia, ghép chính phụ và kết hợp tự do theo quan hệ chính phụ Trong số các phương thức này, cụm từ được kết hợp tự do theo quan hệ chính phụ là phương thức cơ bản cấu tạo nên 65.6 % thuật ngữ marketing tiếng Anh được khảo sát Phương thức từ hóa hình vị và kết hợp tự do theo quan hệ đẳng lập, ngược lại là những phương thức ít phổ biến nhất để cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Anh

Về yếu tố cấu thành thuật ngữ, kết quả khảo sát cho thấy số lượng yếu tố trong một thuật ngữ tiếng Anh nhiều nhất là 5 và ít nhất là 1 Trong

đó, thuật ngữ có cấu tạo gồm 2 yếu tố phổ biến nhất với cả thuật ngữ là từ

và cụm từ Các thuật ngữ là cụm từ được cấu tạo gồm từ 3 yếu tố trở lên trong tiếng Anh chỉ chiếm khoảng 10.3% tổng số thuật ngữ marketing được khảo sát

Về mô hình cấu tạo thuật ngữ, có thể nói, thuật ngữ marketing tiếng Anh có mô hình cấu tạo khá phong phú với tổng số 17 mô hình cấu tạo khác nhau Với các thuật ngữ là từ, ngoại trừ thuật ngữ marketing là từ đơn có cấu tạo gồm 1 yếu tố nên không xác định mô hình cấu tạo, thuật ngữ marketing là từ phái sinh được cấu tạo theo 3 mô hình và thuật ngữ marketing là từ ghép được cấu tạo theo 5 mô hình Với các thuật ngữ marketing là cụm từ, số lượng mô hình cấu tạo phong phú hơn thuật ngữ marketing là từ (9/8 mô hình) Điểm đáng lưu ý là, một số thuật ngữ marketing có cấu tạo là từ phái sinh, từ ghép và cụm từ gồm 2 hoặc 3 yếu

tố lại chia sẻ các mô hình cấu tạo giống nhau vì vậy tổng số lượng các mô hình cấu tạo khác biệt của thuật ngữ marketing tiếng Anh lúc này rút gọn còn 14 mô hình Tuy nhiên, trong số 14 mô hình này,chỉ có một số mô hình

Trang 11

mang tính sản sinh cao, tức là số lượng thuật ngữ được cấu tạo theo mô hình này lớn hay mô hình có tính phổ biến rộng rãi Cụ thể, có tới 1285 thuật ngữ marketing được cấu tạo theo mô hình gồm hai yếu tố với 1 bậc quan hệ, trong đó yếu tố trung tâm đứng sau, yếu tố phụ đứng trước, bổ sung và làm rõ nghĩa cho trung tâm; 190 thuật ngữ khác được cấu tạo theo

mô hình ngược lại, tức là thành phần trung tâm đứng trước và thành phần phụ đứng sau; và 106 thuật ngữ được cấu tạo theo mô hình gồm 3 yếu tố với hai bậc quan hệ; ở bậc 1, yếu tố thứ hai là trung tâm của yếu tố thứ nhất; ở bậc 2, yếu tố thứ 3 là trung tâm của cả yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ 2

Như vậy có thể đi đến một số kết luận chung về đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ marketing tiếng Anh đó là, thứ nhất, các thuật ngữ này có cấu tạo tương đối ngắn gọn vì chỉ gồm hai yếu tố tạo thành; thứ hai, chúng

có tính định danh cao vì đa số là danh từ hoặc cụm danh từ; thứ 3, các thuật ngữ này được cấu tạo khá thống nhất theo một mô hình chính Các đặc điểm này phù hợp với bản chất và tiêu chuẩn của thuật ngữ marketing nói chung với tư cách là những từ, cụm từ có tính ngắn gọn, hệ thống … được dùng để biểu thị các khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn marketing

2.4 Cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Việt

Về phương diện từ loại, thuật ngữ marketing tiếng Việt là cụm từ chiếm hơn 86 % tổng số thuật ngữ được nghiên cứu, trong đó số lượng thuật ngữ là cụm danh từ cũng gần gấp đôi cụm động từ Với thuật ngữ có cấu tạo là từ, số lượng khiêm tốn hơn rất nhiều và được chia thành thuật ngữ là từ đơn (12 thuật ngữ) và thuật ngữ là từ ghép (159 thuật ngữ)

Về phương thức cấu tạo, trong hai phương thức, ghép và cụm từ quan hệ chính phụ, thì cụm từ quan hệ chính phụ là phương thức chính cấu thành nên đa số thuật ngữ marketing tiếng Việt Mặt khác, không phải tất

cả thuật ngữ có cấu tạo là từ ghép trong tiếng Việt đều được tạo thành từ một cách thức giống nhau Trên thực tế, có hai kiểu ghép là ghép đẳng lập

Trang 12

và ghép chính phụ Thuật ngữ marketing là từ ghép trong tiếng Việt được tạo thành từ cả hai kiểu ghép này, tuy nhiên ghép chính phụ vẫn phổ biến hơn ghép đẳng lập

Về yếu tố cấu tạo thuật ngữ, thuật ngữ marketing tiếng Việt có cấu tạo tương đối ngắn gọn với số lượng thuật ngữ gồm 1 đến 2 yếu tố chiếm khoảng 69.7 %, tương đương 854 thuật ngữ được nghiên cứu Các thuật ngữ còn lại có cấu tạo gồm từ 3 đến 5 yếu tố, trong đó thuật ngữ tạo thành từ 3 yếu tố là 328 đơn vị, so với 36 đơn vị là thuật ngữ gồm 4 yếu tố và 7 thuật ngữ có cấu tạo 5 yếu tố Điểm đặc biệt trong yếu tố cấu tạo thuật ngữ marketing tiếng Việt ở đây là sự tồn tại của những yếu tố vay mượn hoàn

toàn từ tiếng Anh (marketing) hoặc chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh (SEO mũ đen, SEO mũ trắng …) vì lý do không có từ tiếng Việt tương

đương hoặc để rút gọn thuật ngữ, thuận tiện cho quá trình sử dụng Có tổng

số 162 thuật ngữ marketing tiếng Việt được cấu tạo từ những yếu tố như vậy Cuối cùng, xét về mô hình cấu tạo thuật ngữ, có thể thấy thuật ngữ marketing tiếng Việt được cấu tạo khá thống nhất với tổng số 12 mô hình cấu tạo (3 mô hình của các thuật ngữ có cấu tạo là từ ghép và 9 mô hình cấu tạo thuật ngữ là cụm từ) Tuy nhiên, trong đó mô hình gồm hai yếu tố với cấu tạo trung tâm đứng trước, thành phần phụ đứng sau là mô hình phổ biến nhất, chiếm 63.7 % thuật ngữ được nghiên cứu (tương đương 780 đơn vị) Các mô hình cấu tạo gồm 3 bậc và 4 đến 5 yếu tố tạo thành, ngược lại chỉ chiếm dưới 10%

2.5 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ marketing Anh – Việt

2.5.1 Điểm tương đồng

Thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt chia sẻ 7 điểm tương đồng 1/ Số lượng thuật ngữ marketing có cấu tạo là cụm từ chiếm đa số trong cả hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt tương ứng với 65.7 % và 86.0 % 2/Thuật ngữ marketing là danh từ (bao gồm cả danh từ đơn, danh

từ ghép và cụm danh từ) đều phổ biến hơn so với các loại từ, cụm từ khác 3/Sự kết hợp của danh từ, tính từ và động từ là xu hướng phổ biến trong

Trang 13

các thuật ngữ marketing Anh, Việt 4/ Cụm từ kết cấu chính phụvẫn là phương thức chínhcấu tạo nên các thuật ngữ marketing trong cả hai ngôn ngữ Anh, Việt (trên 65 %) 5/ Thuật ngữ marketing có cấu tạo gồm từ 1 đến 3 yếu tố là một xu hướng phổ biến trong cả tiếng Anh và tiếng Việt khi

có đến 1846/1940 và 1182/1225 thuật ngữ thuộc loại này 6/Trong mỗi hệ thuật ngữ, chỉ có một mô hình mang tính sản sinh cao nhất (trên 63%), tức

là các thuật ngữ được cấu tạo mới sẽ có xu hướng cấu trúc theo mô hình này, và mô hình đó dành cho các thuật ngữ chỉ gồm 2 yếu tố 7/ Thuật ngữ marketing có cấu tạo là cụm từ và gồm từ 3 yếu tố trở lên có mô hình cấu tạo đa dạng với nhiều bậc quan hệ phức tạp hơn các thuật ngữ có cấu tạo là

từ, hoặc là cụm từ gồm 2 yếu tố tạo thành

2.5.2 Nét khác biệt

Ngoài những điểm tương đồng như trên, thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt có những nét khác biệt nhau trên nhiều phương diện về cấu tạo và ngữ pháp 1/Thuật ngữ marketing là từ trong tiếng Anh nhiều hơn trong tiếng Việt (34.9 % so với 14.0%); và ngược lại thuật ngữ marketing là cụm từ trong tiếng Việt lại nhiều hơn trong tiếng Anh với tỉ lệ 1.3/1 2/ Xét về đặc điểm từ loại, trong tiếng Anh, tồn tại thuật ngữ marketing là từ phái sinh với 240 thuật ngữ, trong khi tiếng Việt không có loại từ này 3/ Nhiều thuật ngữ gốc tiếng Anh vốn là danh từ, nhưng khi được sao phỏng sang tiếng Việt lại trở thành động từ 4/Về mặt hình thức, chỉ có trong tiếng Anh mới xuất hiện những thuật ngữ marketing có cấu tạo

là từ ghép được viết liền nhau như household, downmarket … 5/Bên cạnh

đó, hiện tượng thuật ngữ là từ pha trộn hay viết tắt không hoàn toàn trong tiếng Anh và hiện tượng cụm từ ghép lai giữa các từ tiếng Anh và tiếng Việt cũng chỉ xuất hiện ở một trong hai hệ thuật ngữ 6/ Thuật ngữ marketing gồm 2 yếu tố tạo thành trong tiếng Anh nhiều hơn trong tiếng Việt (76% so với 55.8%) Trong khi đó, thuật ngữ marketing gồm 3 yếu tố cấu tạo trong tiếng Việt lại nhiều hơn trong tiếng Anh (22.9% so với 15.9%) Như vậy, có thể thấy về cơ bản thuật ngữ marketing tiếng Anh có

Ngày đăng: 03/07/2019, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w