1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng anh và tiếng việt

175 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở chỉ ra những điểm tươngđồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóngchiếu trong tiếng Anh với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt, luận ángiúp c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ HOÀI THU

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG TIẾNG

ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NCS: VŨ HOÀI THU

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG TIẾNG

ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số: 9222024

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG VĂN VÂN

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu vàkết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụngngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên cáctrang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án

Tác giả Luận án

VŨ HOÀI THU

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt sử dụng trong luận án

Danh mục các bảng biểu sử dụng trong luận án

Danh mục các hình vẽ, biểu đồ sử dụng trong luận án

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nguồn dữ liệu, phạm vi nghiên cứu, qui trình thu thập 4 dữ liệu 4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 8

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 8

7 Bố cục luận án 9

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ 10

LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của 10

lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống 1.1.1 Tình hình nghiên cứu về một số khái niệm tương đương với phóng 10

chiếu trước Ngữ pháp chức năng hệ thống 1.1.1.1 Câu trong ngữ pháp truyền thống 11

1.1.1.2 Một số khái niệm tương đương trong ngữ pháp truyền thống về 13 phóng chiếu 1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ 20

pháp chức năng hệ thống 1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu trên thế giới 22

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hiện tượng phóng chiếu ở Việt Nam 23

Trang 5

1.2 Cơ sở lý luận 27

1.2.1 Lí thuyết nghiên cứu đối chiếu 27

1.2.2 Ngôn ngữ học chức năng hệ thống 28

1.2.3 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống 30

1.2.3.1 Khái niệm tương đương câu trong ngữ pháp chức năng hệ thống 30

1.2.3.2 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống 33

1.2.4 Các cấp độ phóng chiếu 41

1.2.4.1 Phóng chiếu trong cú 41

1.2.4.2 Phóng chiếu trên cú 56

1.3 Tiểu kết 65

Chương 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA PHÓNG CHIẾU TRÊN CÚ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Phân tích đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú 66 trong tiếng Anh 2.1.1 Cú phóng chiếu 67

2.1.1.1 Đặc điểm ngữ pháp 67

2.1.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 71

2.1.2 Cú bị phóng chiếu 80

2.1.2.1 Đặc điểm ngữ pháp 80

2.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 82

2.2 Phân tích đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú 85 trong tiếng Việt 2.2.1 Cú phóng chiếu 85

2.2.1.1 Đặc điểm ngữ pháp 85

2.2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 88

2.2.2 Cú bị phóng chiếu 96

2.2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp 96

Trang 6

2.2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

2.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa phóng chiếu trên cú trongtiếng Anh và tiếng Việt

2.3.1 Những điểm tương đồng

2.3.1.1 Những điểm tương đồng về đặc điểm ngữ pháp

2.3.1.2 Những điểm tương đồng về đặc điểm ngữ nghĩa

100100101104104105108

110

110111114114115118119120121122122123124

Trang 7

trong tiếng Việt

3.2.1 Phóng chiếu ngang cú: cụm giới từ phóng chiếu 124

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

137

137137139143143144145146151152

Trang 8

HỆ THỐNG CÁC KÝ HIỆU QUY ƯỚC

| ranh giới cụm từ/nhóm từ

|| ranh giới cú

||| ranh giới cú phức

[…] ranh giới cụm từ bị bao

[[…]] ranh giới cú bị bao

* chỉ cú không có tính ngữ pháp hay không được chấp nhận

Trang 9

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp: một số quan niệm 14

Bảng 1.2 Thang cấp độ của các tầng ngôn ngữ nội tại 31

Bảng 1.3 Phóng chiếu trong cú và tổ hợp cú 35

Bảng 1.4 Bốn kiểu quan hệ phóng chiếu 39

Bảng 1.5 Chức năng lời nói phóng chiếu: khiến nghị và phán đoán 40

được phóng chiếu Bảng 1.6 Các kiểu thành phần chu cảnh phóng chiếu 42

Bảng 1.7 Phóng chiếu ở cấp độ cụm từ 46

Bảng 1.8 Danh từ phóng chiếu 48

Bảng 1.9 Phóng chiếu bị bao 49

Bảng 1.10 Phóng chiếu thực tế 51

Bảng 1.11 Danh từ phóng chiếu thực tế 52

Bảng 1.12 Tóm tắt các kiểu cụm danh từ phóng chiếu 52

Bảng 1.13 Một số kiểu phóng chiếu trong cụm động từ phức phụ 54

thuộc Bảng 1.14 Cú chính và cú thứ 56

Bảng 1.15 Vị trí của cú phóng chiếu 56

Bảng 1.16 Các động từ dùng để trích dẫn trong các cú phát ngôn 58

Bảng 1.17 Các động từ dùng để thông báo lại trong các cú tinh thần 59

Bảng 1.18 Tóm tắt các kiểu phóng chiếu 64

Bảng 2.1 Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu phát ngôn và tinh thần 67

trong tiếng Anh Bảng 2.2 Vị trí và tần suất cú phóng chiếu trong tổ hợp cú trong 68

tiếng Anh Bảng 2.3 Số lượng và chức năng cú phóng chiếu trong tiếng Anh 70

Bảng 2.4 Tần suất các quá trình tham gia phóng chiếu đối với từng 77

thể loại tiểu thuyết và báo chí trong tiếng Anh

Trang 12

Bảng 2.5 Số lượng và chức năng ngữ nghĩa của cú bị phóng chiếu 83

trong tiếng AnhBảng 2.6 Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu phát ngôn và tinh thần 85

trong tiếng ViệtBảng 2.7 Vị trí và tần suất cú phóng chiếu trong tổ hợp cú trong 86

tiếng ViệtBảng 2.8 Số lượng và chức năng cú phóng chiếu trong tiếng Việt 88Bảng 2.9 Tần suất các quá trình tham gia phóng chiếu đối với từng

thể loại tiểu thuyết và báo chí trong tiếng ViệtBảng 2.10 Số lượng và chức năng cú được phóng chiếu trong tiếng

ViệtBảng 2.11 Tần suất các quá trình tham gia phóng chiếu đối với từng

thể loại tiểu thuyết và báo chíBảng 3.1 Số lượng chu cảnh chỉ quan điểm và chu cảnh chỉ vấn đề

trong tiếng AnhBảng 3.2 Số lượng cụm danh từ phóng chiếu bị bao trong tiếng

AnhBảng 3.3 Số lượng cụm danh từ phóng chiếu thực tế trong tiếng

Trang 13

sự đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ của conngười Khuynh hướng đi sâu vào nghiên cứu bình diện chức năng và nộidung của ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ họctrên thế giới (Robins [33]) Các nghiên cứu truyền thống phần lớn đều xemngôn ngữ như một tập hợp các quy tắc chứ không phải là một “nguồn lực đểtạo nghĩa” (Halliday [74]; Halliday & Hasan [77]; Halliday & Matthiessen[75]; Martin [834]; Hoàng Văn Vân [47], [48], [103]).

Trên thực tế, ngữ pháp truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo trong quátrình tiếp cận cả ngôn ngữ tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) và tiếng Anh (ngoại ngữ)trong quá trình dạy học trong các nhà trường tại Việt Nam Được dạy và họctheo ngữ pháp truyền thống, phần lớn giáo viên dạy ngoại ngữ tập trung vàogiải thích các quy tắc ngữ pháp một cách trừu tượng, độc lập với ngôn cảnhhay hoàn cảnh giao tiếp Điều đó có nghĩa là dạng thức hay cấu trúc bề mặtcủa ngôn ngữ được quan tâm nhiều hơn ý nghĩa hay chức năng giao tiếp củangôn ngữ (Cao Xuân Hạo [17], [18]; Nguyễn Văn Hiệp [23]) Chính điều này

đã hạn chế người học hiểu được bản chất và nghĩa của cấu trúc ngữ pháp cầndạy Trong khi đó, Halliday [74], [13], Halliday & Matthiessen [75], [76] đãcho thấy ngữ pháp chức năng có nhiều tiềm năng ứng dụng, đặc biệt là ứngdụng vào lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ

Trong quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, phóng chiếu là một hiệntượng lý thú của ngôn ngữ Nó xuất hiện nhiều trong báo chí và trong các tiểuthuyết viết theo thể loại văn trần thuật Tuy nhiên, đây lại là một khoảng trống

Trang 14

vì chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực này, đặc biệt là phóng chiếutrong cú Chính vì hiện tượng phóng chiếu chưa được quan tâm thỏa đáng nênxuất hiện những khó khăn khi giải thích và sử dụng phóng chiếu trong lĩnhvực dịch thuật và giảng dạy Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh thực tế,chúng tôi nhận thấy học viên thường gặp rất nhiều khó khăn và thường mắclỗi trong cách sử dụng, cách diễn đạt, cách sử dụng các động từ tường thuật,đặc biệt là cách phối hợp về thì (tense) trong các cú được các nhà ngôn ngữhọc chức năng hệ thống (Halliday [74], [13], Matthiessen [85]; Hoàng VănVân [103]; Halliday & Matthiessen [75]) gọi là cú “phóng chiếu” (projectingclause) và cú bị phóng chiếu (projected clause) Ngoài ra các bài tập truyềnthống về chuyển đổi song song giữa lời nói gián tiếp và trực tiếp đã tạo chongười học chỉ nhận thức về mặt ngữ pháp-từ vựng rằng hai hiện tượng nàythường song song và tương đương với nhau Như Halliday [74] đã chỉ ra, “Vềgóc độ ngữ nghĩa, lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp không hoàn toàn sóngđôi với nhau, và có nhiều trường hợp trong đó việc thay thế hiện tượng nàybằng hiện tượng kia là không có nghĩa” Người học không phân biệt đượcmục đích của phát ngôn, dẫn tới cách chuyển từ lối nói trực tiếp sang lối nóigián tiếp không phù hợp.

Nguyên nhân thường xuất phát từ hai phía: thứ nhất, giáo viên cònthiếu hiểu biết về bản chất của hiện tượng phóng chiếu; thứ hai học sinh bịảnh hưởng bởi tiếng Việt mà trong dạy ngoại ngữ thường được gọi là “chuyển

di tiêu cực” (negative transference) Vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu là tìm

ra bản chất của hiện tượng phóng chiếu trong hai ngôn ngữ nhằm thiết lậpnhững điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ để từ đó đề xuấtnhững phương thức và biện pháp giúp người Việt học tiếng Anh cũng nhưngười Anh học tiếng Việt khắc phục được những khó khăn trên Tìm hiểu bảnchất của phóng chiếu từ bình diện lí thuyết để giúp người dạy và người học có

Trang 15

cái nhìn toàn diện về vấn đề này từ nhiều góc độ và từ đó khắc phục đượcnhững khó khăn trong khi sử dụng phóng chiếu trong giao tiếp chính là hai lý

do thực tiễn thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngữpháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếngViệt”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu đặc điểm các thành phần phóngchiếu trên cú và trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng của lýthuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống Trên cơ sở chỉ ra những điểm tươngđồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóngchiếu trong tiếng Anh với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt, luận ángiúp cho người học hiểu được logic của ngôn ngữ trong hệ thống các siêuchức năng (kinh nghiệm, liên nhân, ngôn bản và logic) từ đó biết cách chuyểndịch giữa hai ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả giao tiếp

Luận án của chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, cụ thể là hệ thống líthuyết liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp truyền thống và ngữ phápchức năng

- Nghiên cứu những đặc trưng của phóng chiếu ở các cấp độ: cụm từ, cúđơn và cú phức trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Trên cơ sở của hai nội dung đã đề cập ở trên, luận án sẽ đối chiếu nhữngđặc trưng phóng chiếu trong tiếng Anh với tiếng Việt để thiết lập những điểmtương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ Trong quá trình đối chiếu, luận

án sẽ cố gắng giải thích những điểm tương đồng và khác biệt đó

Để thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu này, luận án cần trả lờiđược các câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Phóng chiếu là gì?

Trang 16

2 Phóng chiếu được thể hiện như thế nào ở cấp độ trên cú (cú phức [câuphức và câu ghép trong ngữ pháp truyền thống]) và trong cú (bao gồmngang cú [câu đơn trong ngữ pháp truyền thống] và dưới cú [từ và cụmtừ]) trong tiếng Anh?

3 Phóng chiếu được thể hiện như thế nào ở cấp độ trên cú và trong cú(ngang cú và dưới cú) trong tiếng Việt?

4 Phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng vàkhác biệt gì?

Trên cơ sở các nhiệm vụ nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu mà luận ánđặt ra, cái mà chúng ta cần trước hết là một mô hình lí thuyết nghiên cứu hiệntượng phóng chiếu toàn diện hơn, thâu tóm được cả hai bình diện ngữ pháp vàngữ nghĩa, nghiên cứu hiện tượng này không những từ bình diện trên cú hay

cú phức (tương ứng với câu phức và câu ghép trong ngữ pháp truyền thống),trong cú (tương ứng với câu đơn trong ngữ pháp truyền thống và các cụm từ)

và ý nghĩa mà chúng thể hiện

3 Đối tượng, phạm vi nguồn ngữ liệu, phạm vi nghiên cứu, qui trình thuthập dữ liệu

 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thành phần phóng chiếu trên

cú và trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt

 Phạm vi nguồn ngữ liệu:

Trong tiếng Anh, các hiện tượng phóng chiếu được nghiên cứu thôngqua các cứ liệu là 15 bài báo trong tờ New York Times, 15 bài báo trong tờUSA Today (tập trung vào các bài báo là phóng sự về các sự kiện chính trị,đời sống xã hội) và tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone (HarryPorter và hòn đá phù thủy) của nhà văn J.K Rowling Tác phẩmđược Bloomsbury xuất bản lần đầu tại Anh vào năm 1997 với nhan đề Harry

Trang 17

Potter and the Philosopher's Stone (Harry Potter và Hòn đá Giả kim) Năm

1998, Scholastic Corporation xuất bản tác phẩm tại Hoa Kì với nhan đề HarryPotter and the Sorcerer's Stone (Harry Potter và Hòn đá Phù thủy) và có chútthay đổi về văn phong để phù hợp với độc giả Mĩ; bản dịch tiếng Việt của nhàxuất bản Trẻ cũng dựa trên ấn bản này Đây là tác phẩm đầu tiên trong bộtruyện Harry Potter gồm 7 tập Tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer'sStone (Harry Porter và hòn đá phù thủy) có độ dài 17 chương và là một tậptruyện quan trọng, bởi nó đặt nền tảng cho 6 tập tiếp theo

Trong tiếng Việt, chúng tôi chọn cứ liệu nghiên cứu thông qua 15 bàibáo trong tờ Nhân Dân, 15 bài báo trong trang Vietnamnet (tập trung vào cácbài báo là phóng sự về các sự kiện chính trị, đời sống xã hội) và hai tiểuthuyết Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua của nhà vănNguyễn Nhật Ánh Tiểu thuyết Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh kể về tuổi thơcủa hai anh em Thiều và Tường ở một miền quê nghèo qua 81 chương ngắn.Tác phẩm Cô gái đến từ hôm qua gồm 10 chương, là chuyến du hành đầyhoài niệm về một thời tuổi trẻ và những rung động đầu đời rất đỗi chân thành,ngọt ngào của chàng trai tên Thư

Lí do chọn các tác phẩm Harry Porter and the Sorcerer's Stone của J.K.Rowling, và Cô gái đến từ hôm qua và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh củanhà văn Nguyễn Nhật Ánh là vì chúng cùng thể loại văn học dành cho thiếunhi và ở cùng thời kì đương đại nên cập nhật được cách sử dụng ngôn ngữhiện đại Ngoài ra, bên cạnh tính phổ thông được nhiều người biết đến, đây làcác tiểu thuyết thuộc thể loại văn trần thuật (narrative) cho nên ngoài mốiquan hệ giữa nhà văn và độc giả còn có nhiều mối quan hệ giữa các nhân vậttrong tiểu thuyết nên chúng tôi chờ đợi có nhiều hội thoại giữa họ thuộc nhiềukiểu khác nhau, và do đó, chúng tôi hi vọng sẽ có đủ các kiểu phóng chiếu

Trang 18

giúp chúng tôi khảo sát để hình thành một khối liệu minh họa phong phú choluận án.

Lí do chọn các tờ báo New York Times, USA Today, Vietnamnet vàNhân Dân để lấy cứ liệu nghiên cứu là vì đây là các tờ báo lớn có uy tín và là

cơ quan ngôn luận của quốc gia nên có tính cập nhật và chính xác cao Đặcbiệt, đặc thù của thể loại báo chí (các phóng sự) là trần thuật, nên sẽ là kho tưliệu phong phú cho chúng tôi khai thác các hiện tượng phóng chiếu

 Phạm vi nghiên cứu

Việc khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của khối liệu ở bình diệnphóng chiếu trong mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa cần được giới hạn vào cáckhía cạnh sau:

1 Phân tích để lấy số lượng, tỉ lệ phần trăm và đặc điểm ngữ pháp, ngữnghĩa của phóng chiếu trên cú: các kiểu quá trình phóng chiếu và có tiềmnăng phóng chiếu, phương thức trích nguyên và thông báo lại trong khốiliệu

2 Phân tích để lấy số lượng, tỉ lệ phần trăm và đặc điểm ngữ pháp, ngữnghĩa của phóng chiếu trong cú: cụm động từ phóng chiếu, cụm giới từphóng chiếu và cụm danh từ phóng chiếu trong khối liệu

 Qui trình thu thập dữ liệu:

Như đã đề cập ở trên, cứ liệu nghiên cứu là 15 bài báo trong tờ New YorkTimes, 15 bài báo trong tờ USA Today, 15 bài báo trong Vietnamnet và 15 bàibáo trong tờ Nhân Dân Ngoài ra đối với thể loại tiểu thuyết, khối cứ liệuđược lấy từ ba tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone của J.K.Rowling và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cùng với Cô gái đến từ hôm quacủa nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, với độ dài văn bản của khối liệu nghiên cứucủa mỗi ngôn ngữ khoảng 80.000 từ Trên cơ sở khối liệu này chúng tôi tiếnhành khảo sát hiện tượng phóng chiếu trên cú và trong cú Do chưa có phần

Trang 19

mềm kiểm đếm câu (cú) có xuất hiện phóng chiếu nên công việc này phảiđược thực hiện chủ yếu thông qua hình thức đếm thủ công.

Các dữ liệu về phóng chiếu được thu thập theo các nhóm: trên cú và dưới

cú Trong mỗi nhóm lại chia ra hai tiểu nhóm tiếng Anh và tiếng Việt, theotừng thể loại văn bản, tiểu thuyết và báo Các hiện tượng phóng chiếu được

mã hóa, mỗi mã gồm 3 kí tự: kí tự thứ nhất là mã ngôn ngữ, A cho tiếng Anh

và V cho tiếng Việt; kí tự thứ hai là mã thể loại, 1 cho tiểu thuyết và 2 chobáo; kí tự thứ 3 là số thứ tự của phóng chiếu trong các tiểu nhóm

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận án bao gồm:

4.1 Phương pháp mô tả

Phương pháp này dùng để mô tả các thành phần phóng chiếu trên cú vàtrong cú (ngang cú và dưới cú) Từ đó có thể chỉ ra được đặc điểm riêng củacác hiện tượng phóng chiếu được khảo sát

4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu:

Đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng để chỉ ra những điểmtương đồng và khác biệt của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếngViệt Luận án nghiên cứu áp dụng nguyên tắc đối chiếu hai chiều, có nghĩa là

cả ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt đều được coi là ngôn ngữ nguồn và ngônngữ đích để mô tả và đối chiếu hiện tượng phóng chiếu

4.3 Các thủ pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

Trong quá trình khảo sát tư liệu, bên cạnh phương pháp chủ yếu vừanêu trên, đề tài nghiên cứu còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác nhưthống kê, phân loại, mô hình hóa,…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 20

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thốngchuyên sâu về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt, cả ở cấp độ trên cú

và trong cú dựa trên khung lí thuyết chức năng hệ thống

Luận án đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếunhằm làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt của phóng chiếu trong mốiquan hệ logic-ngữ nghĩa trong cú và trong tổ hợp cú trong tiếng Anh và tiếngViệt

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án nghiên cứu lí luận về phóng chiếu trong mối quan hệ logic-ngữnghĩa trong cú và trong tổ hợp cú dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chứcnăng hệ thống, do đó luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lí thuyết, líluận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về phóng chiếu theo quan điểmcủa ngữ pháp chức năng hệ thống

Luận án cũng đi sâu vào nghiên cứu các đặc trưng của phóng chiếu bậctrong cú cả và bậc trên cú trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt,các kết quả khảo sát về phóng chiếu này góp phần giúp cho các nhà nghiêncứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ pháp và ngữ nghĩacủa chúng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp những người làm công tácgiảng dạy ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt cũng như các những người làmcông tác dịch thuật hiểu rõ hơn về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của phóngchiếu bậc trong cú và trên cú Từ đó có thể kiến tạo các văn bản cũng nhưchuyển dịch các văn bản giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có sửdụng phóng chiếu hiệu quả hơn Ngoài ra, đối với những người làm công tácgiảng dạy, việc hiểu rõ các đặc trưng của phóng chiếu trong từng ngôn ngữ sẽ

Trang 21

giúp họ có những chiến lược phù hợp, hiệu quả trong việc giảng dạy vấn đềnày với người học Đặc biệt đối với chương trình đào tạo báo chí tại các cơ sởđào, đây là một trong những vấn đề thực tế rất hữu ích cần được quan tâm.

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếutrên cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này trình bày kết quả khảosát và chỉ ra những đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của các thành phầnphóng chiếu trên cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở kết quả khảosát, luận án đối chiếu, thảo luận các điểm tương đồng và khác biệt của phóngchiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếutrong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này trình bày kết quả khảosát và chỉ ra những đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của các thành phầnphóng chiếu trong cú (ngang cú và dưới cú) trong tiếng Anh và tiếng Việt.Trên cơ sở kết quả khảo sát, luận án đối chiếu, thảo luận các điểm tương đồng

và khác biệt của phóng chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt

Trang 22

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

Dẫn nhập

Trong chương này chúng tôi trình bày các cơ sở lí thuyết của luận án vàtổng quan các nghiên cứu về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt dướiánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống Đó là những quan niệm

về lí thuyết có liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp truyền thống vàtrong ngữ pháp chức năng hệ thống Khái niệm phóng chiếu trên cú và trong

cú cũng được thảo luận chi tiết để tìm ra khung lí thuyết phục vụ cho mục tiêucủa luận án Chương một cũng tập trung giới thiệu tổng quan các nghiên cứu

về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt của các tác giả theo đườnghướng ngữ pháp chức năng hệ thống nhằm mục đích làm tiền đề và cơ sở líthuyết cho việc phân tích dữ liệu cho những chương tiếp theo của luận án.Trên cơ sở lí thuyết này, luận án có nhiệm vụ tìm ra điểm tương đồng và dịbiệt của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phóng chiếu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về một số khái niệm tương đương với phóngchiếu trước Ngữ pháp chức năng hệ thống

Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng là một hiện tượng phức ở cả cấp

độ từ/cụm từ và cấp độ cú (cú phức) Cú là đơn vị trung tâm của ngữ phápchức năng và ở nhiều khía cạnh tương ứng với đơn vị câu của ngữ pháptruyền thống Halliday [13, tr.44] cho rằng “cú ở bất kì chỗ nào cũng đều làmột đơn vị giống nhau, cho dù nó đóng chức năng một mình (như một câuđơn), hay là một phần của cú phức (câu phức/câu ghép)” Diệp Quang Ban[5,tr.15] cũng nhận xét rằng nhìn chung, “cú” tương đương với cái được gọi

là câu đơn của ngữ pháp truyền thống và tác giả tổng kết rằng một số nhà

Trang 23

nghiên cứu phân biệt “câu” theo hướng cho rằng “câu” gắn với chữ viết nhưmột đơn vị chính tả có dấu chấm ở hai đầu, còn “cú” không bị ràng buộc vàochữ viết Chính vì vậy để thảo luận khái niệm phóng chiếu trong ngôn ngữhọc chức năng, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu những đơn vị tươngứng trong ngôn ngữ học truyền thống Chúng tôi sẽ bắt đầu nghiên cứu nàyvới sự thảo luận sơ lược về đơn vị câu trong ngữ pháp truyền thống.

1.1.1.1 Câu trong ngữ pháp truyền thống

Câu là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp với hàng trăm định nghĩa được cácnhà ngôn ngữ đưa ra (xin xem Fries [70]) Cuối thế kỉ XIX, một nhà ngôn ngữhọc đã cho biết rằng tới lúc đó đã có 150 định nghĩa khác nhau về câu(Nguyễn Kim Thản [37]) Rất nhiều định nghĩa về câu có ảnh hưởng từ địnhnghĩa của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Nga Vinagradov:

Câu là một đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các qui luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng Trong câu không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực

mà còn có cả mối quan hệ của người nói và hiện thực (Vinagradov 1954, dẫn theo Nguyễn Kim Thản [37, tr.140])

Khi nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng đã kếthừa tư tưởng trên (Hoàng Trọng Phiến [30]; Diệp Quang Ban [4]) Nóichung, trong các định nghĩa được đề cập đến, chúng ta đều tìm thấy ba yếu tốđặc trưng của câu: (1) về nội dung: câu có tư tưởng, ngữ nghĩa trọn vẹn và cóthể kèm theo thái độ của người nói với đối với hiện thực được nói tới trongcâu, (2) về hình thức: câu có cấu trúc ngữ pháp và có ngữ điệu kết thúc và (3)

về chức năng: câu có chức năng hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng,tình cảm

Câu có nhiều định nghĩa khác nhau nên việc phân loại câu cũng đượcdựa trên các tiêu chí khác nhau và về nhiều phương diện khác nhau Hai tiêuchí phổ biến nhất là phân loại câu theo mục đích phát ngôn và phân loại câu

Trang 24

theo cấu trúc ngữ pháp Với tiêu chí dựa trên mục đích phát ngôn, ngôn ngữ

có bốn loại câu là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán(Nguyễn Kim Thản [37]; Nguyễn Văn Hiệp [23]); còn dựa trên tiêu chí vềcấu trúc ngữ pháp, chúng ta có câu đơn, câu phức và câu ghép; câu ghép đượcchia ra hai loại: câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập Tuy nhiên, việcphân định giữa câu đơn, câu phức và câu ghép còn nhiều tranh cãi do cónhững tiêu chuẩn khác nhau

Ngữ pháp truyền thống thường dựa vào số lượng cụm chủ - vị để xácđịnh câu đơn và câu không thuộc loại đơn Bùi Minh Toán và Nguyễn ThịLương [34] cho rằng câu đơn được cấu tạo bằng một kết cấu chủ vị (cụm chủvị), câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ - vị nòng cốt trở lên nhưng không cókết cấu chủ vị nào bị bao bởi một kết cấu chủ - vị khác; còn câu phức thànhphần là kiểu câu gồm hai kết cấu chủ - vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấuchủ - vị nòng cốt Hãy xét hai ví dụ sau:

(1) Cách mạng tháng Tám thành công đem lại độc lập, tự do cho dân tộc (2) Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu tán không về làng.

(1) và (2) vừa được phân tích như kiểu câu phức thành phần (có chủ ngữhoặc bổ ngữ là một cụm chủ vị) (Bùi Minh Toán & Nguyễn Thị Lương [34])vừa được phân tích như câu đơn hai thành phần (Diệp Quang Ban [4];Nguyễn Văn Hiệp [23]) Thậm chí Nguyễn Văn Hiệp [23, tr 354] còn khẳngđịnh những câu được coi là câu phức mở rộng chủ ngữ hoặc bổ ngữ thực chấtchỉ là “biến thể của câu đơn song phần đơn giản” Các ví dụ trên của chúngtôi đã minh họa phần nào sự phức tạp trong việc phân loại câu trong tiếngViệt trong ngữ pháp truyền thống

Khi phân loại câu trong tiếng Anh theo tiêu chí cấu tạo ngữ pháp, Quirk

và các cộng sự [94] phân chia làm ba loại: câu đơn (simple sentence), câughép (compound sentence) và câu phức (complex sentence) Theo Quirk và

Trang 25

các cộng sự [93], câu đơn bao gồm một mệnh đề độc lập; câu ghép bao gồmhai hoặc nhiều hơn hai mệnh đề độc lập; còn câu phức bao gồm duy nhất mộtmệnh đề độc lập và một hoặc lớn hơn một mệnh đề phụ thuộc Ngoài ba loạicâu cơ bản này, Oshima & Hogue [91] bổ sung thêm một loại câu được gọi làcâu phức-ghép kết hợp (compound-complex sentence), loại câu này bao gồm

ít nhất ba mệnh đề, trong đó có hai hoặc nhiều hơn hai mệnh đề độc lập vàmột hoặc nhiều hơn một mệnh đề phụ thuộc

Như vậy, khái niệm về câu đơn, câu phức và câu ghép trong tiếng Anh

và tiếng Việt không hoàn toàn trùng nhau nên việc phân tích thành phần câucũng có những điểm khác nhau

1.1.1.2 Một số khái niệm tương đương trong ngữ pháp truyền thống về phóngchiếu

Trong Ngữ Pháp Tiếng Việt, Diệp Quang Ban [5] khi bàn đến câu ghép

đã đề cập đến khái niệm được ông gọi là xạ ảnh Theo ông, xạ ảnh là việcchuyển một sự việc nào đó vào một lời nói hay ý nghĩ khác và được hiểu là

“bắn” hay “phóng” hình ảnh của sự việc đó vào một lời hay ý nghĩ Hiệntượng này trước đây trong ngữ pháp truyền thống được gọi là dẫn lời, về sauthêm phần dẫn ý

Lời nói gián tiếp và lời nói trực tiếp trong tiếng Anh là vấn đề được rấtnhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp truyền thống quan tâm Một số nghiên cứudưới đây được cho là tiêu biểu

Trong một chuyên khảo ngôn ngữ về lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp

có nhan đề là Reported Speech: Some General Isues (Lời nói được tườngthuật lại: một số vấn đề đại cương), Coulmas [51] đã nghiên cứu các vấn đềchung về lời tường thuật lại trong các ngôn ngữ Tác giả thảo luận về các đặcđiểm giống và khác nhau trong lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp thông qua

hệ thống từ vựng và ngữ pháp Theo dòng lịch sử, tác giả còn thảo luận thêm

Trang 26

về loại hình thứ ba với các đặc điểm của cả lời nói trực tiếp và lời nói giántiếp và thống kê những khái niệm không đồng nhất về loại hình thứ ba nàytrong Bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp: một số quan niệm

(Nguồn: Florian Coulmas [51])

1894 Tobler Lời nói trực tiếp Lời nói gián tiếp

Kết hợp cả hai: lời nói trực tiếp và lời nói gián

tiếp

(Veiled speech)

Lời nói gián tiếp tự do

Lời nói gần giống lời nói trực tiếp (Quasi-direct speech)

nghiệm (Experienced speech)

lời tường thuật lại (Reported speech) (Repeated speech)

Lời nói phụ thuộc Lời trình bày lại (Dependent speech) (Represented

speech)

(Subsituted discourse)

Phát ngôn gần giống phát ngôn trực tiếp (Quasi-direct discourse )

Phát ngôn gián tiếp (Indirect discourse)

Theo Coulmas [51], ngay từ rất sớm, Tobler (1894) đã đề cập đến loạithứ ba như là một sự kết hợp pha trộn đặc biệt của phát ngôn trực tiếp và phátngôn gián tiếp Theo quan điểm của Tobler, đây là một biến thể của lời nói

Trang 27

trực tiếp Tiếp sau đó, Kalepky (1899) đối xử với loại thứ ba này như một loạihoàn toàn độc lập chứ không phải loại kết hợp pha trộn và tác giả sử dụngthuật ngữ “lời nói ẩn” (veiled speech) cho đối tượng này Bally (1912) giớithiệu loại hình thứ ba là hình thức lời nói gián tiếp tự do (free indirect speech)

và coi đó là một loại của lời nói gián tiếp Tuy nhiên, ngay từ năm 1921,Lorck (1921) đã tranh luận rằng khái niệm “indirect” (lời nói gián tiếp) là sựdùng sai thuật ngữ của khái niệm này trong lời tường thuật lại (reportedspeech) Tác giả đã đưa ra khái niệm lời dẫn được trải nghiệm (experiencedspeech) nhưng khái niệm này bị Jespersen phê phán vì cho rằng người viếtkhông có kinh nghiệm hay không sống với những suy nghĩ hay lời nói đó màchỉ là nhắc lại chúng mà thôi Do vậy Jespersen đã phát triển loại lời tườngthuật này với thuật ngữ “represented speech” (lời nó được tái hiện lại) Cùngquan điểm với Bally, Jespersen (1924) đồng nhất lời nói được tái hiện lại(represented speech) là một loại của lời nói gián tiếp Lerch (1919) lại chú ýđến lời nói trực tiếp và đưa ra loại thứ ba là lời nói gần giống lời nói trực tiếp(Quasi-direct speech) và sau này Voloshinov (1929) cũng sử dụng khái niệmnày và gọi đây là loại trung lập nhất trong các thuật ngữ đã được sử dụng vàđòi hỏi ít lí thuyết nhất Voloshinov không chỉ tập trung vào mô tả ngữ pháptrừu tượng mà còn xem xét lời nói gián tiếp từ quan điểm lịch sử để thấy được

sự phản ánh của ngôn ngữ về phát triển xã hội

Fillmore [65], [66]cho rằng cả lời nói trực tiếp và gián tiếp đều là bổ ngữcủa động từ nói năng Ông xem tất cả các tham tố có thể xuất hiện trực tiếpsau động từ nói năng là thông điệp (message) và phân chia thành bốn loại:thông điệp-nội dung (message-content), thông điệp-hình thức (message-form), thông điệp phạm-trù và thông điệp loại (message-type) Trong đó, ôngxếp lời nói trực tiếp thuộc thông điệp nội dung và lời nói gián tiếp thuộcthông điệp hình thức

Trang 28

Trong A Comprehensive Grammar of English (Ngữ pháp toàn diện củatiếng Anh), Quirk và các cộng sự [94] đã thảo luận các nội dung tương tự nhưphóng chiếu mà họ gọi là “lời nói trực tiếp” (direct speech) và “lời nói giántiếp” (indirect speech) Theo Quirk và các cộng sự [94], hai hiện tượng lời nóitrực tiếp và lời nói gián tiếp nằm trong khu vực ngữ pháp của câu phức (thecomplex sentence) Tuy nhiên, đi theo cách phân tích thành phần câu của ngữpháp truyền thống, Quirk và các cộng sự [94] coi lời nói trực tiếp hoặc lời nóigián tiếp là một thành phần có chức năng bổ ngữ hay tân ngữ trong câu.Ngoài ra, dạng trung gian giữa lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp mà các tácgiả gọi là lời nói gián tiếp tự do và lời nói trực tiếp tự do cũng được đề cậpđến Các tác giả cũng có đóng góp quan trọng là bổ sung thêm khái niệm lờinói gián tiếp và lời nói trực tiếp trong ngữ pháp truyền thống Các tác giả đãchú giải “speech” (lời nói) phải bao hàm cả những hoạt động tinh thần khôngđược diễn tả bằng lời khi các động từ thông báo có thể là think (suy nghĩ),believe (tin tưởng), feel (cảm thấy), v.v… Trong khi bàn về câu phức(Chương 14), Quirk và các cộng sự [94] dành một lượng đáng kể (13 trang)

để thảo luận về hình thức thông báo lại ngôn ngữ của người khác Các đặcđiểm nhận dạng và phân biệt lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp được mô tảchi tiết Về nội dung, lời nói trực tiếp chuyển tải chính xác ngôn từ của phátngôn gốc; còn lời nói gián tiếp chuyển tải phát ngôn gốc qua ngôn từ củangười thông báo lại tiếp sau đó Lời nói gián tiếp thường được thể hiện thôngqua việc diễn giải lại hoặc tóm tắt lại nên người nghe hoặc người đọc khôngthể khôi phục lại hoàn toàn phát ngôn gốc Về hình thức, các tác giả cũng đãcho thấy sự phong phú về vị trí của mệnh đề thông báo và mệnh đề đượcthông báo trong lời nói trực tiếp so với lời nói gián tiếp Đặc biệt là hiệntượng đảo ngữ giữa động từ thông báo và chủ ngữ không phải là đại từ màtrong ngữ pháp tiếng Việt không tồn tại hiện tượng này Để chuyển từ lời nói

Trang 29

trực tiếp sang lời nói gián tiếp có hàng loạt sự thay đổi: lùi thì (backshift),chuyển đổi đại từ nhân xưng (pronoun shift) và tính từ sở hữu, chuyển đổi cáctham chiếu thời gian, địa điểm, các từ chỉ định Hình thức chuyển đổi từ trựctiếp sang gián tiếp đối với các loại câu theo mục đích phát ngôn: câu tườngthuật, câu hỏi, câu cảm thán, câu mệnh lệnh cũng như thức giả định và cácđộng từ tình thái được xem xét thấu đáo Bên cạnh đó, Quirk và các cộng sự[94] đã đưa ra hai hình thức trung gian là lời nói gián tiếp tự do và lời nóitrực tiếp tự do Loại thứ nhất được sử dụng rộng rãi để thông báo lại lời nóihoặc ý tưởng Bởi vì nếu chỉ có sự lùi thì và thay đổi các tham chiếu ngôi,thời gian, địa điểm và từ chỉ định thì thực chất đó chỉ là tường thuật lại các từhơn là lời nói gián tiếp Loại thứ hai thường được thể hiện trong việc viết cácdòng suy nghĩ của ai đó trong tưởng tượng.

Các công trình nghiên cứu về “lời nói trực tiếp” và “lời nói gián tiếp”chủ yếu là trong tiếng Anh, còn trong tiếng Việt thì dường như đây khôngphải vấn đề trọng tâm của nghiên cứu Nguyễn Vân Phổ [31], trong công trìnhnghiên cứu về ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt đã bàn về “lờidẫn trực tiếp” và “lời dẫn gián tiếp” vận dụng cả lí thuyết ngữ pháp cách củaFillmore và ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday Tác giả đã tập trungvào các vấn đề như hình thức của lời dẫn, quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa củalời dẫn với động từ nói năng hoặc các tham tố khác, cương vị ngữ pháp củalời dẫn, v.v Theo tác giả, lời dẫn là “các thực thể âm thanh (hay chữ viết) màngười phát ngôn tiếp nhận có thể được phản ánh dưới hình thức ít nhiềunguyên vẹn của nó” Tác giả chia lời dẫn trực tiếp thành hai loại: (1) lời dẫnđóng vai trò bổ ngữ (của động từ) hoặc định ngữ (của danh từ) và (2) lời dẫn

là một cú độc lập (cấu trúc đề - thuyết hay cấu trúc chủ - vị) Còn đối với lờidẫn gián tiếp, hai cú có quan hệ phụ kết Tác giả cũng hướng tới việc phânbiệt lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp trên phương diện ngữ pháp và ngữ

Trang 30

nghĩa Lời dẫn trực tiếp được thể hiện chính xác, đầy đủ trong khi lời dẫn giántiếp hướng đến nội dung và ý nghĩa của nói và được biên soạn lại Ngoài ra,tác giả cũng chỉ ra rằng hai dấu hiệu hay yếu tố “rằng”, “là” trong tiếng Việtđánh dấu lời dẫn gián tiếp và có sự thay đổi quy chiếu ở lời dẫn gián tiếptrong tiếng Việt Trên bình diện ngữ dụng học, tác giả đã bàn đến vai trò củaquan hệ giữa người phát ngôn và người thụ ngôn cũng như ngữ cảnh trực tiếp.Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các đặc điểm chức năng của lời dẫn giántiếp và lời dẫn trực tiếp.

Khác với quan niệm của Quirk và các cộng sự [94] trong mối quan hệvới tiếng Anh, Diệp Quang Ban [4] và Nguyễn Văn Hiệp [23], trong mốiquan hệ với tiếng Việt, đã xếp các câu được gọi là câu phức thành phần trong

đó có lời dẫn gián tiếp và lời dẫn trực tiếp vào nhóm câu đơn hai thành phần(câu đơn song phần) thể hiện trong ví dụ (3) và (4) dưới đây

(3) Anh ấy hẹn anh ấy đến trong ngày mai.

(4) Nó nói nó không muốn đi học nữa.

Cùng quan điểm với Fillmore, Diệp Quang Ban [4] và Nguyễn VănHiệp [23] đều coi phần “anh ấy đến trong ngày mai” và “nó không muốn họcnữa” là bổ ngữ biểu thị nội dung thông báo cho vị từ nói năng “hẹn” và ‘nói’.Diệp Quang Ban [4, tr 121, 134] thận trọng cho rằng kiểu câu như thế “có ítnhiều tư cách là kiểu câu cơ bản” và tạm xếp chúng vào bộ câu đơn; cònNguyễn Văn Hiệp [23, tr 354] thì dứt khoát cho rằng các câu kiểu (3) và (4)

là “câu đơn song phần đơn giản có thành phần được mở rộng bằng kết cấu

C-V mà thôi.”

Tuy nhiên, sau này dựa trên sự kết hợp giữa ngữ pháp truyền thống vàngữ pháp chức năng, khi bàn về câu ghép Diệp Quang Bang [6] đã đưa câuchứa lời dẫn trực tiếp và gián tiếp vào loại hình câu ghép bên cạnh loại câughép chính phụ và câu ghép đẳng lập Theo Diệp Quang Ban [6], lời dẫn trực

Trang 31

tiếp là lời hay ý của người khác được thuật lại mà vẫn giữ nguyên ngôi nhânxưng và các từ ngữ quy chiếu về thời gian, không gian Trong ngôn ngữ viết,lời dẫn trực tiếp thường được nhận diện thông qua dấu ngoặc kép và dấu haichấm; còn trong ngôn ngữ nói, thay cho dấu hai chấm tiếng rằng thường xuấthiện trước lời nói trực tiếp hoặc lời nói gián tiếp Lời nói gián tiếp là lời hay ýcủa người khác được tường thuật lại với sự chuyển ngôi nhân xưng thứ nhấtthành ngôi nhân xưng thứ ba và có sự chuyển đổi từ ngữ quy chiếu về thờigian không gian khi cần thiết Tiếng rằng thường được đặt trước lời dẫn giántiếp mà không cần các dấu như đối với lời dẫn trực tiếp Tuy nhiên, ông cũngkhông bàn nhiều về loại hình câu ghép này; có lẽ vì trong tiếng Việt khôngtồn tại việc phù hợp thì của động từ nên hình thức biểu đạt các sự tình tronglời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp hầu như không khác nhau.

Có thể thấy, ngữ pháp truyền thống gọi mối quan hệ phóng chiếu trên cú

là lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp; có thể họ kết hợp hay đồng nhất cảphóng chiếu hữu ngôn và phóng chiếu tinh thần vào cùng một phạm trù Một

số ngữ pháp kết hợp cả hai hướng nghiên cứu hiện tượng này từ quan điểmtruyền thống và quan điểm chức năng (Diệp Quang Ban [5], [6]) Về cấu trúc,các nhà ngữ pháp truyền thống, kể cả các nhà ngữ pháp theo hướng chức năngxem thành phần được phóng chiếu trên cú (câu đơn) là tân ngữ hoặc bổ ngữ(Diệp Quang Ban [4]; Nguyễn Văn Hiệp [23])

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về “lời nói trực tiếp” và “lời nóigián tiếp” mới chỉ đề cập nhiều đến mặt hình thức của lời nói, chưa quan tâmthỏa đáng đến vấn đề từ bình diện chức năng Để phục vụ mục đích học tập,ngữ pháp truyền thống, đặc biệt là ngữ pháp nhà trường đã tập trung nhiềuvào các thủ thuật để chuyển đổi từ lời nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp; mớichú ý nhiều đến các khía cạnh hình thức (cấu trúc) mà chưa chú ý thoả đángđến các khía cạnh ý nghĩa (chức năng) của hiện tượng lí thú này trong giao

Trang 32

tiếp: phóng chiếu (lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp) là gì? phóng chiếuđược kết cấu như thế nào? và hoạt động của nó ra sao ở các cấp độ từ, cú (câuđơn của ngữ pháp truyền thống) và trên cú (câu phức, câu ghép của ngữ pháptruyền thống)? Những câu hỏi này hướng chúng tôi tiếp cận với quan niệmcủa Halliday và các nhà ngữ pháp theo đường hướng chức năng hệ thống –một mô hình ngữ pháp mà chúng tôi dự định chọn làm khung lí thuyết để tiếnhành đề tài nghiên cứu của mình.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết

ngữ pháp chức năng hệ thống

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu trên thế giới

Từ những năm 1980 lí thuyết chức năng hệ thống nói chung và hiệntượng phóng chiếu nói riêng được nghiên cứu ứng dụng đa dạng ở nhiều ngônngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng trung Quốc, tiếng

Hy Lạp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức (chi tiết xin xem Hatzitheodorou &Marina [80]; Chen [53]; He & Junhui Wu [81]; Jing Fang [62]; Wang Pin[92]; Farahman Farrokhi [61]; Xinxin Zhang & Xueai Zhao [105]; MalteRosemeyer [95]; Vicente López Folgado [67]; Alexandra Holsting [82],Wickens [106]) Trong luận án gồm 9 chương nghiên cứu về chức năng của

đề ngữ được thể hiện trong các văn bản hành chính (biên bản ghi nhớ, thư tín

và các báo cáo), Forey [69] đã dành riêng chương 6 để bàn về quan hệ giữasiêu chức năng liên nhân và đề ngữ mở rộng (extended theme) thông qua các

cú phóng chiếu Công trình nghiên cứu này bàn lại khái niệm phóng chiếu củaHalliday Theo tác giả, phóng chiếu nên được xem là chức năng liên nhân vì

nó vốn đã phản ánh quan điểm của người viết và người viết có thể chủ độnglựa chọn các cú phóng chiếu để thể hiện quan điểm theo cách chủ quan hoặckhách quan hơn

Trang 33

Trong lĩnh vực dịch thuật, Sanggam Siahaan & Tengkun Silvana Sinar[96] nghiên cứu về dịch quá trình phóng chiếu từ tiếng Batak Toba(Indonesia) sang tiếng Anh (The Translation Process of Projection fromBatak Toba Language into English) đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội vàNhân văn IOSR Các tác giả đã áp dụng chiến lược dịch tự khám phá1(heuristic) trong nghiên cứu sự tương đương về chức năng được sử dụng nhưmột tham biến để xác định chất lượng dịch hiện tượng phóng chiếu tồn tạitrong các bài phát biểu đám cưới truyền thống (ngôn ngữ nguồn) của ngườidân Batak Toba (Indonesia) sang tiếng Anh (ngôn ngữ đích) Các tác giả đãchỉ ra các mẫu phóng chiếu bằng tiếng Batak Toba trong các bài phát biểuđám cưới có thể được dịch sang tiếng Anh với các mẫu phóng chiếu tươngđương về chức năng Các mẫu phóng chiếu đó là:

1 Phóng chiếu phát ngôn đồng đẳng với mẫu 1 “2 và phóng chiếu phátngôn phụ thuộc với mẫu α “β

2 Phóng chiếu ý tưởng đồng đẳng với mẫu 1 “2

3 Phóng chiếu ý tưởng phụ thuộc: phán đoán (proposition) với mẫu α “β

4 Phóng chiếu ý tưởng đồng đẳng: khiến nghị (proposal) với mẫu 1 “2 Thông qua nghiên cứu dịch các hiện tượng phóng chiếu này, các tác giả

đã mở ra hướng chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích thôngqua phân tích ngữ pháp chức năng đồng thời gợi ý đánh giá chất lượng dịchthuật thông qua các tiêu chí tương đương về chức năng

Trong lĩnh vực báo chí, phóng chiếu là hiện tượng rất phổ biến nên thuhút được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả Ayako Ochi [90] đã tiến hànhmột nghiên cứu về phóng chiếu tư tưởng và phóng chiếu liên nhân trongthông báo tin tức: những mẫu thức đánh giá trong tiếng Anh và tiếng Nhật

1

Đây là chiến lược dịch linh hoạt mà văn bản của ngôn ngữ nguồn có thể được chuyển dịch sang ngôn ngữ đích theo nhiều cách khác nhau tùy theo kinh nghiệm và mục tiêu của từng người dịch, Sanggam & Tengkun [96]

Trang 34

(Ideational projection and interpersonal projection in news reporting:patterns of evaluation in English and Japanese) Tác giả đã cho thấy phóngchiếu liên nhân xuất hiện thường xuyên trong thông báo tin tức tiếng Nhật màkhông có trong tiếng Anh ở lĩnh vực này Trong tiếng Nhật, lĩnh vực thôngbáo tin tức có đặc điểm là các minh chứng (evidentiality) về cái được nghethấy (hearsay) và cái suy luận (inference) Hai minh chứng này được phânbiệt nhờ chủ thể phóng chiếu (projector) Loại thứ nhất chủ thể phóng chiếu lànguồn thông tin (they say) trong khi loại thứ 2, chủ thể phóng chiếu là ngườiphát ngôn (I hear/think) Tiềm năng đánh giá trong lĩnh vực thông báo tin tứctiếng Nhật được mở rộng thông qua phóng chiếu liên nhân Điều đó cho phépphóng viên/người thông báo ban hành/tuyên bố đánh giá của mình đối vớiphán đoán được thông báo mà không chịu trách nhiệm về đạo đức.

Cũng trong lĩnh vực báo chí, José Manuel Durán [57] lại quan tâm đếnmối tương quan giữa hệ thống thứ bậc (đồng đẳng và phụ thuộc) và hệ thốngphóng chiếu (lời và ý tưởng) trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha Nghiêncứu của José Manuel Durán [57] tập trung phân tích mối tương quan này qua

24 bài báo đã được xuất bản tại Buenos Aires (Argentina) trong thời giantrước và sau bầu cử quốc gia năm 2007 Qua phân tích định lượng các vănbản, tác giả đã chỉ ra những kết luận sau:

1 Hệ thống phóng chiếu và hệ thống thứ bậc hoàn toàn độc lập vớinhau

2 Các hệ thống này trong tiếng Anh hoạt động độc lập hơn trong tiếngTây Ban Nha

3 Mỗi hệ thống này bị thay đổi bằng cách chúng thể hiện sự lựa chọnđánh đánh dấu hoặc không đánh dấu

4 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên vềphát ngôn mà không thiên về ý tưởng

Trang 35

5 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên vềquan hệ thứ bậc mà không thiên về quan hệ đồng đẳng.

6 Cú phóng chiếu đứng trước cú được phóng chiếu nếu chúng ở trongmối quan hệ thứ bậc

7 Cú được phóng chiếu đứng trước cú phóng chiếu nếu chúng ở trongmối quan hệ đồng đẳng

8 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên về

cú phóng chiếu đứng trước cú được phóng chiếu

Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới về ngữ pháp chức năng hệthống trong đó có phóng chiếu trong các thứ tiếng khác nhau rất đa dạng vàphong phú Điều đó giúp ích cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát hơn trongquá trình nghiên cứu so sánh phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hiện tượng phóng chiếu ở Việt Nam

Tuy lí thuyết về ngữ pháp chức năng hệ thống được nghiên cứu trên thếgiới từ những năm 1960 nhưng lí thuyết này mới được ứng dụng trong tiếngViệt với một số lượng không nhiều các công trình nghiên cứu như công trìnhcủa Cao Xuân Hạo [17], [18], Phan Thiều [41], Hồ Lê [29], Hoàng Văn Vân[47], [48], Thái Minh Đức [59], Đỗ Tuấn Minh [88], Võ Việt Cường [52],Nguyễn Thị Lan Anh [1] và Nguyễn Thị Minh Tâm [99], [100] Vậy nên cáccông trình nghiên cứu về phóng chiếu ở Việt Nam lại càng khiêm tốn

Hoàng Văn Vân trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp kinh nghiệmcủa cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống [47], [48] vàcông trình được bổ sung và cập nhật tái bản bằng tiếng Anh An ExperientialGrammar of the Vietnamese Clause [103] đã thảo luận các quá trình phóngchiếu trong tiếng Việt, coi hiện tượng phóng chiếu như một đặc điểm quantrọng khu biệt các quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn với các quá trìnhkhác Theo Hoàng Văn Vân [46], [48], phóng chiếu tinh thần là phóng chiếu ý

Trang 36

tưởng, còn phóng chiếu phát ngôn là phóng chiếu lời nói mà ông gọi là “hữungôn” Tuy nhiên, do công trình nghiên cứu của Hoàng Văn Vân liên quanđến mô tả hệ thống chuyển tác trong tiếng Việt (trong cú đơn), nên phóngchiếu chỉ được ông thảo luận như là một đặc điểm nổi bật của hai kiểu cú phátngôn và tinh thần để phục vụ cho việc mô tả cú đơn, nên những chi tiết vềphóng chiếu – một hiện tượng ngữ pháp lí thú nhìn tự góc độ cú phức chưađược thể hiện nhiều trong công trình nghiên cứu của ông.

Xét ở cấp độ luận văn thạc sĩ trong nước, đã có một vài nghiên cứubước đầu quan tâm đến lĩnh vực này Nguyễn Thị Minh Tâm [99] nghiên cứuquan hệ phóng chiếu trong tổ hợp cú tiếng Anh so sánh với tiếng Việt Tác giả

đã đưa ra được những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản nhưng chủ yếu là

về hình thức thể hiện: động từ thông báo, vị trí của cú phóng chiếu và cú đượcphóng chiếu, và vị trí của hành thể Nguyễn Thị Xuân Mỹ [89], nghiên cứu vềquá trình phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng việt bao gồm quá trình tinhthần và quá trình phát ngôn, nhưng tác giả chỉ tìm ra những điểm tương đồng

mà hầu như không tìm ra được sự khác nhau trong quá trình phóng chiếu giữa

2 ngôn ngữ Trần Hồng Vân [104], đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm ứngdụng lí thuyết ngữ pháp chức năng để nhận diện cú phóng chiếu qua phân tíchbài phát biểu của tổng thống Barack Obama tại cuộc vận động tranh cử ở LasVegas

Nguyễn Thị Minh Tâm [100], trong luận án tiến sĩ có nhan đề relationship in English and Vietnamese Clause Complexes (So sánh mối quan

Logico-hệ logic-ngữ nghĩa trong tổ hợp cú của tiếng Anh và tiếng Việt) đã phát triển

và đi sâu phân tích hai loại cú phức mà tác giả gọi là “tổ hợp cú bành trướng”

và “tổ hợp cú phóng chiếu” Dựa vào Halliday [74], [13]; Halliday &Matthiessen [75], [76] tác giả đã thiết lập một số tiêu chí cụ thể để phân biệtmối quan hệ logic-ngữ nghĩa giữa phóng chiếu và bành trướng Từ những tiêu

Trang 37

chí này, mối quan hệ logic-ngữ nghĩa trong tổ hợp cú được tác giả mô tả mộtcách chi tiết và toàn diện Tác giả đã nghiên cứu sự tương đồng và điểm khácbiệt trong sự thể hiện và trong các hoạt động của cú phóng chiếu và cú bànhtrướng trong tiếng Anh và tiếng Việt Một trong những phát hiện quan trọngcủa tác giả về sự thể hiện quá trình phóng chiếu có trong tiếng Việt mà không

có trong tiếng Anh, đó là trong tiếng Việt không chỉ có động từ đóng vai tròhạt nhân trong quá trình phóng chiếu mà tính từ biểu thị nói năng hay suynghĩ, thái độ tình cảm và đánh giá có thể được sử dụng để phóng chiếu, đặcbiệt là dùng trong trích dẫn chứ không dùng trong thông báo lại (chi tiết, xinxem Nguyễn Thị Minh Tâm [100, tr 111,130] Đây là công trình nghiên cứuđầu tiên đầy đủ về sự thể hiện và các hoạt động của tổ hợp cú trong đó có cúphóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng ở Việt Nam.Tuy nhiên, vì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các mối quan hệ trên cú nênhiện tượng phóng chiếu trong cú chưa được tác giả quan tâm trong công trìnhnày

Ngoài các công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên, ở Việt Nam còn cócông trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến phóng chiếu như: Động từnói năng của Nguyễn Văn Phổ [31] Một số công trình ngữ pháp chức nănghoặc do không phải là trọng tâm nghiên cứu nên chỉ đề cập sơ qua đến phóngchiếu (Hoàng Văn Vân [47], [48], [103]) hoặc do phóng chiếu chỉ là mộttrong hai trọng tâm nghiên cứu nên chủ yếu chỉ so sánh hiện tượng phóngchiếu ở cấp độ trên cú (câu phức, câu ghép) (Nguyễn Thị Minh Tâm [100]).Một số nghiên cứu khác tập trung vào các ứng dụng ngôn ngữ: phóng chiếutrong dịch thuật, phóng chiếu trong báo chí, v.v

Trong các nghiên cứu được tổng quan, chúng tôi nhận thấy một số vấn

đề sau:

Trang 38

1 Có sự thiếu nhất quán trong việc xem phóng chiếu thuộc cả hai kiểucâu (câu đơn và câu phức), xem cú được phóng chiếu là một thành phần củacâu đơn hay là một cú (câu) của câu phức.

2 Các nghiên cứu này hoặc chưa nghiên cứu sâu về phóng chiếu(Hoàng Văn Vân); hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ các cấp độ trong đó hiệntượng phóng chiếu xuất hiện (Hoàng Văn Vân, Nguyễn Thị Minh Tâm, DiệpQuang Ban)

3 Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến bình diện cấu trúc củaphóng chiếu, phục vụ cho mục đích dạy và học, nhiều công trình nghiên cứutập trung vào mô tả và hướng dẫn có tính kĩ thuật liên quan đến sự phối hợpthì trong phóng chiếu trên cú (Quirk và các cộng sự)

Trong ngữ pháp truyền thống không có khái niệm nào tương ứng vớikhái niệm “phóng chiếu” (projection) được Halliday giới thiệu trong ngữpháp chức năng hệ thống Tuy nhiên, như sẽ được giải thích và làm rõ ở dướiđây, nội dung chứa đựng trong hai khái niệm “lời nói gián tiếp” (indirectspeech) và “lời nói trực tiếp” (direct speech) trong ngữ pháp truyền thống cóthể được xem là tương ứng với khái niệm “phóng chiếu” trong ngữ pháp chứcnăng, mặc dù phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng không phải chỉ là lời nóitrực tiếp và lời nói gián tiếp trong ngữ pháp truyền thống mà còn là cả những

ý nghĩ được trích nguyên hoặc thông báo lại Ngoài ra, khái niệm này còn baohàm cả phóng chiếu trong cú (phóng chiếu ngang cú và phóng chiếu dưới cú)– một bình diện mà ngữ pháp học truyền thống dường như hoặc chưa quantâm hoặc chưa đi sâu nghiên cứu Nói cách khác, ngữ pháp truyền thống tuy

có đóng góp rất lớn nhưng mới chỉ tập trung vào hình thức để giải thích hiệntượng này mà chưa quan tâm thỏa đáng xem chúng được sử dụng như thế nàotrong giao tiếp Nó tập trung vào phát triển ngữ pháp mà chưa phát triển ýnghĩa của văn bản Để giải quyết vấn đề đó, chúng tôi chọn lí thuyết ngữ pháp

Trang 39

chức năng hệ thống của Halliday làm khung lí thuyết chính trong luận án này

vì ngữ pháp chức năng hệ thống là loại ngữ pháp được “đẩy về phía nghĩa”lấy ngữ pháp làm hình thức thể hiện để hiện thực hóa các ý nghĩa

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Lí thuyết nghiên cứu đối chiếu

Theo Lê Quang Thiêm [41, tr 42], “Nghiên cứu đối chiếu giúp ta xácđịnh cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạtđộng và sự phát triển của chúng”

Theo Bùi Mạnh Hùng [25] có hai cách tiếp cận cơ bản tùy theo mụcđích và nhiệm vụ cụ thể của một công trình nghiên cứu đối chiếu: (i) nghiêncứu đối chiếu một chiều và (ii) nghiên cứu đối chiếu hai chiều Với cách tiếpcận thứ nhất, một trong hai ngôn ngữ nghiên cứu được lấy làm cơ sở (ngônngữ nguồn/ ngôn ngữ xuất phát) là đối tượng cần được phân tích và làm rõ; vàngôn ngữ còn lại (ngôn ngữ đích) được coi là phương tiện, là điều kiện để làm

rõ các đặc điểm của ngôn ngữ cơ sở Việc chọn ngôn ngữ nào làm ngôn ngữnguồn và ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ đích phụ thuộc vào mục đích và nhiệm

vụ của công trình nghiên cứu đối chiếu chứ không phụ thuộc vào đặc điểmcấu trúc của ngôn ngữ Với cách tiếp cận thứ hai, cả hai ngôn ngữ đều đượccoi là ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích và được so sánh trong mối quan hệqua lại, dựa trên một cơ sở đối chiếu gọi là TC (tertium comparationis: cái cơ

sở chung) Trong luận án này, chúng tôi sử dụng hướng tiếp cận thứ hai đó làđối chiếu hai chiều: cả hai ngôn ngữ Anh và Việt đều được chú ý như nhau.Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các hình thức thể hiện TC của hiện tượngphóng chiếu trong hai ngôn ngữ dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng hệthống của Halliday, sau đó phân tích những hình thức thể hiện của hiện tượngphóng chiếu có những điểm nào giống nhau và khác nhau trong tiếng Anh vàtiếng Việt

Trang 40

1.2.2 Ngôn ngữ học chức năng hệ thống

Lí thuyết chức năng hệ thống có nguồn gốc trực tiếp từ các công trìnhnghiên cứu của cố giáo sư J.R Firth (1890-1960), một nhà ngôn ngữ học nổitiếng người Anh, người chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng nghiên cứu ngônngữ của nhà nhân chủng học vĩ đại người Anh Brolislaw Malinowski (1844-1942)

Halliday là người phát triển và hoàn thiện lí thuyết ngôn ngữ học với têngọi lí thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (systemic functionallinguistics) Lí thuyết ngôn ngữ học của Halliday “được dự định để tiếp tục

và xây dựng dựa vào quan niệm về ngôn ngữ của Firth và để thực hiện những

gì mà chính Firth trong thực tế chưa làm được” (Robins [33]) Ngôn ngữ họcchức năng hệ thống là lí thuyết biểu hiện các mối quan hệ biến hóa giữa cácđơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hay khả năng kết nối của các đơn vị ngôn ngữ

ở mọi cấp độ ngôn ngữ Halliday [13] xem xét chức năng ngôn ngữ trongmối quan hệ giữa “các hệ thống xã hội với các hệ thông ngữ nghĩa, ngữ phápcủa ngôn ngữ”

Trong lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday (xin xem Halliday[72]; Halliday & Hasan [77]; Halliday & Matthieseen [75]), ngôn ngữ đượcgiải thích như là một thực thể bao gồm bốn tầng từ trên xuống: ngôn cảnh,ngữ nghĩa học, ngữ pháp-từ vựng và âm vị học Trong bốn cấp độ này, ngôncảnh tình huống là cấp độ nằm ngoài hệ thống ngôn ngữ Theo Hoàng VănVân [49], cấp độ ngôn cảnh được cho là “cấp độ bao trùm kích hoạt sự lựachọn các ý nghĩa của người nói/viết trong hệ thông ngữ nghĩa (cấp độ ngữnghĩa), và các ý nghĩa này, đến lượt chúng lại kích hoạt sự lựa chọn ngôn từ(từ, cấu trúc cú pháp…) của người nói/viết trong hệ thống ngữ pháp-từ vựng(cấp độ ngữ pháp-từ vựng)…” (xem thêm Hasan [78], [79]) Các tầng trongngôn ngữ học hệ thống được cụ thể hóa trong Hình 1.1 dưới đây

Ngày đăng: 29/07/2019, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Halliday M.A.K (2012). Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân dịch). In lần thứ 3. Hà Nội: Nxb. ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Halliday M.A.K
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2012
14. Nguyễn Thiện Giáp (1996). Từ và nhận diện từ tiếng Việt. Hà Nội: Nxb.Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1996
16. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật & Nguyễn Minh Thuyết (2008).Dẫn luận ngôn ngữ. Hà Nội: Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
17. Cao Xuân Hạo (1991). Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng. Hà Nội:Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1991
20. Cao Xuân Hạo (1998). Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa. Hà Nội: Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
21. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bàng, Bùi Tất Tươm (1998). Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1 (Câu trong tiếng Việt). Hà Nội: Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1 (Câu trong tiếng Việt)
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bàng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
22. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bàng, Bùi Tất Tươm (2005). Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 2 (Ngữ đoạn và từ loại). Hà Nội: Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 2 (Ngữ đoạn và từ loại)
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bàng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
23. Nguyễn Văn Hiệp (2009). Cú pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. GDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb. GDVN
Năm: 2009
24. Trần Thị Thanh Hương (2014). Động từ báo cáo trong các bài báo khoa học bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Kỷ yếu công trình khoa học 2014 - Phần 2. Trường đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ báo cáo trong các bài báo khoa học bằng tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Trần Thị Thanh Hương
Nhà XB: Kỷ yếu công trình khoa học 2014 - Phần 2
Năm: 2014
25. Bùi Mạnh Hùng (2008). Ngôn ngữ học đối chiếu. TP Hồ Chí Minh: Nxb.Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb.Giáo Dục
Năm: 2008
28. Hồ Lê (1993). Cú pháp tiếng Việt, quyển 3. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt, quyển 3
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1993
29. Hồ Lê (1993). Ngữ pháp chức năng cống hiến và khiếm khuyết. Ngôn Ngữ, (1), tr. 47-53, 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng cống hiến và khiếm khuyết
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Ngôn Ngữ
Năm: 1993
30. Hoàng Trọng Phiến (1980). Ngữ pháp tiếng Việt: Câu. Hà Nội: ĐHTHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: ĐHTHCN
Năm: 1980
31. Nguyễn Vân Phổ (2011). Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt.Hồ Chí Minh: Nxb Đại học Quốc gia TP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Vân Phổ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP
Năm: 2011
32. Nguyễn Thị Quy (1995). Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó. Nxn KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nxn KHXH
Năm: 1995
33. Robins, H. R. (2012). Lược sử ngôn ngữ học. In lần thứ hai. Hoàng Văn Vân dịch. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử ngôn ngữ học
Tác giả: H. R. Robins
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
34. Bùi Minh Toán & Nguyễn Thị Lương (2007). Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: Nxb. Đại học sư phạm
Năm: 2007
35. Bùi Minh Toán & Nguyễn Ngọc San (1999). Tiếng Việt, tập 3. Hà Nội:Nxb. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, tập 3
Tác giả: Bùi Minh Toán, Nguyễn Ngọc San
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1999
36. Nguyễn Kim Thản (1963). Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt (Tập I). Hà Nội: Nxb Khoa Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt (Tập I)
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nxb Khoa Học
Năm: 1963
38. Nguyễn Kim Thản (1977). Động từ tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
Năm: 1977

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w