Nhờ thực hiện tốt các chính sách ASXH, thời gian qua các lĩnh vực xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong công tác giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, gi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN CHIỀU
HÀ NỘI, Năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 11
1.1 Khái quát chung về chính sách an sinh xã hội 11 1.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách an sinh xã hội 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH
XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 31
2.1 Giới thiệu khái quát và nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 31 2.2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng hiện nay 35 2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 66
3.1 Dự báo những nhân tố ảnh hưởng và quan điểm thực hiện chính sách
an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 66 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay 71
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm Y tế HĐND Hội đồng nhân dân KT-XH Kinh tế - xã hội MTTQ Mặt trận tổ quốc UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số người tham gia BHYT từ năm 2010 đến năm 2016 44 Bảng 2.2 Các đối tượng được cấp thẻ BHYT theo lĩnh vực ASXH 45 Bảng 2.4.Nguồn lực tài chính thu, chi trong lĩnh vực BHXH và BHYT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2013 đến năm 2017 53 Bảng 2.5 Kinh phí chi ngân sách Trung ương chi cho ưu đãi người có công tại thành phố Đà Nẵng 54 Bảng 2.6 Tổng nguồn lực thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2013-2017 55
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo ASXH là một trong những hệ thống chương trình, chính sách quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH của quốc gia.Hệ thống ASXH là một bộ phận quan trọng cấu thành của chính sách xã hội, đặc biệt nó nằm trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ cụ thể Nhờ thực hiện tốt các chính sách ASXH, thời gian qua các lĩnh vực xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong công tác giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, người có công được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội.[14]
Đối với thành phố Đà Nẵng, Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm KT-XH lớn của miền Trung Trong thời gian qua, Thành phố Đà Nẵng đặt quyết tâm phát triển hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, phù hợp với một thành phố đáng sống, tại một quốc gia có thu nhập trung bình và với các chuẩn mực quốc tế, đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản, tối thiểu của con người có thể được tiếp cận, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” khẳng định: Đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp,
Trang 7và chính sách pháp luật của Nhà nước, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chủ trương, chính sách gắn các chương trình phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội của thành phố
Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã khẳng định: Trong thời gian tới việc phát triển văn hóa, giáo dục và các vấn
đề xã hội phải tương xứng với vị thế trung tâm kinh tế xã hội của khu vực Miền Trung; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân và tiếp tục đầu tư hạ tầng cho ngành y tế Phấn đấu đến năm 2020, toàn dân tham gia BHYT trên địa bàn thành phố.Với việc phát động các chương trình, các phong trong nổi bật như: “Thành phố 3 có”,“Thành phố 5 không” gắn các chương trình, dự án này với hệ thống ASXH thành phố ở mọi cấp ngành Trong giai đoạn 2014-2018, với những định hướng mục tiêu về chương trình ASXH, thành phố đã tập trung chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội, hộ nghèo Mục tiêu “không có hộ đặc biệt nghèo” cơ bản được hoàn thành.Tính đến hết tháng 12/2017 thì trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng đã có 990.573 người tham gia BHYT và theo quy định mới về chuẩn nghèo 2015 hiện nay trên địa bàn thành phố còn khoảng 6.594 hộ nghèo cần được quan tâm Bên cạnh đó, trên địa bàn thành phố có hơn 27.000 gia đình
có công với Cách mạng luôn được thành phố và xã hội quan tâm [33]
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực ASXH của thành phố Đà Nẵng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cụ thể như: Quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là việc thu hút các dự án đầu tư lớn đã dẫn đến việc mở rộng
Trang 83
và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ Chính vì vậy, hoạt động này đãthu hút số lượng lớn người lao động từ các địa phương khác đến cư trú và làm việc, trong đó không ít những lao động tự do, không có nơi ở ổn định đã tạo
ra một nhóm người lớn là đối tượng của chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp,
hu vui chơi giải trí… kèm với nó là quá trình thu hồi đất của người dân, dẫn đến một lượng người lớn trong thời gian ngắn chưa có nghề nghiệp nhưng lại
có tài sản lớn, điều này cũng tạo ra những nhóm đối tượng của chính sách ASXH.Với vị thế là một trong những trung tâm giáo dục của cả nước, Đà Nẵng thu hút một lượng lớn học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu tại các nơi về đây Điều này sẽ làm cho hệ thống y tế và hệ thống giáo dục của thành phố phát triển và có thêm những gánh nặng nhất định
Phát triển hệ thống ASXH hội cũng như thực hiện chính sách ASXH là chủ chương đúng đắn của Đảng và Nhà nước góp phần đảm bảo thu nhập cho người khó khăn và giúp tạo ra một xã hội công bằng hơn Trên cơ sở tính cấp thiết của chính sách ASXH hội cũng như thực trạng những tồn tại hạn chế khi thực hiện chính sách này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả chọn đề tài
“Thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” để
làm luận văn cao học với mong muốn thông qua thực tiễn việc đánh giá những thành tựu, cũng như những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện, nhằm giúp cho cấp có thẩm quyền nhìn nhận bổ sung, hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH tại thành phố Đà Nẵng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hệ thống ASXH nói chúng, thực hiện chính sách ASXH không phải là vấn đề mới.Nhưng với sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng như quá trình hội nhập trong mọi lĩnh vực của nước ta, thì việc nghiên cứu này luôn nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhà khoa học Dưới đây, tác giả giới
Trang 94
thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Giáo trình và sách chuyên khảo
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn,
Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu (2013), với tác phẩm“Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020”, thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Việt Nam đã giới thiệu những vấn đề chung về ASXH như quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước, lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống chính sách ASXH Đồng thời, nhóm tác giả cũng giới thiệu một số mô hình ASXH trên thế giới, quan điểm của Việt Nam,các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 15-NQ/TW liên quan đến thực hiện ASXH, các kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế của chính sách ASXH hiện hành, cũng như các định hướng chính sách cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 đã được tác giả đề cấp
và giới thiệu đến người đọc [20]
Cuốn sách “Lý thuyết và mô hình ASXH” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
nội năm 2009) của Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vận động, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH, đồng thời phân tích ASXH nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong an sinh xă hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai [27]
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (2000), với công trình khoa học
“Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề lý luận cấp bách”, trong quá trình nghiên cứu
tác giả đã chỉ ra một số vấn đề có liên quan đến chính sách xã hội nói chung,
là cơ sở qua trọng cho chính sách ASXH như: các Quy luật vận động, phát triển và tiến bộ mang tính khách quan của xã hội hiện nay; những quan niệm
về tiến bộ xã hội trước thời kỳ Mác và quan điểm của các tác giả C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về tiến bộ xã hội là những quan điểm, kim chỉ nan cho sự hoàn thiện chính sách ASXH của Việt Nam; một số quan
Trang 105
điểm hiện đại về tiến bộ xã hội cũng được tác giả giới thiệu tới người đọc,
Ngoài ra, khi nghiên cứu về ASXH còn nhiều nhà khoa học, nhà nghiên
cứu đã có những bài viết, công trình nghiên cứu như: “Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2020”,NXB chính trị Quốc gia (năm 2013); PGS.TS, Mai Ngọc Cường chủ biên, “Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm CHLB Đức và thực tiễn Việt Nam”, NXB lý luận chính trị, Hà nội 2006…“Giáo trình nhập môn về an sinh xã hội” của Nguyễn Hải Hữu; “Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Hải Hữu; “Giáo trình Luật an sinh xã hội” của Nguyễn Thị Kim Phụng “Giáo trình ưu đãi xã hội” của
Trường Đại học Lao động; “Giáo trình Cứu trợ xã hội” của Trường Đại học
Lao động “Giáo trình Bảo hiểm xã hội” của Trường Đại học Kinh tế quốc
dân
- Luận án, luận văn và đề tài nghiên cứu khoa học
Luận án tiến sĩ Chính trị học của tác giả Lê Anh, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh “Thực thi chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, trong phạm vi luận án này, tác giả tập trung
đề cập đến những thành tựu trong thực hiện chính sách ASXH từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng; nêu ra những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian
Trang 11Đề tài“Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” của
Nguyễn Thị Lan Hương - Viện khoa học Lao động và xã hội Đề tài đưa ra những vấn đề chung của ASXH, nguyên tắc xây dựng hệ thống ASXH, nhìn nhận đánh giá tình hình thực hiện chính sách ASXH ở nước ta trong thời gian qua Đặc biệt đề tài đã đưa ra các mô hình hệ thống ASXH của một số nước trên thế giới để từ đó người đọc có thể so sách đối với mô hình ASXH ở Việt Nam và từ đó có thể nhận thấy những nét đặc thù riêng biệt trong hệ thống ASXH ở nước ta Ngoài ra, đề tài còn đưa ra những nhận định, mục tiêu phương hướng thực hiện các chính sách ASXH ở nước ta đến năm 2020, để người đọc có thể “hình dung” quá trình thực hiện ASXH trong thời gian tới,
có thêm thế giới quan sinh động về ASXH nói chung và ASXH ở Việt Nam [21]
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về chính sách công, chính sách xã
hội đã đề cập đến khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; Cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; Hoạch định chính sách công;
Tổ chức thực thi chính sách công; Phân tích chính sách công; Đánh giá chính sách công; Tổ chức công tác phân tích chính sách công - quy trình phân tích chính sách công, Nội dung và phương pháp phân tích chính sách công, Truyền đạt kết quả phân tích chính sách công Chính sách xã hội và vai trò của chính sách xã hội khi phân tích và làm rõ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên một địa bàn cụ thể: Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 127
trong hệ thống các chính sách tại Việt Nam, là mục tiêu, là động lực để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong mọi giai đoạn phát triển; chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh
tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tến của đất nước, địa phương, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ Những nghiên cứu này là tài liệu tham khảo để tác giả luận chứng, làm rõ những nội dung cơ bản của vấn đề chính sách công, chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng
Thứ hai, các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và
ngoài nước về chính sách xã hội nói chung, chính sách ASXH nói riêng, hệ thống chính sách ASXH đã trình bày những vấn đề cơ bản mà tác giả luận văn có teher tham khảo, học tập như: Lý luận cơ bản về chính sách ASXH, hệ thống các vấn đề ASXH và kinh nghiệm một số nước, vai trò của Nhà nước, cộng đồng và nhân dân trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay, thực trạng hệ thống và việc thực thi chính sách ASXH ở nước ta hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về ASXH ở thành phố Đà Nẵng nói
riêng đi sâu vào việc nghiên cứu từng mảng riêng lẻ trong nội dung cơ bản của
hệ thống ASXH như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; chính sách bảo trợ xã hội, ưu đãi người có công, thương bệnh binh, gia đình chính sách; dạy nghề và giải quyết việc làm; xóa đói giảm nghèo, nhà ở xã hội và nhà ở thu nhập thấp… Các kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quý giá, để từ đó tác giả có cái nhìn tổng quan trong việc phân tích thực trạng chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn có sự kế thừa hệ thống các lý luận về hệ thống ASXH, chính
Trang 138
sách ASXH, thực hiện chính sách ASXH… qua đó phát triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để phân tích và làm rõ thực trạng thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính sách ASXH; phân tích thực trạng thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng trong
thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ASXH;
Thứ hai, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ASXH; nêu rõ những
thành tựu và hạn chế, bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH
ở thành phố Đà Nẵng;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác thực hiện chính sách
ASXH ở thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài chỉ giới hạn phạm vinội dung thực hiện chính sách
trong chu trình chính sách công và đánh giá việc thực hiện chính sách Vấn đề ASXH có nội hàm rất rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nên tác giả chỉ nghiên cứu về thực hiện chính sách ASXH ở các nộidung: chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, thương bệnh binh, gia đình
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp thu thập dữ liệu: Đề tài thu thập các dữ liệu từ
các báo cáo của Thành phố, của các tổ chức, các sách chuyên khảo, đề tài,
luận án, luận văn, bài báo khoa học…
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu có sẵn liên quan đến
đề tài như: Văn kiện, báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có…
Thứ ba, phương pháp so sánh: Số liệu và chỉ tiêu sẽ được phân nhóm
và so sánh nhằm chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế về kết quả thực hiện
Thứ tư, phương pháp thống kê mô tả: phương pháp nghiên cứu này
giúp cho tác giả luận văn tổng hợp và phân tích thống kê các tài liệu về thực trạng công tác thực hiện chính sách ASXH các địa phương và của thành phố
Đà Nẵng Trên cơ sở việc tổng hợp, phân tích và sử dụng các số liệu thống kê
mô tả mà có nhận thức đầy đủ, chính xác công tác quản lý nhà nước về vấn đề
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn, bên cạnh phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo và các phụ lục luận văn được xây dựngthành03 chương:
Chương 1.Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách an sinh xãhội;
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách ASXH trên địa bànthành
phố Đà Nẵng;
Chương 3.Giải pháp thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng
Trang 1611
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI
1.1 Khái quát chung về chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm chính sách an sinh xã hội
ASXH là khái niệm được ra đời từ cuối thế kỷ XIX ở các nước công nghiệp phát triển và hiện nay đã phát triển rộng khắp trên toàn cầu
Tác giả Franklin D Roosevelt (1953), thì Chính phủ cần thiết lập một
hệ thống chuyển khoản để người lao động, người trẻ có thể trợ giúp người già, người về hưu và nhữngngười gặp phải các rủi ro khác như thất nghiệp, khuyết tật, nghèo, tử vong
Ở Việt Nam, lĩnh vực ASXH được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm, qua đó khái niệm về ASXH được các tác giả đưa ra gắn liền với thực hiện chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng, an sinh xã hội được quan niệm: ASXH là một hệ thống chính sách của Nhà nước và là các giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân, người gặp khó khăn trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân [26, tr.15]
Trong “Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: “ASXH là
sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” [10]
Có nhiều cách tiếp cận để phân tích hệ thống cấu trúc của ASXH, tùy
Trang 1712
thuộc vào mục đích, phương pháp tiến cận nghiên cứu để đưa ra được những cấu trúc khác nhau:
Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro xã hội cho
các đối tượng đặc biệt của xã hội Đây là nền tảng trên cùng của hệ thống ASXH, gồm những chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạonghề, hỗ trợ tìm việc hoặc tự tạo việc làm và đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động
Thứ hai, những chính sách, chương trình ASXH giúp giảm thiểu rủi ro,
gồm các chiến lược giảm thiểu thiêt hại do rủi ro của hệ thống ASXH, các hình thực biểu hiện của chính sách này là các loại hình bảo hiểm như BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp… Các loại hình bảo hiểm này giúp các đối tượng
có thể hưởng những chế độ cơ bản nhất của chính sách an sinh xã hội trong trường hợp gặp những rủi ro của cuộc sống
Thứ ba, những chính sách, chương trình của hệ thống ASXH hiện nay
cần khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách về cựu trợ, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH của các quốc gia với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên yếu thế của xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo… [26] [8]
Các chính sách xã hội cơ bản gồm chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; chính sách đối với các giới, chính sách an sinh xã hội…
Tác giả Nguyễn Văn Chiều, trong cuốn “Chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam”, đã đưa ra
quan niệm của mình về vấn đề này: Chính sách ASXH là những biện pháp
Trang 1813
bảo vệ của Nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách BHYT, BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội [9, tr.26]
Từ những quan niệm trên, trong phạm vi luận văn, chính sách ASXH
có thể hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa
1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội
Hệ thống chính sách ASXH là một trong những cấu phần, thành phần quan trọng trong chương trình, chính sách xã hội, và là bộ phận của phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, địa phương và là công cụ quản lý nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và chương trình ASXH.Chính sách ASXH có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, chính sáchASXH lấy con người làm trung tâm, coi quyền
con người, bảo vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra Con người vừa là động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội
[19, tr.132]
Thứ hai, ASXH vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối
tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hoà nhập vào cộng đồng Điều này được thể hiện rất rõ trong việc các cơ quan
Trang 1914
quản lý nhà nước, tổ chức xã hội đã hỗ trợ các đối tượng đặc biệt các kỹ năng sống, các kiến thức nghề nghiệp, tuyên truyền phổ biến thông qua các lớp ngoại khóa… giúp các đối tượng đặc biết hiểu rõ bản thân, không còn thiếu tự tin, dễ dàng hòa nhập vào với cuộc sống thông qua sự giúp đỡ của cộng đồng
Thứ ba, ASXH góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội Mục tiêu
cơ bản của ASXH là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia ASXH phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, ASXH còn phải
đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Thứ tư, ASXH thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp
đỡ nhau của cộng đồng Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta.Điều này thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, các cơ quan, tổ chức của nhà nước chủ trì các hoạt động hỗ trợ các đối tượng đặc biệt và thông qua các tổ chức này các tổ chức, cá nhân thiện nguyện có kênh để hỗ trợ, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn Bên cạnh
đó, việc hỗ trợ của cộng đồng còn thể hiện trong việc bao bọc, giúp đỡ trong cuộc sống hàng ngày… Hơn nữa, các hoạt động ASXH còn được xã hội hóa thông qua sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ, các nhóm thiện nguyện…
Thứ năm, ASXH góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người có công với nước, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa… Bằng luật pháp và các chính sách cụ thể khác, nhà nước có thể tạo ra cơ chế, hành lang pháp luật để thực
Trang 2015
hiện các sự chăm lo, hỗ trợ các đối tượng đặc biệt trong xã hội, như trẻ em, người già yếu, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, bà con vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn… Chẳng hạn, chính sách về y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội… Chính sách ASXH giúp Nhà nước thực hiện chức năng công bằng xã hội, giúp xóa đói giảm nghèo thông qua các chương trình trợ giúp đối với những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Hơn nữa, việc phân phối thu nhập này sẽ giúp một số đối tượng có khả năng phát huy năng lực bản thân và tiếp tục hòa nhập cộng đồng và đóng góp công sức của mình cho xã hội
1.1.3 Nội dung chính sách an sinh xã hội
Đối với nước ta, hệ thống ASXH được xác định gồm 04 trụ cột cơ bản
và là cơ sở quan trọng của chính sách ASXH:
Thứ nhất, chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo
Người yếu thế thông thường không có nhiều cơ hội tiếp cận được việc làm tốt, với thu nhập ổn định và điều kiện làm việc tốt Những nguyên nhân
cơ bản là trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém, ít thông tin về thị trường lao động, hạn chế về năng lực mặc cả, đàm phán Trong điều kiện hiện nay, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, biến động cung - cầu lao động trên thị trường lao động xảy ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ngày càng tăng
Do vậy, tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao và ổn định thông qua đào tạo nghề, vốn vay tạo việc làm, tiếp cận thông tin thị trường lao động để tìm được việc làm và nâng cao thu nhập là giải pháp xoá đói giảm nghèo, bảo đảm việc làm, hiệu quả và bền vững
Chính sách hỗ trợ việc làm bao gồm hệ thống luật pháp, các quy định, chương trình, đề án và các giải pháp phát triển thị trường lao động do nhà nước hoặc các tổ chức thực hiện nhằm chủ động hỗ trợ người lao động nâng cao cơ hội tìm việc làm, tham gia thị trường lao động để có thu nhập, từng
Trang 2116
bước bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo, thanh niên, lao động nông thôn và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác, cải thiện cuộc sống cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo và ổn định xã hội
Chính sách giảm nghèo có tính liên ngành, do vậy đa phần các chính sách đề cập trong 4 trụ cột cơ bản của an sinh xã hội ở các phần trên Phần này có tính chất khái quát để cung cấp thông tin về toàn bộ các chính sách đối với người nghèo
Ngày 19/5/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020 và ngày 8/10/2012 đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 với mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Giảm nghèo được thực hiện đồng thời trên các cấp độ: Người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo và huyện nghèo
Chính sách giảm nghèo bao gồm các chính sách: Chính sách hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo, hộ cận nghèo; Chính sách hỗ trợ xã nghèo, huyện nghèo;
Thứ hai, chính sách BHXH, BHYT
Bảo hiểm xã hội giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội và tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, đặc biệt bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, người dân phát huy tính chủ động, khả năng tự an sinh khi xảy ra các tác động bất lợi về kinh tế, xã hội, môi trường, sức khỏe và tuổi già
Hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành gồm 3 nhóm chính sách cơ bản: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiể m xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH.Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần
Trang 2217
thu nhập cho người lao động khi họ gặp rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và
gia đình họ góp phần đảm bảo ASXH” [18, tr.41]
BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia
sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
Thứ ba, chính sách trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội được gồm hai nhóm là trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt qua khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo
Trợ giúp xã hội thường xuyên: Thực hiện chăm sóc những người không
tự lo được cuộc sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng; Thực hiện hỗ trợ tiền mặt cho đối tượngcó hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng
và nhân dân giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác về kinh tế nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt qua khó khăn sớm ổn định sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị
Trang 2318
rơi xuống nghèo khổ
Thứ tư, chính sách dịch vụ xã hội cơ bản
Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn dân là một trong những mục tiêu quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam Các dịch vụ xã hội, dịch vụ công cơ bản bao gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin được quan tâm đúng mực
Chính phủ là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân, người nghèo, người có công, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn có trình độ giáo dục tối thiểu, tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời, đặc biệt trong Cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay
Ốm đau, bệnh tật là một trong những rủi ro thường gặp nhất của con người, đặc biệt là những người thuộc nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo, người dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, trẻ
em, phụ nữ).Mặt khác, việc khó tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, y tế công làm tăng gánh nặng y tế của người yếu thế Do vậy, chămsóc sức khoẻ ban đầu cho người dân thông qua phát triển hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân có vai trò rất quan trọng
Đa số người nghèo, người có thu nhập thấp không có khả năng để có nhà ở ổn định mà phải cần sự hỗ trợ của Nhà nước về đất ở, tài chính Đảm bảo quyền có nhà ở cho các đối tượng này góp phần ổn định cuộc sống, phát triển đô thị, nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại Thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện điều kiện về vật chất và tinh thần ở cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có thu nhập thấp hiện nay ở cả đô thị và nông thôn; từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp,
Trang 24Đa số người nghèo, vùng nghèo hạn chế trong tiếp cận thông tin, truyền thông; Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền được thông tin của người dân tăng cường nhận thức, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.Đảm bảo cho người dân ở mọi vùng miền được thông tin kịp thời về các chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm rút ngắn khoảng cách về thông tin giữa các vùng, miền; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo
Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội được phân tách theo các tiêu chí sau: Phân theo đối tượng trực tiếp hay gián tiếp: chính sách ưu đãi xã hội hướng tới cả đối tượng trực tiếp tham gia cách mạng, đồng thời với đối tượng
là thân nhân của những người có công với cách mạng
Việc xem xét theo nhóm đối tượng với những tiêu chí khác nhau là cơ
sở để xác định cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội một cách phù hợp đạo lý và nguyên tắc công bằng xã hội
1.1.4 Nguyên tắc đảm bảo an sinh xã hội
Vận dụng kinh nghiệm của các nước và điều kiện cụ thể của Việt Nam,
Trang 2520
việc xây dựng và phát triển hệ thống ASXH của Việt Nam dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc toàn diện
Chính sách ASXH phải đảm bảo tính xã hội, nó không loại trừ bất kỳ một đối tượng xã hội nào năm trong diện cần được giúp đỡ.Việc xây dựng và thực hiện chính sách cần có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân
Thứ hai, nguyên tắc đối xử công bằng
Hoạt động đảm bảo các chế độ cần dựa trên hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn, được định tính, định lượng rõ ràng, minh bạch và về nguyên tắc các đối tượng thuộc cùng hệ phải được đối xử ngang nhau
Thứ tư, nguyên tắc phân luồng
Việc quy định và thực hiện các chính sách ASXH phải được đặt vào từng kênh cụ thể trên cơ sở phân loại Sự phân biệt rõ rệt các đối tượng là vấn
đề có tính nguyên tắc, bởi lẽ những đặc điểm căn bản của các đối tượng xã hội sẽ quyết định chính sách sẽ áp dụng
Thứ năm, nguyên tắc định mức đảm bảo
Việc xây dựng và thực hiện các chính sách ASXH phải trên cơ sở các định mức xác định.Các định mức phải đảm bảo được thiết lập thống nhất, dựa trên đặc điểm của từng đối tượng (sự cống hiến, nhu cầu…) và khả năng đảm bảo Định mức đảm bảo vừa mang tính nhân văn vừa mạng tính hiện thực – tức là nó tạo lên ấn tượng và tác dụng xã hội - con người đối với các đối tượng chính sách Mặt khác, phải đảm bảo có tính thiết thực đối với đời sống
Trang 2621
của họ
Thứ sáu, nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý
Nhà nước có đầy đủ các điều kiện và tốt nhất để thực hiện các chính sách ASXH.Nhà nước là đại diện lớn nhất của xã hội, có sức mạnh toàn diện
để thực hiện các mục tiêu của chính sách ASXH
Thứ bảy, nguyên tắc pháp chế
ASXH là hình thức tổ chức mang tính cộng đồng xã hội, xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu của các thành viên trong xã hội nhưng do Nhà nước đứng ra tổ chức nhằm thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Chính vì vậy, Nhà nước sẽ không buông lỏng quản lý đối với lĩnh vực ASXH.Trong các biện pháp và công cụ quản lý của Nhà nước thì một trong những công cụ hữu hiệu và nghiêm minh nhất là pháp luật
Như vậy, ASXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng, mức ASXH nhằm trợ giúp bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho những người thụ hưởng
1.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách an sinh xã hội
Để hiểu rõ về việc thực hiện chính sách ASXH, đề tài luận văn phân tích và làm rõ hơn về chu trình chính sách:
Chu trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển các giai đoạn
từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội, gồm 03 giai đoạn: Hoạch định chính sách,thực thi chính sách
và đánh giá chính sách Thực hiện chính sách là giai đoạn thực hiện các mục tiêu của chính sách công trên thực tế tại từng địa bàn cụ thể
Thực hiện chính sách ASXH là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể (Chủ thể thực hiện và chủ thể thụ hưởng chính sách ASXH) theo các cách thức, phương pháp khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công
Trang 2722
một các hiệu quả vào thực tiễn tại những địa phương cụ thể
1.2.2 Chủ thể thực hiện chính sách an sinh xã hội
Nhà nước là chủ thể ban hành cũng là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực thi chính sách ASXH nó thể hiện trong việc Quốc hội xây dựng, ban hành pháp luật, Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai các quy định về thực hiện chính sách ASXH, các Bộ (chính sách quốc gia), chính quyền địa phương các cấp (chính sách địa phương) Hệ thống
tổ chức bộ máy hoạt động quản lý Nhà nước về chính sách ASXH và thực hiện chính sách ASXH được tổ chức triển khai trên phạm vi cả nước từ Trung ương đến địa phương tương ứng với hệ thống các cấp hành chính bao gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (quận, thị xã), xã (phường, thị trấn) do Chính phủ và UBND các cấp quản lý, chỉ đạo, điều hành; đồng thời do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh (thành phố) đến cơ sở chủ trì thực hiện, cụ thể:
Ở Trung ương: Cấp quản lý, chỉ đạo, điều hành là Chính phủ; cơ quan chuyên môn là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bao gồm 24 đơn vị trực thuộc: Các Vụ, các Cục, Tổng cục, Trung tâm, các Viện, Tạp chí và các Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Lao động - Thương binh
Cấp huyện (quận, thị xã): Chủ thể lãnh đạo, quản lý, điều hành việc thực hiện chính sách ASXH là UBND cấp huyện; Phòng Lao động - Thương
Trang 28và Xã hội của phường trực tiếp thực hiện
Hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện chính sách ASXH hoạt động thống nhất từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo tính chặt chẽ, thường xuyên, liên tục.Ngoài ra các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị -
xã hội, các tổ chức xã hội (tình nguyện, thiện nguyện ) và cộng đồng dân cư cũng đóng vai trò quan trọng trong trong việc góp phần thực hiện chính sách ASXH
1.2.3 Các yêu cầu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội
Thứ nhất, yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách ASXH trong quá
trình triển khai các nội của chính sách ASXH trong thực tiễn tại từng địa phương, khu vực
Thực hiện chính sách ASXH là một bộ phận củ chu trình chính sách ASXH chính vì thể việc xây dựng chính sách ASXH và thực hiện chính sách trong thực tế có mối liên hệ mật thiết, thể hiện rõ nhất trong việc quá trình thực hiện cần thực hiện đúng các mục tiêu, yêu cầu của chính sách ASXH đề
ra ban đầu, giúp chính sách đi đúng hướng theo chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về ASXH
Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính hệ thống trong thực hiện chính sách
ASXH trong quá trình triển khai các nội của chính sách ASXH trong thực tiễn tại từng địa phương, khu vực
Quá trình thực hiện chính sách cần gắn chặt với quá trình khác trong chu trình chính sách để tạo thành một thể thống nhất Và bản thân quá trình thực
Trang 2924
hiện chính sách cũng bao gồm nhiều bước và công việc khác nhau cần phải thực hiện một cách có hệ thống
Thứ ba, yêu cầu bảo đảm yêu cầu khoa học và pháp lý trong tổ chức
thực thi chính sách ASXH trong quá trình triển khai các nội của chính sách ASXH trong thực tiễn tại từng địa phương, khu vực Thực hiện các chính sách
về cải thiện và hiện đại hóa nền hành chính nói chũng và bộ máy hành chính trong thực hiện chính sách ASXH nói riêng
Thứ tư, yêu cầu bảo đảm hài hòa lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ
hưởng chính sách ASXH trong quá trình triển khai các nội của chính sách ASXH trong thực tiễn tại từng địa phương, khu vực
Các yêu cầu này rất quan trọng và cần thiết trong thực hiện chính sách, đây là đích cuối cùng của toàn bộ quá trình thực hiện chính sách ASXH tại một địa phương cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện đúng và phù hợp
1.2.4 Các bước thực hiện chính sách an sinh xã hội
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ASXH
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống nhằm có cái nhìn tồng quát nhất đế toàn bộ quá trình tổ chức, triển khai Để thực hiện chính sách một cách hiệu quả, các chủ thế chính sách và chủ thể thực hiện chính sách cần phải tiến hành xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách ASXH một cách khoa học, chi tiết, cụ thể, rõ ràng
và phù hợp với mục tiêu chính sách từ kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực để thực hiện, kế hoạch kiểm tra, thanh tra, giám sát, đôn đốc thực hiện chính sách… Qua đó là cơ sở để quá trình thực hiện chính sách được diễn ra hiệu quả
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính sách đã được thông qua Các chủ thể thực hiện sẽ sử dụng các hình thức, phương pháp phù hợp nhất với
Trang 3025
điều kiện hoàn cảnh của từng địa phương để triển khai các nội dung tuyên truyền về chính sách ASXH Các đối tượng tiếp nhận thành quả của chính sách thuộc nhiều tầng lớp khác nhau và đối với chính sách ASXH thì có người già, người khuyết tật, trẻ mồ côi, người lao động nghèo… nên các nội dung và hình thức tuyên truyền phải phù hợp để dễ dàng tiếp nhận
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Để triển khai được các chính sách ASXH vào cuộc sống, các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ thể thực hiện chính sách phải phối hợp với nhau trên
cơ sở các nhiệm vụ được phân công, đây là cơ sở quan trọng để đánh giá được hiệu quả thực hiện chính sách
Bước 4: Duy trì chính sách ASXH
Duy trì chính sách ASXH: đây là bước làm cho chính sách tồn tại được
và phát huy tác dụng của nó trong môi trường thực tế, để làm được điều này thì Nhà nước cần tiếp tục duy trì những chính sách hiệu quả, phù hợp với bối cảnh của đất nước, đặc biệt là chính sách ASXH Đối với việc duy trì chính sách ASXH thì Nhà nước cần căn cứ vào hoàn cảnh, bối cảnh và sự phát triển của đất nước nhằm tiếp triển khai hoạt động duy trì các chính sách cần thiết nhất
Bước 5: Điều chỉnh, bổ sung chính sách ASXH
Điều chỉnh chính sách ASXH, việc làm này là cần thiết, diễn ra thường xuyên và liên tục trong quá trình tổ chức thực thi chính sách khi có sự biến động của hoàn cảnh, sự thay đổi trong chính sách kinh tế - xã hội của đất nước Bên cạnh đó, Nhà nước cần điều chỉnh các chính sách ASXH cho phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế về hệ thống an sinh xã hội của đất nước Việc điều chỉnh chsinh sách cần có sự tham gia của tất cả các chủ thể, đối tượng và những bên liên quan đến chính sách ASXH nhằm thực hiện đúng mục tiêu của chính sách mà không đi lệch khỏi định hướng ban đầu
Trang 3126
Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sáchASXH
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ASXH: Bất cứ hoạt động triển khai chính sách ASXH nào thì cũng cần phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng, và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực mà Nhà nước và cộng đồng huy động phục vụ các nội dung của vấn đề ASXH tại một địa phương hoặc trên toàn quốc Việc thực hiện công tác này cần phải phân công rõ ràng cho người có đủ thẩm quyền và năng lực kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách ASXH
Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm: khâu này được tiến hành liên tục trong thời gian triển khai chính sách ASXH trên địa bàn cụ thể nhằm rút ra được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân để các chủ thể có thể nhìn nhận được để đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm điều chỉnh nhánh chóng các nội dung của chính sách cho phù hợp với điều kiện của hệ thống ASXH Việt Nam Ở việc đánh giá này phải tiến hành đối với cả các cơ quan nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội
(1) Các yếu tố chủ quan
Quá trình tổ chức thực thi chính sách ASXH diễn ra trong thời gian dàivà có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế việc tổ chức thực thi chính sách ASXH cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể kể đến như sau:
Thể chế chính sách về ASXH: thể chế chính sách là một trong những trụ
cột của hệ thống ASXH Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều biến động về kinh tế trong nước và quốc tế, nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, đặt nhiệm vụ phát triển dân sinh trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm
Trang 3227
phúc lợi xã hội và an sinh xã hội Quan tâm đầu tư cho vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, theo đó nhiều chính sách về an sinh xã hội được ban hành Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều biến động về kinh tế trong nước
và quốc tế, nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, đặt nhiệm vụ phát triển dân sinh trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh
tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh
xã hội; quan tâm đầu tư cho vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, theo đó nhiều chính sách về an sinh xã hội được ban hành Về việc giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các cộng đồng dân cư, Việt Nam là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, nhận được những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế Dù còn có những hạn chế và bất cập so với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, nhưng kết quả mà Việt Nam đạt được là những minh chứng về những tiến bộ đáng kể thực hiện an sinh xã hội
Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ: Bảo đảm an sinh xã hội gắn với tiến
bộ và phát triển xã hội, với thành tựu phát triển kinh tế trong bối cảnh kinh tế thị trường Các chương trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia đã thu được những kết quả rất tốt đẹp Về việc giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện các chính sách ASXH cho các cộng đồng dân cư, Việt Nam
là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, nhận được những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế
Nguồn lực tài chính: đầu tư của Nhà nước cho ASXH ngày càng tăng
Nếu như năm 2012 tổng chi cho ASXH bằng 5,88% GDP thì đến năm 2015 con số này tăng lên khoảng trên 6,6% GDP, thực hiện hiệu quả các chính sách
Trang 3328
xã hội từ nhiều nguồn lực trong đó các nguồn lực chính là nguồn lực Nhà nước, nguồn lực từ bên ngoài (như nguồn ODA, các chương trình viện trợ không hoàn lại của nước ngoài), nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp, tổ chức và nguồn lực từ trong nhân dân Đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chính sách ASXH Nguồn lực xác định cơ chế thực hiện đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của Nhà nước); cơ chế cân đối thu - chi, đầu tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế
và chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH cho các đối tượng trong xã hội Việc
bố trí, phân bổ nguồn tài chính cho các nội dung triển khai chính sách ASXH tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương, quốc gia
(2) Các yếu tố khách quan
Về môi trường tự nhiên: các yếu tố vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, tài
nguyên khoáng sản, biến đổi khí hậu, như mưa bão, lũ lụt thường xuyên, nước biển dâng có ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện các chính sách ASXH Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, nó trở thành nguồn lực, còn điều kiện tự nhiên có nhiều khắc nghiệt, nó trở thành nhân tố gây cản trở quá trình thực hiện các chính sách ASXH Tuy vậy, theo tôi môi trường tự nhiên không mang tính quyết định đến việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, ASXH nói riêng, mà nó chỉ mang ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình thực hiện Đồng thời, chúng ta có thể tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên thuận lợi
và cũng có thể hạn chế được những tác động mà ảnh hưởng của tự nhiên mang đến trong việc phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống của
người dân
Về môi trường kinh tế, xã hội: các yếu tố thuộc môi trường này có tác
động rất lớn trong việc thực hiện chính sách ASXH Trong giai đoạn từ năm
2014 đến nay, do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng
Trang 3429
trưởng GDP của Việt Nam giảm từ trên 8% (năm 2008) xuống còn khoảng 6,2% (năm 2016), khả năng huy động ngân sách cho ASXH gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, từ năm 2012, Việt Nam đã bước vào ngưỡng thu nhập trung bình, nên các tài trợ quốc tế không hoàn lại bị cắt giảm đáng kể Việt Nam lại thuộc nhóm nước Đông Nam Á chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, như mưa bão, lũ lụt thường xuyên, nước biển dâng,… gây thiệt hại mỗi năm khoảng trên 1% GDP Xu hướng già hóa dân số nhanh hơn dự kiến đặt ra những thách thức về chi phí liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
và chính sách ASXH Hệ thống chính sách ASXH hiện hành còn phân tán, manh mún, thiếu sự gắn kết, chưa khuyến khích người dân tích cực tham gia Tình hình trên đã và đang đặt ra những thách thức đối với việc bảo đảm ASXH ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế
giới và nước ta đang thực hiện tái cấu trúc mô hình tăng trưởng
Nhận thức của xã hội và người dân: trách nhiệm tổ chức tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về BHXH, BHYT trước hết thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi chính sách Song, bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cũng góp phần rất quan trọng trong việc tuyên truyền, giám sát, định hướng dư luận Tuyên truyền phải phản ánh đúng sự thật, đúng bản chất Báo chí không chỉ tuyên truyền màu hồng, mà còn phản ánh những góc khuất, những bất cập trong chính sách Chưa bao giờ công tác tuyên truyền về BHXH, BHYT lại mạnh mẽ như hiện nay Song, tuyên truyền có rộng, có sâu, nhưng chưa “đi tận ngõ, gõ tận nhà” Tuyên truyền phải làm sao để người dân hiểu rõ chính sách; phải đả thông tư tưởng, chứ đừng để có chuyện như người
dân nói là gửi tiền tiết kiệm tốt hơn tham gia BHXH
Trang 3530
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các lý luận liên quan đến thực hiện chính sách ASXH của Việt Nam, các khái niệm về ASXH, chính sách công, chính sách ASXH; vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách ASXH trong phát triển KT-XH
Phân tích cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ASXH cụ thể hóa bằng
07 bước, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ASXH có mối quan
hệ trong triển khai chính sách.Kết quả nghiên cứu của chương 1 có thể khẳng định chính sách ASXH có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực
để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội; chính sách ASXH phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và các chính sách khác và thực hiện đồng bộ với phát triển KT- XH, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ của đất nước của từng địa phương Những kết quả này sẽ giúp tác giả phân tích và làm rõ thực trạng thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tại chương
2 của luận văn
Trang 3631
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
2.1 Giới thiệu khái quát và nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
* Điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng có vị trí địa lý đặc biệt tại thuộc vùng trung Trung bộ có nhiều thuận lợi trong giao thương và phát triển KT-XH, phía Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam (Đà Nẵng tách ra từ tỉnh Quảng Nam), phía Đông giáp biển với nhiều khu du lịch nổi tiếng Hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 8 đơn vị hành chính với 06 quận và 02 huyện (Trong đó có huyện đảo Hoàng Sa) với 45 phường và 11 xã
Đà Nẵng có tổng diện tích tự nhiên là1.285,43km2và có tổng dân số
là 1.011.803 người Đà Nẵng có những ưu thếvề vị trí địa lý, tự nhiên và giao thông hết sức thuận lợi, nó chính là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện cho thành phố phát huy nội lực đểphát triển kinh tế và thực hiện tốt các chính sách ASXH nói riêng và các chính sách khác nói chung
* Điều kiện kinh tế
Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013-
2017 (GRDP, giá so sánh 2013) tăng 8,77%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước thể hiện sự vào cuộc của mọi thành phần của Đà Nẵng, đến GDP của thành phố năm 2017 đạt 45.885 tỷ đồng, bằng 1,5 lần năm 2013; Thu nhập bình quân đầu người được nâng lên rõ rệt, đến năm 2017 đạt 62,65 triệu đồng, tương đương 2.908 USD, năm sau cao hơn năm trước, gần bằng hai lần năm 2013; cơ cấu công nghiệp - dịch vụ và nông lâm, ngư nghiệp tiếp tục chuyển
Trang 37tư trong nước với tổng mức đầu tư 6.340,6 tỷ đồng; cấp mới giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tăng 8,6% và tăng 6,2% về vốn; thu hút đầu tư nước ngoài được 117 dự án mới với tổng vốn 153,6 triệu USD, tăng 2 lần so với năm 2017 Đà Nẵng cũng sẽ trở thành trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế; thành phố cảng biển, đô thị biển quốc tế với vị trí là hạt nhân của chuỗi đô thị và cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên; trở thành đô thị sinh thái, hiện đại và thông minh, thành phố đáng sống, có tổ chức đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, chính quyền tiên phong trong đổi mới và phát triển, người dân có mức sống thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước với chất lượng cuộc sống tốt, thân thiện, hạnh phúc và sáng tạo; quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc
Về các chỉ tiêu cụ thể, giai đoạn 2021 – 2030 tốc độ tăng bình quân GRDP trên 12%/năm; dịch vụ 12,5 - 13,5%/năm; công nghiệp 11,5 - 12,5%/năm; nông nghiệp 4 - 5%/năm Các lĩnh vực công nghệ cao đóng góp hơn 10% tổng sản phẩm trên địa bàn của thành phố Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2% của cả nước Thu ngân sách trên địa bàn tăng trên 15%/năm
* Điều kiện xã hội
Những thành tựu về kinh tế là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển xã hội của Đà Nẵng trên mọi phương diện từ văn hóa, giáo dục, việc làm và các chương trình ASXH Toàn thành phố đã không còn hộ đói, số hộ nghèo theo chuẩn mới đã giảm đáng kể Công tác xóa mù chữ được phổ biến đến tận xóm, làng, tổ dân phố, từng khu dân cư Đến nay trên địa bàn thành phố
Trang 3833
không còn nạn lang thang, xin ăn, môi trường đô thị, môi trường du lịch được cải thiện Theo đó, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết, Đà Nẵng đã có bước phát triển mạnh mẽ, được xem là thành phố đáng sống, là hình ảnh một trong những địa phương tiên phong trong quyết liệt cải cách và năng động phát triển, ngày càng khẳng định là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung Kinh tế Đà Nẵng tăng trưởng tương đối nhanh cả về quy mô và tốc độ, làm gia tăng nhanh nguồn thu ngân sách, tăng thu nhập bình quân đầu người Cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch theo hướng hiện đại Diện mạo đô thị thay đổi nhanh chóng, không gian phát triển đô thị được mở rộng gấp 4 lần so với năm
2003 Đà Nẵng cũng đã thu hút được nhiều nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển Bên cạnh những kết quả đạt được như trên thì các chính sách KT-XH nói chung và chính sách ASXH nói riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.2 Nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Sau khi các chương trình ASXH được ban hành, UBND thành phốtổ chức hội nghị triển khai, quán triệt đến toàn thể các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, các sở ban ngành, cơ quan chuyên môn từ thành phố đến cơ sở, các đơn vị liên quan đến thực hiện chính sách ASXH; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc xây dựng kế khoạch triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện từng địa phương, đơn vị
Dự báo trong giai đoạn tới nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2018-2020 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt khoảng 6,7-7,47%/năm Đây là mức khá cao so với trung bình các nước trong khu vực và GDP Việt Nam sẽ đạt khoảng 300 tỷ USD vào năm 2020 Với mức dự báo và mục tiêu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng cao như vậy thì những mục tiêu về an sinh xã hội cũng đặt ra những thách thức cần đạt được
Những vấn đề đặt ra đối với các trụ cột của ASXH ví dụ như với chuẩn
Trang 3934
nghèo đói đa chiều thì những nhu cầu tối thiểu của người dân sẽ được nâng cao hơn, với các chuẩn mực và nhu cầu cao hơn đặc biệt những nhu cầu tối thiểu (ăn, ở, mặc…) mà sẽ có nhu cầu cao hơn về giao tiếp, văn hóa, khám chữa bệnh Điều đó là thách thức đối với nguồn lực và hệ thống dịch vụ an sinh xã hội vừa đảm bảo thuận tiện lại vừa đảm bảo đáp ứng được nhu cầu tăng lên đó
Đối tương là hộ nghèo, nhóm yếu thế sẽ không chỉ tập trung vào vùng miền núi hay hải đảo mà sẽ chủ yếu vào những khu vực chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu Điều đó là thách thức không nhỏ khi Việt Nam vẫn chưa thực sự sẵn sang và có nguồn lực kịp thời đáp ứng cho những vấn đề mới nảy sinh đó
Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, giàu nghèo có xu hướng gia tăng
rõ rệt Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội sẽ làm cho tình trạng nghèo tương đối rất lớn, nhất là rơi vào nhóm người có thu nhập thấp, yếu thế trong xã hội và trở nên khó khăn hơn
Yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội gia tăng trong những năm tới ở Việt Nam cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong việc tận dụng những ưu việt của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 ở các khía cạnh: (i) tăng trưởng kinh tế sẽ tập trung ở những vùng lãnh thổ động lực Đó là những vùng có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với những khu vực khác Điều đó thể hiện ở nhiều lĩnh vực chứ không còn bó buộc trong những yếu tố về điều kiện sản xuất Những yếu tố về năng suất, công nghệ, thể chế…ở các khu vực đó
sẽ quyết định sự phát triển vượt trội kéo theo sự chênh lệch phát triển với các khu vực khác, đặt ra những vấn đề bất bình đẳn hoặc di dân; (ii) những chi phí cá nhân phải chi trả cho y tế và giáo dục cũng sẽ gia tăng do thực hiện theo những nguyên tắc thị trường Có thể những dịch vụ xã hội cơ bản nhất vẫn được đáp ứng nhưng những dịch vụ cao cấp hơn được phục vụ cũng làm
Trang 4035
nảy sinh những nhu cầu to lớn hơn của người dân đặt ra những thách thức không nhỏ cho hệ thống để thỏa mãn những nhu cầu đó; (iii) đảm bảo nguồn thu của các quỹ, chi trả đúng người đúng đối tượng ở mức ngày càng nâng lên
là những vấn đề không nhỏ; (iv) nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến y tế cơ sở, đáp ứng nhu cầu của người dân tránh quá tải ở tuyến trên và giảm thiểu chi phí cho người dân
Như vậy, việc triển khai thực hiện các chính sách ASXH tại thành phố
Đà Nẵng đã đảm bảo đúng 07 bước trong tổ chức thực thi chính sách.Từ những chủ trương, chính sách nói trên, tiến bộ và công bằng xã hội luôn được chú trọng trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, nhiều chính sách ASXH được triển khai thực hiện và đạt kết quả tốt ở thành phố Đà Nẵng
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay
2.2.1 Hệ thống tổ chức tham gia thực hiện chính sách an sinh xã hội
tư về việc điều chỉnh các mục tiêu Chương trình “Thành phố 5 không” giai đoạn 2009-2015 theo đó, mục tiêu của Chương trình “Thành phố 5 không” giai đoạn 2009-2015: Không có hộ nghèo theo chuẩn thành phố, không có học sinh bỏ học ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng, không có giết người