sức khỏe người dân, nhất là đối với người nghèo; tỉ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp; nguồn lực thực hiện ưu đãi cho người có công chưa được đầu tư, quan tâm đún
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TỪ
THỰC TIỄN QUẬN THANH KHÊ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TỪ
THỰC TIỄN QUẬN THANH KHÊ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số : 8.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN THỊ MINH THI
Trang 3HÀ NỘI - 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác,
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Dương Thanh Phong
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI, CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO, CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 9
1.1 Khái niệm 9 1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về Giảm nghèo, Ưu đãi người có công với cách mạng 17 1.3 Khái niệm, ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách Giảm nghèo; Ưu đãi người có công với cách mạng 23 1.4 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng 25 1.5 Những yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách mạng 31 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng 33 1.7 Chủ thể thực hiện chính sách Giảm nghèo; Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO; CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu
đã người có công với cách mạng ở quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng 37 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách Giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 39 2.3 Thực trạng Chủ thể tham gia thực hiện Chính sách 49 2.4 Thực trạng bảo đảm các yêu cầu trong tổ chức thực hiện chính sách Giảm nghèo, Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng 50
Trang 62.5 Đánh giá chung về thực hiện chính sách Giảm nghèo, Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng tại quận Thanh Khê 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO, CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 61
3.1 Dự báo những tác động ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 61 3.2 Quan điểm 63 3.3 Mục tiêu hoàn thiện chính sách an sinh xã hội 66 3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo 66 3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng 73
KẾT LUẬN 80 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ủy ban MTTQ : Ủy ban Mặt trận tổ quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.2
Đánh giá kết quả người dân về các hình thức tuyên truyền về chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
42
2.5
Đánh giá về việc thực hiện các giải pháp nhằm làm tốt chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
49
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An sinh xã hội (ASXH) là chính sách cốt lõi quyết định sự phát triển ổn định và bền vững của một quốc gia, góp phần giảm bất bình đẳng, giảm mức độ nghèo đói và tổn thương của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập
Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng trong các chương trình
xã hội của một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình ASXH Hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thông qua việc "điều hoà” các "mâu thuẫn xã hội", đảm bảo xã hội không có sự loại trừ, điều tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn định xã hội Nhà nước thông qua chính sách ASXH để cân đối, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; mở rộng chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư
Như vậy, có thể nói, ASXH là thước đo, là điều kiện và là mục tiêu sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu, rộng; trước những tác động của nền kinh tế thị trường, bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực, Có thể dễ dàng nhận thấy những hậu quả của kinh tế, lạm phát
và biến động bất lợi của kinh tế thị trường, của thiên tai, bão lũ, hạn hán, mất mùa đối với người nghèo và người lao động thu nhập thấp Lạm phát tăng cao trong khi tình trạng kinh tế đình trệ đã tạo nên áp lực lớn đối với đời sống xã hội và ảnh hưởng bất lợi đến các hoạt động sản xuất Quy mô sản xuất của nhiều doanh nghiệp co lại,
Trang 10buộc phải thải lao động Những cú sốc về giá cả, thị trường, đau ốm luôn có tác động hiện hữu đến đời sống của người nghèo khiến cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng khoảng; khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng rộng
Bên cạnh đó, các chính sách phúc lợi xã hội đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế: Các chính sách được ban hành tuy nhiều về số lượng, song có nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và liên kết trong quá trình triển khai thực hiện Tình hình này thể hiện ở việc giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao, giảm nghèo chưa bền vững; quá trình thực hiện chính sách chưa đảm bảo tính minh bạch, chưa đảm bảo tính đồng thuận trong nhân dân; việc đảm bảo an sinh xã hội chủ yếu do nhà nước đảm bảo, chưa huy động nguồn lực xã hội hóa trong cộng đồng dân cư để chung tay chia sẻ với đối tượng yếu thế trong xã hội
Trong những năm qua, thành phố Đà Nẵng nói chung, quận Thanh Khê nói riêng
là đơn vị đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội Trong đó việc thực hiện chính sách an sinh xã hội được đặc biệt chú trọng Các chính sách về Giảm nghèo, ưu đãi xã hội, Bảo hiểm xã hội đã được đưa vào Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố Đà Nẵng; Đại hội Đảng bộ Quận Thanh Khê và đươc cụ thể hóa bằng các quyết định Ngoài những chính sách ưu đãi của trung ương, thành phố, quận đã huy động cả hệ thống chính trị từ quận đến phường và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào việc thực hiện chính sách ASXH bằng những việc làm cụ thể như: thường xuyên quan tâm chăm
lo đến các gia đình chính sách, phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; tham gia huy động, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; huy động bảo đảm nguồn lực tạo điều kiện cho người nghèo từng bước ổn định cuộc sống, hỗ trợ phương tiện làm ăn, học bổng, nhà ở, các điều kiện sinh hoạt và nâng cao thu nhập Từ những việc làm thiết thực, cụ thể nêu trên, đã tác động một cách tích cực, trực tiếp đến các đối tượng, đã giúp cho các đối tượng chính sách ổn định cuộc sống, tiếp tục củng cố niềm tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng và Nhà Nước
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì việc thực hiện chính sách an sinh xã hội tại quận Thanh Khê vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: vấn đề tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ hộ cận nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội còn thấp; giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác bảo vệ, chăm sóc
Trang 11sức khỏe người dân, nhất là đối với người nghèo; tỉ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp; nguồn lực thực hiện ưu đãi cho người có công chưa được đầu
tư, quan tâm đúng mức; công tác giải quyết chế độ chính sách cho người có công còn chậm… những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, nếu không có những giải pháp kịp thời để khắc phục, hoàn thiện, sẽ ảnh hưởng đến chủ trương và chính sách lớn rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Xuất phát từ những lý giải trên, gắn với thực tế tại địa phương đang công tác tôi
lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn quận Thanh Khê,
thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách an sinh xã hội là đề tài được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến các nghiên cứu, đề tài mà tác giả được biết:
- “Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam” của Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương đã làm rõ quan niệm và vai trò của pháp luật an sinh xã hội của một số nước như Đức, Nga, Hoa Kỳ cũng như khái quát khá đầy đủ hệ thống pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh
để hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam trong tình hình mới cần phải xúc tiến xây dựng Bộ Luật an sinh xã hội và cải cách các Luật Bảo hiểm xã hội và Luật
Bảo hiểm y tế [25]
- “Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính
sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Chiểu đã đề cập đến một số vấn đề
lý luận cơ bản chính sách an sinh xã hội và kinh nghiệm một số nước, thực trạng thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam trong gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam Với tư liệu này, luận án đã kế thừa nội dung tính tất yếu, vai trò và yêu cầu đặt ra đối với nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH (tính tất yếu được thể hiện ở các nội dung: bản chất, chức năng xã hội của nhà nước, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, đảm bảo quyền cơ bản của con người, đáp ứng yêu cầu của
quá trình hội nhập quốc tế) [18]
- “Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của Mai Ngọc
Trang 12Cường đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; thực trạng hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm
2015 Cuốn sách đã chỉ rõ tác động mặt trái của kinh tế thị trường: tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong thu nhập, nguy cơ thất nghiệp và bệnh tật, đói nghèo Đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò của Đảng, Nhà nước trong việc ban hành và
tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội nói
chung, ASXH nói riêng [15,tr21]
- “An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020” của Vũ Văn Phúc đã đề cập
đến những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về ASXH: quan điểm và cách tiếp cận về về an sinh xã hội, xây dựng và thực hiện hệ thống về ASXH ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN; những vấn đề thực tiễn về an sinh xã hội ở nước ta: xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam, bảo hiểm
xã hội và bảo hiểm y tế, ASXH cho cư dân vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng khó
khăn, vùng dân tộc và miền núi, đào tạo nghề [45]
- “Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp” của Lê Quốc Lý đã phân
tích cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH; những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH ở Việt nam gần đây thông qua việc đánh giá nhóm cán bộ thực thi và đối tượng thụ hưởng chính sách; trên cơ sở mục tiêu, quan điểm thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020 cuốn sách đã nêu lên
5 nhóm giải pháp khắc phục những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH ở nước ta (thiết kế và thực thi chính sách ASXH, xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, hoàn thiện bộ máy thực thi chính sách ASXH, nâng cao nhận thức của đối tượng thụ
hưởng về chính ASXH) [33]
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Chiêu, Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội “An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” Bài viết đã chỉ ra vai trò của hệ thống ASXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay, đồng thời đề ra những định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách
ASXH ở Việt Nam [17]
Trang 13- Bài viết của tác giả Vũ Văn Phúc, tạp chí Cộng sản “An sinh xã hội ở nước ta, một số vấn đề lý luận thực tiễn” Bài viết đã nêu ra các trụ cột chính trong cấu trúc của
hệ thống ASXH, vạch ra những hạn chế, thách thức trong việc thực hiện chính sách ASXH hiện nay, đồng thời đề ra các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, các giải pháp
đổi mới nhằm hoàn thiện hệ thống ASXH trong giai đoạn mới [44]
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Mai Ngọc Anh, trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Trong phạm vi luận án này, tác giả chủ yếu đề cập đến các nhân tố, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH hiện đại đối với nông dân Từ đó làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH
đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường [2]
Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề
an sinh xã hội, vai trò của hệ thống, chính sách an sinh nói chung dưới góc độ lý luận cũng như sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn, đó đều là những công trình, sản phẩm trí tuệ và đúc kết thực tiễn, là cơ sở kế thừa cho những nghiên cứu tiếp theo Tuy nhiên, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập thì vấn đề thực hiện các chính sách an sinh xã hội nói chung, chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng thực sự hiệu quả là một yêu cầu cấp thiết Thực tế tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng chưa có đề tài nghiên cứu nào về vấn đề thực hiện chính sách an sinh xã hội Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài trên là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn
Tuy nhiên, do khuôn khổ cho phép của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo và chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại địa bàn quậnThanh Khê, thành phố Đà Nẵng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Trang 14- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại quận Thanh Khê
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi Người có công từ thực tiễn quận Thanh Khê; chỉ rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế;
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi với Người có công
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng trên địa bàn quận Thanh Khê
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm chỉ đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp những vấn đề về phương thức phát huy quyền lực, nội dung đường lối chính sách và quá trình hiện thực hóa những đường lối chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mang đáp ứng quá trình hội nhập quốc tế
- Phương pháp thống kê để tập hợp các số liệu: thống kê tổng hợp tỷ lệ hộ nghèo qua từng năm; hộ nghèo, người có công được trợ giúp về nhà ở, vay vốn - Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để hỗ trợ cho việc đánh giá quá trình
Trang 15thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi đối với người có công tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng so với những nội dung và tiêu chí đã đề ra và so với quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi đối với người có công
mà các địa phương, các quốc gia khác đã và đang thực hiện
- Phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng nhằm nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao với sự kết hợp của chuyên ngành chính trị học với kinh tế chính trị học, dục học, trị nhân lực
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Luận văn khảo sát 150 người dân thụ hưởng chính sách giảm nghèo và chính sách người có công tại phường An Khê và phường Thanh Khê Đông, để tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách tại địa phương; phân tích kết quả, đối chiếu với tình hình, kết quả thực hiện chính sách để đưa ra nhận định, đánh giá chung
- Phương pháp Phỏng vấn sâu: tác giả lựa chọn 5 cán bộ thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng cấp quận, phường để thu thập thông tin và đánh giá quá trình thực hiện chính sách để có đánh giá, phân tích từ phía người thực thi chính sách
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, cụ thể là chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; từ đó chỉ ra những bất cập của quá trình thực hiện chính sách và giải pháp tăng cường hiệu quả của chính sách
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi đối với người có công tại địa bàn quận Thanh Khê nói riêng Luận văn sẽ góp phần làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học, là một nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài, các nghiên cứu có cùng chủ đề, cùng đối tượng nghiên cứu với đề tài này
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm ba chương:
Trang 16Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội, chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách
an sinh xã hội ở quận Thanh Khê
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI, CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO, CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ
đe doạ đối với cuộc sống của họ
Tính tất yếu phải đối mặt với những hẫng hụt về thu nhập trong những trường hợp bất khả kháng đã buộc người lao động tìm cách khắc phục bằng nhiều biện pháp khác nhau như tiết kiệm với phương châm "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”hoặc dựa vào sự đùm bọc, cưu mang của cộng đồng với tinh thần "lá lành đùm lá rách".v.v
Nhưng xã hội càng phát triển, những biện pháp có tính truyền thống như trên đã tỏ ra
không đủ độ an toàn để giúp cho mỗi người có thể khắc phục hoặc vượt qua khó khăn trong cuộc sống Bổ sung vào đó là các biện pháp phi truyền thống chỉ có trong xã hội hiện đại như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội v.v Đây là những trụ cột cơ bản của hệ thống
an sinh xã hội (ASXH) nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro về kinh tế - xã hội Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm
Trang 18giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy
cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu
nhập [1]
- Khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo
vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống
cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc
Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
Theo GS Hoàng Chí Bảo thì: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá
nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH
là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đề tài
KX02.02/06-10
Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính
sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội" [31, tr19]
GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được
Trang 19an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội [14,tr21]
+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ
em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ
"Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 – 2020”ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "ASXH và PLXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân"
Nội dung Hệ thống an sinh xã hội: hệ thống an sinh xã hội giữa các quốc gia không đồng nhất với nhau Tuy nhiên, Hệ thống an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
+ Ưu đãi xã hội;
+ Bảo trợ xã hội;
+ Xóa đối giảm nghèo;
+ Bảo hiểm xã hội;
+ Bảo hiểm y tế
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH đã có, tác giả cho rằng: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
1.1.2 Chính sách an sinh xã hội
Hiện nay, thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các
Trang 20phương tiện thông tin và đời sống xã hội Mọi chủ thể kinh tế-xã hội đều có những chính sách của mình Có chính sách của doanh nghiệp, chính sách của đảng chính trị, chính sách của một quốc gia, tổ chức, chính sách của một liên minh các nước hoặc tổ chức quốc tế Cho đến nay, mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về chính sách và có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chính sách nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm chính sách Trên thế giới có thể kể đến một số khái niệm về chính sách như:
“Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều
chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm ”
Tại Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
sau:“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”
Như vậy, có thể đưa ra cách hiểu Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Các tổ chức, các doanh nghiệp, các đoàn thể đều có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó vì vậy chúng mang tính chất riêng biệt
Ở Việt Nam, mặc dù ngành khoa học chính sách công là một ngành khoa học khá mới mẻ nhưng đã có một số nhà nghiên cứu khoa học chính sách công đưa ra khái niệm về chính sách công Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra cách
hiểu về thuật ngữ chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định
hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu xác định” [34] Theo cách hiểu này, chính sách công có
bốn đặc trưng cơ bản đó là: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước,
cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách
về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục tiêu xác định Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyêt định cùng
Trang 21hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài Ở Việt Nam, chính sách công biểu hiện dưới nhiều loại văn bản chính sách khác nhau, bao gồm cả Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chiến lược Tùy theo điều kiện hoàn cảnh mỗi nước với hệ thống và nền chính trị khác nhau sẽ có những cách tiếp cận khác nhau về
“chính sách” Đỗ Phú Hải đưa ra cách định nghĩa về chính sách công trong điều kiện
chính trị cụ thể của Việt Nam “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính
trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[26]
Như vậy, chính sách công là những quyết sách mang tính chính trị của nhà nước mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và riêng để dẫn dắt sự phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu xã hội của người dân Chính sách công có thể chi phối chung, song có những chính sách chi phối cụ thể riêng biệt đối với từng ngành, từng lĩnh vực của đời sống xã hội
Từ những quan niệm, ta có thể định nghĩa về chính sách ASXH như sau: “Chính
sách an sinh xã hội là tập hợp các quyết định chính trị - pháp lý có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề liên quan theo mục tiêu tổng thể của chính sách đã được xác định”
này cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục
ấy được xã hội thừa nhận" Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát, nên có thể
coi đây là khái niệm chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét
Trang 22chính yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia
* Giảm nghèo: là làm cho người nghèo, vùng nghèo có cơ hội tăng thêm thu
nhập từ lao động của chính họ và sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng; có khả năng tiếp cận được các dịch vụ xã hội để nâng cao đời sống
* Tỷ lệ đói nghèo: Tỷ lệ đói nghèo là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng người nghèo
(hoặc hộ nghèo) trên tổng dân số (hoặc tổng số hộ) Đây là một thước đo đói nghèo thông dụng để đánh giá tình trạng đói nghèo cho mỗi vùng, mỗi địa phương
* Chuẩn nghèo: Căn cứ trên thực tế về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiên nay, mà chuẩn nghèo có thể thay đổi theo giai đoạn, thời kỳ Hiện nay, chuẩn nghèo của Việt Nam được quy định tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
* Khái niệm Nghèo đa chiều: là khái niệm nghèo kết hợp cả chuẩn nghèo về thu
nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin
* Chính sách giảm nghèo: là hệ thống các quy định của Nhà nước về phương
thức tổ chức, quản lý, vận hành và những nguyên tắc, chuẩn mực cụ thể nhằm hỗ trợ các đối tượng đói nghèo có cơ hội huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để vượt qua những trở ngại, khó khăn, yếu thế, tiếp cận các dịch vụ xã hội, tổ chức sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, vươn lên thoát nghèo
* Quy trình rà soát, công nhận hộ nghèo:
Hiện nay, quy trình rà soát hộ nghèo được thực hiện theo Thông tư BLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, bao gồm các bước sau: (1) Xác định, lập danh sách các hộ gia đình cần rà soát.Các điều tra viên phối hợp với cán bộ chuyên trách giảm nghèo cấp xã, trưởng thôn để tổ chức xác định, lập danh sách các hộ gia đình cần rà soát trên địa bàn
17/2016/TT-(2) Tổ chức rà soát, lập danh sách phân loại hộ gia đình
Trang 23Các điều tra viên thực hiện rà soát các hộ gia đình theo mẫu phiếu B (theo Phụ lục số 3b ban hành kèm theo Thông tư 17), qua rà soát, tổng hợp và phân loại kết quả theo Bảng chấm điểm
Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo qua rà soát, bao gồm:
- Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ có tổng điểm B1 từ 140 điểm trở xuống hoặc
hộ có tổng điểm B1 trên 140 điểm đến 175 điểm và có tổng điểm B2 từ 30 điểm trở lên;
- Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ có tổng điểm B1 từ 120 điểm trở xuống hoặc hộ có tổng điểm B1 trên 120 điểm đến 150 điểm và có tổng điểm B2 từ 30 điểm trở lên;
- Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có tổng điểm B1 trên 140 điểm đến 175 điểm và có tổng điểm B2 dưới 30 điểm;
- Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có tổng điểm B1 trên 120 điểm đến 150 điểm và có tổng điểm B2 dưới 30 điểm;
(3) Tổ chức họp dân thống nhất kết quả rà soát
Thành phần tham gia gồm đại diện chính quyền, các hội, đoàn thể, cán bộ chuyên trách giảm nghèo cấp xã, trưởng thôn (chủ trì cuộc họp), Bí thư Chi bộ, Chi hội trưởng các hội, Bí thư Đoàn Thanh niên thôn và đại diện một số hộ gia đình được các hộ dân trong thôn cử làm đại diện tham dự cuộc họp
Nội dung cuộc họp: lấy ý kiến người dân để thống nhất kết quả rà soát hộ nghèo,
hộ cận nghèo trên địa bàn (chủ yếu tập trung vào hộ nghèo, hộ cận nghèo mới phát sinh; hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo)
Kết quả cuộc họp được lập thành 02 Biên bản (theo Phụ lục số 2đ ban hành kèm theo Thông tư 17), có chữ ký của chủ trì, thư ký cuộc họp và đại diệncủa các hộ dân (01 bản lưu ở thôn, 01 bản gửi Ban giảm nghèo cấp xã)
(4) Niêm yết công khai danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo,
hộ thoát cận nghèo tại trụ sở UBND cấp xã, nhà sinh hoạt cộng đồng thôn và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 07 ngày làm việc
Trường hợp có khiếu nại của người dân, Ban giảm nghèo xã cần tổ chức phúc tra lại kết quả rà soát theo đúng quy trình
(5) Báo cáo, xin ý kiến thẩm định của UBND cấp huyện: UBND cấp xã tổng hợp, báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn sau khi hoàn tất quy
Trang 24trình niêm yết công khai (và phúc tra nêu có khiếu nại của người dân) để UBND cấp huyện tổng hợp, có ý kiến thẩm định trước khi ban hành Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã công nhận kết quả rà soát Việc xin ý kiến thẩm định và tổ chức kiểm tra, phúc tra (nếu có) trong thời gian 07 ngày làm việc kể từ khi báo cáo, xin ý kiến thẩm định
(6) Công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo trên địa bàn Chủ tịch UBND cấp xã ban hành quyết định công nhận danh sách
hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn
(7) Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện kết quả rà soát
hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn
1.1.4 Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng
* Khái niệm Người có công với cách mạng: Thực tế hiện nay, trong hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa nào là “Người có công với cách mạng” Căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách ưu đãi hiện nạy được quy định tại Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng Theo Pháp lệnh, thì có 12 nhóm được công nhận
là Người có công với cách mạng, đó là: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến
bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng.”
* Chính sách ưu đãi đối với Người có công với cách mạng: Chính sách ưu đãi
người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của họ đối với đất nước Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Nó là sự thể hiện những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt
Trang 25Nam, giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên
để cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông ta đã ra sức gìn giữ Đồng thời thể hiện được trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với cách mạng Vì vậy, chính sách đối với người có công
là chính sách vô cùng quan trọng Làm tốt chính sách đối với người có công sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế và ngược lại
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về Giảm nghèo, Ưu đãi người có công với cách mạng
1.2.1 Quan điểm của Đảng về Giảm nghèo; Ưu đãi đối với người có công
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm
1991 và bổ sung, phát triển năm 2011) và nghị quyết của các kỳ đại hội, đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI,
về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng
bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH; bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu nhập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo,…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”
Đại hội XII của Đảng xác định: Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu-nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững Cùng với đó, thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất
Trang 26cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng thụ; kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội
1.2.2 Chính sách của Nhà nước về giảm nghèo; ưu đãi Người có công với cách mạng
Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo;
* Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2013 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;
Quyết định số 22/2013/QĐ-TTG ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về
Hỗ trợ Người có công với cách mạng về nhà ở;
Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/7/2017 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công đối với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTG này 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ
1.2.3 Nội dung Chính sách của nhà nước về Giảm nghèo
Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững hướng tới thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo; tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tại các địa bàn nghèo tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần giảm số hộ nghèo bình quân cả nước từ 1,3 đến 1,5%/năm theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, trong đó số hộ nghèo trên địa bàn các huyện, xã nghèo giảm bình quân hơn 4%/năm
Nội dung chính của Chính sách giảm nghèo bao gồm:
Trang 27Dự án 1: Chương trình 30a (Đây là Chương trình được phê duyệt theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo) Dự án này gồm có 4 tiểu dự án đó là: Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo; Tiểu dự án 2: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; Tiểu dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển
và hải đảo; Tiểu dự án 4 Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc cớ thời hạn ở nước ngoài
Quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng không thuộc diện các huyện 30a, do vậy tác giả không đề cập nhiều tới các nội dung này
Dự án 2: Chương trình 135 (Chương trình 135 là Chương trình được phê duyệt theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi
và vùng sâu, vùng xa) Dự án 2 gồm 3 tiểu dự án, cụ thể: Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ
sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toan fkhu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; Tiểu dự án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn bản đặc biệt khó khăn; tiểu dự án 3: Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ
sở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn Quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng không có các xã thuộc diện Chương trình
135, do vậy tác giả không đề cập nhiều tới các nội dung này
Dự án 3: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135
* Nội dung của dự án này:
(1) Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế:
- Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp: Tập huấn, chuyển giao
kỹ thuật; giống cây trồng, vật nuôi; thiết bị, vật tư, dụng cụ sản xuất; phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thú y;
- Hỗ trợ phát triển ngành nghề và dịch vụ: nhà xưởng; máy móc thiết bị; vật tư sản xuất; dạy nghề, hướng nghiệp, tiếp cận thị trường, tạo việc làm;
Trang 28- Hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết với người nghèo trong phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, chế biến tiêu thụ sản phẩm;
- Hỗ trợ các hoạt động đa dạng hóa sinh kế khác do cộng đồng đề xuất, phù hợp với phong tục, tập quán, nhu cầu của cộng đồng; phù hợp với mục tiêu của Chương trình và quy định của phát luật
(2) Nhân rộng mô hình giảm nghèo:
- Nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, mô hình liên kết phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nghèo, cận nghèo, cộng đồng với doanh nghiệp; mô hình giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng;
ưu tiên nhân rộng các mô hình giảm nghèo liên quan đến sinh kế phù hợp với từng vùng, nhóm dân cư;
- Xây dựng và nhân rộng mô hình tạo việc làm công thông qua thực hiện đầu tư các công trình hạ tầng quy mô nhỏ ở thôn, bản; mô hình sản xuất nông, lâm kết hợp, tạo việc làm cho người nghèo gắn với trồng và bảo vệ rừng; mô hình giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu
* Đối tượng:
- Người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, ưu tiên hộ nghèo dân tộc thiểu số và phụ nữ thuộc hộ nghèo;
- Nhóm hộ, cộng đồng dân cư;
- Tổ chức và cá nhân có liên quan;
- Tạo điều kiện để người lao động là người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ bị buôn bán trở về, thuộc hộ nghèo được tham gia dự án
Dự án 4: Truyền thông và giảm nghèo về thông tin
* Nội dung dự án
(1) Truyền thông về giảm nghèo:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình thông tin và truyền thông về công tác giảm nghèo;
- Xây dựng, phát triển mạng lưới cán bộ tuyên truyền viên, báo cáo viên về giảm nghèo từ Trung ương tới cơ sở;
- Tổ chức các hoạt động đối thoại chính sách về giảm nghèo định kỳ ở các cấp, các ngành, nhất là cơ sở;
Trang 29- Tổ chức các hoạt động truyền thông giảm nghèo theo hình thức sân khấu hóa để thúc đẩy giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các thôn, bản, xã, huyện thực hiện Chương trình;
- Phát triển, tăng cường hoạt động Trang thông tin điện tử về giảm nghèo
(2) Giảm nghèo về thông tin:
- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông tại cơ sở; ưu tiên cho cán bộ cấp xã và cấp thôn, bản;
- Hỗ trợ sản xuất, biên tập, phát sóng, phát hành, truyền tải, lưu trữ, quảng bá, phục vụ người đọc các sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí, các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, xuất bản phẩm và các sản phẩm thông tin khác để phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phổ biến các kinh nghiệm, gương điển hình và các thông tin thiết yếu khác;
- Hỗ trợ phương tiện nghe, xem cho các hộ nghèo sống tại các đảo xa bờ; hộ nghèo thuộc các dân tộc ít người; hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn;
- Trang bị phương tiện tác nghiệp phục vụ thông tin cổ động tại huyện, xã;
- Xây dựng các điểm tuyên truyền, cổ động cố định ngoài trời;
- Xây dựng nội dung chương trình cổ động cho các đội thông tin cơ sở;
- Hỗ trợ thiết lập cụm thông tin cơ sở tại các khu vực cửa khẩu, biên giới, trung tâm giao thương
* Đối tượng Dự án:
- Người dân, cộng đồng dân cư;
- Các tổ chức và cá nhân có liên quan
Dự án 5: Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình
* Nội dung dự án
(1) Xây dựng tài liệu và đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo;
(2) Tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước; tổ chức hội thảo, hội nghị về giảm nghèo;
(3) Xây dựng khung kết quả của Chương trình, gồm: hệ thống các mục tiêu, chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo tiếp cận đa chiều; xây dựng chi tiết hệ thống giám sát và đánh giá, hệ thống các biểu mẫu
Trang 30báo cáo, cơ chế thu thập thông tin; nội dung, cơ chế báo cáo; cách thức sử dụng thông tin của hệ thống giám sát và đánh giá cho quản lý và tổ chức thực hiện;
(4) Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, chương trình,
dự án giảm nghèo định kỳ, hằng năm hoặc đột xuất (khi cần thiết);
(5) Rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm; tổ chức điều tra, đánh giá đầu kỳ, giữa kỳ và cuối kỳ ở các cấp;
(6) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý dữ liệu giảm nghèo ở các cấp
* Đối tượng Dự án:
- Đối với hoạt động nâng cao năng lực: Cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp (cán bộ thôn, bản, đại diện cộng đồng, lãnh đạo tổ nhóm, cán bộ chi hội đoàn thể, cộng tác viên giảm nghèo, người có uy tín), ưu tiên nâng cao năng lực cho cán bộ nữ;
- Đối với công tác giám sát đánh giá: cơ quan chủ trì Chương trình các cấp, các
cơ quan chủ trì các dự án thành phần/nội dung trong các dự án thành phần các cấp và các cán bộ được phân công phụ trách và tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá;
- Các tổ chức và cá nhân có liên quan
1.2.4 Chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng
Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn, trở thành một nguyên tắc hiến định ghi nhận ở Điều 67- Hiến pháp nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước (năm 1991), Đảng ta cũng khẳng định rõ:
“Không chờ kinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội” Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công với nước, vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền
ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống về mặt vật chất tinh thần của người có công…”
Thể chế hoá đường lối của Đảng, các qui định của Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, năm 1994, ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt
Trang 31động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng Sau 10 năm thực hiện, ngày 29/06/2005, ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11, sửa đổi bổ sung Pháp lệnh cũ (năm 1994) về ưu đãi người có công với Cách mạng Sau hơn 3 năm đi vào cuộc sống, thành tựu đạt được trong lĩnh vực ưu đãi
xã hội là rất lớn nhưng cũng còn không ít những vướng mắc, tồn tại, thách thức ở phía trước Năm 2012, UBTVQH ban hành Pháp lệnh số 04/ 2012/UBTVQH13Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Pháp lệnh số: 05/2012/UBTVQH13, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”
* Nội dung chính sách ưu đãi:
Người có công với cách mạng và thân nhân được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tuỳ từng đối tượng được hưởng các chế độ ưu đãi sau đây:
(1) Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần;
(2) Bảo hiểm y tế;
(3) Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;
(4) Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ
có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công với cách mạng;
(5) Được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;
Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả không đề cập chi tiết đến thời điểm hưởng; mức hưởng của từng loại đối tượng
1.3 Khái niệm, ý nghĩa tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách Giảm nghèo; Ưu đãi người có công với cách mạng
Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của Nhà nước (chủ thể chính sách) thành hiện thực tới các đối tượng chính sách nhằm đạt được mục tiêu định hướng Nói cách khác tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là quá trình hiện thực hóa đưa chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng vào thực tiễn cuộc sống
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, chính sách giảm nghèo, ưu đãi
Trang 32người có công với cách mạng nói riêng là yếu tố khách quan để duy trì công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu đề ra của chính sách Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là một khâu hợp thành chu trình chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng, thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không tồn tại Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng thành một hệ thống, nhất là với bước xây dựng chính sách So với các khâu khác trong chu trỉnh chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng, tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng vào đời sống xã hội, là giai đoạn biến ý đồ của của chủ thể chính sách thành hiện thực hoạch định Xây dựng được chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn qua trọng hơn Có chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng đúng nhưng nếu chính sách đó không được vào thực hiện có hiệu quả cũng sẽ trở thành vô nghĩa, trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, không có giá trị mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, chủ thể ban hành chính sách, đặc biệt đối với những chính sách mang tính nhân văn sâu sắc như chính sách giảm nghèo, chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng Nếu chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng không được thực hiện đúng sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội, dẫn đến thiếu niềm tin, phản ứng tiêu cực của người dân đối vối nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn bất ổn cho Nhà nước trong công tác quản lý Qua tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng mới biết được chính sách có đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp, chính sách có đi vào cuộc sống hay không đi vào cuộc sống Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách chưa phát sinh ra, hoặc đã phát sinh ra nhưng các nhà hoạch định, xây dựng chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách mới phát hiện ra Chính quá trình
tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho
Trang 33phù hợp với thực tiễn đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng thời việc phân tích đánh giá chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ
sở đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng sẽ là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác
và khách quan chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng Như vậy, tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là yêu cầu, nhiệm vụ tất yếu khách quan, là yếu tố quyết định thành công hay không thành công của chính sách
1.4 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách giảm nghèo,
ưu đãi người có công với cách mạng nói riêng là quá trình triển khai thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống gồm nhiều nhiệm vụ đan xen, kế tiếp tác động và bổ sung cho nhau Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải tuân thủ một quy trình chặt chẽ và thống nhất quy trình tổ chức thực hiện chính sách là trình tự các bước trong
tổ chức triển khai, thực hiện chính sách Quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm các bước, mỗi bước có yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau, nhưng có hiệu lực tác động qua lại lẫn nhau, hướng tới mục tiêu đảm bảo hiệu quả thực hiện chính sách, quy trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng gồm các bước sau:
1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Tổ chức thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách giảm nghèo,
ưu đãi người có công với cách mạng nói riêng để đảm bảo thống nhất và có hiệu quả cao cần phải thực hiện theo kế hoạch Vì tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là quá trình phức tạp, nhiều cá nhân, tổ chức tham gia
và diễn ra trong một thời gian dài Để chủ động và thống nhất hành động cũng như để có
cơ sở tổ chức điều hành, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần quy định những nội dung cơ bản sau:
Trang 34- Kế hoạch tổ chức điều hành: Gồm dự kiến các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách, số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi chính sách quyền và trách nhiệm của cán bộ quản lý và cán bộ thực thi chính sách, cơ chế tác động của giữa cấp trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
- Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực: Dự kiến về cơ sở vật chất, trang thiết bị
kỹ thuật phục vụ tổ chức thực hiện chính sách, các nguồn lực tài chính, vật tư văn phòng phẩm…
- Kế hoạch, thời gian triển khai thực hiện: Dự kiến thời gian duy trì chính sách,
dự kiến thời gian thực hiện các bước tổ chức triển khai thực hiện chính sách từ tuyên truyền, phổ biến chính sách đến tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Mỗi bước phải nêu rõ mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu
- Kế hoạch đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách: Dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách Ngoài ra trong dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần quy định nội dung, quy chế về tổ chức điều hành, về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các chi bộ, công chức tham gia
tổ chức thực hiện chính sách, về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách
Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng ở cấp nào do lãnh đạo ở cấp đó xem xét thông qua Sau khi các cấp có thẩm quyền quyết định thông qua kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng có giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng có thể được xem xét điều chỉnh nếu kế hoạch đó không phù hợp với tình hình thực tế việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua
Trang 35hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng nhưng là bước quan trọng có ý nghĩa lớn đối với các cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định
và về tính khả thi của chính sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của nhà nước đồng thời còn giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, độ phức tạp, quy mô của chính sách đối với đời sống
xã hội, để họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao: Phổ biến, tuyên truyền chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần được thực hiện thường xuyên liên tục để các đối tượng thụ hưởng chính sách có thêm niềm tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách Phổ biến tuyên truyền chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng chính sách, hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: các đài phát thanh, đài truyền hình, các báo, tạp chí… lựa chọn nào cũng phải chú ý đến tính sát thực và hiệu quả, tránh phô trương hình thức
1.4.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Bước tiếp theo trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách kế hoạch đã được phê duyệt chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai thực hiện trong phạm vi toàn quốc, số lượng cá nhân, tổ chức tham gia thực thi chính sách rất lớn, bao gồm các đối tượng thụ hưởng chính sách, người dân và bộ máy thực hiện chính sách của nhà nước không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra hết sức phong phú, đa dạng
và phức tạp theo không gian và thời gian Vì vậy muốn tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu quả cần phải phân công một cách cụ thể, hợp lý và phối hợp một cách chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện chính sách Cần phải phân công một cách rõ ràng, cụ thể
Trang 36cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính và các cơ quan phối hợp thực hiện chính Phân công, phối hợp thực hiện chính sách chính là khâu tổ chức khoa học lao động trong thực hiện chính sách
1.4.4 Duy trì chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Duy trì chính sách công nói chung và duy trì chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng nói riêng là bước không thể thiếu trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách Duy trì chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là làm cho chính sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trng môi trường thực tế Muốn vậy phải có sự đồng tâm hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Đối với các cơ quan nhà nước người chủ động tổ chức thực hiện chính sách phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận đồng các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng gặp khó khăn do môi trường thực tế biến động thì các cơ quan nhà nước chủ động sử dụg các công cụ quản lý tác động nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách, đồng thời hủ động đề xuất với các cơ quan có thẩm qyền xem xét điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế Trong chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, nhà nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách Những hoạt động đồng bộ của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng trong đời sống xã hội
1.4.5 Điều chỉnh chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Điều chỉnh chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng là hoạt động quan trọng trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách điều chỉnh chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng được thực hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó có quyền điều chỉnh,
bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp cơ chế chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt vì thế cơ quan nhà nước các ngành, các cấp, chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Trang 37Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: Để chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung hoàn thiện mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách đó thất bại Do đó trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần phải đặc biệt chú ý đến nguyên tắc quan trọng này Ngoài ra, hoạt động điều chỉnh chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không sẽ làm sai lệch chính sách, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được
1.4.6 Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra là chức năng, nhiệm vụ quan trọng, tất yếu khách quan trong quản lý, quản trị nói chung, trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo,
ưu đãi người có công với cách mạng nói riêng Vì tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng diễn ra trên địa bàn rộng lớn, trong cả nước và do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, các điều kiện về chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và môi trường, tình hình thất nghiệp ở các vùng, địa phương nước
ta khác nhau, cũng như trình độ, năng lực, tổ chức điều hành của các cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước không đồng đều Do vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm phải tiến hành đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách Qua đôn đốc, theo dõi kiểm tra các mục tiêu và giải pháp chủ yếu của chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nội dung, nhiệm vụ cần ưu tiên trong quá trình thực hiện chính sách Căn cứ vào kế hoạch đôn đốc, theo dõi, kiểm tra đã được phê duyệt các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc, hoạt động này đảm bảo có hiệu quả Kiểm tra tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng với mục đích không ngừa các vi phạm sai sót có thể xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, đồng thời xử lý nghiêm khắc các vi phạm và sai sót đã xảy ra Do đó hoạt động kiểm tra thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng cần phải được tiến hành theo kế hoạch, phải bảo đảm các yêu cầu, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá kết luận về các vi phạm sai
Trang 38sót phải chính xác và khách quan, xem xét xử lý nghiêm khắc và đúng mực Kiểm tra thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng thường xuyên sẽ giúp cho các nhà quản lý nắm chắc tình hình thực hiện chính sách, từ đó đánh giá được khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp phát hiện những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách để kịp thời điều chỉnh, tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động độc lập của các cơ quan, đối tương thực thi chính sách, tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu, giải pháp chính sách, kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
Hoạt động đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng còn giúp cho các cơ quan, các cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh
bổ sung hoàn thiện, giúp cho nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm của mình để họ yên tâm thực hiện có trách nhiệm công việc được giao Đồng thời cũng giúp cho các đối tượng thụ hưởng chính sách nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thực thi chính sách để yêu cầu các cơ quan nhà nước chấp hành đầy đủ nghĩa vụ theo quy định trong chính sách
Như vậy đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng có tác dụng kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách và chấn chỉnh hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
1.4.7 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách giảm nghèo,
ưu đãi người có công với cách mạng
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công là bước cuối cùng nhưng hết sức quan trọng và cần thiết trong tổ chức thực hiện chính sách Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận và chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Ngoài ra còn xem xét đánh giá vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các hội, tổ chức phi chính phủ tham gia thực hiện chính sách chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công Cơ sở để tổng kết, đánh giá công tác chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách chính sách giảm nghèo,
Trang 39chính sách ưu đãi người có công là kế hoạch triển khai thực hiện chính sách và kế hoạch điều chỉnh (nếu có) Đồng thời có thể kết hợp sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội về việc phối hợp chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện chính sách chính sách giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công
Bên cạnh việc tổ chức, đánh giá rút kinh nghiệm chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng còn phải xem xét đánh giá việc thực thi chính sách của các đối tương trực tiếp và gián tiếp thụ hưởng chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng Thước đo để đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng thực hiện đúng mục tiêu chính sách về ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện không gian và thời gian cụ thể
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách là bước, là nội dung nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng Chỉ trên cơ sở tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách một cách nghiêm túc mới biết được chính xác kết quả thực hiện chính sách và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng
1.5 Những yêu cầu cơ bản đối với việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách mạng
Để thực hiện được các yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách mạng như: Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách mạng, Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách
ưu đãi ngươi có công với cách mạng; yêu cầu đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp
lý trong tổ chức thực hiện giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách
mạng; yêu cầu bảo đảm lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách BHTN
1.5.1 Yêu cầu thực hiện đúng mục tiêu chính sách giảm nghèo; chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng,
Có thể nói chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách
Trang 40mạng là chính sách dài hạn Mục tiêu chính của giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi
có công với cách mạng là giúp người nghèo thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng; trợ giúp người có công với cách mạng nhằm tri ân và giúp đỡ một phần khó khăn trong cuộc sống Tỷ lệ hộ nghèo giảm, đồng nghĩa với việc sử dụng hiệu qảu các nguồn lực của nhà nước, của cộng đồng
1.5.2 Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống trong tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngưòi có công với cách mạng
Các cơ quan từ Trung ương đến địa phương đã nhận thức đúng vai trò, vị trí của chính sách chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngưòi có công với cách mạng, thường xuyên phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn đảm bảo đồng bộ, đầy đủ, kịp thời
Bộ LĐ - TB&XH đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan như: ỦY ban TWMTTQVN; Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền các chế độ, chính sách về chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngươi có công với cách mạng bằng nhiều hình thức phong phú và phù hợp như: tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các hội nghị tuyên truyền tại một số địa phương; đối thoại trực tiếp với các người dân; tổ chức, xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền tờ rơi, sách tìm hiểu về chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngưòi có công với cách mạng, pano,
Thời gian đầu thực hiện chính sách giảm nghèo; chính sách ưu đãi ngưòi có công với cách mạng, Cục Người có công; Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo; Cục Bảo trợ
xã hội đã chủ động phối hợp, tổ chức các đoàn khảo sát trao đổi, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết chế độ chính sách giảm nghèo; chính