Tính cấp thiết của đề tài An sinh xã hội là hệ thống các chính sách, chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe, phúc lợi xã
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM ANH
Trang 22
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ VĂN ĐÍNH
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 33
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An sinh xã hội là hệ thống các chính sách, chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe, phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, ốm đau, tuổi già, chuyển đổi cơ cấu, rủi ro thiên tai, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc mất thu nhập
Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc quan tâm xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách xã hội là mục tiêu, là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta Nghị quyết Trung ương 5, khóa XI đã
khẳng định quan điểm thực hiện chính sách an sinh xã hội:“Hệ thống an sinh xã hội
phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, bảo đảm bền vững, công bằng” [11] tại Đại hội lần thứ XII của Đảng, Đảng ta lại một lần nữa nhấn mạnh:
“Tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống, đồng thời mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân.” [13]
Thời gian qua, nhờ thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là giảm nghèo, ưu đãi người có công với cách mạng…đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị - xã hội Tuy nhiên, việc triển khai chính sách ASXH chịu sự tác động rất mạnh mẽ của nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan đã dẫn đến những khó khăn nhất định
Tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng
Nam lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020 tiếp tục xác định: "Thực hiện chủ trương
gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách an sinh xã hội,
Trang 44
quan tâm nhân tố con người, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người dân, xác định công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các gia đình chính sách là quan trọng, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với thu hút đầu tư, giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất để tạo nhiều việc làm mới, công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cần được tăng cường” [7] Trên cơ sở
đó, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã có những chủ trương chính sách quyết liệt và kịp thời nhằm thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội Nhờ đó, diện mạo tỉnh nhà đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện
Tại thị xã Điện Bàn, ASXH luôn là vấn đề mang tính chiến lược, lâu dài, cũng vừa mang tính cấp bách, được Đảng bộ và chính quyền thị xã đặc biệt quan tâm Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã Điện Bàn lần thứ XXII, giai đoạn 2015-
2020 đã xác định: Xây dựng Điện Bàn thành “thị xã phát triển” Trên cơ sở mục
tiêu chung đó, thịxã Điện Bàn đã tạo bước chuyển biến về văn hóa xã hội, tập trung chăm lo phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, đảm bảo an sinh xã hội, đời sống của bà con nhân dân được cải thiện rõ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: vấn đề hỗ trợ nguồn lực cho người có công xây dựng, sửa chữa nhà ở còn chậm; nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo còn có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào chính sách
hỗ trợ - cho không của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân; mức trợ cấp xã hội cho
đối tượng BTXH còn thấp; chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhất là đối với người nghèo đôi lúc đôi nơi chưa đảm bảo; quy trình, thủ tục giải quyết hồ
sơ hộ nghèo, đối tượng BTXH còn nặng thủ tục hành chính gây khó khăn cho nhân dân…
Vì vậy, đưa ra những luận cứ khoa học nhằm nâng cao chất lượng việc thực
hiện chính sách ASXH là rất cần thiết Tác giả chọn đề tài "Thực hiện chính sách an
sinh xã hội tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Chính sách công
Trang 55
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Những công trình liên quan đến lí luận chung về ASXH
Thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chính sách công, chính sách xã hội, chính sách an sinh xã hội (ASXH), thực thi chính sách ASXH, đáng quan tâm là những công trình sau:
Năm 2010, cuốn sách “Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa”, do tập thể tác giả
Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa biên soạn đã cho thấy vấn đề đảm bảo ASXH là một vấn đề dân sinh quan trọng và chủ yếu khi phân tích rõ quan niệm dân sinh trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc và chiến lược phát triển bền vững của Việt
Nam [15]
Cuốn“An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam”của tác giả Mai Ngọc Anh đã làm rõ tính chất quan trọng của ASXH, vai trò
và sự quan tâm của Đảng và nhà nước khi trích dẫn khá nhiều chủ trương chính sách nhằm nâng cao mức sống cho người nông dân và khuyến khích họ tham gia vào hệ thống an sinh xã hội để góp phần ổn định kinh tế, chính trị, tạo điều kiện
phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững [1]
Năm 2011, tác giả Nguyễn Văn Mạnh khẳng định Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, là chủ thể xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược và các chương trình quốc gia về phát triển xã hội, huy động, quản lý và phân phối các
nguồn lực vật chất phục vụ phát triển xã hội trong cuốn "Vai trò của nhà nước đối
với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam" [19]
- Các bài nghiên cứu trên các tạp chí liên quan đến lĩnh vực ASXH có thể kể
đến như: “An sinh xã hội ở nước ta - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ Văn Phúc, “Hệ thống an sinh xã hội cho người nông dân Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn; “Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta những
năm tới” của Mai Ngọc Cường, “Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng” của Dương Văn Thắng, "Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người
có công, bảo đảm an sinh xã hội trong phát triển bền vững" của tác giả Nguyễn Thị
Trang 66
Kim Ngân Các bài viết nói trên đã đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung vấn
đề thực tiễn về ASXH ở nước ta, xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam trên quan điểm các NQ chuyên đề của Đảng về ASXH
- Ngoài các ấn phẩm sách, tạp chí, các kỷ yếu của các cuộc hội thảo sau đây cũng phần nào làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến lĩnh vực ASXH: Hội
thảo“Xây dựng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020” của Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức;
“An sinh xã hội ở Việt Nam: Chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới” do Đại học Kinh tế Quốc dân;“An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
của Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội, Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương
2.2 Các công trình liên quan đến chính sách ASXH miền trung Tây Nguyên
và tỉnh Quảng Nam
- Bên cạnh các ấn phẩm sách, tạp chí; còn có những bài viết, chuyên đề được
in trong các kỷ yếu hội thảo, đề tài nghiên cứu và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ nghiên cứu về ASXH ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Hội thảo “Phát triển
kinh tế và an sinh xã hội - từ lý luận đến thực tiễn các miền tỉnh miền Trung” của
Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III [17] Kỷ yếu Hội thảo bao gồm các
chuyên đề lý luận về an sinh xã hội; kết quả thực thi chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực (xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, trợ cấp xã hội, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, nhà ở xã hội) ở miền Trung - Tây Nguyên Hội thảo“Tăng
trưởng xanh khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”
củaViện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Vùng Trung bộ
- Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực III [35] đã bàn về vấn
đề tăng trưởng xanh khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Các bài nghiên cứu trên các tạp chí liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội có
thể kể đến là: “Bàn về định hướng chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2021-2030”
của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng [4] “Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta những năm tới” của Mai Ngọc Cường [3]; “Hệ thống an sinh xã hộicho người nông dân Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn [21] "Tiếp tục thực hiện
Trang 77
tốt chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội trong phát triển bền vững" của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân [20]
Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu những nội dung trong hệ
thống an sinh xã hội ở khu vực miền Trung: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng ở Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ” của tác giả
Phan Thăng An đã hệ thống được các phương pháp đánh giá tác động giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, phân tích tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng thu nhập tại Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ và đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tối ưu giữa tăng trưởng kinh tế và giảm thiểu bất bình đẳng
thu nhập ở Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ.“Việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng" của tác giả
Nguyễn Dũng Anh, đã trình bày cơ sở lý luận về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; đã phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả tạo việc làm cho cho nông dân bị thu hồi đất
trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng "Thực thi chính
sách an sinh xã hội ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Lương Vĩnh Thái đã đề cập đến cơ sở lý luận về chính sách an
sinh xã hội - quan niệm, đặc điểm và cấu trúc an sinh hội; sự cần thiết việc thực hiện chính sách ASXH ở quận Hải Châu; thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ASXH ở quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng.“Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tại thành phố Đà
Nẵng” của tác giả Nguyễn Văn Quang;“Giải quyết việc làm cho lao động có đất bị thu hồi trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng" của tác
giả Nguyễn Thị Thu Trang đã đề cập đến cơ sở lý luận về chính sách việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sản xuất; phân tích và đánh giá chính sách việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng."Quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng giai đoạn hiện nay" của tác giả Nguyễn Văn An đã đánh giá thực trạng dạy
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Khái quát hóa cơ sở lí luận về thực hiện chính sách ASXH
- Phân tích thực trạng về thực hiện chính sách ASXH tại thị xã Điện Bàn thời gian qua
- Trên cơ sở quan điểm của Đảng, chủ trương của Nhà nước, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách ASXH tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình thực hiện chính sách ASXH tại thị xã Điện Bàn trên các lĩnh vực bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách nhà ở cho người có công…
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:thị xã Điện Bàn
- Về thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 và
đề xuất giải pháp trong thời gian tới
- Về nội dung: Hệ thống chính sách ASXH bao gồm nhiều nội dung, tuy nhiên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ở các nội dung có tính ưu trội của Điện Bàn là: chính sách nhà ở cho người có công cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội và chính sách xóa đói giảm nghèo
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
- Thứ nhất: Phương pháp thu thập tài liệu có sẵn là những tài liệu thu thập
được từ các văn kiện, báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các tài liệu khác liên quan đến đề tài.Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở chương 1 của luận văn
- Thứ hai: Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê Phương pháp này
được sử dụng để phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách, kết quả sau khi triển khai thực hiện chính sách đối với các chính sách được lựa chọn nghiên cứu, và
được sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương 3
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần cụ thể hóa những nội dung được nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ
5 BCHTW khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận về chính sách ASXH và thực hiện chính sách ASXH
Trang 1111
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách an sinh xã hội
1.1.1 An sinh xã hội – khái niệm, cấu trúc và nội dung
1.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các
hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn
sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp Một quan niệm khác, theo Ngân hàng Phát triển châu Á: ASXH là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác
động bất lợi đến các cá nhân và hộ gia đình [3, tr.21-22]
- Trong cuốn: Giáo trình nhập môn an sinh xã hội của Nguyễn Hải Hữu quan niệm: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp công nhằm trợ
giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về KT - XH làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về thị trường lao động, BHXH, BHYT, trợ giúp đặc biệt, TGXH và người nghèo" [16]
- Tác giả Lê Quốc Lý của cuốn Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và
giải pháp cho rằng: ASXH là sự bảo đảm thu nhập và đời sống cho các công dân
trong xã hội trong trường hợp họ gặp phải các rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự an
sinh cho mọi thành viên trong xã hội [18, tr.17]
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khóa XI và trong Chiến lược An sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, ASXH được quan niệm như sau: ASXH là
hệ thống các chính sách và các chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội,
Trang 1212
nâng cao năng lực cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận
đến các dịch vụ xã hội cơ bản [2, tr.2], [12]
- ASXH được quan niệm trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: ASXH là một hệ thống chính
sách và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro
và tác động bất thường về xã hội, môi trường, kinh tế, vừa không ngừng nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân [13, tr.18]
Qua các quan niệm trên, dưới cách tiếp cận và diễn đạt thế nào chăng nữa thì
An sinh xã hội đều có những điểm chung:
+ Bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro về thiếu hoặc mất việc làm, sức khỏe, tuổi già, tàn tật, trẻ em … dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống
Đối tượng của ASXH là những thành viên trong cộng đồng trước những rủi ro trong cuộc sống do những tác động bất thường về kinh tế, xã hội, môi trường - đặc biệt
là những nhóm dễ bị tổn thương, người nghèo, vùng nghèo, vùng dân tộc, miền núi,
nông thôn [32, tr.18-19] Bản chất của ASXH là đảm bảo thu nhập và đời sống cho các
công dân trong xã hội, vì thế nó mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Phương thức hoạt động của ASXH là thông qua các biện pháp, chính sách của Nhà nước và cộng đồng xã hội trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trụ cột
1.1.1.2 Cấu trúc an sinh xã hội
- Nhóm chính sách thị trường lao động chủ động
Các chính sách hỗ trợ đối tượng yếu thế bao gồm: các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, tăng cường đào tạo, tín dụng Đối tượng chủ yếu gồm: người thất nghiệp, thanh niên mới bước vào thị trường lao động, người thiếu việc làm và cả những người đang có nhu cầu tìm việc làm tốt hơn
- Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội
Trang 1313
Chính sách bảo hiểm tốt đóng vai trò tích cực cho sự ổn định KT-XH, mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất trắc cho người được bảo hiểm; giảm sức ép đối với hệ thống phúc lợi xã hội.Cấu phần này bao gồm: bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
- Các chính sách trợ giúp xã hội và hỗ trợ giảm nghèo
Trợ giúp xã hội bao gồm các chuyển nhượng và các chương trình trợ cấp công cộng, thường được tài trợ từ thuế chung theo nguyên tắc đoàn kết, nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng Sự trợ giúp thông qua 3 loại hình cơ bản: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp gia đình và dịch vụ xã hội đối với người sống trong nghèo cùng cực, nghèo và
dễ bị tổn thương, ngăn chặn sự suy giảm trong thu nhập và năng lực tiêu dùng của những người trong tình huống dễ bị tổn thương, kết nối và tạo điều kiện tiếp cận các
HỆ THỐNG AN SINH
XÃ HỘI VIỆT NAM
Trợ giúp xã hội thường xuyên
Chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội
và cộng đồng
Hỗ trợ tiền mặt
TRỢ GIÚP XÃ HÔI CHO CÁC NHÓM ĐẶC THÙ
Trợ giúp xã hội đột xuất
BHXH bắt buộc
BẢO HIỂM XÃ HỘI
BHXH tự nguyện
Tai nạn Bệnh NN
LĐ-Ốm đau Thai sản
Tạo việc làm
Y tế (Gồm BHYT) Nhà ở Nước sạch Thông tin
Trang 1414
Trang 1515
1.1.1.3 Nội dung hệ thống an sinh xã hội
Hệ thống ASXH tại nước ta hiện nay bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
- Ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là một bộ phận đặc thù trong hệ thống an sinh xã hội, là sự đãi ngộ vật chất và tinh thần đối với những người có công với nước với dân, với cách mạng nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ Điều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội và nói lên đạo lý của dân
tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
- Bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ thêm của Nhà nước và xã hội bằng các điều kiện
và phương tiện thích hợp hoặc bằng tiền để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc
sống của cộng đồng Là loại hình quan trọng trong lĩnh vực ASXH, đó là sự giúp
đỡ của NN và XH về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên trong những trường hợp, rủi ro, nghèo đói, bất hạnh, không đủ khả năng
để tự lo được cuộc sống tối thiểu của gia đình và bản thân
BTXH có 02 loại: Trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp đột xuất Trợ
giúp thường xuyên là hình thức trợ giúp xã hội đối với những người hoàn toàn không thể lo được cuộc sống trong một thời gian dài hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng trợ giúp (ví dụ: trợ cấp một khoản kinh phí hàng tháng; hỗ trợ thẻ BHYT cho những đối tượng người cao tuổi, người nghèo, người tàn tật, tâm thần; miễn, giảm học phí học tập; đưa người già cô đơn, trẻ em mồ côi vào các trung tâm nuôi dưỡng Trợ giúp đột xuất là hình thức trợ giúp xã hội do NN và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc gặp những biến cố khác
mà đời sống của họ bị đe dọa về tính mạng, nhà ở, lương thực, chôn cất, chữa bệnh, hay phục hồi sản xuất nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp
- Xóa đói giảm nghèo
XĐGN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ những vùng khó khăn vươn lên xóa đói giảm nghèo nhất là vùng sâu, vùng xa, là một quá
Trang 1616
trình chuyển một bộ phận dân cư đói nghèo lên một mức sống cao hơn XĐGN với mục tiêu tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục…nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thoát nghèo bền vững
Các chính sách XĐGN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cụ thể như: chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo, chính sách hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Chính sách giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho người nghèo, chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo Chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù …
- Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã hội, là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động từ hoạt động nghề nghiệp của họ bị giảm hoặc mất
khả năng lao động [3, tr.40]
Một nền ASXH vững mạnh thì không thể không có hệ thống BHXH, đặc trưng chính là dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia, đòi hỏi mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung, các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp sự cố và đủ điều kiện để hưởng, chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH, nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của NN, đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ, phần tạm thời chưa sử dụng của quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH, các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do NN tổ chức mà người lao động và người
sử dụng lao động phải tham gia BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do NN tổ chức
mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập
Trang 1717
của mình và NN có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế
độ hưu trí và tử tuất
- Bảo hiểm y tế
BHYT là loại hình BHXH nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người tham
gia theo quy định của pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận [3, tr.52-53]
Nguyên tắc BHYT: là bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, minh bạch, công khai, bảo đảm cân đối thu, chi và được NN bảo hộ
Chính sách của nhà nước về BHYT: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng BHYT cho người CCCM và một số nhóm đối tượng xã hội Nhà nước có chính sách
ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế được miễn thuế Nhà nước tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức tham gia BHYT hoặc đóng BHYT cho các nhóm đối tượng Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển phương tiện kỹ thuật tiên tiến và công nghệ trong quản lý BHYT
1.1.2 Chính sách an sinh xã hội, vai trò của hệ thống chính sách an sinh
xã hội
1.1.2.1 Khái niệm chính sách an sinh xã hội
Chính sách an sinh xã hội là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp
đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho các cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, tự nhiên và xã hội làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa, những người yếu thế Đây là hệ thống chính sách nhằm giảm thiểu, phòng ngừa, khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động BHXH, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội Mục tiêu của chính sách là đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho mọi thành viên trong xã hội Đối tượng của chính sách ASXH là mọi người dân, kể cả những người chưa đến tuổi lao động, trong độ tuổi lao động, người hết tuổi lao động, trong đó bao gồm các đối tượng là người nghèo, phụ
Trang 1818
nữ, thanh niên, trẻ em…
1.1.2.2 Vai trò của hệ thống chính sách an sinh xã hội
- Thứ nhất: Vai trò của chính sách ASXH đối với cộng đồng và nhà nước
Chính sách ASXH là một công cụ quản lý của nhà nước, thể hiện giá trị và định hướng phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Nhà nước sử dụng chính sách ASXH thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hiệu quả, bền vững nhằm đảm bảo phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền, tạo được sự công bằng, giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa các khu vực, giảm bớt sự bất bình đẳng trong các nhóm dân cư, bảo đảm cho mọi người có việc làm, thu nhập, phát triển toàn diện
Ngoài ra chính sách ASXH còn là một trong những trụ cột cơ bản của hệ thống chính sách xã hội, bảo vệ giá trị cơ bản, bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, là thước đo trình độ phát triển của một nước trong quá trình hội nhập và phát triển
- Thứ hai, vai trò của chính sách ASXH đối với gia đình và cá nhân
Chính sách ASXH là cung cấp cho những người kém may mắn, bất hạnh những điều kiện và lực đẩy cần thiết để khắc phục những rủi ro, nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng, tiếp cận được các cơ hội để phát triển, nó cũng giúp cho các gia đình đương đầu được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống
Để thoả mãn những nhu cầu của mình, trong cuộc sống con người phải lao động và sản xuất để có thu nhập nhưng không phải lúc nào con người cũng có việc làm và thu nhập ổn định Với tư cách là một trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách xã hội, chính sách ASXH như một giá đỡ nhằm bảo đảm cho một xã hội và mỗi con người sự bảo đảm bằng vật chất, tinh thần và các dịch vụ xã hội mà nhà nước, cộng đồng dân cư tạo nên Chính sách ASXH mang đến cho những đối tượng nghèo đói, yếu thế, gặp rủi ro về các nhu cầu cơ bản khi họ phải đối diện với khó khăn, thử thách và khắc phục những rủi ro trong cuộc sống
1.2 Quy trình tổ chức thực hiện chính sách ASXH
1.2.1 Quy trình tổ chức thực hiện chính sách ASXH
1.2.1.1 Xây dựng, lập kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Trang 1919
Đây là bước cần thiết quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch, sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi chính sách ASXH mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện
1.2.1.2.Tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách
Nội dung này có ý nghĩa lớn với cơ quan Nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách ASXH Làm tốt công tác này giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của NN Ngoài ra, giúp cho mỗi công chức, cán bộ có trách nhiệm nhận thức được đầy đủ quy mô, trình độ, tính chất của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp
1.2.1.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Một chính sách thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm
vụ Hoạt động này cần được thực hiện theo tiến trình, cân chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
1.2.1.4 Duy trì chính sách
Duy trì chính sách nhằm đảm bảo cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để có được điều đó phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người thực thi, người tổ chức và môi trường tồn tại Đối với các cơ quan Nhà phải thường xuyên quan tâm vận động, tuyên truyền toàn xã hội và các đối tượng chính sách tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn thì các cơ quan Nhà nước sử dụng công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách và chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế
1.2.1.5 Điều chỉnh chính sách
Trang 2020
Điều chỉnh chính sách ASXH để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế thì được thực hiện bởi cơ quan NN có thẩm quyền Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách ASXH thì được quyền điều chỉnh
bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách ASXH diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế cơ quan nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Một chính sách sẽ bị thất bại nếu công tác điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu của chính sách
1.2.1.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Các điều kiện về môi trường ở các vùng, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa không giống nhau, cũng như năng lực trình độ tổ chức điều hành của cán bộ, công chức trong các cơ quan NN không đồng đều, vì vậy cần phải tiến hành theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách ASXH của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông qua việc đôn đốc, kiểm tra các mục tiêu của chính sách ASXH lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Căn cứ kế hoạch đôn đốc, kiểm tra
đã được duyệt, các tổ chức, các nhân có nhiệm vụ thực thi hoạt động kiểm tra có hiệu quả
Theo dõi, kiểm tra sao sát tình hình tổ chức thực hiện chính sách ASXH vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách vừa bổ sung, hoàn thiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
1.2.1.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Nội dung này được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành
và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách ASXH
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách ASXH là các cơ quan từ trung ương đến cơ sở Ngoài ra, còn xem xét cả
Trang 2121
vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách Cơ sở để tổng kết công tác điều hành, chỉ đạo thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội dung được xây dựng ở bước tuyên truyền phổ biến chính sách
Bên cạnh việc đánh giá, tổng kết kết quả điều hành – chỉ đạo của cơ quan
NN, chúng ta còn phải xem xét đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm: các đối tượng thụ hưởng lợi ích gián tiếp và trực tiếp
từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể về thời gian và không gian
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách ASXH
1.2.2.1 Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, ít tạo ra những biến đổi thất thường, vì vậy không gây được sự chú ý của các nhà quản lý Tuy nhiên tác động của chúng đến quá trình thực thi chính sách là rất lớn, vì cơ chế tác động giữa chúng với các vấn đề chính sách được hình thành trên cơ sở của quy luật Cụ thể:
- Đặc tính của vấn đề chính sách là yếu tố đi liền với mỗi chính sách Tính
chất của vấn đề chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề bằng chính sách như: công tác thực thi chính sách sẽ thuận lợi hơn các vấn đề phức tạp có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng nếu vấn đề chính sách là đơn giản, liên quan đến
ít đối tượng chính sách
- Môi trường thực hiện chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt động xã
hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường tự nhiên, an ninh quốc phòng, các hoạt động này diễn ra trong những điều kiện cụ thể, nên nó tách rời với quá trình thực thi chính sách Nói cách khác môi trường thực hiện chính sách bao gồm toàn bộ các nội dung vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các điều kiện vật chất kĩ thuật trong nền kinh tế, các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội,
Trang 2222
quan hệ quốc tế rộng mở
- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách thể hiện sự nhất
thống hay không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực thi mục tiêu chính sách Nếu lợi ích của các đối tượng này không đối lập với nhau thì chính sách được triển khai thực hiện dễ dàng hơn Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách đối lập với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách sẽ khó khăn hơn và có khi là thất bại
- Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách được hiểu là năng lực và tiềm
năng tiềm trong mối quan hệ với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực này được thể hiện trên các phương diện xã hội, kinh tế, chính trị…
- Đặc tính của đối tượng CS là những nội dung đặc trưng mà các đối tượng
có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động Những đặc tính này thường có liên quan đến tính tự giác, tính kỉ luật, tính sang tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống,… khi tham gia thực thi chính sách
- Năng lực thực thi chính sách của cán bộ - công chức trong bộ máy quản lý
nhà nước: Đây là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi
chính sách công Yếu tố này là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về, năng lực thiết kế tổ chức, đạo đức công vụ, năng lực phân tích, năng lực thực tế, dự báo
để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong tương lai Năng lực và đạo đức của cán bộ công chức còn thể hiện ở khả năng thực hiện các quy trình và thủ tục hành chính để giải quyết các mối quan hệ giữa các cơ quan NN
Trang 2323
với cá nhân và tổ chức trong XH có liên quan đến thực hiện chính sách công
- Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện CS: Đây là yếu tố có vị trí
quan trọng để cùng con người và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của
NN Để thực hiện chính sách trong nền KTTT hiện nay, NN phải tăng cường các nguồn lực vật chất và con người Trong thực tế, để có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên thì cần có các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền phổ biến
chính sách
- Sự ủng hộ của người dân: một chính sách thành công hay thất bại, là có sự
đóng góp đặc biệt quan trọng của nhân tố này Đây là nội dung hết sức quan trọng, bởi việc thực hiện các mục tiêu chính sách không thể chỉ do các cơ quan nhà nước làm, mà phải có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhân dân không chỉ là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, mà còn là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại
Kết luận Chương 1
Chương 1 của luận văn đã tập trung đề cập những nội dung cơ bản mang tính
lý luận về chính sách công, chính sách an sinh xã hội, các nội dung về cấu trúc, nội dung hệ thống an sinh xã hội, quy trình thực hiện chính sách công nói chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng, vai trò của hệ thống an sinh xã hội đối với nhà nước, cộng đồng và từng cá nhân trong xã hội Đây chính là cơ sở để luận án hình thành nên những nội dung nghiên cứu cụ thể hơn đối với việc thực hiện một số chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn ở các chương sau như: việc triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội được tiến hành như thế nào(quy trình
tổ chức thực hiện, cách thức điều hành, quản lý)? Các tổ chức và cá nhân nào tham gia? Nguồn lực được tìm kiếm, quản lý và sử dụng ra sao? Có những nhân tố nào ảnh hưởng và tác động đến quá trình triển khai thực hiện chính sách? Thông qua hệ thống các văn bản có tính giá trị cao, từ đó sẽ đưa ra những kết quả đạt được, nguyên nhân hạn chế và đề ra các giải pháp ở các chương sau
Trang 2424
Trang 2525
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực hiện chính sách an sinh xã hội tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Vị trí địa lí tự nhiên, dân số, hành chính
Điện Bàn là một vùng đồng bằng ven biển phía Bắc tỉnh Quảng Nam, phía Bắc giáp huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, phía Đông Nam giáp thành phố Hội An và Biển Đông, phía Tây giáp huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, được công nhận là thị xã vào cuối năm 2015,
có diện tích đất tự nhiên hơn 21.632ha, trong đó diện tích đất của 7 phường là: 6.325ha, chiếm 29,45%, diện tích 13 xã là 15.146ha, chiếm 70,55 Điện Bàn có 20 đơn vị hành chính gồm 13 xã và 7 phường Theo niên giám thống kê của thị xã Điện Bàn năm 2018, dân số Điện Bàn là: trong đó dân số thành thị chiếm khoảng 38,4%, dân số nông thôn 61,6% Về cơ cấu dân số, tỉ lệ nam chiếm khoảng 47,8%, tỉ lệ nữ chiếm 52,2%, từ 18-45 tuổi chiếm 55,37% dân số
Trong năm 2019 đã giải quyết việc làm cho 123.582 lao động (chiếm 95,2% dân số trong độ tuổi lao động So với năm 2015, dân số trung bình tăng 3%, tổng số lao động tăng 7,2%, lao động được việc làm tăng 64,7% Như vậy, các chỉ tiêu về dân số, lao động của thị xã đều có xu hướng tăng qua các năm Tỷ lệ hộ nghèo là 6,12% năm 2015, đến năm 2019 giảm còn 2,72% Thu nhập bình quân đầu người
24 tr.đồng/người năm 2015, đến năm 2019 tăng lên đạt 39 tr.đồng/người
2.1.2 Kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Về kinh tế
Thị xã Điện Bàn là vùng kinh tế trọng điểm phía bắc Quảng Nam, cơ cấu kinh tế thị xã thời gian qua có sự chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc và 10 cụm công nghiệp, làng nghề đã đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo động lực phát triển kinh tế trong thời gian qua cũng như trong tương
Trang 2626
lai Đây vừa là động lực, vừa là điều kiện thuận lợi để thị xã Điện Bàn huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư, xây dựng, phát triển và thực thi các chính sách ASXH Giai đoạn 2015-2019, trên cơ sở phát huy những thành tựu đã đạt được của giai đoạn trước, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của trung ương, tỉnh và huy động hiệu quả các nguồn ngoại lực, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã Điện Bàn tiếp tục xây dựng, phát triển thay đổi tích cực diện mạo đô thị, quan tâm giải quyết các vấn đề ASXH, môi trường
Tổng giá trị sản xuất của Điện Bàn tăng khá nhanh, giá trị sản xuất (theo giá
so sánh 2010) đạt 13.572 tỷ đồng năm 2015, tăng lên đến 19.106 tỷ đồng năm 2019 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân thời kỳ 2015-2019 của thị xã đạt 8,9% Ngành nông-lâm-thủy sản có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong các ngành kinh tế và giá trị sản xuất của ngành có xu hướng giảm, tuy vậy, ngành có vai trò hết sức quan trọng trong cải thiện đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho bộ phận lớn dân cư, ngành CN-XD-DV có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, giá trị sản xuất của 02 ngành chiếm tỷ trọng từ 90,7% trong năm 2015 tăng đến 92,6% vào năm 2019, trong đó, ngành công nghiệp-xây dựng đóng vai trò chủ lực, đầu tàu trong phát triển kinh tế của Điện Bàn
2.1.2.2 Về xã hội
Quảng Nam nói chung và thị xã Điện Bàn nói riêng được biết đến là địa phương ban hành nhiều chính sách mang đậm tính nhân văn, nhiều giải pháp nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội Chương trình “5 không, 3 sạch”, “thị xã 4 an” là những chủ trương lớn được thị xã thực hiện nhằm hướng đến các mục tiêu an sinh bền vững Trong quá trình thực hiện, thị xã đã đạt được những mục tiêu nhất định, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như: quá trình vận dụng thực thi một số chính sách còn nhiều khuyết điểm, quá trình xã hội hóa trong các lĩnh vực đạt kết quả chưa cao, việc chuyển đổi ngành nghề nâng cao đời sống vật chất của người dân một số địa phương chưa tốt Đạt được những kết quả trên là do nhiều yếu tố, nhiều nguyên nhân tác động, nhưng trước hết phải kể đến tác động của yếu tố chính sách của thành phố thời gian qua,
Trang 27xã nông thôn mới có môi trường đô thị văn minh và giàu tính nhân văn, đời sống văn hóa cao
Một trong những quan điểm phát triển được nêu trong Văn kiện đại hội Đảng
bộ lần thứ XXII của Đảng bộ thị xã Điện Bàn là: Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội Cụ thể: tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình 5 không, 3 sạch do Phụ nữ đảm nhiệm, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh khó khan, học sinh bỏ học, xây dựng hệ thống ASXH hiệu quả, đa dạng, ngày càng mở rộng phù hợp với nhu cầu của người dân Xây dựng các đề án, mô hình giảm nghèo, tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo, giảm nghèo bền vững Giảm thiểu chênh lệch về mức sống, thu nhập giữa các vùng nông thôn, miền núi với thành thị
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội
Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, UBND thị xã Điện Bàn đã cụ thể hóa các
Trang 2828
chương trình an sinh xã hội nói trên thành các chương trình, kế hoạch cụ thể như :
chương trình “chung tay giảm hộ nghèo bền vững” Kế hoạch số 40/KH-UBND về
triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững năm 2019 Triển khai cuộc
vận động gia đình “5 không 3 sạch”: gia đình không đói nghèo, không có bạo lực,
không có trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học, không sinh con thứ 3 trở lên, không có người vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội và sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ Nghị quyết số 49/2018 ngày 6 tháng 12 năm 2018 của HĐND về chính sách hỗ trợ, cải thiện mức sống cho một số đối tượng thuộc hộ nghèo đang hưởng chế độ chính sách người có công cách mạng và bảo trợ xã hội Công văn số 5008/UBND ngày 18 tháng 09 năm 2017 về việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ Để đạt được mục tiêu giảm nghèo mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã Điện Bàn nhiệm kỳ (2015 – 2020), nghị quyết Hội đồng nhân dân Thị xã Điện Bàn khóa XI phấn đấu đến năm 2020 thị xã Điện Bàn không còn hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo Ngày 25/7/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 63/NĐ-CP về việc thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ; trên cơ sở đó, ngày 06/9/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh có Công văn số 4749/UBND-KTN về triển khai Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/7/2017 của Chính phủ và Công văn số 5008/UBND-KTN ngày 18/9/2017 về việc triển khai thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 26/9/2017, Sở Xây dựng có Công văn số 1035/SXD-QLHT về việc triển khai thực hiện Công văn số 5008/UBND-KTN của UBND tỉnh; theo đó đề nghị các địa phương chủ động tạm ứng kinh phí để kịp thời hỗ trợ các đối tượng đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3363/QĐ-UBND UBND thị xã chỉ đạo điều hành công tác giảm nghèo như: ưu tiên lồng ghép các nguồn vốn tạo việc làm tại chỗ, tổ chức đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt chú trọng cho con em gia đình chính sách, hộ nghèo Nhằm nâng cao trình độ tay nghề, tạo cơ hội có việc làm
để tăng thu nhập cải thiện đời sống
Trang 29“Điện Bàn triển khai xây dựng chương trình 5 không”, Phối hợp với Đài Truyền
thanh- Truyền hình thị xã tuyên truyền bộ tiêu chí xây dựng “Nông thôn mới” với các câu hỏi đáp tập trung vào các tiêu chí như hộ nghèo, tiêu chí tỷ lệ lao động các việc làm thường xuyên, tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất để xoáy sâu vào vấn đề vươn lên thoát nghèo không khó, làm giàu chính đáng để nâng cao mức sống cho người dân
Công tác phổ biến, tuyên truyền còn được UBMT Tổ quốc Việt Nam thị xã, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên thông qua các buổi sinh hoạt, hội họp của tổ chức mình tuyên truyền cho hội viên , đoàn viên và các tầng lớp nhân dân được biết và hiểu về chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về chính sách an sinh xã hội
- Phân công trách nhiệm, phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội
- Các chương trình, kế hoạch nói trên không thể đơn phương một ngành nào có thể thực hiện được, mà cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phân công, phối hợp
và tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó cấp ủy Đảng giữ vai trò lãnh đạo chung đảm bảo cho việc thực hiện chính sách đồng bộ, thống nhất đúng theo nguyên
tắc, chủ trương của Đảng và Nhà nước Như Chương trình xây dựng thị xã 5 không,
hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng các hoạt động y
tế, giáo dục, thể dục – thể thao trên địa bàn, chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công cách mạng… được giao trách nhiệm cho các địa phương đơn vị như sau : phân
Trang 3030
công cho Phòng LĐ-TB&XH thị xã và cán bộ chuyên viên cấp thị xã mỗi lĩnh vực
1 đồng chí phụ trách chuyên môn Ở UBND xã, phường từ năm 2014 được bố trí thêm 1 đồng chí Công chức văn hóa xã hội phụ trách tất cả lĩnh vực LĐ-TB&XH gồm người có công, bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, lao động việc làm, tệ nạn
xã hội, trẻ em; tùy theo năng lực và tình hình thực tiễn một số địa phương mà bố trí cán bộ kiêm nhiệm Đây là cơ quan và cá nhân chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện chính sách đảm nhận các khâu từ việc tiếp thu văn bản, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định hồ sơ, thủ tục kê khai, rà soát, lập danh sách các đối tượng, quản lý, lưu trữ hồ sơ, lập thủ tục chuyền danh sách qua Bưu điện thị xã để thực hiện hợp đồng chi trả theo thời gian quy định tại các trụ sở UBND cấp xã, phường, cùng nhau phối hợp thống kê số liệu, báo cáo hằng tháng, quyết toán kinh phí sau mỗi đợt
chi trả Như chính sách xóa đói giảm nghèo, giảm nghèo bền vững: Phòng LĐ–
TB&XH làm công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân thị xã, tập trung xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn theo kế hoạch giảm nghèo bền vững của tỉnh và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, phê duyệt các dự án, chương trình giảm nghèo bền vững các xã, phường trên địa bàn, đặc biệt từ năm 2017, 2018 thị xã Điện Bàn xây dựng kế hoạch phân
bổ chỉ tiêu giảm nghèo hằng năm cho các xã, phường Đầu năm căn cứ vào việc phân bổ chỉ tiêu giảm nghèo cấp trên, các xã, phường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động những hộ nghèo thuộc diện chính sách giảm nghèo đăng ký thoát nghèo bền vững, đồng thời giao cho Ban chỉ đạo, trực tiếp là Cán bộ giảm nghèo khảo sát tất cả các nguyên nhân nghèo, tình trạng thiếu hụt các dịch vụ cơ bản , tổng hợp, báo cáo, đề xuất để Ủy ban nhân xã có phương án cụ thể
Phòng Tài chính - Kế hoạch thị xã chịu trách nhiệm phối hợp với Phòng TB&XH xây dựng dự toán hằng năm đảm bảo chi trả các chế độ cho các đối tượng chính sách và đề xuất hỗ trợ hỗ trợ thêm cho cán bộ làm công tác phụ trách mảng NCCM, phụ trách giảm nghèo, đội công tác xã hội tình nguyện…
LĐ-Phòng Tư pháp, LĐ-Phòng Văn hóa và Thông tin, Đài truyền thanh truyền hình thị xã phối hợp phổ biến, tổ chức tuyên truyền các chủ trương, chính sách và các văn
Trang 31và chất lượng, đảm bảo cho bộ máy hoạt động trơn tru
Bảo hiểm xã hội thị xã phối hợp với các phòng, ngành chức năng liên quan, UBND các xã, phường phối hợp kiểm tra hồ sơ cấp, đổi thẻ BHYT cho đối tượng như người cao tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng khuyết tật … theo đúng thời gian quy định
UBMT Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội,
xã hội nghề nghiệp phối hợp với UBND thị xã trong công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động, giải thích các hội viên, đoàn viên, các đối tượng chính sách và toàn thể nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước có liên quan đồng thời trực tiếp tham gia vào các họat động, vận động sự hỗ trợ, đóng góp từ các tổ chức, mạnh thường quân vào “Quỹ vì người nghèo” như hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết, xây dựng nhà ở phòng tránh bão
lũ cho hộ nghèo, cận nghèo theo đúng đối tượng, đúng diện cần được hỗ trợ
- Duy trì, điều chỉnh thực hiện chính sách an sinh xã hội
Trong thực tế quá trình triển khai, thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thị
xã Điện Bàn vẫn có một số vấn đề phát sinh mới mà trong các văn bản pháp luật chưa
đề cập hoặc đã quy định, hoặc có quy định, nhưng đến nay không còn phù hợp
Trong những năm qua thị xã đã phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh
tổ chức bồi dưỡng cán bộ là thành viên Ban Chỉ đạo thị xã, Ban Chỉ đạo xã, Ban Quản lý xã, Ban phát triển thôn về các tiêu chí hộ nghèo, tiêu chí thu nhập, các hình thức tổ chức sản xuất phối hợp với Sở LĐTB&XH, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Văn phòng Điều phối tỉnh mở lớp tập huấn đào tạo cán bộ giảm nghèo, cán bộ lao động TBXH, cán bộ phụ trách mảng NCCM trên địa bàn thị xã Ngoài ra hàng năm cử cán bộ tham dự đầy đủ các lớp tập huấn do tỉnh tổ chức,
tổ chức bồi dưỡng kiến thức xóa đói giảm nghèo, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ đối
Trang 3232
tượng BTXH, hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cho đội ngũ báo cáo viên của xã, cán bộ làm công tác tuyên giáo của các ngành nhằm triển khai nôi dung đến toàn thể nhân dân trên địa bàn thị xã
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách an sinh xã hội
Để duy trì tốt công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách ASXH, sau khi ban hành kế hoạch và các văn bản chỉ đạo, UBND thị xã Điện Bàn, Phòng LĐ-TB&XH thị xã thường xuyên theo dõi, đôn đốc UBND các xã, phường trong tất cả các khâu, từ khâu tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các kế hoạch, văn bản của thị xã, tiến độ công việc theo kế hoạch đề ra Trong thời gian qua, HĐND thị xã, Mặt trận và các đoàn thể Chính trị - xã hội đã chỉ đạo cho các đơn vị xã, phường tổ chức giám sát, phản biến xã hội đối với UBND các xã, phường trong việc thực hiện chính sách ASXH
- Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách an sinh xã hội
Nhằm biểu dương, động viên, khen thưởng, khuyến khích những tập thể, đơn
vị, cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện, hoặc tham gia phối hợp có những thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện, nhằm nhân rộng những cách làm hay, mô hình mới để họat động ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời rút ra những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án liên quan đến chính sách ASXH, định kỳ hàng quý, 6 tháng, 1 năm UBND thị xã Điện Bàn
tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh để theo dõi
2.2.2.1 Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
* Thực trạng đối tượng cần trợ giúp xã hội ở thị xã Điện Bàn
Trang 3333
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1-6-2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 nêu rõ: Nâng cao hiệu quả công tác TGXH; tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng cao mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước; xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội
Để triển khai nội dung này trong tình hình mới, trong thời gian qua, Đảng bộ, HĐND, UBND thị xã Điện Bàn, các ban ngành đã rất quan tâm đến lĩnh vực này, bởi vì an sinh xã hội là một trụ cột để đảm bảo an ninh – chính trị và góp phần cho công tác nâng cao tốt hơn đời sống của người dân Trong đó, BTXH là một trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội, đây là điều quan trọng với nước ta đang trong quá trình phát triển, chịu nhiều tác động của thiên tai, tác động của kinh tế - xã hội, đối tượng BTXH rất đông
Hơn nữa, Điện Bàn, một một trong những địa phương chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh, là cái nôi của phong trào cách mạng, là vành đai bảo vệ căn
cứ quân sự lớn tại Đà Nẵng, với số lượng người dân có nguy cơ bị phơi nhiễm chất độc da cam tiềm tàng cao, dẫn đến nguy cơ bệnh tật của nhiều thế hệ, hơn nữa thường xuyên phải gánh chịu nhiều thiên tai, dịch bệnh và những tai nạn, rủi ro trong cuộc sống nên số người cần trợ giúp xã hội rất lớn Toàn thị xã hiện có trên 14.000 người cần sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các dịch vụ xã hội, trong đó có 7.405 người cao tuổi, 6.664 người khuyết tật, hơn 2.000 người nhận nuôi dưỡng tại cộng đồng, 1.145 hộ cận nghèo, 915 hộ nghèo…, mỗi năm ngân sách chi trên 80 tỷ để chi trợ giúp xã hội thường xuyên cho các đối tượng BTXH và một số nhóm đôi tượng cần trợ giúp khác, hơn 6 tỷ đồng chi hỗ trợ nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồn, gần 10 tỷ đồng mau thẻ BHYT cho đối tượng thuộc diện được hỗ trợ
* Hệ thống các chính sách về bảo trợ xã hội của thị xã Điện Bàn
Trên cơ sở các chính sách của Trung ương về BTXH, UBND thị xã Điện Bàn đã vận dụng và ban hành những chính sách như sau: Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, trợ giúp xã hội đột xuất, đối tượng chi trả gồm: Quyết định số 23/QĐ-
Trang 3434
136/2013/NĐ-CP ngày 21/12/2013 của Chính phủ (bao gồm trợ cấp mai táng phí, nếu có); Hỗ trợ chi phí học tập theo quy định của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ; Hỗ trợ tiền ăn, tiền ở cho học sinh theo Nghị định
số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ; Hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo theo Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ Nguồn kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách đã bố trí trong dự toán của các huyện, thị xã, thành phố; Nguồn kinh phí chi trả phí dịch vụ: Ngân sách tỉnh hỗ trợ cho UBND các huyện, thị xã, thành phố Trên cơ sở mức kinh phí được ký kết và kinh phí chi trả cho các chính sách, Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh bổ sung kinh phí cho các huyện, thị xã, thành phố để thanh toán chi phí dịch vụ chi trả cho
hệ thống bưu điện UBND tỉnh Quảng Nam đã chủ động nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội cao hơn mức chuẩn quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP từ 270.000 đồng lên 405.000 đồng/ tháng Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ
xã hội được tăng lên rất nhiều so với các quyết định trước đây: Người khuyết tật đặc biệt nặng tăng từ 630.000 đồng lên 675.000 đồng/người/tháng; người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em hoặc người cao tuổi tăng từ 840.000 đồng lên 1.080.000 đồng/người/tháng; trợ cấp mai táng phí 3 triệu đồng/người tăng lên 5,4 triệu đồng/người Riêng người đơn thân nghèo, thoát nghèo trong vòng 2 năm đang nuôi con đồng thời là người bị nhiễm HIV, người cao tuổi, người khuyết tật nặng thì ngoài chế độ đối với người đơn thân nghèo đang nuôi con còn được hưởng chế độ người bị nhiễm HIV hoặc người cao tuổi hoặc người khuyết tật nặng; người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng nhưng mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì ngoài chế độ đối với người khuyết tật còn được hưởng kinh phí hỗ trợ chăm sóc mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Chính sách trợ giúp đối với người cao tuổi: Căn cứ các văn bản quy định của Trung ương về chính sách trợ giúp đối với người cao tuổi, UBND tỉnh Quảng Nam, UBND thị xã Điện Bàn cụ thể hoá triển khai thực hiện bằng các văn bản như Quyết định số 4083/QĐ-UBND ngày 01 tháng 6 năm 2015 về
Trang 3535
việc thành lập Ban công tác NCT huyện, thị xã, thành lập Ban đại diện NCT, xã, phường, thành lập Hội NCT; đồng thời 20/20 xã phường đều thành lập quỹ chăm sóc NCT Theo quy định mới NCT từ 80 tuổi trở lên mức hỗ trợ tăng từ 180.000 đồng lên 270.000 đồng đối với người từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp BHXH, 810.000 đồng đối với NCT thuộc hộ nghèo đủ điều kiện tiếp nhận vào
cơ sở BTXH nhưng được nhận chăm sóc tại cộng đồng Ngoài ra, theo Nghị quyết
số 08/2019/NQ-HĐND Quy định mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam với mức thấp nhất là 200.000 đồng, cao nhất
là 1.000.000 đồng theo độ tuổi quy định Chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: Các chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của tỉnh Quảng Nam nói chung và của thị xã Điện Bàn nói riêng thể hiện tại Quyết định số 1983/QĐ-UBND ban hành Đề án Vận động đóng góp Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020, đối tượng thụ hưởng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt chưa được hưởng các chính sách hiện hành của Nhà nước, gồm: Trẻ em mồ côi; trẻ em khuyết tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em lang thang; trẻ em lao động nặng nhọc; trẻ em người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng khó khăn, vùng bị thiên tai; trẻ em con
hộ nghèo, cận nghèo; trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ
em bị tai nạn thương tích Đề án triển khai tập trung vào các chương trình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em có khó khăn như: Chương trình hỗ trợ y tế; giáo dục; các đợt hoạt động xã hội Vì trẻ em; hỗ trợ sinh kế phát triển kinh tế gia đình nghèo có trẻ em; Hỗ trợ sửa chữa nhà ở cho gia đình trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các chương trình khác Trẻ em dưới 4 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, trẻ em dưới 4 tuổi nhiễm HIV thuộc hộ nghèo được hỗ trợ hàng tháng với mức 675.000 đồng, trẻ em từ 4 đến dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, người từ
16 tuổi trở lên nhiễm HIV thuộc hộ nghèo mức 405.000 đồng, trẻ em từ 4 đến dưới
16 tuổi nhiễm HIV thuộc hộ nghèo mức 540.000 đồng Quyết định số UBND ngày 02/07/2014 hỗ trợ phẫu thuật tim bẩm sinh cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh, ngân sách tỉnh hỗ trợ cho đối tượng phần còn lại của chi phí khám bệnh có liên
Trang 36* Kết quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội ở thị xã Điện Bàn
- Thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên, đột xuất: Tính đến năm 2019, toàn
thị xã đã có 15.930 người hưởng chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, tăng hơn 1.742 người so với năm 2015 Trong đó có 29 trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng (khoản 1, điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP), 85 người đơn thân nghèo đang nuôi con (khoản 4, điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP), 243 người cao tuổi thuộc diện hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc
có Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng Người này đang hưởng trợ cấp
xã hội hằng tháng (điểm a, khoản 5, điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP), có 7.162 người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng (điểm b, khoản 5, điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP), 811 người khuyết tật đặc biệt nặng từ 16 đến dưới 60 tuổi, 185 người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em, 796 người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi, 2.632 người khuyết tật nặng từ 16 đến dưới 60 tuổi, hỗ trợ kinh phí chăm sóc nuôi dưỡng người khuyết tật cho 1.737 đối tượng, trong đó hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng là 1.728 người, tổng kinh phí lên tới gần 70 tỷ đồng
Kết quả thực hiện trợ cấp đột xuất : hỗ trợ cho 09 đối tượng cá nhân và hộ gia đình gặp nạn với số tiền là gần 50 triệu đồng, tổ chức chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi cho 3.450 cụ với số tiền là hơn 2,2 tỷ đồng mỗi năm
Khi đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng từ trần, các địa phương đã kịp thời lập hồ sơ, thủ tục hỗ trợ kinh phí mai táng cho thân nhân là người đã đứng
ra tổ chức mai táng Trong năm 2019, đã hỗ trợ cho 581 trường hợp với số kinh phí
là 3,1 tỷ đồng