Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2Người hướng dẫn: PGS.TS ĐOÀN THẾ HÙNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Trần Công Mạnh
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách an sinh xã hội trong
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN
SINH XÃ HỘI Ở THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 37
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc thực
2.2 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thị xã An
Trang 5* Tiểu kết chương 2 76
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
Ở THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
77
3.1 Phương hướng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thị
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh
Trang 6Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 An sinh xã hội (ASXH) là một trong những chính sách xã hội cơ
bản nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển con người, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội ASXH là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá
sự tiến bộ của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia Được hưởng ASXH
là một trong những quyền và đòi hỏi chính đáng của con người Bản chất của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân nhằm tạo
ra sự an toàn sinh sống cho mọi thành viên trong xã hội Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhấn mạnh: “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm giải qu ết những khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc tế và trợ cấp cho các gia
đối với các thành viên của mình Bảo đảm ASXH là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước, là chính sách để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh
1.2 Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách
xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản để thực hiện các chính sách ASXH, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiếu số, xóa đói giảm nghèo có hiệu quả Chính phủ đã ban hành trên 20 chính sách tín dụng ưu đãi; sử dụng
cơ chế vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, đoàn thể để hỗ trợ người nghèo, người dân tộc thiểu số, người lao động bị mất việc làm, người lao động có đất phải chuyển đổi mục đích sử dụng, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, người có thu nhập thấp phát triển sản xuất, tín dụng cho
Trang 9học sinh, sinh viên Chính bởi thế, hệ thống ASXH đã có tác động tích cực, góp phần giảm thiểu rủi ro cho cuộc sống con người, khi bản thân không tự khắc phục được, như thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, người nghèo nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội được thực hiện thông qua các hình thức, như Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cứu trợ và cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021) của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công phù hợp với
xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội Phấn đấu đến năm
2030 có 60% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; khoảng 45% lực
lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp” [25; tr.270]
1.3 Là thị xã nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Định, trong những năm
2015 - 2020, thị xã An Nhơn cũng đã có những nỗ lực trong việc thực hiện chính sách ASXH cho người dân, đặc biệt là những đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội và đã đạt được những kết quả tích cực; tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, tồn tại cần tiếp tục được xem xét, đánh giá nhằm rút ra bài học kinh nghiệm để có định hướng và giải pháp tích cực cụ thể trong thời gian đến Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thực hiện
có hiệu quả hơn về chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định vừa
có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực hiện chính
sách an sinh xã hội ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” để viết luận văn
thạc sĩ ngành Chính trị học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đâ , ASXH là một trong những lĩnh vực được các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước quan tâm Ở nước ta, đã có nhiều nghiên cứu quan trọng có liên quan tới lĩnh vực này như:
Trang 10Tác giả Mai Ngọc Cường với công trình Cơ sở khoa học của việc xây
dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Công trình đã khái quát về hệ thống chính ASXH
ở Việt Nam thời gian qua, với những nội dung về BHXH, BHYT, trợ cấp xã hội và ưu đãi xã hội Với nhiều số liệu được cập nhật, phân tích cặn kẽ, đặc biệt công trình đã phân tích chỉ rõ những hạn chế yếu kém của hệ thống các chính sách ASXH cũng như đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta
Nhóm tác giả Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Hu ền,
Nguyễn Anh Dũng với công trình Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vận động, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH, đồng thời phân tích ASXH nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong ASXH thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai
Tác giả Lê Quốc Lý với công trình Chính sách an sinh xã hội: thực
trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 Cuốn sách được
biên soạn trên cơ sở các tư liệu nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện na Nội dung cuốn sách gồm 3
chương: Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi chính sách ASXH; Chương II: Những trở ngại trong thực thi các chính sách
ASXH ở Việt Nam gần đâ qua đánh giá của nhóm cán bộ thực thi và đối
tượng thụ hưởng chính sách; Chương III: Mục tiêu, quan điểm và giải pháp
thực thi hiệu quả chính sách ASXH ở Việt Nam đến năm 2020
Phạm Thị Hải Chuyển với bài viết “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an
sinh xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội” mang tính định hướng
cho việc thực hiện cho việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ tập trung vào 5 mục tiêu chủyếu sau: Một là hướng tới việc làm bền vững; Hai là thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người
Trang 11có công với cách mạng, đời sống người có công được nâng lên; Ba là tăng
cường trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt; Bốn là phát triển và thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, BHTN, Bảo hiểm tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp; Năm là hướng tới giảm nghèo toàn diện và bền vững
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận một số luận văn, luận án, đề tài liên quan đến nội dung luận văn như:
Tác giả Tạ Thị Hồng, Chính sách an sinh xã hội đối với người khó khăn
hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận
về chính sách ASXH nói chung và ASXH cho người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Thái Ngu ên Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra những vấn đề còn bất cập trong việc thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên Đề xuất một
số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Tác giả Lê Anh, Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thành phố Đà
Nẵng hiện nay, thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2017 Luận án làm rõ những vấn đề lý luận về ASXH và chính sách ASXH ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng và chỉ ra những bất cập trong thực hiện chính sách ASXH ở Thành phố
Đà Nẵng, đồng thời đã đề xuất nhiều giải pháp khá hợp lý và cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH trong thời gian tới
Tác giả Đông Thị Hồng, Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành
phố Hà Nội, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2015 Luận án đã đánh giá mối quan hệ giữa đảm bảo ASXH với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Đồng thời luận án cũng đã đánh giá khá chi tiết những điều kiện và kinh tế ảnh hưởng đến đảm bảo ASXH và đưa ra những giải pháp rất thiết thực, phù hợp để nâng cao hiệu quả chính sách ASXH ở giai đoạn 2010 - 2015
Trang 12Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương với đề tài Phát triển hệ thống An sinh xã
hội ở Việt Nam đến năm 2020, Viện khoa học Lao động và Xã hội, Hà Nội,
2016 Đề tài đưa ra những vấn đề chung của ASXH, nguyên tắc xây dựng hệ thống ASXH, nhìn nhận đánh giá tình hình thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam trong thời gian qua Đặc biệt đề tài đã đưa ra các mô hình hệ thống ASXH của một số nước trên thế giới để từ đó người đọc có thể so sách đối với
mô hình ASXH ở Việt Nam và từ đó có thể nhận thấy những nét đặc thù riêng biệt trong hệ thống ASXH ở nước ta Ngoài ra, đề tài còn đưa ra những nhận định, mục tiêu phương hướng thực hiện các chính sách ASXH ở nước ta đến năm 2020, để người đọc có thể “hình dung” quá trình thực hiện ASXH trong thời gian tới, có thêm thế giới quan sinh động về ASXH nói chung và ASXH ở Việt Nam
Nhìn chung, qua các nghiên cứu trên, đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát về ASXH với các mô hình, chính sách trên thế giới và ở Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện hệ thống ASXH Tuy vậ cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc thực hiện chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định từ năm 2015 đến năm 2020 Các công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách ASXH; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu
quả chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đính trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách ASXH và vai trò của chính sách ASXH
- Tổng hợp và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ASXH ở thị xã
An Nhơn trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2020
Trang 13- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực hiện chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Luận văn dựa trên hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về công bằng xã hội, ASXH nói chung; những chính sách về bảo đảm ASXH ở thị xã An Nhơn nói riêng Bên cạnh đó, luận văn kế thừa những quan điểm lý luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đối với một số nội dung liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là tác giả đã sử dụng các nguyên tắc phân tích - tổng hợp và tiếp cận vấn đề được dựa trên nền tảng khoa học của ngành Chính trị học và vận dụng các kiến thức liên ngành chính sách công, quản lý công Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tài liệu có sẵn; phương pháp định lượng; phương pháp định tính; so sánh - đối chiếu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp của xã hội học
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo góp phần vào việc nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ASXH ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Ngoài ra, còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu một số ngành khoa học xã hội có liên quan đến đề tài như: Chính trị học, Chính sách công, ASXH, Chính trị xã hội
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
1.1 An sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Quan niệm về an sinh xã hội
ASXH luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể có quan niệm khác nhau đối với sự phát triển hệ thống ASXH Hiểu một cách đơn giản hơn, điều nà có nghĩa là xã hội có thể giúp mỗi người phát triển và vận dụng tối đa tất cả những lợi thế (văn hóa, việc làm, phúc lợi xã hội) mà họ được cung cấp trong quốc gia đó
ASSXH là khái niệm có nội dung rộng và ngà càng được hoàn thiện
về phạm vi, đối tượng và chức năng trong việc hỗ trợ người dân đối phó có hiệu quả với các ngu cơ mất việc làm, giảm thu nhập do thiên tai, tai nạn lao động, ốm đau và tuổi già Theo nghĩa của từ Hán - Việt: An - trong chữ “An toàn”, Sinh - trong chữ “Sinh sống”, “Sinh nhai”, “Sinh tồn”… An sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống” Xã hội an sinh là xã hội con người được an toàn sinh sống hay có cuộc sống an toàn ASXH được coi là một tấm lưới, hay một chiếc ô che chắn cho sự an toàn xã hội và con người Xung quanh vấn đề này, chúng tôi tiếp cận ở một số quan điểm của các tổ chức trên thế giới như:
Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện
pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được ngu cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập ASXH theo quan niệm của một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự
cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm sức sống hoặc cải thiện mức
Trang 16sống thấp Định nghĩa nà nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
Còn Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ
thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế (BHYT); hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH), chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Tổ chức quốc tế Liên hiệp quốc cho rằng, ASXH tiếp cận trên quyền
của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1948): “ Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc tế, dịch vụ xã hội thiết yếu
và được có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ”
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Đại học Columbia (Mỹ) cho rằng:
ASXH là chương trình chính phủ nhằm cung cấp sự an toàn kinh tế và phúc lợi cho cá nhân và những người phụ thuộc vào họ Chương trình được xây dựng khác nhau ở mỗi quốc gia do những quan niệm về ASXH khác nhau của những nước đó, nhưng tất cả đều do chính phủ qu định và đều được thiết kế nhằm cung cấp một số khoản tiền để chi trả cho việc mất hoặc suy giảm thu nhập
Tại Điều 22 của bản Tuyên ngôn về nhân quyền của thế giới có ghi:
Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có qu ền được hưởng ASXH, cũng như có qu ền đòi được hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên quốc gia
Ở Việt Nam, cụm từ “an sinh xã hội” được chính thức sử dụng tại Đại
hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ
Trang 17thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [23; tr.96] và được sự quan tâm của
nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
Theo giáo sư Hoàng Chí Bảo, ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội Còn đối với giáo sư Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm nà Theo nghĩa rộng: ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, hạnh phúc, xã hội ổn định, phát triển Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự bảo đảm thu nhập và một số nhu cầu thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họ
Trong bài viết “Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội
là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011 - 2020”, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng “ASXH là hệ
thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”
Quan điểm về ASXH ở Việt Nam hiện nay, theo các nhà khoa học cũng như những người hoạch định chính sách chưa có một định nghĩa thống nhất,
có người ủng hộ quan điểm về ASXH mà ILO công bố, có người lại đưa thêm quan điểm thực hiện ASXH nhất thiết phải thực hiện hình thức ưu đãi xã hội, nhưng cũng có người lại cho rằng ASXH ở Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến công tác cung cấp dịch vụ công và có quan điểm cho rằng xóa đói giảm nghèo cũng là phạm vi của chương trình ASXH Những quan điểm này có thể nhận được sự đồng tình của các chuyên gia quốc tế, nhưng đôi khi quan điểm của các chuyên gia quốc tế cũng trái ngược với quan điểm của các chuyên gia
Trang 18trong nước Theo họ hệ thống ASXH thực chất có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo và cũng có thể trở thành một phần của chiến lược lớn về giảm nghèo kết hợp với các cơ chế tạo việc làm, đầu tư công phát triển cơ sở
hạ tầng, các chính sách giáo dục quốc gia
Qua tìm hiểu những quan điểm và cách tiếp cận về khái niệm “an sinh
xã hội”, chúng tôi có thể nhận thức như sau: ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân nhằm tạo ra sự an toàn sinh sống cho mọi thành viên trong xã hội ASXH là trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đối với các thành viên của mình, đồng thời đối với Việt Nam, trong hệ thống ASXH có thêm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, là sự tri ân những người h sinh cho độc lập, cho tự do của dân tộc, đó là tính đặc thù trong ASXH ở nước ta
1.1.2 Chính sách an sinh xã hội
Chính sách ASXH được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu thập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế xã hội và tự nhiên làm cho họ giảm nhẹ hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đâ là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu
và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động BHXH, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội ASXH luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi cho sự phát triển xã hội, nếu có một hệ thống chính sách ASXH đảm bảo sẻ góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế chính trị xã hội ổn định và phát triển bền vững
Chính sách ASXH có vai trò vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), vì nó không những thực hiện mục đích cao nhất của chủ nghĩa xã hội (CNXH) là vì con người mà còn phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Một chính sách ASXH tích cực sẽ có tác động đẩy
Trang 19mạnh xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, ổn định chính trị, vì xét đến cùng các quy luật xã hội đều phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người Khi con người được thỏa mãn các nhu cầu của mình sẽ tác động tích cực, sáng tạo thúc đẩy mọi tiến bộ xã hội Chính sách ASXH còn tác động đến việc hoàn thiện các quan hệ xã hội, xây dựng cộng đồng xã hội mới Cương lĩnh xâ dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam khăng định “Chính sách an sinh xã hội tác động trực tiếp đến việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh” [21; tr.15]
Chính sách ASXH có nhiều vai trò khác nhau, trong đó có 4 vai trò chính như sau:
Thứ nhất, tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và
giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và
hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm và kết nối thông tin thị trường lao động
Thứ hai, mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính
sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập
bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già
Thứ ba, hỗ trợ thường xu ên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ
trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo, ) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm
Thứ tư, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội
cơ bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin
Vai trò của chính sách ASXH còn thể hiện ở khả năng định hướng sự vận động và phát triển của xã hội Chính sách ASXH luôn xuất phát từ thực tiễn các vấn đề xã hội của một đất nước Đồng thời chính sách ASXH là
Trang 20công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý chí của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy,
nó là một phương tiện quan trọng định hướng cho mọi hoạt động trong xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước của Nhà nước Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy các vấn đề xã hội một cách đúng đắn theo quy luật kinh tế, xã hội khách quan trong điều kiện toàn cầu hóa Trên thực tế, chính sách ASXH luôn được xây dựng trên các chiến lược, đường lối, chủ trương của Đảng trong các lĩnh vực xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với xã hội Do đó, các chính sách ASXH của Nhà nước luôn phản ánh đường lối, chủ trương của Đảng trong việc phát triển các lĩnh vực xã hội, có vai trò định hướng sự phát triển các hoạt động xã hội cũng như mọi hoạt động liên quan nhằm thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ
1.2 Các hợp phần cơ bản của chính sách an sinh xã hội
Về bản chất ASXH mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, nên ở nhiều quốc gia nhiệm vụ ASXH được đề cao và có sự tham gia tích cực của các cá
thuộc khu vực công ASXH đã trở thành các chương trình hành động ở tầm quốc gia ở nhiều nước nhằm thúc đẩy phúc lợi người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầ đủ về lương thực, nhà
ở và bảo đảm sức khỏe Các đối tượng được chú ý đặc biệt trong đảm bảo ASXH thường là trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp Trên cơ
sở nguyên tắc san sẻ trách nhiệm, nhiều chính phủ đã đề ra những chính sách
ưu đãi đặc biệt cho các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp kêu gọi sự chung tay góp sức của cộng đồng bên cạnh vai trò nồng cốt của khu vực công Với hoạt động này, tuy ASXH không loại trừ được sự nghèo đói, nhưng cũng góp phần đẩ lùi đói nghèo và thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội
Các hoạt động ASXH tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro, trên cơ sở bốn trụ cột kinh tế là:
Trang 21BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp và cứu trợ xã hội Nếu xây dựng tốt hệ thống ASXH đảm bảo việc làm cho người lao động, cộng đồng cùng có tránh nhiệm thực hiện các chính sách ASXH, cùng nhau thực hiện tốt các chương trình về tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy hệ thống BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp Tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong điều kiện kinh tế thị trường làm cho nhu cầu về ASXH cũng không ngừng gia tăng, mặt khác, tăng trưởng mang lại thu nhập cho nền kinh tế quốc dân, tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết để người dân, các chủ thể kinh tế có thể mở rộng sự tham gia vào hệ thống BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp Đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng ASXH là một thiết chế bao gồm các chính sách và luật pháp được thực thi bởi các tổ chức tự nguyện hay của nhà nước thông qua đó một mức độ tối thiểu được xác định về dịch vụ xã hội, tiền và các quyền lợi khác (y tế, giáo dục, nhà ở…)
1.2.1 Các chính sách về phát triển thị trường lao động, tạo việc làm
BHYT là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức quản lý nhằm hu động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân BHYT là một chính sách ASXH do nhà nước
tổ chức thực hiện không nhằm mục đích lợi nhuận BHYT là một trong các hoạt động nhân đạo nhất với mục đích chia sẻ rủi ro về mặt sức khỏe, thể hiện
sự hỗ trợ tương thân, tương ái trong chăm sóc sức khỏe giữa người giàu với người nghèo, giữa người đang thuận lợi về sức khỏe với người ốm đau và rủi
ro về sức khỏe, giữa người đang độ tuổi lao động với người già và trẻ Đồng thời, BHYT mang tính dự phòng những rủi ro do chi phí cao cho chãm sóc
sức khỏe gây nên khi ốm đau, bệnh tật
Nằm trong hệ thống ASXH nên BHYT cũng mang một mục đích sâu xa
“là một nhân tố ổn định kinh tế vĩ mô vừa là nhân tố động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội” BHYT là chính sách đóng góp ba bên (do Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp) Với bất cứ đối
Trang 22tượng tham gia vào một tổ chức, cơ quan sử dụng lao động nào thì đơn vị đó cũng phải có nghĩa vụ chi trả một phần BHYT của người lao động, đó là
quyền lợi đã được nhà nước qu định rõ ràng
Ở Việt Nam hiện nay, việc thực hiện chế độ BHYT được thực hiện Luật số 46/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT đã được
Quốc hội khóa 13 thông qua và có những nội dung cơ bản như sau:
Nguyên tắc BHYT: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia
BHTY Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do Quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được
nhà nước bảo hộ
Chính sách của Nhà nước ta về bảo hiểm y tế: Nhà nước đóng hoặc hỗ
trợ tiền đóng BHYT cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ Quỹ BHYT để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời
từ hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT được miễn thuế Nhà nước tạo điều kiện để
tổ chức, cá nhân tham gia BHYT hoặc đóng BHYT cho các nhóm đối tượng Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý BHYT
Cơ quan quản lý nhà nước về BHYT: Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về BHYT; Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về BHYT Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về BHYT tại địa phương
1.2.2 Các chính sách Bảo hiểm
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là một bộ phận của BHXH nhằm hỗ trợ thu nhập, đảm bảo cuộc sống bình thường cho mọi người lao động bị mất việc làm (hoặc chưa tìm được việc làm) cũng như hỗ trợ cho họ để có cơ hội tham
gia vào thị trường lao động
Trang 23Luật BHTN được triển khai thực hiện từ năm 2009 gồm 4 chế độ: trợ
cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghể, hỗ trợ tìm việc làm và BHYT Đối tượng
tham gia BHTN gồm: người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng
trở lên và làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh có qui mô từ 10 lao động trở lên; cán bộ, viên chức làm việc trong khu vực sự nghiệp Mức đóng
BHTN: người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước tham gia đóng
góp vào quỹ BHTN Trong đó, người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN; hàng tháng, nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và mỗi năm chu ển một lần Quỹ được bảo toàn và tăng trưởng thông qua đóng góp từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư và từ các nguồn thu hợp pháp khác
Điều kiện hưởng BHTN: người thất nghiệp được hưởng BHTN khi có
đủ các điều kiện: đã đóng BHTN đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH, chưa tìm được việc làm Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp: mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp
1.2.3 Các chính sách trợ giúp xã hội và giảm nghèo
Đâ là sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh rủi ro, nghèo đói không đủ khả năng để tự lo cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Nguồn tài chính đảm bảo việc cứu trợ xã hội được hình thành chủ yếu từ nhà nước, sự hảo tâm, từ thiện của các tổ chức,
cộng đồng dân cư mà đối tượng hưởng không phải đóng góp trực tiếp Trợ
giúp xã hội được gổm hai nhóm là trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp
xã hội đột xuất
1.2.3.1 Trợ giúp xã hội thường xuyên
Thực hiện chăm sóc những người không tự lo được cuộc sống tại các
Trang 24cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng Hiện nay việc thực hiện trợ giúp
thường xu ên được áp dụng Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngà 27/02/2010 qu định đối tượng tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng là những người tàn tật, người già cô đơn, người tâm thần, trẻ em mồ côi không tự lo được cuộc sống Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho các đối tượng bảo trợ
xã hội sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội từ 360 nghìn đồng đến 450 nghìn đổng Bên cạnh đó, nhà nước khuyến khích và tạo điểu kiện để các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia giúp đỡ đối tượng bảo trợ xã hội
Thực hiện hỗ trợ tiền mặt cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 và Nghị định số 67/2007/NĐ-CP qui định 9 nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, gồm: trẻ em mồ côi hoặc bị bỏ rơi không nơi nương tựa; người già cô đơn thuộc hộ nghèo; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không
có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần; người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; hộ gia đình có từ 02 người trở lên bị tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ và người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 180 nghìn đồng và qu định đối với từng nhóm đối tượng, dao động từ 180 nghìn đồng đến 720 nghìn đồng Ngoài hỗ trợ bằng tiền, các đối tượng được cấp thẻ BHYT và khi từ trần được hỗ trợ kinh phí mai táng
1.2.3.2 Chính sách trợ giúp đột xuất
Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt qua khó khăn, sớm ổn định
sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị rơi xuống nghèo khổ Hiện
nay, chính sách trợ giúp đột xuất đang thực hiện theo Nghị định số
Trang 2513/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của chính phủ qu định đối tượng được trợ cấp đột xuất gồm: những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng như hộ gia đình có người bị chết, mất tích; hộ gia đình có hộ có người bị thương nặng, hộ có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; người thiếu đói; người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc bị chết, gia đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng; người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú
Mức trợ giúp được quy định cụ thể như sau:
Mức trợ giúp đối với hộ gia đình: hộ có người chết, mất tích (4.500.000 đồng/người); hộ có người bị thương nặng (1.500.000 đồng/người); hộ có nhà
bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng (6.000.000 đồng/hộ và 7.000.000 đồng/hộ đối với hộ sống ở vùng khó khăn); hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp do ngu cơ sạt lởđất, lũ quét (6.000.000 đồng/hộ)
Mức trợ giúp đối với cá nhân: trợ giúp cứu đói (15 kg gạo/người/tháng), trong thời gian từ 1 đến 3 tháng; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc (1.500.000 đồng/người); Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú (15.000 đồng/người/ngày) nhưng không quá 30 ngày Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian được hưởng trợ cấp tối đa không quá 90 ngày và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ sở bảo trợ xã hội Đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấp nhất bằng 3.000.000 đồng/người
1.2.4 Các chính sách ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là một bộ phận đặc thù trong hệ thống ASXH của Việt Nam Chính sách ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với những người có công với nước với dân, với cách mạng nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, h sinh cao cả của họ Điều này chẳng những thể hiện trách nhiệm của nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội mà còn nói lên đạo lý của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ người trồng câ ” Từ những
Trang 26năm đất nước vô cùng khó khăn, cả dân tộc đứng lên chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về chế độ Hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ Kể từ đó, việc thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được thực hiện thường xu ên và đã trở thành một truyền
thống tốt đẹp của dân tộc ta
Để thực hiện tốt hơn chính sách thương binh, liệt sĩ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng ta chỉ rõ phải “thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng…”; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi
đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”; Nghị quyết Đại hội VIII (1996) chỉ rõ: “Tổ chức tốt việc thi hành Pháp lệnh
về người có công, bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; bồi dưỡng và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh Mở rộng phong trào đền
ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ ” [22; tr.269]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng, khẳng định:
“Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách
tự vươn lên” Nhấn mạnh quan điểm nà , Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X (2006) một lần nữa chỉ rõ: “Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, người
Trang 27hưởng chính sách xã hội”
Tiếp đó, Cương lĩnh xâ dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua, khẳng định “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội Thực hiện tốt chính sách đối với
Hiện thực hóa chủ trương của Đảng, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, Ủ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi người có công lần thứ ba; ngày 9/4/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 31/NĐ-CP qu định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng và Nghị
Tiếp đó, để đánh giá toàn diện, đầ đủ việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công, ngày 27/10/2013, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách
ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong hai năm 2014 - 2015 Theo
đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xâ dựng chương trình phối hợp, triển khai rà soát đối với 07 đối tượng, bao gồm: liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, Bà mẹViệt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến
bị nhiễm chất độc hóa học, người có công giúp đỡ cách mạng và cựu thanh niên xung phong và trên cơ sở rà soát sẽ kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện việc triển khai thực hiện chính sách đối với người
Hầu hết người có công và thân nhân của họ đã được hưởng các chế độ
ưu đãi của nhà nước, đời sống ổn định và từng bước được cải thiện, góp phần
ổn định chính trị, xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, việc xây dựng xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ
và người có công với cách mạng đã trở thành phong trào thi đua và được cấp
ủy, chính quyền các cấp, các đoàn thể quan tâm
Trang 28Hơn lúc nào hết, trách nhiệm và tình cảm đối với người có công đã trở thành một nội dung quan trọng trên các diễn đàn và tru ền thông đại chúng, trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa Việt Nam Đó là sự chuẩn bị cần thiết để công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng có bước phát triển mạnh mẽ Với những chủ trương và chính sách kịp thời
1.3 Thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.3.1 Chủ thể thực hiện
Chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng luôn gắn với một chế độ chính trị - xã hội nhất định Do đó, việc thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề về ASXH, dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng
xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm tác động trực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của
nhân dân
Chủ thể ban hành chính sách ASXH chủ yếu là các cơ quan của nhà nước, ngoài ra còn có các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để tổ chức thực hiện Chính sách ASXH do nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách ASXH là chính sách của nhà nước Nhà nước ở đâ được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ má nhà nước, bao gồm Quốc hội, chính phủ, chính quyền địa
phương các cấp Thực hiện chính sách ASXH là toàn bộ quá trình chuyển hóa
cách ứng xử của chủ thể thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng của ASXH
Ở nước ta, trên sách báo, chúng ta thường gặp cụm từ “chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước”, như vậy có ý kiến cho rằng, Đảng cũng
là chủ thể ban hành chính sách, điều này có thể giải thích bằng thực tế đặc thù
Trang 29của nước ta Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch
ra Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là những căn
cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách ASXH nói riêng và chính sách nói chung
Như vậy, về thực chất, các chính sách ASXH là do Nhà nước Cộng ḥòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là chính phủ đề ra) Các chính sách được ban hành là việc cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng được thụ hưởng các chế độ ASXH
1.3.2 Đối tượng tác động
Về mặt thể chế, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước
ta đã hoạch định và triển khai nhiều chính sách ASXH quan trọng, hu động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng (người dân tộc thiểu số, người nghèo, người già cô đơn, trẻ em và các đối tượng dễ bị tổn thương) vươn lên trong cuộc sống Các chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở… Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụ người dân tốt hơn và đối tượng chịu tác động nhiều nhất của các chính sách ASXH vẫn là những đối tượng
“ ếu thế” trong xã hội là người già, trẻ em, người bệnh và người thất nghiệp
1.3.3 Nguồn lực thực hiện
Nguồn lực là tổng thể các thế mạnh mà có thể hu động được để có thể thực hiện cho một mục tiêu cần thực hiện Để thực hiện chính sách ASXH thì
có thể hu động từ nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó các nguồn lực chính
là của nhà nước, nguồn lực từ bên ngoài như nguồn ODA, nguồn hỗ trợ từ phi
chính phủ, nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp, tổ chức và trong nhân dân
Trang 30Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội, coi các chính sách xã hội là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài, liên tục từ đó chủ động đề ra các giải pháp để đảm bảo tốt ASXH, không ngừng nâng cao đời sống cho người dân Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến luật pháp, chính sách, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên tham gia ủng hộ đóng góp nguồn lực và tham gia thực hiện các hoạt động theo chức năng và thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, giảm nghèo,
công tác ASXH
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ở địa phương để có cơ sở hoàn thiện và nhân rộng ra các địa phương khác Tích cực và chủ động khai thác các nguồn lực xã hội, nguồn lực quốc tế, xây dựng cơ chế khuyến khích và hu động các
tổ chức, doanh nghiệp tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội theo phương thức hợp tác công tư nhằm đảm bảo nâng cao hệ thống ASXH
1.3.4 Phối hợp thực hiện
Phối hợp là làm việc với nhau một cách hòa hợp mà trong đó các chủ thể đều thực hiện hành vi nhằm đạt được mục tiêu đã xác định với sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hành vi Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước, phối hợp
là một phương thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầ đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung
Phối hợp giữa các cơ quan quản lý không những giúp chia sẻ được những nỗ lực trong xây dựng chính sách và đảm bảo thực thi đầ đủ, hiệu quả những chính sách này mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực (như tài chính, con người) nhằm đạt được các mục tiêu chính sách; đảm bảo cho tất cả các cơ quan liên quan có những hành động cần thiết nhằm thực hiện các chính sách của chính phủ; đảm bảo cho những chính sách trong lĩnh vực này không
Trang 31gây ra những ảnh hưởng xấu cho lĩnh vực khác Đặc biệt trong lĩnh vực chính sách ASXH là một lĩnh vực có phạm vi rộng lớn, gần như bao trùm trên nhiều lĩnh vực, nhiều bình diện khác nhau; Vì vậy phối hợp là yêu cầu mang tính chất quyết định cho sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu đề ra của chính sách ASXH
Phối hợp trong thực hiện chính sách ASXH tồn tại trong suốt quá trình quản lý, từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, đến việc tổ chức thực thi
cơ chế, chính sách, pháp luật Mục tiêu cuối cùng của phối hợp trong thực hiện chính sách ASXH là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, triển khai tổ chức thực hiện một cách đồng bộ để đưa lại hiệu quả tối ưu nhất
Trong quản lý nhà nước, phối hợp trong thực hiện chính sách ASXH có thể được thực hiện theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc Phối hợp theo chiều ngang là phối hợp xây dựng và thực hiện chính sách ASXH giữa các cơ quan cùng cấp (chẳng hạn giữa bộ Lao động, Thương binh và Xã hội với Bộ Y tế ) Phối hợp theo chiều dọc là phối hợp giữa các cơ quan không cùng cấp (chẳng hạn phối hợp giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội với Sở Lao động Thương binh và xã hội cấp tỉnh) Phối hợp giữa các cơ quan quản lý giúp cho các cơ quan chia sẻ được những nỗ lực trong xây dựng chính sách ASXH và đảm bảo thực thi đầ đủ, hiệu quả những chính sách này Phối hợp giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực (như tài chính, con người) nhằm đạt được các mục tiêu chính sách; đảm bảo cho tất cả các cơ quan liên quan có những hành động cần thiết nhằm thực hiện các chính sách của chính phủ
Ở Việt Nam, trong 35 năm qua, cùng với những thành tựu đổi mới kinh
tế, phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn, đầu tư nguồn lực và đổi mới cơ chế, chính sách để thực hiện ASXH, chăm lo cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân Các chương trình xóa đói giảm, nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia đã thu được những kết quả rất tốt đẹp, đã được dư luận quốc tế thừa nhận
và đánh giá cao, nhất là xóa đói giảm nghèo cho nông dân Về việc giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện các chính sách ASXH cho các cộng đồng dân
Trang 32cư, Việt Nam là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm các Mục tiêu thiên niên kỷ, nhận được những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế Qua
đó, cho thấ cơ chế phối hợp trong thực hiện các chính sách ASXH ở nước ta trong những năm qua cơ bản có hiệu quả, đã có sự chỉ đạo, phân công tương đối rõ ràng
Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách xã hội và ASXH hiện nay, Việt Nam cũng đứng trước rất nhiều khó khăn, trở ngại và thách thức trong điều kiện khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu tác động vào, cũng như tốc
độ tăng trưởng kinh tế trong nước suy giảm, lạm phát và thất nghiệp gia tăng, đời sống, mức sống người dân giảm sút Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ Tỷ lệ người tham gia BHXH, BHYT còn thấp Đời sống của một bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là về nhà ở và sử dụng nước sạch Chênh lệch các chỉ số về ASXH giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung của bình cả nước còn lớn Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, công tác bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Do đó, thực hiện phối hợp trong thực hiện các chính sách ASXH không thể một tổ chức nào đứng ngoài cuộc và đó
là nhiệm vụ của toàn nhân dân, trong đó các cơ quan có trách nhiệm thực thi chính sách ASXH và người được thụ hưởng các chính sách ASXH là đối tượng trực tiếp
Thiết lập và vận hành một cơ chế phối hợp tốt giữa các cơ quan thực thi chính sách ASXH là một trong những giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách xã hội ở Việt Nam, góp phần nâng cao đời sống, chất lượng cuộc sống cho nhân dân Ngược lại, sự thiếu phối hợp trong thực hiện chính sách dẫn đến sự chậm trễ, chồng chéo và hệ quả không hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp, chất lượng cuộc sống của người dân không có sự chuyển như mục tiêu đề ra ban đầu
Trang 331.3.5 Kiểm tra đôn đốc thực hiện
Để thực hiện công tác chính sách ASXH, Chính phủ đã ban hành Qu ết định số 31/2011/QĐ-TTg ngày 2/6/2011 về việc qu định việc công khai,
minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện qu định pháp luật về ASXH
Quyết định nà qu định về công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện qu định pháp luật về BHXH; BHYT; trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; ưu đãi đối với người có công; vận động, tiếp nhận, phân phối
và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo; hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện và cơ sở bảo trợ xã hội;
các chương trình xã hội Đối tượng áp dụng là các cơ quan quản lý nhà nước;
cá nhân, hộ gia đình, tập thể được thụ hưởng từ qu định pháp luật về ASXH;
cơ quan, tổ chức, cá nhân tài trợ cho các hoạt động ASXH và cơ quan thực
hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực ASXH
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân có trách nhiệm công khai tùy theo nội dung, đối tượng, mục đích công khai và điều kiện thực tế mà lựa chọn trong số các hình thức công khai sau: công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải trên trang thông tin điện tử; cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải công khai những nội dung sau: qu định pháp luật ASXH; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện qu định pháp luật; điều kiện, tiêu chuẩn của đối tượng thụ hưởng; hồ sơ, qu trình, phương pháp lựa chọn đối tượng thụ hưởng, thời hạn thực hiện; danh sách đối
tượng, thứ tự ưu tiên, mức được thụ hưởng từ qu định pháp luật
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện qu định pháp luật
về ASXH có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
Trang 34của đơn vị, của cán bộ, công chức, viên chức Cơ quan, tổ chức thực hiện việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra đảm bảo việc thực hiện đúng mục đích, đối tượng được thụ hưởng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.4.1 Thể chế nhà nước
Thể chế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ASXH Nội dung cơ bản của thể chế nà là xác định khuôn khổ pháp lý (luật, các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách, chế độ, đối tượng tham gia, tiêu chí, điều kiện tham gia, cơ chế đóng góp, qu ển lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế nhà nước còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành địa phương
trong việc thực hiện chính sách, chế độ để ra
Thể chế được hình thành từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong xã hội cần được bảo vệ trước các ngu cơ bị rủi ro mà họ không tự bảo vệ được Tuy nhiên, không phải mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu và có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia và thụ hưởng các chính sách ASXH ASXH được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn phát triển kinh tế -
xã hội, ngay cả những nước coi ASXH là quyền của người dân, lộ trình để thực hiện mục tiêu ASXH toàn dân cũng phải kéo dài trong nhiều năm
1.4.2 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách ASXH Nguồn lực xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của nhà nước); cơ chế cân đối thu - chi, đầu tư phát
triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH Cơ chế tài
chính của các hợp phần của ASXH không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng có hưởng, còn đa số hợp phần trợ giúp
xã hội thì nguồn tài chính lại chủ yếu do ngân sách nhà nước cung cấp
Thể chế tài chính của hệ thống ASXH có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính và phụ thuộc vào mô hình hệ thống ASXH Ví
Trang 35dụ, các nước theo mô hình nhà nước phúc lợi thường thu thuế cao (kể cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản lệ phí khác) để có nguồn thực hiện các chính sách ASXH tốt hơn cho mọi người dân Ngược lại, các nước theo mô hình nhà nước xã hội khuyến khích tăng trưởng nhanh hơn nên thu thuế thấp hơn và chỉ thực hiện các chính sách ASXH ở mức thấp, với phạm vi chính sách và đối tượng bao
phủ hạn chế
Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách ASXH tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của từng quốc gia Một số nước phát triển, ngân sách nhà nước dành cho các chính sách ASXH có thể lên tới 30% tổng ngân sách nhà nước, hay khoảng 15% GDP, trong khi đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt nam), chỉ khoảng dưới 5% GDP
1.4.3 Trình độ nhận thức của người dân
Nhận thức của người dân trong việc tự nguyện đóng góp, chia sẻ khó khăn và cả nhận thức của người thụ hưởng trong việc khắc phục hậu quả của rủi ro, tự lực cánh sinh cải thiện điều kiện sống của mình có vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo ASXH Đồng thời, việc nâng cao chất lượng ASXH là
nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng để vượt qua khó khăn lại phải bằng sự nỗ lực, sự vươn lên của chính là người đang trực tiếp hưởng các chính sách ASXH Nếu họ không tự vươn lên thì không thể thoát được khó khăn Đâ là mối quan hệ qua lại, cộng đồng xã hội chỉ có thể tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực để phấn đấu vươn lên
Do đó phải làm cho những đối tượng đang được hưởng các chính sách ASXH tin vào triển vọng của cuộc sống, có điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi
để phát triển bằng khả năng sẵn có, bằng lao động, bằng đào tạo để vượt khó khăn là rất quan trọng và chỉ có như vậy thực hiện ASXH mới mang tính chất bền vững
1.4.4 Môi trường thực hiện chính sách
1.4.4.1.Về môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên (vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, tài nguyên khoáng
Trang 36sản, biến đổi khí hậu, như mưa bão, lũ lụt thường xu ên, nước biển dâng )
có ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện các chính sách ASXH Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, nó trở thành nguồn lực, còn điều kiện tự nhiên có nhiều khắc nghiệt, nó trở thành nhân tố gây cản trở quá trình thực hiện các chính sách ASXH Tuy vậy, theo chúng tôi môi trường tự nhiên không mang tính quyết định đến việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung, ASXH nói riêng, mà nó chỉ mang ảnh hưởng trực tiếp trong quá trình thực hiện Đồng thời, chúng ta có thể tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên thuận lợi
và cũng có thể hạn chế được những tác động mà ảnh hưởng của tự nhiên mang đến trong việc phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống của người dân
1.4.4.2 Về môi trường xã hội
Ở Việt Nam, mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của nó để lại vẫn còn nặng nề, đối tượng trợ giúp xã hội còn nhiều, chưa giải quyết hết được Xu hướng già hóa dân số nhanh hơn dự kiến đặt ra những thách thức về
chi phí liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và chính sách ASXH
Môi trường xã hội tác động đến chính sách ASXH được thể hiện nữa là:
sự chênh lệch về thụ hưởng giáo dục giữa các vùng, miền có xu hướng gia tăng; tỷ lệ trẻ em su dinh dưỡng giảm chậm; chất lượng chăm sóc tế ở nông thôn, vùng sâu vùng xa còn thấp; vấn đề nhà ở cho các nhóm dân cư (lao động di cư, học sinh, sinh viên; dân tộc thiểu số) còn bất cập Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn quốc gia còn thấp, những tác động của môi trường xã hội đó ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chính sách ASXH ở Việt Nam
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách an sinh xã hội trong nước và bài học kinh nghiệm cho thị xã An Nhơn
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế -
xã hội trong hơn hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, được quốc tế công nhận đã về trước trong việc thực hiện nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ,
Trang 37nhất là xóa đói giảm nghèo, nhưng cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam cũng gặp phải những ngu cơ, khó khăn, thách thức mới còn rất to lớn Trong những chặng đường phát triển tiếp theo, khi đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, ngoài việc tiếp tục khắc phục những hậu quả của chiến tranh để lại, Việt Nam thường xuyên phải đối phó với các diễn biến ngày càng phức tạp của thiên tai, biến đổi khí hậu, những vấn đề phát sinh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu vừa qua, đồng thời thực trạng chính sách ASXH hiện nay là: nhu cầu cơ bản của một bộ phận dân cư có khó khăn chưa được đảm bảo kịp thời; mức trợ cấp xã hội còn thấp; chưa đáp ứng đầ đủ ha chưa đảm bảo mức sống tối thiểu cho nhiều đối tượng; năng lực thực hiện của hệ thống ASXH chưa cao và khả năng tự bảo đảm ASXH của người dân còn thấp… Đâ là những vấn đề mà những nhà làm chính sách cần phải tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm để tìm hướng đi, tìm giải pháp phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay là
vô cùng bổ ích để xây dựng hệ thống ASXH đảm bảo
1.5.1 Kinh nghiệm từ Thành phố Đà Nẵng
Nghị quyết số 33/NQ-BCT của Bộ Chính trị về Xây dựng và phát triển Thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định: “Phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống, giải
quyết tốt các vấn đề ASXH”
Từ chủ trương trên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đà Nẵng đã chọn phương thức vừa kết hợp hài hòa phát triển toàn diện, đồng bộ với phát triển có trọng điểm, giữa những vấn đề gây bức xúc hiện tại với những vấn đề phục vụ cho phát triển lâu dài, phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và chính sách ASXH cho người dân Đà Nẵng đã thực hiện Chương trình “5 không, 3 có”; giải quyết tốt các vấn đề bức xúc trong nhân dân và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh dặc biệt khó khăn: nghèo, học sinh bỏ học, học sinh hư, vi phạm pháp luật Trong đó Chương trình “Thành phố 3 có”, trong đó mục tiêu “có
Trang 38nhà ở” và “có việc làm” là chương trình ASXH nổi tiếng từng góp phần khẳng định thương hiệu Đà Nẵng những năm qua Đà Nẵng đã thực sự tạo ra
bước đột phá trong việc triển khai xây dựng các chương trình nhà ở xã hội
Thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển nghề công tác xã hội; xây dựng hệ thống ASXH hiệu quả, đa dạng, ngày càng mở rộng phù hợp với nhu cầu của nhân dân; thực hiện đồng bộ, toàn diện các chương trình, dự án giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các chính sách trợ giúp về dạy nghề, khuyến nông; xây dựng các đề án, giải pháp mô hình giảm nghèo cho người dân; Công tác đền ơn đáp nghĩa của Đà Nẵng rất được coi trọng, được xem là tỉnh điển hình về thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công
với cách mạng
Chính sách BHXH được triển khai sâu rộng, số lượng người tham gia
và quy mô BHXH bắt buộc tăng nhanh, cơ quan giám sát việc chấp hành theo pháp luật có hiệu quả BHTN cũng tăng nhanh, qua 3 năm triển khai, năm
2011 với năm 2009 thì số người tham gia BHTN tăng 21,6%, số người lao động tham gia BHXH bắt buộc đến na đạt 90% Công tác BHYT trên địa bàn cũng không ngừng được mở rộng: Số lượt người được khám chữa bệnh theo BHYT, số chi BHYT tăng nhanh và mức độ bao phủ hơn 80% dân số
toàn thành phố
Ngoài ra, trong thời gian qua Đà Nẵng còn thực hiện tốt chính sách đối với trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và phụ nữ nghèo, bất hạnh: 100% trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc, giúp đỡ từ chính sách của Nhà nước, cộng đồng và các tổ chức quốc tế; Tổ chức thăm khám cho hàng ngàn phụ nữ có điều kiện khó khăn mắc phải bệnh hiểm nghèo Theo số liệu thống kê, từ năm 2009 đến
2014, đã thực hiện miễn phí, giảm viện phí cho 3.358 lượt phụ nữ, đối tượng
hộ nghèo
Điển hình gần đâ , một số vấn đề được dư luận đồng tình, tạo hiệu ứng
xã hội rất cao, thể hiện sự chia sẻ, thấu hiểu với nhân dân của những người đứng đầu thành phố Hàng loạt các chính sách ASXH như cấp thẻ BHYT
Trang 39miễn phí cho người già và trẻ em khuyết tật trên 6 tuổi, trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người tàn tật đã tạo nên dấu ấn riêng
cho Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng coi việc đảm bảo ASXH là nhiệm vụ của Đảng
bộ, chính quyền, nhân dân các cấp cùng phối hợp thực hiện Ngoài ra, còn
hu động được sức mạnh từ các tổ chức đoàn thể, xã hội và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn: Trong 12 năm thực hiện Quỹ ASXH, Mặt trận Tổ quốc các cấp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đã xâ dựng được khoảng 12 ngàn căn nhà đại đoàn kết, đồng nghĩa với 12 ngàn hộ dân có nhà ở ổn định;
hỗ trợ trên 5 ngàn căn nhà xuống cấp, cơ bản đã xóa xong vấn đề nhà tạm Cách làm của Đà Nẵng trong hỗ trợ xâ nhà đại đoàn kết theo mô hình có nhà ở vững chắc kiểu “3 trong 1” là xóa nhà tạm, chống bão và chống lũ; những hộ không có đất ở ổn định được thành phố bố trí chung cư cho hộ
nghèo và hộ thu nhập thấp
Có thể nói, việc thực hiện chính sách ASXH trên TP Đà Nẵng là một trong những thành công lớn, là minh chứng sống động, hùng hồn, tuyệt vời của những quyết sách của Đảng bộ, chính quyền và của lòng dân Đà Nẵng, làm nổi bật lên truyền thống nhân văn con người nơi đâ Thắng lợi còn thể hiện bài học đoàn kết của đảng bộ và tầng lớp nhân dân đã đồng sức, đồng
lòng trong việc thực hiện mục tiêu chung của thành phố
Những ngu ên nhân nà đòi hỏi hệ thống ASXH phải tha đổi chức năng, phải cải cách nhằm phù hợp với sự tha đổi về điều kiện kinh tế - xã hội, tăng cường các biện pháp xóa nghèo Xây dựng hệ thống ASXH có thể bao phủ đa dạng các loại hình lao động; Thúc đẩy thiết lập một xã hội trách nhiệm với sự tham gia của tất cả mọi người dân và việc làm bền vững; Bảo đảm ổn định nguồn lực tài chính cho hệ thống ASXH, nhất là hệ thống chính
sách, pháp luật về ASXH khá đầ đủ chi tiết, cụ thể, minh bạch, dễ áp dụng
Qua nghiên cứu cho thấy vấn đề con người, phát triển và quản lý nguồn nhân lực rất được chú trọng và có chính sách, chiến lược đầu tư, phát triển
Trang 40đúng hướng, cụ thể Trong chính sách phát triển con người nói chung và phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy thị trường lao động nói riêng, nhưng đều hướng tới mục tiêu lâu dài là con người, ổn định xã hội để phát triển và coi trọng các giá trị nhân bản, truyền thống Vì vậ , đối với Việt Nam, điều căn bản hiện na là làm sao đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và tác động của ASXH để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi người dân nhằm hướng tới một chính sách ASXH tốt hơn vừa đảm bảo tính hỗ trợ của nhà nước, nhưng cũng đề cao tính chia sẻ của cá nhân, cộng đồng
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho việc thực hiện đảm bảo an sinh xã hội ở thị xã An Nhơn
Thứ nhất, chỉ đạo và tổ chức thực thi đồng bộ, hiệu quả các chính sách
đảm bảo an sinh xã hội ở thị xã An Nhơn
Để đảm bảo ASXH ở thị xã An Nhơn, cần phải phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, đề cao vai trò, chịu trách nhiệm của cá nhân Quá trình thực hiện chính sách ASXH phải đảm bảo vai trò chủ đạo, thống nhất quản lý của Nhà nước và các cấp ủ đảng, chính quyền ở thị xã Việc áp dụng các văn bản về thực thi chính sách ASXH phải vận dụng sáng tạo, bám sát với tình hình thực
tế ở thị xã An Nhơn Trong thực hiện chính sách ASXH Nhà nước phải có vai trò chủ đạo, đề ra các chính sách lớn và có mục tiêu, chỉ tiêu, nhóm đối tượng cần ưu tiên thực hiện và sự vào cuộc cả hệ thống chính trị trong thực hiện ASXH như Đà Nẵng
Thứ hai, huy động, phát triển và tổ chức các lực lượng tham gia bảo đảm ASXH ở thị xã, đặc biệt đẩy mạnh khuyến khích tư nhân tham gia đóng góp vào hệ thống ASXH của thị xã An Nhơn
Để thực hiện đảm bảo ASXH ở thị xã An Nhơn không thể không nói đến Nhà nước vì hệ thống ASXH không thể tự nó hình thành và vận động phát triển nếu không có bàn ta Nhà nước, không có định hướng ngay từ đầu trong việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam Chính mặt trái của kinh tế thị trường làm cho Nhà nước phải điều chỉnh lại hệ thống ASXH và phúc lợi xã hội để đảm bảo sự ổn định xã