Theo Điều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phúc thẩm là việc Tòa án cấp trêntrực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệulực pháp luật bị kháng cáo
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 3
1.1 Khái niệm về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 3
1.2 Tính chất của thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 4
1.3 Ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 5
Kết luận chương 1 8
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 9
2.1 Đối tượng có quyền kháng cáo, kháng nghị 9
2.1.1 Đối tượng có quyền kháng cáo 9
2.1.2 Đối tượng có quyền kháng nghị 10
2.2 Thủ tục kháng cáo, kháng nghị 11
2.2.1 Thủ tục kháng cáo 11
2.2.2 thủ tục kháng nghị 15
2.3 Thủ tục chuẩn bị xét xử phúc thẩm 16
2.4 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm 18
2.5 Thẩm quyền xét xử của tòa án cấp phúc thẩm 20
2.5.1 Giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm 21
2.5.2 Sữa bản án sơ thẩm 22
2.5.3 Hủy bản án, quyết định sơ thẩm 23
Kết luận chương 2 24
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 25
3.1 Thực trang và những bất cập về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 25
3.2 Nhưng nguyên nhân của những bất cập và hạn chế 26
3.2.1 nguyên nhân khách quan 26
Trang 23.2.2 Nguyên nhân chủ quan 27
3.3 Giải pháp nhầm hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 27
Kết luận chương 3 29KẾT LUẬN 30
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ những quy định phức tạp trên cùng với việc nhận thức được tầmquan trọng của thủ tục phúc thẩm, nên tác giả đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài
“Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự” để nghiên cứu Qua đó có thể tìm hiểu sâu hơn về
các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự, đồngthời tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những bất cập hiện tại, từ đó đưa ra những đềxuất nhầm góp phần hoàn thiện quy pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự” với mục tiêu:
thứ nhất, nêu lên được khái niệm, tính chất và ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm vụ
án dân sự
Thứ hai, nêu lên những quy định của pháp luật điều chỉnh về thủ tục phúc thẩm
vụ án dân sự Trên cơ sở đó tác giả tiến hành phân tích và đánh giá
Thứ ba, trên cơ sở của pháp luật việt nam hiện hành tác giả tìm ra những bấtcập, nêu lên thực trạng và đề ra những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật vềthủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
3 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu tiểu luận, tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng cộngsản Việt Nam trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Mác-và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, Phương pháp nghiên cứucủa tiểu luận là đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận
4 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản của pháp luật hiện hành vềthủ tục phúc thẩm vụ án dân sự Qua đó tác giả đối chiếu với những định trước đây đểthấy rằng quy định mới đã khắc phục được những khó khăn nào và còn tôn tại nhữngkhó khăn nào cần được giải quyết và khắc phục kịp thời.Bên cạnh đó tác giả cònnghiên cứu về những nguyên nhân của các bất cập và hạn chế từ đó đưa ra hướng hoànthiện
Trang 45 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Ở chương này tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục phúcthẩm vụ án dân sự Cụ thể là khái niêm, tính chất và ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm vụ
án dân sự
Chương 2: Quy định pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Ở chương này tác giả nghiên cưu về các quy định pháp luật hiện hành và tiếnhành so sánh các văn bản pháp luật cũ với các văn bản pháp luật cũ Đồng thời tác giảphân tích dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Ở chương cuối này, tác giả trình bày thực trạng về thủ tục phúc thẩm vụ án dân
sự Qua đó tác giả nêu lên nguyên nhân của những bất cập đồng thời rút ra những giảipháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Việc giải quyết của Tòa án qua hai giai đoạn từ sơ thẩm và phúc thẩm Trong
đó thủ tục phúc thẩm là thủ tục ảnh hưởng đến quyền, cũng như nghĩa vụ của các bêntham gia trong vụ kiện nhiều nhất.Bởi quyết định phúc thẩm đồng nghĩa với việcquyền, nghĩa vụ của các đương sự đã được phân định rạch ròi, có ý nghĩa thực hiệntrên thực tế Bản án có hiệu lực là pháp luật và có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối vớicác đối tượng là các chủ thể có liên quan
Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân được coi là yêucầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền, quyền tư pháp là một trong banhánh quyền lực Nhà nước là quyền nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết nhằmkhôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội vàcông dân khi có sự vi phạm Chủ thể của hoạt động xét xử chỉ có thể là Tòa án Xét xử
là việc Tòa án nhân danh Nhà nước xem xét đánh giá tính chất mức độ của hành vi viphạm pháp luật, xác định bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên và ra cácquyết định xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên1
Theo Điều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phúc thẩm là việc Tòa án cấp trêntrực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệulực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Hiểu theo cách hiểu của quy định của pháp luật thì khái niệm phúc thẩm cũngbao gồm ba yếu tố hợp thành: Là việc của Tòa án cấp trên trực tiếp, Xét lại bản án,Bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Từ khái niệm phúc thẩm trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phúc thẩm là thủtục xem xét lại tính hợp pháp, có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm khi có khángcáo, kháng nghị
Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, có những tínhchất, đối tượng xét xử, có vai trò, ý nghĩa, mục đích riêng, không giống với bất cứ thủtục xét xử ở giai đoạn nào
1 Đại học Kiểm sát Hà Nội, “Khái niệm phúc thẩm”, http://tks.edu.vn/WebKiemSatVienCanBiet/Detail/
21?idMenu=84 , [Truy cập ngày 21/02/2018]
Trang 6Dựa theo bộ luật tố tụng dân sự có quy định rõ về tính chất của xét xử phúcthẩm: khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 quy định rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng của Tòa án là phải bảo đảmthực hiện chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Theo đó, trong hệ thống pháp luật ViệtNam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng, phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai
và cũng là cấp xét xử cuối cùng, Việc xây dựng chế định phúc thẩm dân sự hướng tớihai mục đích lớn, nhằm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong
tố tụng dân sự, nhằm khắc phục những sai lầm trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp
sơ thẩm2
Để đạt được mục đích trên đòi hỏi Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét lại bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và xét xử lại vụ án đã được Tòa án cấp sơ thẩmgiải quyết Do đó, Điều 263 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 kế thừa quy định củaĐiều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) khẳng địnhtính chất của xét xử phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị So với Bộ luật Tốtụng dân sự sửa đổi năm 2011, Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có sửa đổiquy định về chủ thể có thẩm quyền xét xử lại vụ án là Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp(Điều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011) Lý do của sự thay đổi trên lànhằm đảm bảo tính tương thích với các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dânnăm 2014 Sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức Tòa án bắt buộc luật tố tụng dân sự phải thayđổi quy định về thẩm quyền xét xử phúc thẩm Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 quy định cơ cấu, tổ chức của Tòa án được thành lập theo thẩm quyền xét xử chứkhông theo đơn vị hành chính lãnh thổ như trước đây Theo đó, Tòa án có thẩm quyềnxét xử phúc thẩm phải là Tòa án được thành lập và được trao thẩm quyền xét xử phúcthẩm theo khu vực (Điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) chứ không
2 Tạp chí nghề Luật (2017) số 3
Trang 7phải là Tòa án cấp trên trực tiếp như quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004(sửa đổi, bổ sung năm 2011).
Xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử nên tính chất của phúc thẩm dân sựkhông có gì khác, đó chính là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định dân
sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Tính chất của phúc thẩm dân sự được thể hiện rõ qua những nét đặc trưng cơbản của thủ tục phúc thẩm dân sự, qua đó cho thấy sự khác biệt về tính chất của thủ tụcphúc thẩm dân sự với các thủ tục tố tụng tại cấp sơ thẩm hay các thủ tục tố tụng khácđược Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự đó
Khác với việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là cấp giámđốc thẩm, tái thẩm chỉ thường xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ chứ ít cónhững chứng cứ mới phát sinh bởi khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì thườngkhông triệu tập đương sự, phiên tòa không mở công khai Còn khi xét xử phúc thẩmthì phiên tòa mở công khai, tất cả các đương sự, những người tham gia tố tụng có liênquan đều được triệu tập Tất cả các chứng cứ đều được xem xét, tranh luận tại phiêntoà, tất cả các nội dung có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dungkháng cáo, kháng nghị đều đưa ra xem xét tranh luận cụ thể và nếu có căn cứ đều đượcxem xét cải sửa cho phù hợp Như vậy, qua phân tích những quy định của pháp luật thìthấy tính chất của phúc thẩm dân sự chính là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáohoặc kháng nghị
1.3 Ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Khi có sự tranh chấp về quyền, lợi ích nói chung mà các bên tranh chấp không
tự giải quyết được với nhau hay khi có một sự kiện pháp lý nào đó xảy ra có liên quanđến quyền lợi, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong các quan hệ dân sự thì cá nhân
tổ chức có liên quan ấy có quyền làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết các yêucầu của họ, khi các đương sự đã thực hiện đầy đủ các điều kiện về mặt hình thức, thủtục theo đúng quy định của pháp luật thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý xem xét, giảiquyết các tranh chấp hay các yêu cầu về công nhận một sự kiện pháp lý nào đó Khicác đương sự khởi kiện hoặc có yêu cầu đến Toà án là họ đã có mong muốn, gửi gắmvào cơ quan quyền lực, cơ quan công quyền nhân danh Nhà nước ra các phán quyếtthực sự công bằng đối với họ, trả lại cho họ quyền, lợi ích chính đáng mà họ đángđược hưởng theo quy định của pháp luật
Quá trình áp dụng các quy định của tố tụng dân sự vào thủ tục phúc thẩm vụ ándân sự được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau từ giai đoạn xem xét các yêu cầu
Trang 8khởi kiện, thụ lý yêu cầu khởi kiện, các thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đến cácgiai đoạn xét xử như: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hay táithẩm ở mỗi giai đọan giải quyết đều có những ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội hay ýnghĩa pháp lý riêng Nhưng việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, ý nghĩacủa việc giáo dục phổ biến pháp luật được thể hiện rõ nét hơn cả trong quá trình xét xửtại Tòa án cấp phúc thẩm Với quy định bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từngày tuyên án, thì việc áp dụng các quy định của tố tụng dân sự trong thủ tục phúcthẩm vụ án dân sự có một ý nghĩa đặc biệt3.
Qua xét xử vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm, hội đồng xét xử phúc thẩm,khắc phục những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lựcpháp luật của Tòa án bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như cáclợi ích tập thể được thực hiện trong thực tế Trong xã hội, các lợi ích chính đáng của cánhân, tổ chức, của cộng đồng được bảo vệ thì trật tự chính trị xã hội được ổn định,pháp luật được tôn trọng làm tiền đề cho việc xây dựng một Nhà nước pháp quyềnvững mạnh Trong đó vai trò của pháp luật được đề cao,đòi hỏi của Nhà nước đó là:Phải tạo được ý thức cao trong pháp luật hay quản lý xã hội, quản lý Nhà nước xácđịnh đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân, tính hợp hiến của cácthể chế, tổ chức, chính sách và toàn bộ hệ thống pháp luật và vấn đề tổ chức quyền lựcNhà nước Với việc xét xử công khai, với tư cách xem xét, khắc phục lại những thiếusót có thể có của bản án, quyết định sơ thẩm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủthể bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và của công dân, thì thông qua các phánquyết chính xác, khách quan tại cấp phúc thẩm thể hiện quan điểm của Nhà nước đấutranh với hành vi bị coi là không đúng pháp luật, buộc người có hành vi phạm phảikhắc phục, bồi thường đối hậu quả mà họ đã gây ra Trên cơ sở trách nhiệm, nghĩa vụ
đó họ tự ý thức được những xử sự mà họ đã thực hiện là phù hợp mới pháp luật haykhông, qua cách thức ấy thủ tục phúc thẩm dân sự góp phần tạo được ý thức coi trọngpháp luật trong quản lý xã, hội quản lý Nhà nước4
Thủ tục phúc thẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự Thôngqua phúc thẩm, Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới,qua đó có thể tìm ra những nguyên nhân, khắc phục những thiếu sót, những lỗ hổngcủa chính các quy định của pháp luật về nội dung và về hình thức từ đó có những địnhhướng chỉ đạo kịp thời nâng cao chất lượng,đảm bảo sự vận dụng pháp luật một cáchthống nhất, tạo ra lòng tin của người dân đối với pháp luật, đối cơ quan Tòa án điều đócũng đòi hỏi chất lượng xét xử của cấp phúc thẩm phải được nâng lên, thực sự trở
3 Bình luận Luật Tố tụng Dân sự 2015
4 Ý nghĩa phúc thẩm, thongtinphapluatdansu.edu.vn , [Truy cập ngày 24/02/2018]
Trang 9thành nơi đem lại sự công bằng, minh bạch, giải tỏa hết tâm lý bức xúc trong các quan
hệ có tranh chấp, đáp ứng được lòng mong mỏi của mỗi người dân, tạo niềm tin tuyệtđối của họ vào pháp luật và cơ quan Tòa án
Trang 10Kết luận chương 1
Qua phân tích 1 số vấn đề khái quát chung về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
đã làm rỏ nét hơn về thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự củ thể như sau:
Thứ nhất là, thủ tục phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai trong cơ chế xét xử hai cấp của tòa án
Thứ hai là, tính chất của thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự ở giai đoạn này quyềndân chủ được nâng cao và sự nghiêm minh của pháp luật, thực sự trở thành nơi đem lại
sự công bằng, minh bạch, giải tỏa hết tâm lý bức xúc trong các quan hệ có tranh chấp,đáp ứng được lòng mong mỏi của mỗi người dân, tạo niềm tin tuyệt đối của họ vàopháp luật và cơ quan Tòa án
Cuối cùng là, thủ tục phúc thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tố tụng dân sự thong qua thủ tục phúc thẩm tòa án cấp trên có thể kiểm tra hội đồng xét xử của tòa án cấp dưới
Trang 11CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1 Đối tượng có quyền kháng cáo, kháng nghị
2.1.1 Đối tượng có quyền kháng cáo
So với quy định về người có quyền kháng cáo trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, quy định trong Bộ luật TTDS 2015 đã có sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định
cụ thể hơn về chủ thể, đối tượng kháng cáo Cụ thể là Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm 5
Chủ thể có quyền kháng cáo là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện Đối tượng của việc kháng cáo bao gồm: Bản
án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa áncấp sơ thẩm Thủ tục thực hiện quyền kháng cáo là làm đơn kháng cáo, đơn kháng cáophải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo
Đương sự là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mìnhlàm đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giảiquyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm Đơn kháng cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ củangườikháng cáo và phải ký tên hoặc điểm chỉ vào cuối đơn kháng cáo (nếu không biếtchữ hay vì lý do khác mà không ký được)
Trường hợp đương sự không tự mình làm đơn kháng cáo thì có thể uỷ quyềncho người khác đại diện cho mình kháng cáo, trừ kháng cáo bản án, quyết định củaToà án cấp sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình Trong trường hợp này, tạimục tên, địa chỉ của người kháng cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người đại diệntheo uỷ quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ của đương sự uỷ quyền kháng cáo và vănbản uỷ quyền cho người đại diện của mình kháng cáo
Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mìnhlàm đơn kháng cáo hoặc uỷ quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo Trongtrường hợp này, đơn kháng cáo phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo uỷquyền và văn bản uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của
5 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
Trang 12đương sự uỷ quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mấtnăng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người làm đơnkháng cáo cũng phải phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn kháng cáo.
Đối với đương sự là cơ quan, tổ chức, người đại diện theo pháp luật của cơquan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác đại diện cho cơ quan,
tổ chức kháng cáo Thủ tục làm đơn kháng cáo tương tự như đối với đương sự là cánhân
Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước quyđịnh tại Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người đại diện theo pháp luậtcủa cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình làm đơn kháng cáo Tại mục tên, địa chỉ củangười kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức
vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó; họ, tên, địa chỉ củangười có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ Đồng thời, ở phần cuối đơn, ngườiđại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu của cơ quan,
tổ chức đó6
2.1.2 Đối tượng có quyền kháng nghị
So với quy định về đối tượng kháng nghị trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004 thì quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không có sự thay đồi, chủ thể cóquyền kháng nghị vẫn là viện kiêm sát Củ thể tại điều 250 bộ luật tố tụng dân sự 2015thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản
án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêucầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm Kháng nghị làquyền theo luật định, đồng thời, là một trong những hoạt động chủ yếu của Viện kiểmsát trong hoạt động kiểm sát tư pháp
Khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với với toàn bộhoặc một phần bản án, quyết định củaTòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyềnlàm ngừng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định đó đểxét xử theo thủ tục phúc thẩm
Điểm d khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về nhiệm vụ,quyền hạn của viện kiểm sát như sau: kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốcthẩm, tái thẩm bản án, quyết định của tòa án
Như vậy, theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì chủ thể có quyềnkháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự
6 Bộ tư pháp, http://www.moj.gov.vn/Pages/home.aspx , [Truy cập ngày 24/02/2018]
Trang 13của tòa án nhân dân chỉ thuộc về viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặcviện trưởng viện kiểm sát nhân dân trên một cấp so với cấp xét xử của tòa án nhândân.
Ngoài ra, cơ chế thực hiện ký kháng nghị, tại Điều 2 Thông tư VKSNDTC-TANDTC ngày 31/08/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tòa ánnhân dân tối cao quy định về việc phối hợp giữa viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhândân trong hoạt động thi hành một số điều của bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy địnhviện trưởng đã quyết định kháng nghị trực tiếp ký quyết định kháng nghị hoặc phâncông cho phó viện trưởng ký thay
02/2016/TTLT-2.2 Thủ tục kháng cáo, kháng nghị
2.2.1 Thủ tục kháng cáo
Trong thủ tục kháng cáo gồm nhưng trình tự được quy định trong bộ luật tốtụng dân sự như sau:
Đơn kháng cáo7 được quy định tại:
Thứ nhất, khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải làm đơn kháng
cáo
Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
Một là, ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo.
Hai là, tên, địa chỉ, số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người
kháng cáo
Ba là, kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Bốn là, lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo.
Năm là, chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
Thứ hai, người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
có thể tự mình làm đơn kháng cáo Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơnphải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của ngườikháng cáo Ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ
Thứ ba, người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu không tự mình
kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo Tại mụctên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diệntheo ủy quyền của người kháng cáo, của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo; số điệnthoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo và văn
7 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Trang 14bản ủy quyền Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tênhoặc điểm chỉ.
Thứ tư, người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự
mình làm đơn kháng cáo Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghitên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổchức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổchức Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóngdấu của cơ quan, tổ chức đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng condấu theo quy định của Luật doanh nghiệp
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền chongười khác kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi
họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền, của đương sự là cơ quan, tổ chức ủyquyền; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức
ủy quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan,
tổ chức đó và văn bản ủy quyền Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủyquyền phải ký tên hoặc điểm chỉ
Thứ năm, người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo Tại mục tên, địachỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theopháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tênhoặc điểm chỉ
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền cho ngườikhác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trongđơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền;
họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địachỉ của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự Ở phầncuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ
Thứ sáu, việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được
làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủyquyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người đượcChánh án Tòa án phân công Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủyquyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ,đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 15Thứ bảy, đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấpphúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tụccần thiết theo quy định của Bộ luật này
Cuối cùng, kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải gửi tài liệu, chứng
cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp
Thời hạn kháng cáo được quy định tại 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
Thứ nhất, thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởikiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chínhđáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án đượcniêm yết
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện
đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chínhđáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án
Thứ hai, thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cánhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theoquy định của Bộ luật này
Thứ ba, trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày
kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu
ở phong bì Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngàyđơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận
Kiểm tra đơn kháng cáo được quy định tại điều 274 bộ luật tố tụng dân
sự 2015:
Thứ nhất, sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra
tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật này
Thứ hai, trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu
người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứngminh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng
Thứ ba, trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại Điều 272 của Bộ
luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sungđơn kháng cáo
Thứ tư, tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường hợp sau đây.
Trang 16Một là, người kháng cáo không có quyền kháng cáo:
Hai là, người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không sửa đổi, bổ
sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều này
Ba là, trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 276 của Bộ luật này.
Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn được quy định tại
275 bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Thứ nhất, kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là
kháng cáo quá hạn Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩmphải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quáhạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm
Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn
và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm baThẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn phải
có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn.Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiênhọp
Thứ ba, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn,
ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồngxét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhậnviệc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhậntrong quyết định Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quáhạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấpnhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộluật này quy định
Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm quy định tại điều 276 bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Thứ nhất, sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải
thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quyđịnh của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộptiền tạm ứng án phí phúc thẩm
Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về
việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phíphúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm