1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên phục vụ xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy điện sơn la

239 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 21,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên sự phát triển của Địa lí học hiện đại, để có thể đề xuất các mô hình hệ KTST phù hợp cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN,TNTN theo hướng tiếp cận KTST nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-*** -NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN PHỤC

VỤ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƯU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

Hà Nội - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-*** -NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN PHỤC

VỤ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƯU

Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên

Mã số: 9.44.02.17

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả, số liệu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠNLuận án được hoàn thành tại khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc nhất đến Thầy – người đã luôn dạy dỗ, chỉ bảo, động viên tác giả trong suốt thờigian thực hiện luận án

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến củacác thầy cô, các nhà khoa học trong khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vàcác cơ sở đào tạo ngoài trường: Viện Địa lí – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệViệt Nam; Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm HàNội, phòng Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí, bộ môn Địa lí tự nhiên đã luôntạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tác giả được học tập, nghiên cứu trong suốt thờigian qua Tác giả chân thành cảm ơn các cơ quan Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn tỉnh Sơn La; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, tỉnh Lai Châu;Cục thống kê các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên; UBND các huyện Mường La,Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Sìn Hồ, Tủa Chùa… đã tận tình giúp đỡ, chia sẻ thôngtin của địa phương

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với Trường Đạihọc Tây Bắc, khoa Sử - Địa – nơi tác giả đang công tác và gắn bó đã luôn tạo điềukiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành nhiệm vụ Sự giúp đỡ, ủng hộ, động viên kịpthời của gia đình, người thân, bạn bè trong quá trình học tập, nghiên cứu và thựchiện luận án là nguồn động lực để tác giả hoàn thành luận án này

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Các luận điểm bảo vệ 3

5 Những điểm mới của luận án 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

7 Cơ sở tài liệu của luận án 4

8 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN PHỤC VỤ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN 6

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 6

1.1.1 Các nghiên cứu về hệ kinh tế sinh thái, mô hình hệ kinh tế sinh thái 6

1.1.2 Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên 9

1.1.3 Các nghiên cứu về cảnh quan và đánh giá cảnh quan 11

1.1.4 Các nghiên cứu về vùng Tây Bắc và lưu vực hồ thủy điện Sơn La 15

1.2 Cơ sở lí luận xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái áp dụng cho khu vực nghiên cứu 19

1.2.1 Hệ kinh tế sinh thái, mô hình hệ kinh tế sinh thái 19

1.2.2 Nguồn lực tự nhiên, đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên 27

1.2.3 Cảnh quan và đánh giá cảnh quan phục vụ xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái 29

Trang 6

1.3 Quan điểm, hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 39

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 39

1.3.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu luận án 40

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 41

1.3.4 Một số mô hình sử dụng trong luận án 43

Tiểu kết chương 1 45

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN VÀ SỰ PHÂN HÓA CẤU TRÚC CẢNH QUAN LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SƠN LA 46

2.1 Nhóm các nhân tố tự nhiên thành tạo cảnh quan 46

2.1.1 Nhóm nhân tố vị trí địa lí – tài nguyên vị thế, địa chính trị 46

2.1.2 Nhóm nhân tố nền vật chất rắn của cảnh quan 48

2.1.3 Nhóm nhân tố nền nhiệt ẩm 55

2.1.4 Nhóm nhân tố nền vật chất hữu cơ 63

2.2 Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên chính của khu vực nghiên cứu 71

2.3.Nhóm các nhân tố kinh tế, xã hội 72

2.3.1 Đặc điểm dân cư, dân tộc 72

2.3.2 Hiện trạng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; khai thác thủy điện và du lịch 74

2.4 Đặc điểm cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La 80

2.4.1 Hệ thống phân loại cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La tỉ lệ 1:100.000 80

2.4.2 Bản đồ cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La tỉ lệ 1:100.000 83

2.4.3 Phân tích cấu trúc cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La 83

Tiểu kết chương 2 97

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƯU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SƠN LA 99

3.1 Đánh giá mức độ thích nghi cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp lưu vực hồ thuỷ điện Sơn La 99

3.1.1 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho các nhóm cây nông nghiệp 100

3.1.2 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho mục đích phát triển lâm nghiệp 107

Trang 7

3.2 Hiện trạng và hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình hệ

kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy điện Sơn La 111

3.2.1 Cấu trúc các mô hình hệ kinh tế sinh thái 111

3.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có thuộc lưu vực 112

3.3 Đề xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái và kiến nghị 123

3.3.1 Cơ sở đề xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái 123

3.3.2 Đề xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái và kiến nghị 140

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

(Analytic Hierarchy Process)

DFID (Department for International Ban Phát triển quốc tế

Development)

FAO (Food and Agriculture Organization Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên

IUCN (International Union for

Conservation of Nature and Natural Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tếResources)

ISEE (International Society for Ecological Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái

Economics)

IWRM (Integrated Water Resource Quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Management)

GIS (Geographic Information System) Hệ thống thông tin địa lý

Trang 9

NR-Rg-V-C-TS Nương – ruộng – vườn – chuồng – thủy sản

(Participatory Rural Appraisal)

RUSLE (Revised Universal Soil Loss Phương trình mất đất phổ dụng hiệu chỉnhEquation)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Đặc trưng của hệ thống tự nhiên và hệ thống văn hóa xã hội 31

Bảng 1.2: Cấu trúc mô hình SWOT trong phân tích các mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy điện Sơn La 43

Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính lưu vực hồ Thủy điện Sơn La 46

Bảng 2.2: Diện tích lưu vực theo đơn vị hành chính cấp huyện 47

Bảng 2.3: Diện tích và tỉ lệ phân theo độ cao thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La 51

Bảng 2.4: Bức xạ tổng cộng trung bình tháng và năm (kcal/cm2/n) 55

Bảng 2.5: Số giờ nắng tháng và năm tại các trạm đo (giờ) 56

Bảng 2.6: Lượng mưa trung bình tháng và năm tại các trạm (mm) 57

Bảng 2.7: Hệ thống chỉ tiêu phân kiểu sinh khí hậu lưu vực hồ thủy điện Sơn La 59

Bảng 2.8: Mô tả đặc điểm các kiểu sinh khí hậu lưu vực hồ thủy điện Sơn La 60

Bảng 2.9: Quy mô và cơ cấu các loại đất lưu vực hồ thủy điện Sơn La 64

Bảng 2.10: Diện tích và cơ cấu các kiểu thảm thực vật thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La 66

Bảng 2.11: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các huyện thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La giai đoạn 2010 – 2015 (%) 75

Bảng 2.12: Giá trị sản xuất nông, lâm thủy sản của các huyện thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La (tính theo giá hiện hành) (triệu đồng) 75

Bảng 2.13: Hệ thống phân loại cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La 81

Bảng 2.14: Thống kê diện tích các phụ lớp cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La.85 Bảng 2.15: Mực nước sông Đà trong điều kiện tự nhiên tại trạm Tạ Bú (m) 92

Bảng 2.16: Dao động mực nước hồ chứa Sơn La trung bình nhiều năm 93

Bảng 3.1: Kết quả phân cấp chỉ tiêu đánh giá cho một số cây, nhóm cây trồng 103

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả phân cấp các mức độ thích nghi và khoảng điểm đối với từng nhóm cây 104

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nhóm cây nông nghiệp ở lưu vực hồ thủy điện Sơn La 106

Trang 11

Bảng 3.4: Tổng hợp chỉ tiêu đánh giá mức độ ưu tiên cho mục đích phát triển

rừng phòng hộ đầu nguồn 108Bảng 3.5: Phân cấp mức độ ưu tiên của từng loại cảnh quan cho mục tiêu phát

triển rừng phòng hộ 109Bảng 3.6: Tổng hợp chỉ tiêu đánh giá mức độ ưu tiên của các loại cảnh quan cho

mục đích phát triển rừng sản xuất 110Bảng 3.7: Phân cấp mức độ ưu tiên của từng loại cảnh quan cho mục tiêu phát

triển rừng sản xuất 111Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế của các mô hình (điều tra năm 2016 – 2017) 112Bảng 3.10: Số lượng các hộ tiến hành phỏng vấn tại các bản thuộc huyện Quỳnh

Nhai, Mường La, Tủa Chùa, Sìn Hồ 124Bảng 3.11: Thống kê diện tích các loại cảnh quan có mức độ rất thích nghi (S1)

và thích nghi trung bình (S2) theo phụ lớp cảnh quan 125Bảng 3.12: Định hướng tổ chức không gian lãnh thổ các huyện thuộc lưu vực hồ

thủy điện Sơn La đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 130Bảng 3.14: Định hướng sử dụng các loại cảnh quan và đề xuất mô hình hệ kinh

tế sinh thái lưu vực hồ thủy điện Sơn La cho mục tiêu phát triển nông,

lâm, thủy sản và du lịch 140Bảng 3.15: Định hướng các mô hình hệ kinh tế sinh thái theo đơn vị cấp phụ lớp

cảnh quan 145Bảng 3.16: Định hướng không gian phát triển các mô hình hệ kinh tế sinh thái

theo đơn vị hành chính cấp huyện 146

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong hệ kinh tế sinh thái 20

Hình 1.2: Sơ đồ các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái (Nguyễn Cao Huần, 2005) 22

Hình 1.3: Cấu trúc và chức năng theo chiều đứng với các hợp phần chính của các quyển tự nhiên có tác động của con người 32 Hình 1.4: Sơ đồ quy trình đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan 36

Hình 1.5: Sơ đồ cấu trúc thứ bậc trong AHP (Thomas L.Staaty, 1980) 37

Hình 1.6: Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài 40

Hình 1.7: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 44

Hình 1.8: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 44

Hình 2.1: Biểu đồ tỉ lệ dân số của các xã thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La 72

Hình 2.2: Sản lượng điện sản xuất, phí dịch vụ môi trường rừng của thủy điện Sơn La và Lai Châu 78 Hình 2.3: Nguồn doanh thu nộp ngân sách Nhà nước của 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên 78 Hình 2.4: Sơ đồ hệ thống phân loại cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La 80

Hình 2.5: Giá trị kích thước trung bình của từng loại cảnh quan thuộc lưu vực hồ thủy điện Sơn La 96 Hình 2.6: Độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên kích thước của các mảnh cảnh quan (theo đơn vị hành chính cấp huyện) 96 Hình 2.7: Độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên kích thước của các loại cảnh quan 96

Hình 3.1: Kênh tiêu thụ trực tiếp các sản phẩm từ nguồn cá nuôi trồng và đánh bắt trên hồ thủy điện Sơn La 114

Hình 3.2: Sơ đồ chuỗi giá trị du lịch cộng đồng tại địa phương 115

Hình 3.3: Biểu đồ hiệu quả kinh tế của một số hộ trồng thảo quả 118

Trang 13

DANH MỤC BẢN ĐỒ, LÁT CẮT

2.3 Bản đồ phân tầng độ cao lưu vực hồ thủy điện Sơn La 51

2.6 Bản đồ lớp phủ thực vật lưu vực hồ thủy điện Sơn La 65

2.9 Lát cắt cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La (A – B) 832.10 Lát cắt cảnh quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La (C – D) 832.11 Bản đồ cảnh quan phục vụ mục đích phát triển cây thảo quả 104

lưu vực hồ thủy điện Sơn La2.12 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển cây mắc ca 104

lưu vực hồ thủy điện Sơn La2.13 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển cây ăn quả 105

lưu vực hồ thủy điện Sơn La2.14 Bản đồ đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển cây hằng năm 106

lưu vực hồ thủy điện Sơn La2.15 Bản đồ đánh giá cảnh quan ưu tiên phát triển rừng phòng hộ 109

lưu vực hồ thủy điện Sơn La2.16 Bản đồ đánh giá cảnh quan ưu tiên phát triển rừng sản xuất 110

lưu vực hồ thủy điện Sơn La

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Trên vùng đất đầu nguồn lưu vực sông Đà (phần lãnh thổ Việt Nam), các tỉnhSơn La, Lai Châu, Điện Biên đều có lợi thế nổi trội về tiềm năng năng lượng Để khaithác nguồn tiềm năng đó, ba bậc thang lớn trên dòng chính đã đi vào hoạt động cùnghàng loạt công trình thủy điện vừa và nhỏ trên các phụ lưu đã, đang và sẽ hoàn thành đãtác động đến các điều kiện tự nhiên (ĐKTN), tài nguyên thiên nhiên (TNTN) của lưuvực Đồng thời, sẽ dẫn đến hàng loạt những ảnh hưởng về sinh kế, xáo trộn đời sốngdân sinh, kinh tế của hàng nghìn hộ dân, gây nên hiệu ứng xã hội lâu dài đòi hỏi cầnđược xem xét, khắc phục một cách khoa học và hợp lý Trong bối cảnh đó, việc lựachọn các mô hình hệ kinh tế sinh thái (KTST) phù hợp với điều kiện canh tác mới, trênvùng đất mới là một hướng đi hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Các mô hìnhđược đề xuất phải phù hợp với lối sống, tập quán canh tác của các cộng đồng dân cưđịa phương; được xác định theo hướng quy hoạch chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, hìnhthành các vùng chuyên canh nông sản hàng hóa của địa phương

Dựa trên sự phát triển của Địa lí học hiện đại, để có thể đề xuất các mô hình

hệ KTST phù hợp cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN,TNTN theo hướng tiếp cận KTST nhằm đảm bảo hiệu quả trên cả ba mặt: kinh tế,thích nghi sinh thái (TNST) và bảo vệ môi trường, xã hội Trong đó, phân tích đặcđiểm và sự phân hóa cảnh quan được xem là cơ sở cho đánh giá NLTN của hoạtđộng sản xuất, nhất là các sinh kế truyền thống Vì lẽ đó, việc nghiên cứu như thếnào, khu vực nào, hiệu quả ra sao vẫn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm,đòi hỏi phải giải quyết một cách triệt để trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, tổng hợpmối quan hệ tương hỗ, hài hòa giữa các yếu tố hợp phần tự nhiên – kinh tế – nhânvăn Do đó, trong mỗi giai đoạn phát triển, công tác điều tra tốt, đánh giá thực chấtcác NLTN, kinh tế - xã hội (KT-XH) sẽ là chìa khóa, là khởi nguồn cho các phương

án xây dựng các mô hình sản xuất có tính khả thi cao

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ các tỉnh Sơn La, Lai Châu, ĐiệnBiên; đồng thời hướng tới một trong những nhiệm vụ trọng tâm và là chương trình trọng

điểm được nhấn mạnh: “huy động các nguồn lực, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng

Trang 15

KT-XH; phát triển kinh tế vùng tạo thành các vùng kinh tế động lực dọc theo hệ thống quốc lộ; tập trung sản xuất lương thực, cây ăn quả, cây chè nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch cộng đồng; vùng kinh tế nông, lâm nghiệp, sinh thái sông Đà theo quy mô hộ gia đình (HGĐ) và trang trại, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ phát triển các vùng có thế mạnh du lịch” [85] thì việc đề xuất các mô hình KTST theo

các quy mô khác nhau là vấn đề cấp thiết, có tính thực tiễn, phù hợp với thực trạng của

các tỉnh miền núi Tây Bắc, với chủ trương triển khai Chương trình Tây Bắc [181]

Đó là lý do để đề tài luận án hướng vào việc “Đánh giá tổng hợp các nguồnlực tự nhiên phục vụ xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy điệnSơn La” nhằm phân tích tiềm năng, thực trạng các NLTN, điều kiện để hình thànhcác mô hình hệ KTST và đề xuất một số mô hình phù hợp đối với khu vực nghiêncứu

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Xác lập cơ sở khoa học và đề xuất mô hình hệ KTST theo hướng tiếp cậnđánh giá sinh thái cảnh quan (STCQ), góp phần đa dạng sinh kế, nâng cao mức sốngcho người dân (chú trọng đến người dân TĐC) gắn với bảo vệ môi trường cho lưuvực hồ TĐSL

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án tập trung giải quyết các nội dung cụ thể sau:

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận về hệ KTST, mô hình hệ KTSTdựa vào các NLTN thông qua đánh giá cảnh quan

- Xây dựng bản đồ phân loại cảnh quan lưu vực hồ TĐSL dựa trên sự phân hóa đa dạng của các nhân tố thành tạo cảnh quan

- Đánh giá tính TNST của các nhóm cây nông, lâm nghiệp theo các đơn vịcảnh quan, từ đó xem xét tính hiệu quả về kinh tế và tính bền vững về môi trường

và xã hội phục vụ định hướng xây dựng các mô hình hệ KTST phù hợp

- Nghiên cứu hiện trạng các mô hình hệ KTST hiện có gắn với tiềm năng cácnguồn vốn sinh kế, phong tục tập quán, phương thức canh tác của người dân

Trang 16

- Đề xuất các mô hình hệ KTST quy mô HGĐ, HTX và trang trại theo định hướng chuyển đổi cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các ĐKTN, TNTN, điều kiện nhân văn cho các môhình hệ KTST góp phần đa dạng sinh kế cho người dân vùng lòng hồ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian

Không gian lưu vực hồ TĐSL trong phạm vi nghiên cứu của đề tài (gọi tắt làlưu vực hồ TĐSL) được xác định là một phần diện tích cung cấp nước cho hồTĐSL, bao gồm phạm vi của dòng chảy chính và hệ thống 16 phụ lưu cấp cuối cùng

đổ vào lưu vực hồ, được xác định trên cơ sở không gian quy hoạch lâm phận phòng

hộ đầu nguồn Việt Nam, có điều chỉnh lại ranh giới trên bản đồ địa hình tỉ lệ1:50.000 Theo đó, diện tích lưu vực hồ TĐSL bao gồm cụm nhà máy thủy điện vàmột hồ chứa nước với diện tích 315.850ha [124] thuộc phạm vi hành chính của 3trong 6 tỉnh vùng Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La

3.2.2 Phạm vi khoa học

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu theo các nội dung trọng tâm sau:

1/ Xác lập cơ sở khoa học về các vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài (hệKTST, mô hình hệ KTST, đánh giá tổng hợp NLTN)

2/ Phân tích sự phân hóa đa dạng của cảnh quan lưu vực hồ TĐSL

3/ Đánh giá TNST của các đơn vị cảnh quan cho mục đích phát triển nôngnghiệp, lâm nghiệp gắn với sinh kế và kinh nghiệm tri thức tộc người cho việc đềxuất các mô hình KTST hợp lý theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa

4 Các luận điểm bảo vệ

- Luận điểm 1: Lưu vực hồ TĐSL có sự phân hóa đa dạng đặc thù của cảnhquan miền núi, bao gồm 03 lớp, 04 phụ lớp, 01 kiểu, 05 phụ kiểu và 146 loại cảnhquan, chịu tác động sâu sắc bởi yếu tố kỹ thuật – công trình TĐSL, nhân tố làm thayđổi cấu trúc và sự phát triển của các mô hình hệ KTST

Trang 17

- Luận điểm 2: Đánh giá TNST các đơn vị cấp loại cảnh quan cho mục đíchnông, lâm, thủy sản gắn với đặc điểm nguồn vốn sinh kế, kinh nghiệm sản xuất củacộng đồng dân cư; đây là cơ sở để đề xuất các mô hình hệ KTST qui mô lớn

5 Những điểm mới của luận án

- Đánh giá tổng hợp các NLTN lưu vực hồ thủy điện TĐSL trên cơ sở đánhgiá cảnh quan gắn với yếu tố nhân văn đã góp phần định hướng không gian các môhình hệ KTST theo các cấp phân chia cảnh quan

- Đề xuất mô hình hệ KTST với quy mô HGĐ, trang trại, HTX dựa trên kếtquả đánh giá mức độ thích nghi của các cảnh quan lưu vực hồ TĐSL; hiện trạng các

mô hình hiện có; định hướng quy hoạch phát triển KT-XH của các địa phương vàphù hợp với đặc thù nguồn lực nhân văn của khu vực

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Góp phần hoàn thiện về lý luận và phương pháp đánhgiá tổng hợp STCQ gắn với sinh thái nhân văn cho mục tiêu phát triển nông, lâm,thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa làm cơ sở đề xuất định hướng phát triển môhình hệ KTST tại lưu vực hồ thủy điện

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những luận cứ khoa học

có thể tham khảo để định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường theohướng bền vững với một số mô hình KTST phù hợp, với kết quả đánh giá cảnhquan, đảm bảo sinh kế bền vững cho các cộng đồng dân cư dân tộc ít người TĐCtrên lưu vực hồ TĐSL

7 Cơ sở tài liệu của luận án

- Tài liệu khoa học: gồm các báo cáo, bài báo nghiên cứu, tạp chí khoa học,

đề tài, dự án nghiên cứu có liên quan đến luận án và khu vực nghiên cứu

- Tài liệu bản đồ:

+ Bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000 do Phan Sơn (chủ biên), Đào Đình Thục,

Nguyễn Viết Thắng, Trần Văn Tỵ thực hiện

+ Bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ sinh khí hậu tỉ lệ 1:100.000

- Các công trình nghiên cứu, bài báo của tác giả có liên quan đến luận án

- Kết quả khảo sát, điều tra thực địa

Trang 18

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá tổng hợp các

nguồn lực tự nhiên phục vụ xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy

điện Chương 2: Đặc điểm các nguồn lực tự nhiên và sự phân hóa cấu trúc cảnh

quan lưu vực hồ thủy điện Sơn La

Chương 3: Đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên và định hướng phát triển mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực hồ thủy điện Sơn La

Trang 19

thời đại mới Trong bài What is ecological economics (1989) [155] của Costanza R.

đã khẳng định sự gắn kết giữa kinh tế và sinh thái, không tồn tại ranh giới hay sựtách bạch giữa hai phạm trù này; đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tới việc giảiquyết các mối quan hệ giữa các hệ sinh thái và hệ thống kinh tế theo nghĩa rộng

nhất, đó là nhiệm vụ của các nhà KTST Năm 1997, trong cuốn An introduction to ecological economics ông và đồng nghiệp một lần nữa chỉ rõ các vấn đề, nguyên tắc

của KTST cũng như vai trò, chính sách, thể chế của các tổ chức nhằm thích ứng vớiquá trình đánh giá KTST và quản lí bảo vệ môi trường sống [154]

Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về KTST ở quy mô rộng, ở một số khuvực có ĐKTN đặc thù các học giả tập trung đề xuất các mô hình hệ KTST, phổ biếncho khu vực miền núi cao là các mô hình nông lâm kết hợp, thể hiện trong công

trình An introduction to agroforestry, của P.K Nair [166] có các nội dung liên quan

đến các thành phần (điều kiện xây dựng) và mô hình nông lâm kết hợp Ở khu vực

Trang 20

Đông Nam Á, Trung Mỹ để phù hợp với đặc thù về ĐKTN, TNTN các mô hình hệKTST được đề xuất tập trung theo hướng phát triển nông, lâm kết hợp Ví dụ như, ởkhu vực Trung Mỹ, các nước nằm trong miền khí hậu nhiệt đới chủ yếu trồng xen

kẽ các loại cây với nhau: cây ăn quả (dừa, đu đủ, cam, quýt) - cây công nghiệp (cacao, cà phê, ngô) và các loại cây làm lớp phủ như bí đao – mô hình này được xem là

“bắt chước cấu hình phân lớp của các khu rừng nhiệt đới hỗn hợp” (Wilken, 1977);

ở Philippines các mô hình canh tác khá phức tạp (gọi là Hanunoo), trong đó, để

trồng cây lương thực dưới tán rừng có độ ẩm cao, người dân chủ động tỉa bỏ đi một

số cây nhất định để tạo tán cây mới vào cuối mùa vụ nhằm hạn chế khả năng đất

tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời; ở Indonexia, mô hình Homegaderns khá

phổ biến, đó là sự kết hợp nhà vườn sinh thái, cây thân thảo, cây thân gỗ, cây ăn quả

và gia súc; còn ở Malayxia, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ người dân lựa chọn mô

hình Taungya – tiền thân của nông lâm kết hợp, thể hiện sự kết hợp giữa việc trồng

cây nông nghiệp hàng năm với các cây lâm nghiệp trong những năm đầu hình thànhrừng, đơn giản có thể gọi là làng rừng [166] Còn ở châu Phi, do điều kiện khí hậukhô nóng nên các mô hình chủ yếu là trồng cây dưới tán các loại cây như khoai mỡ,

bí ngô, đậu (Forde, 1937) hay lựa chọn các loại cây thân thảo, cây bụi xen kẽ vớicác loại cây trồng – đây là mô hình không quá tiên tiến như các khu vực khác, songlại có khả năng duy trì chất dinh dưỡng, hạn chế khả năng bị rửa trôi và xói mòn,phù hợp với điều kiện sinh thái (Ojo, 1966) Bên cạnh các mô hình kinh tế cụ thể,các tác giả Nair (1983), Young (1984) cũng đã đưa ra các khuyến nghị về công nghệtrong quá trình áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp cho các vùng đồi núi, cáckhu vực đất dốc hoặc các khu vực cần cải tạo đất [166], chú trọng đến các loại cây

đa mục đích hay cây bản địa có khả năng giữ đất, cải tạo đất được lựa chọn trồngxen canh với nhau

Như vậy, xu hướng nghiên cứu hệ KTST là một lĩnh vực phát triển đa hướngnhằm mục đích cải thiện và mở rộng các lý thuyết kinh tế để tích hợp các hệ thống

tự nhiên của Trái Đất với giá trị, sức khỏe và phúc lợi con người [177]

Sự kết hợp kinh tế - sinh thái đạt đến tầm cao mới được đánh dấu bằng sự rađời của tổ chức Hiệp hội Quốc tế Kinh tế sinh thái (ISEE) vào năm 1989 với mục

Trang 21

đích thúc đẩy sự phát triển của khoa học KTST, hỗ trợ liên kết giữa các nhà KTST

và các nhà nghiên cứu xã hội có liên quan ISEE hiện được thành lập tại 10 quốc gia

và khu vực, đã tổ chức 15 hội nghị quốc tế quan trọng và đã xuất bản tạp chí chuyênngành KTST tạo điều kiện cho các nhà KTST thể hiện quan điểm, hoàn thiện cơ sở

lí luận về mô hình hệ KTST đa diện

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Nhà Địa lý học Phạm Quang Anh (1995) lần đầu tiên ở Việt Nam đưa tiếpcận KTST vào nghiên cứu STCQ với mô hình hệ KTST gồm 3 phân hệ chính (tựnhiên, kinh tế, xã hội) trong mối quan hệ tương tác với nhau dưới sự điều khiển và

quản lý của con người, được áp dụng nghiên cứu thực tiễn trong công trình “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam (Lấy một số địa phương ở Đắc Lắc, Thanh hóa, Ninh Bình làm ví dụ)” (1996).

Tiếp theo, các tác giả Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998), Phạm Quang Vinh vànnk (2009) đã nêu ra khả năng khai thác tiềm năng sinh thái tại các khu vực có độdốc lớn, đề xuất các mô hình hệ KTST phù hợp với các tỉnh miền núi Việt Nam.Trong các công trình nghiên cứu về mô hình hệ KTST tại các vùng cửa sông BạchĐằng, vùng đất trũng Hoa Lư, vùng cồn cát ven biển Phù Mỹ, vùng gò đồi ĐôngHà…, nhóm tác giả Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999) đã bổ sung cơ sở

lí luận về xây dựng mô hình hệ KTST, còn trong công trình “Vấn đề KTST Việt Nam” của Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Pháp (1993) đã nêu bật vị trí quan trọng về

KTST ở các lãnh thổ đất cao, các HST vùng gò đồi Đối với lãnh thổ biển – đảo,

Đặng Văn Bào và nnk (2008) trong “Phát triển mô hình KTST đảo Cù Lao Chàm”

đã tổng quan các nghiên cứu về KTST trong và ngoài nước và đề xuất các mô hình

KTST phù hợp với đặc trưng tự nhiên, KT-XH các hải đảo Trên quan điểm chính

sách, Nguyễn Lâm Thành (2004) trong đề tài “Nghiên cứu một số mô hình TĐC đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thủy điện” cũng đã đề cập tới các khuyến nghị chính sách, giải pháp trong việc triển khai hoạt động TĐC ở

các công trình thủy điện Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đề cập đến hiệu quảcủa mô hình KTST đối với hoạt động canh tác nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùngmiền khác nhau trong các công trình của các tác giả:

Trang 22

Trương Quang Hải và nnk (2004) với “Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ KTST phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”; Đặng Trung Thuận và nnk (2000) trong “Nghiên cứu vùng đất ngập nước đầm Trà Ô nhằm khôi phục nguồn lợi thủy sản và PTBV vùng ven đầm” và đề tài KC-01-13 “Mô hình kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình” , trong

đó đã đề cập tới vấn đề xác lập các mô hình hệ KTST phục vụ phát triển kinh tế

nông thôn như: Mô hình hệ KTST phục vụ phát triển nông thôn bền vững (ĐặngTrung Thuận và Trương Quang Hải, 1999), xây dựng mô hình nông - lâm kết hợptại xã Kỳ Hợp (Lê Trần Chấn và Phạm Văn Ngạc), xây dựng mô hình tự nhiên –KT-XH theo hướng kinh tế - sinh thái - nhân văn và môi trường cho vùng gò đồiQuảng Bình (Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng)

Có thể thấy, trên quan điểm địa lý học, việc nghiên cứu lý thuyết về hệ KTST

và mô hình hệ KTST được đẩy mạnh trên bình diện quốc tế và được cập nhật, ứngdụng ở Việt Nam có sự bổ sung về cơ sở lí luận, thực tiễn; quan điểm và phươngpháp nghiên cứu Mặc dù vậy, các mô hình hệ KTST vẫn đòi hỏi được quan tâmnghiên cứu nhằm hoàn chỉnh cả về phương pháp luận; quy trình đánh giá cho lãnhthổ lưu vực hồ thủy điện

1.1.2 Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên

Khái niệm NLTN được kết hợp bởi hai hợp phần ĐKTN và TNTN trong nghiêncứu Địa lí và Sinh thái, do vậy, việc đánh giá tổng hợp NLTN thực tế là đánh giá tổnghợp ĐKTN, TNTN trên cơ sở địa lý sinh thái nhằm các mục đích ứng dụng Đây làhướng nghiên cứu tổng hợp trong quá trình khai thác các giá trị thực tế của các NLTNnhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, ổn định xã hội và đạt hiệu quả kinh tế

Trên thế giới, vào những năm 60 – 70 của thế kỉ XX, các công trình nghiêncứu địa lý và sinh thái thiên về kiểm kê tài nguyên theo từng hợp phần tự nhiên, sau

đó là tích hợp trong đánh giá tổng hợp tiềm năng tài nguyên cho từng đơn vị cảnhquan được lựa chọn Về sau, khi định hướng ứng dụng tập trung vào lĩnh vực nôngnghiệp thì V.V Docusaev là người đầu tiên đã chứng minh sự cần thiết phải tínhtoán tổng hợp các ĐKTN trong hoạt động nông nghiệp ở mọi trình độ [61] Từ đó,hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan trong nông nghiệp được phát triển rộng khắp

Trang 23

trong những năm 80 của thế kỉ XX, bắt đầu từ các công trình nghiên cứu cảnh quantập trung vào vấn đề đánh giá chất lượng đất một cách tổng hợp như các nghiên cứucủa FAO [157, 158] đánh giá đất lâm nghiệp, xây dựng kế hoạch sử dụng đất… đãđược ứng dụng vào quy hoạch lãnh thổ ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể

Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích quy hoạch sử dụng đấtđược đề cập tới trong các công trình của Macrimov (1978), Pascan (1980), Zvorukin(1984)… [133] Tiếp đó là các công trình nghiên cứu tổng hợp phục vụ cho công tácquy hoạch các vùng lãnh thổ thuộc Liên Xô (cũ) của các nhà địa lí Ucraina, Liênbang Nga và các nước ở Tây Âu, Mỹ [46] Tại châu Á, các nhà khoa học NhậtBản tập trung đánh giá tiềm năng tự nhiên cho sử dụng hợp lí các LVS, sự thay đổicảnh quan rừng; ở Trung Quốc, hướng nghiên cứu chủ yếu là sử dụng hợp lí tàinguyên đất

các ĐKTN, TNTN với mục tiêu xây dựng các giải pháp PTBV cho các vùng lãnh thổ,

trong đó, tiêu biểu là: Nghiên cứu, đánh giá ĐKTN dải ven biển và hải đảo ven bờ, (Lê Đức An và cộng sự, 1991) và Đánh giá ĐTKTN, TNTN, KT-XH hệ thống đảo ven bờ

Việt Nam trong chiến lượng phát triển KT-XH biển (Lê Đức An và cộng sự, 1995); Đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN dải ven biển Việt Nam cho mục đích phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp và bảo vệ môi trường (Phạm Hoàng Hải và cộng sự, 1990); Đánh giá tổng hợp tài nguyên, ĐKTN, môi trường, KT-XH nhằm định hướng PTBV khu vực biên giới phía Tây từ Thanh Hóa đến Kon Tum (Trần Nghi và cộng sự, 2004),

Các kết quả nghiên cứu đã bổ sung, hoàn thiện cơ sở khoa học theo hướng đánh giátổng hợp hay tích hợp các nguồn lực có sự gắn kết với các mục tiêu phát triển KT-XHcác lãnh thổ ở các vùng, miền khác nhau phù hợp với tình hình của đất nước Trongnhững năm gần đây, các công trình địa lý đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN phần lớnhướng tới các mục tiêu của PTBV dựa trên thế mạnh nông, lâm nghiệp và du lịch như

Lê Trọng Quý (2011) đối với vùng Đồng Tháp Mười; Nguyễn Đăng Độ (2013) choLVS Hương; Lê Thị Nguyệt (2015) cho lãnh thổ tỉnh Thái Nguyên; Trần Thị Hằng(2016) cho lãnh thổ tỉnh Điện Biên; Lê Anh Hùng (2016) cho vùng đồi núi LVS ThuBồn; Hoàng Thị Cường (2017) cho vùng Thanh Nghệ

Trang 24

Tĩnh, Các công trình nghiên cứu này đã thực hiện vai trò tiếp nối các xu hướngnghiên cứu của Địa lí hiện đại, cập nhật các tiếp cận mới, phương pháp mới có tínhliên ngành góp phần vào sự phát triển của khoa học Địa lí Việt Nam

1.1.3 Các nghiên cứu về cảnh quan và đánh giá cảnh quan

Cảnh quan là một hệ thống tự nhiên được xem là cơ sở địa lý học cho việcnghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý cho việc xác lập các hệ KTST Từnhững năm 20 – 30 của thế kỉ XX học thuyết về cảnh quan giai đoạn đầu đã tập trungnghiên cứu lý thuyết về sự phân hóa trong cấu trúc và chức năng của cảnh quan và sau

đó áp dụng vào thực tế nghiên cứu lãnh thổ [60] Các nghiên cứu của V.V Docusaev(1846-1903) [60] là sự biểu hiện rõ rệt nhất về nghiên cứu các tổng hợp thể địa lí, đó làsản phẩm, là gương phản chiếu của cảnh quan Theo ông, việc nhấn mạnh tới quá trìnhnghiên cứu các mối liên hệ phát sinh, những tác động tương hỗ có quy luật giữa cáchiện tượng và sự vật thiên nhiên trong “bản chất của sự tìm hiểu tự nhiên” và “là cáicao quý nhất và tốt nhất của khoa học tự nhiên” trong một thể thống nhất với nguyên lý

“tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn và không chia cắt,chứ không tách rời chúng ra từng phần” Nhờ đó, V.V Docusaev và những người kế tục

đã đề xuất cơ sở đánh giá đất đai nông nghiệp một cách khoa học, đề ra biện pháp trồngtrọt, cải tạo, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp hợp lý

Các nhà Địa lý học như N.M Sibiatxev, A.K Kraxov, L.S Becgo, B.BPalunov, N.A Xontxev (1962), điển hình là A.G Ixatsenko (1965) đã coi cảnh quan

là một địa hệ, là một tổng thể lãnh thổ tự nhiên của cấp lãnh thổ địa phương Đồngquan điểm đó, D.L Armand (1975) cũng cho rằng “Tổng thể lãnh thổ tự nhiên (haycảnh quan – địa tổng thể) là phần lãnh thổ hay khu vực được phân chia một cáchước lệ bằng các ranh giới thẳng đứng theo nguyên tắc đồng nhất tương đối và ranhgiới nằm ngang theo nguyên tắc mất dần ảnh hưởng của nhân tố mà theo đó tổng thểtrên được định ra” Hướng nghiên cứu tổng hợp cảnh quan đã phổ biến sang cácnước Đông Âu khác, ở Ba Lan, Condratxoski (1959) đưa ra phân loại các cảnh quan

Ba Lan và lập bản đồ tỉ lệ 1.000.000; đồng thời khẳng định xu hướng tất yếu của địa

lí hiện đại là hướng nghiên cứu các thể tổng hợp thiên nhiên Nghiên cứu cảnh quanthấy được ở Tiệp Khắc, Đông Đức, Bungari, Hungari…

Trang 25

Không chỉ các nước Đông Âu, quan điểm về cảnh quan được một số nhànghiên cứu ở Tây Âu và Bắc Mỹ đưa ra vào những năm đầu thế kỉ XX, tuy quanniệm về xu hướng nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp chưa được chấp nhận và phổbiến rộng rãi, mà tập trung chủ yếu vào hướng cảnh quan ứng dụng, nhưng lý thuyết

về thể tổng hợp địa lý vẫn được nhận biết qua nghiên cứu của A Ghebecxon (1905)khi xem xét tới sự phân chia, hệ thống hóa các thể tổng hợp mà không chỉ đơn thuầnnói tới sự phân bố các hiện tượng riêng biệt Nhà cảnh quan người Đức I Patxaghe(1866 - 1958) lưu ý đến cấu trúc bên trong của cảnh quan, mặc dù chưa thể hiện rõđược mối quan hệ và các điều kiện ảnh hưởng giữa các nhân tố đó Các nhà địa lí

Mỹ chú ý nhiều tới tính địa phương trong địa lí khu vực, xem đó là cơ sở của địa línhưng lại giải thích nó trên quan điểm duy tâm như R Khactoxo, D.Uitolxli [61]

Sau thế chiến thứ 2, cùng với những ứng dụng của kĩ thuật vào cảnh quan,nghiên cứu cảnh quan đã chuyển từ nghiên cứu cấu trúc, sang nghiên cứu chức năng

và động lực [43] Theo hướng ứng dụng tiếp cận liên ngành, liên lĩnh vực và đangành, đối tượng nghiên cứu áp dụng lý thuyết cảnh quan ngày một mở rộng (từnghiên cứu cảnh quan tự nhiên sang cảnh quan văn hóa, cảnh quan nhân sinh, cảnhquan sinh thái, cảnh quan kiến trúc hay đi vào chiều sâu để nghiên cứu các thành tạocủa cảnh quan ) Sự giao thoa với các ngành khoa học khác đã hướng nghiên cứucảnh quan đi sâu vào nghiên cứu đa dạng về cấu trúc, chức năng và động lực pháttriển nhằm tập trung giải quyết, đáp ứng các nhu cầu phát triển KT-XH của đấtnước, của các vùng lãnh thổ nhằm mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững

Chính những thay đổi của tình hình KT-XH thế giới trong nửa đầu thế kỉ XX

đã tạo sự thay đổi về “chất” và “bước nhảy vọt” trong sự phát triển của Địa lí học,với việc khoa học Địa lí tham gia vào quá trình “tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môitrường, đấu tranh cho công bằng xã hội, tổ chức hợp lí các lãnh thổ sản xuất…nhằm phát triển KT-XH bền vững, đồng đều giữa các vùng” Thực tế đó cho thấy

“sự xoắn quyện giữa các hiện tượng tự nhiên – KT-XH – nhân văn” đòi hỏi khoahọc Địa lí dịch chuyển về hướng khoa học xã hội “trên nền tảng nghiên cứu cáctổng hợp thể không gian hoàn chỉnh tự nhiên – KT-XH và nhân văn” [73]

Trang 26

A.G Ixatsenko trong “Cảnh quan học ứng dụng” cũng khẳng định, “Việc

đánh giá những tham số riêng biệt của hệ địa lí theo quan điểm thực tiễn nào đấy(giao thông, nông nghiệp, giải trí…) về thực chất là sự trừu tượng hóa bởi vì từnghợp phần của hệ thống không bao giờ hoạt động riêng lẻ” [108] hay “tổng hợp thể

tự nhiên không phải là một tập hợp đơn giản mà là một phức hợp các yếu tố tạo nênmột thực thể vật chất phức tạp có tính toàn vẹn và thống nhất Nó được coi là một

hệ thống không gian và thời gian của các hợp phần địa lí có quan hệ phụ thuộc lẫnnhau trong sự phân bố và phát triển như một thể thống nhất”

Hướng ứng dụng rõ rệt kết hợp với mức độ lí thuyết cao có tính chất đặctrưng cho Địa lí ứng dụng được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu của cácnhà địa lí Xô Viết và các nước Đông Âu [61], cũng như ở châu Âu, Bắc Mỹ với xuthế nghiên cứu cấu trúc cảnh quan của lãnh thổ, cấu trúc chức năng, đánh giá chocác mục đích PTBV đã có ý nghĩa thực tiễn to lớn

Sau những năm 1980, sự kết hợp giữa cảnh quan và sinh thái học đã tạo xuhướng nghiên cứu STCQ được đề cập trong các nghiên cứu ở khu vực Tây Âu vàBắc Mỹ với nhiều điểm tiến bộ trong việc ứng dụng các phương pháp định lượngnhư công nghệ viễn thám, GIS hoặc số liệu thống kê không gian [11]

Đến những năm đầu thế kỉ XXI, khoa học cảnh quan đã mở rộng đối tượng,hướng nghiên cứu, khả năng ứng dụng trên nhiều lãnh thổ, các phương pháp địnhlượng ngày càng cho thấy kết quả tính toán chính xác, khách quan, có ý nghĩa thựctiễn cao Điều này giúp cho việc hoạch định không gian sử dụng lãnh thổ, sử dụnghợp lí các ĐKTN, TNTN, giải quyết cân đối các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trườngtheo hướng PTBV Về cơ bản “các công trình nghiên cứu địa lí ứng dụng tập trungvào hai mục đích một là chủ yếu cung cấp thông tin cần thiết, hai là sự tham giatrực tiếp của các nhà địa lí học vào công việc đề ra các nhiệm vụ kinh tế và thực tiễnkhác, vào các công việc lập kế hoạch và quy hoạch” [61], cụ thể, trong công trình

“Địa lí tự nhiên Việt Nam” (1963), các tác giả Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập đã

khẳng định “Loại điều tra cơ bản tổng hợp phải được coi như hết sức cần thiết bởi vì

nó hoàn toàn đáp ứng với yêu cầu nhận thức về tự nhiên trong thực tế cụ thể và vôcùng phức tạp, đồng thời nó đáp ứng với yêu cầu khai thác tự nhiên theo

Trang 27

phương thức của Chủ nghĩa xã hội, nghĩa là sử dụng hợp lý, cải tạo và làm giàuthêm tự nhiên chứ không khai thác bừa bãi, tàn phá tự nhiên” [14], [72] Vũ Tự Lập

(1976) trong “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” cũng đã nhấn mạnh “để phát

triển nhanh chóng và vững chắc nền kinh tế quốc dân, cần phải sử dụng tổng hợp

toàn bộ các điều kiện và TNTN” [71] Lê Bá Thảo (1976) trong “Thiên nhiên Việt Nam” đã nêu bật đặc trưng, thế mạnh của từng vùng miền, chỉ rõ các vấn đề cấp

thiết, quan trọng và chiến lược sử dụng các nguồn tài nguyên ở nước ta Theo ông,

tự nhiên là một “hệ thống tự điều chỉnh” và “khâu điều tra từng thành phần buộcphải được tiến hành theo phương pháp tổng hợp để xác định các mối quan hệ rấtphức tạp tồn tại giữa các thành phần” [105]

Sau những năm 80 thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu cảnh quan ứng dụng

đã tiến hành theo hướng phân loại cảnh quan và hướng STCQ, trong đó đặc biệt chútrọng tới việc phân tích cấu trúc cảnh quan, gắn kết các yếu tố tự nhiên – KT-XH vànhân văn Nhờ đó, lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan đạt được nhiều kết quả đáng kể, cógiá trị thực tiễn cao đối với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường Nhữngnghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng nông, lâm nghiệp đã được triểnkhai ở nhiều chương trình nghiên cứu vùng như chương trình Tây Nguyên II (Chươngtrình 48-C giai đoạn 1983 – 1988); vấn đề đánh giá tổng hợp các lãnh thổ đã được đềcập đến; đề tài VIE 034/89 [144] cho các mục đích nông-lâm-ngư, xây dựng cầu cảng ởĐBSH, Tiếp theo là các công trình ứng dụng tiếp cận nghiên cứu cảnh quan trongnhiều lĩnh vực khác nhau như các nghiên cứu, đánh giá các HST (Phạm Quang Anh vànnk, 1985; Nguyễn Văn Trương, 1992; Đào Thế Tuấn, 1984; Nguyễn Cao Huần, 2005;Phạm Hoàng Hải, 1997); Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan (Nguyễn Thành Long

và nnk, 1992; Nguyễn Thơ Các 1999); trong nghiên cứu lập qui hoạch phát triển

KT-XH và qui hoạch bảo vệ môi trường (Nguyễn Cao Huần và nnk, 2003, 2004, 2005;Phạm Quang Anh, 1996; Nguyễn Văn Vinh, 1996; Nguyễn Trọng Tiến, 1996; Hà VănHành, 2001; Phạm Quang Tuấn, 2004)) Tác giả Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1990)

[44] và năm 1997, trong cuốn “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý TNTN,

bảo vệ môi trường lãnh thổ” đã đề cập khá đầy đủ về những biến đổi của tự nhiên dưới

các tác động của

Trang 28

con người, đưa ra một cách khái quát phương pháp đánh giá cảnh quan với các lãnhthổ cụ thể cũng như các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Chương trình “Xây dựng cơ sở khoa học phát triển KTXH vùng thượng lưu sông Đà

và lân cận hồ chứa Hòa Bình đến năm 2005”, các đề tài “Đặc điểm ĐKTN – KT-XH vùng ven hồ sông Đà, những đề xuất sử dụng hợp lí lãnh thổ và bảo vệ môi trường”

(1991), đã điều tra nghiên cứu đặc điểm của các cảnh quan địa lý, sự biến động củacác ĐKTN, TNTN vùng ven hồ; phân tích hiện trạng và các vấn đề mới nảy sinhcủa các ĐKTN và KT-XH

Như vậy, các công trình nghiên cứu về cảnh quan trong thời kì đầu phát triểncủa Địa lí học và Cảnh quan học cho thấy rõ vai trò của nghiên cứu cảnh quan, làtiền đề, là cơ sở lí thuyết cho các công trình địa lí ứng dụng hiện nay Theo đó, cảnhquan học ứng dụng đã thực hiện quy trình đánh giá để kết nối các kết quả nghiêncứu cơ bản của cảnh quan về ĐKTN, TNTN, cấu trúc của các hệ với các mục đích

sử dụng hợp lí tài nguyên – lãnh thổ Trên cơ sở đó, luận án đã tiến hành đánh giátổng hợp các ĐKTN, TNTN và nhân văn theo quy trình đánh giá KTST nhằm đềxuất các mô hình hệ KTST phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế, nhân văn khu vựcnghiên cứu

1.1.4 Các nghiên cứu về vùng Tây Bắc và lưu vực hồ thủy điện Sơn La

1.1.4.1 Các công trình nghiên cứu về vùng Tây Bắc

Tây Bắc được đánh giá là vùng có tiềm năng về ĐKTN, TNTN; thuận lợi đểphát triển nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu; là nơicung cấp nhiều nguồn tài nguyên quan trọng, thiết yếu đối với sự PTBV của vùng và cảnước Đây cũng là vùng có tài nguyên nhân văn phong phú, đặc biệt là kho tàng tri thứcbản địa (TTBĐ) và di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đặc sắc của các cộng đồng dântộc, như Thái, Mường, H’Mông, Dao, Tày, Nùng v.v… Vùng có vị trí địa – chính trịquan trọng, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các vùng trong cả nước Tuy nhiên,cho đến nay, vùng Tây Bắc còn tồn tại một số khó khăn: lãnh thổ phân mảnh, tàinguyên phân tán, khai thác khó khăn, nhiều thiên tai xảy ra với tần suất và cường độngày càng lớn; chất lượng nguồn lao động thấp, thiếu cơ chế chính sách

Trang 29

và các giải pháp phát triển kinh tế phù hợp cho các vùng; hạn chế về cơ sở hạ tầng

và chuyển giao khoa học công nghệ… Từ thực tế đó, các nhà khoa học đã tập trungnghiên cứu chuyên sâu hoặc tổng hợp về các nguồn tài nguyên, các hiện tượng taibiến thiên nhiên, về đặc thù văn hóa hay các hoạt động kinh tế mới phát triển nhằmđánh giá cụ thể thế mạnh, tiềm năng, hạn chế của vùng Đó là cơ sở khoa học vàthực tiễn quan trọng, làm tiền đề xây dựng, hoạch định những định hướng phát triểnKT-XH, giải pháp PTBV cho toàn vùng

Với đặc thù đó, có thể thấy, số lượng các công trình tập trung nghiên cứu làmsáng tỏ các hiện tượng tai biến thiên nhiên (TBTN), ứng dụng công nghệ GIS ởvùng Tây Bắc hay một số tỉnh thuộc khu vực này khá lớn, được đề cập cụ thể trongnghiên cứu địa bàn tỉnh Lai Châu của Vũ Cao Minh (1997) [79], Lê Thị Nghinh(2003) [84], Nguyễn Văn Phổ (2004) [91], Phạm Tích Xuân (2004) [147]; trong đềtài nghiên cứu do Viện Khoa học địa chất và khoáng sản chủ trì (2008) [142] tại khuvực lòng hồ TĐSL – Sông Đà; hay của Nguyễn Tứ Dần (2008); của Viện địa chất

(2012) nghiên cứu tại khu vực Sơn La – Lai Châu [56]… Đề tài “Nghiên cứu mối liên quan giữa các loại hình tai biến địa chất với sự hoạt động hiện đại của các đới phá hủy kiến tạo á kinh tuyến khu vực Tây Bắc” do Viện địa chất chủ trì (2011) chủ

yếu tập trung vào việc tìm hiểu đặc điểm địa hình, cấu trúc kiến tạo và tân kiến tạo,đặc điểm các đới phá hủy kiến tạo trẻ AKT của khu vực nghiên cứu… Trên cơ sở đó

đề tài đã phân tích hiện trạng các loại hình tai biến, mối liên quan của các loại hìnhtrên với sự hoạt động hiện đại của các đới phá hủy đứt gãy, đề xuất các biện pháp

phòng tránh Hay như cuốn “Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Tây Bắc Việt Nam trên phương diện đánh giá ĐKTN” (2011) nhóm tác giả Đỗ Trọng Dũng (Chủ

biên) và cộng sự [27] đã dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, các điều kiện

xã hội và văn hóa để xây dựng các mô hình trục ngang, trục dọc về không gian địa

lí, các tuyến, điểm du lịch… Kết quả của các đề tài này là hệ thống bản đồ phânvùng nguy cơ tai biến, xói mòn, trượt lở đất ở các khu vực nghiên cứu; đồng thời đềxuất các biện pháp kĩ thuật, giải pháp và chính sách góp phần làm giảm thiệt hại docác tai biến này gây ra

Trang 30

1.1.4.2 Các công trình nghiên cứu về lưu vực hồ thủy điện Sơn La

Các đề tài khoa học nghiên cứu về lưu vực hồ TĐSL tập trung chủ yếu vàovấn đề đánh giá chất lượng môi trường, vấn đề di dân TĐC… điển hình như:

Nghiên cứu di dân và TĐC vùng hồ TĐSL (1993) do Tô Thị Minh Thông (Viện Quy

hoạch đô thị - nông thôn thuộc Bộ Xây dựng) làm chủ nhiệm đã xác định, dự báocác yếu tố kinh tế dân sinh bị ảnh hưởng bởi lòng hồ TĐSL, đề xuất các phương áncho hoạt động di dân TĐC phục vụ cho công trình TĐSL, những đánh giá, khuyến

nghị chính sách đền bù cho TĐC Đề án Nghiên cứu tiền khả thi Đánh giá tác động môi trường của công trình TĐSL (1997) do Lê Bá Nhung chủ nhiệm đã chỉ rõ hiện

trạng môi trường vùng dự án và đánh giá những tác động môi trường do công trình

này có thể sẽ gây ra sau khi dự án được thực hiện Trong Nghiên cứu sử dụng hợp lý lãnh thổ tỉnh Sơn La khi có công trình thủy điện của Lê Mỹ Phong (2011) trên cơ sở

phân tích cảnh quan cũng đã có những điều tra, nghiên cứu thực tế về công trìnhTĐSL thuộc phạm vi địa bàn tỉnh Sơn La

Trước đó, nhiều tổ chức, cơ quan của Việt Nam cũng có nhiều công trình

nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến TĐSL như Đánh giá độ nguy hiểm động đất ở khu vực TĐSL (Viện Vật lí địa cầu, 1990); Lâm nghiệp và ảnh hưởng của công trình TĐSL (Viện Điều tra Quy hoạch lâm nghiệp, 1990); Nghiên cứu di dân

và TĐC vùng hồ TĐSL (Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn, 3/1993); Sơ đồ quy hoạch dân cư phát triển KT-XH vùng TĐC công trình TĐSL (Ủy ban nhân dân tỉnh

Sơn La, 1996) Các nghiên cứu về điều tra khảo sát phương án di dân, TĐC TĐSL:nghiên cứu xây dựng mô hình di dân ổn định đời sống phát triển sản xuất cho đồng

bào di chuyển trong công trình TĐSL (Bộ KHCN và MT chủ trì – 1997) [7]; Báo cáo chuyên đề về môi trường kinh tế xã hội và nhân văn trong dự án xây dựng nhà máy TĐSL (Viện Địa lí, Trung tâm KHTN và CNQG,1998) [138]; Báo cáo đánh giá hiện trạng các vùng dự kiến TĐC công trình TĐSL của Công ty tư vấn thiết kế

điện I và các ngành chức năng của Sơn La, Lai Châu (1995) [13]; Nguyễn Ngọc

Khánh (2001) trong Đánh giá một số kinh nghiệm di dân TĐC từ các công trình thủy điện Hòa Bình, Yaly và công tác nghiên cứu chuẩn bị TĐC công trình TĐSL

[63]; Báo cáo tóm tắt quy hoạch tổng thể TĐC [120], Dự án TĐSL của Tổng công

Trang 31

ty Điện lực Việt Nam (2002) đã phân tích ảnh hưởng TĐC của dự án TĐSL, đưa racác phương án quy hoạch TĐC của công trình về các mảng phát triển kết cấu hạtầng, công tác tổ chức thực hiện, đền bù,… hay như Báo cáo đánh giá tác động môitrường dự án xây dựng công trình TĐSL của Bộ công nghiệp, Tập đoàn Điện lựcViệt Nam (2007)…

Tác giả Phạm Hoàng Hải và cs (2003) với đề tài Cơ sở khoa học cho công tác di dân, TĐC công trình TĐSL đã tổng hợp được hệ thống cơ sở lí luận về di dân,

TĐC; tiến hành điều tra, đánh giá tổng hợp ĐKTN, tiềm năng khu vực TĐSL và cácvùng di dân TĐC… Tác giả Đào Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Hồng Nhung (2010)trên cơ sở điều tra thực tiễn các khu TĐC của công trình TĐSL đã đánh giá tìnhhình sản xuất, mức sống của các HGĐ sau khi di dân [88]… Tác giả Phạm AnhTuân (2013) đã phân tích biến động tài nguyên đất tại lưu vực hồ TĐSL; đánh giá,điều tra hệ thống các thủy điện vừa và nhỏ (ví dụ cụ thể đối với TĐSL và thủy điệnNậm Mức) Cũng tập trung nghiên cứu các hiện tượng TBTN có ứng dụng phầnmềm GIS, giai đoạn 2010 – 2011, tác giả Nguyễn Tứ Dần đã đánh giá được mức độhoạt động của tai biến trượt – lở đất, xây dựng bản đồ phân vùng tai biến trượt lởđất, bản đồ nguy hiểm trượt lở đất; nêu lên khả năng biến đổi môi trường địa chấtkhu vực hồ TĐSL khi tích nước và đi vào vận hành, khai thác Nguyễn Hoàng Yến

(2018) “Nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch bền vững vùng lòng hồ TĐSL” với

trọng tâm nghiên cứu về hoạt động du lịch và hình thức du lịch cộng đồng hiện cónhiều tiềm năng phát triển trên vùng lòng hồ…

Tóm lại, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về vùng Tây Bắc và khu vực TĐSLsong, còn thiếu các công trình đề tài tập trung nghiên cứu lưu vực hồ thủy điện; cácnghiên cứu tập trung vào các tỉnh riêng lẻ; thiên về đánh giá, nghiên cứu các thànhphần tự nhiên, các TBTN đặc trưng của khu vực Số lượng các công trình nghiêncứu về đặc điểm KT-XH chung của vùng hay những khu vực đặc thù còn hạn chế;chưa có các công trình nghiên cứu tổng hợp NLTN và đề xuất các mô hình hệ KTSTphù hợp trên toàn bộ lưu vực hồ Vì thế, có thể thấy, nghiên cứu các mô hình hệKTST là hướng mở, cấp thiết, chứa đựng nhiều tiềm năng với giá trị thực tiễn cao,

là lãnh thổ và vấn đề luận án hướng tập trung vào nghiên cứu

Trang 32

1.2 Cơ sở lí luận xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái áp dụng cho khu vực nghiêncứu

1.2.1 Hệ kinh tế sinh thái, mô hình hệ kinh tế sinh thái

1.2.1.1 Hệ kinh tế sinh thái

Xuất phát từ định nghĩa “KTST là một lĩnh vực liên ngành nhằm đưa kinh tếvào một hệ sinh thái (HST) rộng hơn nhằm hỗ trợ tất cả các hoạt động của con người,thể hiện được cả hai giới hạn: tăng trưởng kinh tế và cơ hội để cải thiện cuộc sống lâudài của con người Trong đó, ba mục tiêu tương quan KTST cần lưu ý là quy mô bềnvững, phân phối công bằng, phân bổ hiệu quả - các mục tiêu này đều hướng tới hạnhphúc cho con người và PTBV” (Robert Costanza, 2010) [154] hay “KTST được địnhnghĩa đơn giản như nghiên cứu liên kết của các hệ thống thiên nhiên và các hệ thốngcon người nhằm đồng thời vượt qua kinh tế môi trường và sinh thái”, “theo nghĩa hẹp,KTST được xem là khoa học của thế giới tự nhiên” (Éloi Laurent và Jacques Le

Cacheux, 2014) [36], tác giả Phạm Quang Anh cho rằng “Hệ KTST (Socio – Ecological

Economic Systems = SEES) là một hệ thống cấu trúc và chức năng về mối quan hệbiện chứng và nhất quán giữa xã hội và tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ nhất địnhđang diễn ra mối tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người trên cả ba mặt: khaithác, sử dụng và bảo vệ tiềm năng tài nguyên trên lãnh thổ đó (cho quá trình sản xuất),tạo nên chu trình vận hành và bù hoàn vật chất – năng lượng – tiền tệ để biến nó thànhmột bậc như thực lực kinh tế (nghèo – đủ sống và trù phú) cùng với một bậc trạng tháimôi trường (ô nhiễm khắc nghiệt – bình thường và trong sạch dễ chịu) nhằm thỏa mãncho bản thân mình về vật chất và nơi sống [2]” Các tác giả Đặng Trung Thuận vàTrương Quang Hải (1999) quan niệm “Hệ KTST được xem là một hệ thống chức năngnằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật, môi trường chịu sự điều khiển của conngười để đạt mục đích phát triển lâu bền, là hệ thống vừa bảo đảm chức năng cung cấpvừa đảm bảo chức năng bảo vệ và bố trí hợp lí trên lãnh thổ” [117] Tính tất yếu của hệKTST là yêu cầu giải quyết tính cân đối và hợp lý của hoạt động giữa hai hệ thànhphần: hệ KT-XH và hệ sinh thái - môi trường Theo Conway G.R (1983) và MartenG.G (1988), các hệ thống KTST được đặc trưng bởi các tiêu chuẩn về tính năng suất,tính ổn định,

Trang 33

tính chống chịu, tính công bằng, tính tự trị, tính thích nghi và tính đa dạng Như vậy,

hệ KTST là một hệ thống cấu trúc và chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữasinh vật và môi trường chịu sự điều khiển của con người vừa bảo đảm chức năngcung cấp (kinh tế) vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (sinh thái) và bố trí lãnh thổ hợp

lý với ba phân hệ là: phân hệ tự nhiên, phân hệ xã hội và phân hệ sản xuất Mỗiphân hệ lại bao gồm nhiều yếu tố khác nhau song tựu chung lại các yếu tố thuộc cácphân hệ đều có mối hệ qua lại mật thiết với nhau

Phân hệ tự nhiên Phân hệ xã hội

- Năng lượng mặt trời - Dân cư, dân tộc

- Địa chất – địa hình - Khoa học kĩ thuật

- Khí hậu – thủy văn - Chính sách quản lý

- Thổ nhưỡng – sinh vật - Thị trường cung cấp vật tư và tiêu thụ

Sản phẩm kinh tế Sản phẩm xã hội Sản phẩm môi trường

- Năng suất - Thỏa mãn nhu cầu vật chất - Ô nhiễm môi trường

- Hiệu quả kinh tế - Thỏa mãn nhu cầu giải trí - Cải thiện môi trường

Hình 1.1: Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong hệ KTST [47]

Với cấu trúc như trên, hệ KTST đáp ứng hai chức năng cơ bản của KTST:chức năng kinh tế và chức năng sinh thái Chức năng kinh tế tạo đầu ra là hàng hoá

và lợi nhuận, biểu hiện bằng các chỉ số kinh tế, chức năng sinh thái đảm bảo tạo đầu

ra là tính bền vững sinh thái - môi trường Hai chức năng nêu trên của hệ có mốiliên hệ và hỗ trợ cho nhau Trong quá trình phân tích hệ KTST cần có sự phối hợplinh hoạt giữa các nhóm phương pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa, cácnhóm nghiên cứu này tương ứng với ba giai đoạn: điều tra cơ bản, đánh giá hệthống, tối ưu hóa hệ thống

Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về hệ KTST, songcác định nghĩa đều thống nhất: (1) hệ KTST có nguồn gốc từ kinh tế tự nhiên, (2) hệKTST là sự hợp nhất liên kết các yếu tố sinh thái và kinh tế, (3) các yếu tố tự nhiên

và KT-XH đều có mối quan hệ tương hỗ, qua lại với nhau dưới sự tác động của con

Trang 34

người ở các mức độ khác nhau nhằm đạt hiệu quả về kinh tế và môi trường Theo

đó, mỗi hệ đều gồm 3 phân hệ cơ bản và trong hệ KTST hiện đại, các sản phẩm đầu

ra, đặc biệt là môi trường được ưu tiên chú trọng bởi tính bền vững của môi trường

là yêu cầu cốt lõi của việc phát triển các mô hình hệ KTST

1.2.1.2 Mô hình hệ kinh tế sinh thái: khái niệm, phân loại, nguyên tắc đề xuất, hướng xác lập mô hình, một số mô hình hệ kinh tế sinh thái điển hình

a Khái niệm:

Tác giả Trương Quang Hải (2004) cho rằng “Mô hình hệ KTST là một hệ KTST

cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái nhất định [45]”; PhạmHoàng Hải, Nguyễn An Thịnh và nnk (2013) [47] nhận định: “Mô hình hệ KTST là mộthình thức tổng hợp, hệ thống hóa từ các kinh nghiệm thực tiễn thành công của việc sửdụng các ĐKTN, TNTN, điều kiện KT-XH và nhân văn, có sự đảm bảo, luận giải có cơ

sở khoa học, thực tiễn tin cậy cho các mục đích sử dụng khác nhau đối với từng đốitượng, từng lĩnh vực phát triển cũng như đối với các khu vực, các vùng lãnh thổ cụthể, ” Bởi vậy, việc đánh giá KTST phục vụ đề xuất mô hình hệ KTST trong phạm

vi lưu vực hồ TĐSL cần có những nét đặc thù, khác biệt hơn cả so với các khu vựckhác, vì rằng, dưới tác động của yếu tố kỹ thuật, công nghệ, các yếu tố ĐKTN,TNTN, nhân văn trước và sau khi hình thành hồ TĐSL đã có sự biến đổi

b Phân loại: Mô hình hệ KTST được phân loại căn cứ vào cơ cấu sản xuất, quy

mô sản xuất, hình thức tổ chức quản lí, sở hữu tư liệu sản xuất hay mức thu nhập…

c Nguyên tắc đề xuất mô hình

Các mô hình hệ KTST được đề xuất theo hai nguyên tắc cơ bản: (1) nguyêntắc cấu trúc – chức năng của hệ thống (nguyên tắc này phản ánh mối liên hệ biệnchứng và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống); (2) nguyên tắc kinh tế -sinh thái (nguyên tắc này phản ánh hoạt động của hệ thống phải đảm bảo tính kinh

tế, thích nghi sinh thái và bảo vệ môi trường) Trong các trường hợp cụ thể, có thể

áp dụng thêm nguyên tắc hỗ trợ phân cực chức năng cụ thể của từng mô hình

Quy trình xây dựng mô hình hệ KTST được tiến hành theo các nội dung cơ bảnsau: (a) kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, kinh tế, tài nguyên và tiềm năng sinhhọc; (b) cấu trúc mô hình hệ KTST dựa trên chiến lược sử dụng tài nguyên, BVMT vớicác mục tiêu phát triển KT-XH; (c) hoạt động trong hệ thống là chu trình

Trang 35

liên ngành với cơ sở kĩ thuật sinh thái; (d) điều khiển hệ KTST là điều khiển các chutrình năng lượng – sản xuất – tiêu thụ, các quy luật kinh tế và sinh học [47] Việc tiếpcận KTST là một hướng đánh giá tổng hợp để đưa đến việc thiết kế không gian sử dụnghợp lý lãnh thổ, định hướng PTBV dựa trên các tiêu chí về tính thích nghi sinh thái, chỉtiêu về kinh tế, chỉ tiêu bền vững về môi trường và về mặt xã hội [54]

Nhu cầu sinh Đánh giá thích Mức độ thích

nghi sinh thái

Hoạt động khai Xem xét tính bền Bền vững môi

thác, sử dụng

Đánh giá phương tổng hợp án lựa

chọn Nguồn thu, Đánh giá hiệu Hiệu quả kinh

Hình 1.2: Sơ đồ các bước đánh giá mô hình hệ KTST [54]

Theo sơ đồ trên, các tiêu chí về TNST cần chú trọng tới sự thích nghi ở mức độnào đó của cây trồng, vật nuôi với các điều kiện sinh thái của khu vực nghiên cứu; tiêuchí kinh tế là các giá trị kinh tế phản ánh thông qua mức sống, thu nhập của người dân,khả năng tích lũy, lợi nhuận thu được sau đầu tư Tiêu chí bền vững môi trường nhấnmạnh tới khả năng chống chịu các hiện tượng tự nhiên cực đoan, các hiện tượng có khảnăng gây ô nhiễm và mức độ cải tạo môi trường Tiêu chí bền vững xã hội là đánh giá

cụ thể mô hình đề xuất có phù hợp với khả năng, nhu cầu của người dân, có được ngườidân chấp nhận, thực hiện và duy trì mô hình hay không?

d Hướng xác lập các mô hình hệ kinh tế sinh thái ở các quy mô lãnh thổ

Theo Phạm Hoàng Hải, Nguyễn An Thịnh và nnk (2013) [47], việc xây dựng

mô hình hệ KTST hợp lý cho từng địa bàn, từng khu vực cụ thể cần phải đảm bảo các yêu cầu: (1) Mô hình phải có tính khả thi, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi

Trang 36

trường; (2) Quy mô của mô hình phải phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh tếthị trường Ở giai đoạn đầu, chưa thể đưa ra được quy mô rộng lớn cho cả một vùnglãnh thổ, mà có thể làm ở hai mức: hộ kinh tế gia đình và cộng đồng cấp thôn bản; (3)Mục tiêu của mô hình là ổn định và nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường,đảm bảo khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn bộ hệ thống Như vậy, cơ sởkhoa học xác lập các mô hình hệ KTST hợp lý trong khu vực không chỉ mang tính tựnhiên thuần tuý mà còn mang tính xã hội Đó chính là cơ sở của việc xây dựng mô hình

hệ KTST hợp lý, đảm bảo nguyên tắc PTBV, đặc biệt, lãnh thổ nghiên cứu là lưu vực

hồ TĐSL có những nét khác biệt về tự nhiên, dân cư, xã hội nên việc khảo sát, điều tra,

đề xuất các mô hình hệ KTST nhằm mục tiêu PTBV cần quan tâm, gắn bó chặt chẽ vớitính đặc thù vùng miền, tránh những mô hình nặng về lí thuyết, hiệu quả kinh tế, xãhội, môi trường không đảm bảo Cần chú trọng tới tính hiệu quả của mô hình, khả năngtồn tại, phù hợp với nhu cầu, mong muốn và khả năng của cộng đồng dân cư trên cơ sởcác nguồn vốn mà người dân hiện có

e Một số mô hình kinh tế sinh thái điển hình

(1) Mô hình kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế khá phổ biến ở Việt Nam và

nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ); gắn liềnvới các cuộc cải cách ruộng đất và các chủ trương tập trung đẩy mạnh phát triển nềnkinh tế nông nghiệp Ở châu Âu loại hình kinh tế này phát triển ở Anh, Hà Lan, ĐanMạch, Mỹ

HGĐ nông dân (nông hộ) được xem là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tíchkinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) đượcgóp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một máinhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên

ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong HGĐ Kinh tế nông hộ là loạihình kinh tế mà các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao độngkhông thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầucủa HGĐ (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán) Ở Việt Nam,loại hình kinh tế này được ra đời từ rất sớm và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển.Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng các

Trang 37

HGĐ đã được giao quyền sử dụng đất lâu dài – đây là động lực tăng trưởng mớitrong nông nghiệp nông thôn khi tăng tính tự chủ của các HGĐ trong sản xuất vàkinh doanh [182]

Vai trò kinh tế của HGĐ được đánh giá cao và được xem là chìa khóa, là tiền

đề góp phần ổn định, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp ngày một phát triển trong xuthế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấy nước Trong quá trình xây dựng nông thônmới, kinh tế HGĐ đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ, trở thành một nộidung quan trọng của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân,nông thôn Trong Quyết định số 491/QĐ-TTg đã quy định việc thực hiện nông thônmới ở nước ta, phát triển kinh tế HGĐ, đa dạng hóa ngành nghề, giải quyết việc làm

và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn là những nội dung của Chươngtrình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 [181].Theo đó, nhiều mô hình kinh tế HGĐ ở các vùng miền đã có nguồn thu đáng kể,góp phần ổn định cuộc sống của người dân Điển hình như các mô hình sản xuấtchuyên canh trong nông nghiệp: mô hình trồng lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chănnuôi gia cầm; mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn - thâm canh lúa, màu; mô hình sảnxuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn giống, gia cầm giống vàcác giống vật nuôi thủy đặc sản); mô hình nuôi bò sữa – chế biến – tiêu thụ tại chỗ;

mô hình nông – lâm kết hợp; mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểuthủ công nghiệp; mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp… [184] Đối với một số

xã, bản thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án hiện đã khai thác những tiềm năngsẵn có và những lợi thế mới do hồ thủy điện mang lại Trong đó phổ biến nhất là các

mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp, mô hình sản xuất cây giống, mô hình sản xuấtlúa nước – nuôi cá – rừng, mô hình nuôi trồng thủy sản – lúa nước – vườn – rừng,

mô hình nuôi cá lồng – nuôi vịt trời… Trong không gian lưu vực hồ thủy điện, diệntích bán ngập ven hồ chưa được khai thác hiệu quả - đây là khu vực nhiều tiềm năng

để các HGĐ cải tạo, mở rộng sản xuất

Như vậy, có thể thấy kinh tế HGĐ là hình thức tổ chức kinh doanh phù hợpvới khả năng, trình độ và phương thức canh tác sản xuất của các hộ dân Sự pháttriển ở quy mô lớn sẽ là cơ hội để chuyển nền nông nghiệp tự cấp sang sản xuất

Trang 38

mà nếu làm ở gia đình không có lợi bằng hợp tác mang lại Hiện nay, ở các nước cónền kinh tế phát triển cao hay các nước công nghiệp mới phát triển (NICs) đã xuấthiện nhiều loại hình HTX trong nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở phát triển kinh

tế HGĐ, điển hình là hệ thống kinh tế trang trại

Theo Thông tư Hướng dẫn phân loại và đánh giá HTX hoạt động trong lĩnh vựcnông nghiệp [116], HTX nông nghiệp được phân chia thành 7 loại HTX, bởi vậy,

ở nhiều vùng trong cả nước, các HTX nông nghiệp được hình thành theo các hướngchuyên môn hóa tùy vào lợi thế từng vùng Cụ thể như, vùng Tây Bắc có tổ chăn nuôi

Mô Cổng (Thuận Châu, Sơn La), nhóm dịch vụ sông Đà, hội dệt vải thổ cẩm Mai Châu(Hòa Bình), tổ thủy nông Viêng Lán, HTX nông nghiệp Hải Sơn, HTX Chiềng Ơn,HTX nuôi trồng thủy sản Chiềng Bằng, HTX thủy sản Bình Minh (xã Chiềng Lao)

Vùng Tây Nguyên, có hội nuôi cá lồng, hội nuôi heo, hội ươm cá giống và các HTXEakr, Eabar… [32] Chỉ tính riêng lĩnh vực thủy sản, đến năm 2017, các xã thuộcphạm vi lưu vực hồ TĐSL đã có tới 37 HTX thủy sản trong đó tập trung nhiều ởhuyện Quỳnh Nhai (26 HTX)

(3) Mô hình kinh tế trang trại [180]

Trên thế giới, kinh tế trang trại xuất hiện từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII,trải qua quá trình phát triển lâu dài, kinh tế trang trại được khẳng định là mô hình kinh

tế phù hợp, hiệu quả cao trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp ở mỗi khu vực FAO(1997) đã đưa ra khái niệm trang trại ở nông thôn trên cơ sở khái niệm nông trại Nôngtrại (Farm) là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nôngnghiệp phục vụ cho sinh kế của họ Nông trại ở khu vực châu Á được chia thành 6 loạihình cơ bản theo mục đích sản xuất, diện tích đất đai và mức độ phụ thuộc khác nhau:1- nông trại gia đình quy mô nhỏ sản xuất theo hướng tự cấp

Trang 39

Ở Việt Nam, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng: "Trang trại là một hình thức

tổ chức kinh tế trong nông- lâm-ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên có sởphát triển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt" [180] Tác giảNguyễn Thế Nhã phân tích: "Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trongnông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuấtthuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiếnhành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao,hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường [180] Một số nhà khoa học cho rằng:kinh tế trang trại gia đình là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xãhội, dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số ngườilao động nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuất nhấtđịnh để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền KTTT vàđược nhà nước bảo hộ [19], [122]

Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới, nhất là đối với các nước phát triểnnhư Mỹ, Anh, Hà Lan…, các nước châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc…

có lịch sử phát triển lâu dài và mạnh mẽ, hiện có vị trí vai trò to lớn đối với nền kinh

tế quốc dân Ở Việt Nam, trang trại HGĐ đã xuất hiện ở nhiều địa phương, tập trungnhiều ở trung du và miền núi và được Nhà nước tạo môi trường hết sức thuận lợi(đầu tư vốn, lao động, nâng cao trình độ công nghệ và quản lý) Ở vùng Tây Bắc,hình thức kinh tế trang trại được mở rộng với các đặc điểm sau: (1) chủ yếu là trangtrại HGĐ nông dân trong đó chủ hộ là chủ gia đình, có kiến thức, kinh nghiệm, bìnhquân mỗi trang trại có 3 lao động, với quy mô trang trại <5ha thì chủ yếu sử dụnglao động trong gia đình và kết hợp đổi công trong lúc thời vụ khẩn trương, 5 – 10ha:thuê thêm 2 – 5 lao động trong thời gian 1-3 tháng, >10ha: thuê 5-10 lao động[131]; (2) các trang trại thường thực hiện kinh doanh tổng hợp, tổng doanh thu trungbình khoảng 57,07 triệu đồng; (3) quy mô trang trại HGĐ không

Trang 40

lớn, <2ha: trang trại chuyên cây công nghiệp, <3ha: chuyên cây ăn quả, 0,5-1ha:chuyên thủy sản, 10-20ha: chuyên rừng; (4) chủ trang trại có ý thức sử dụng tàinguyên hợp lí đặc biệt là tài nguyên đất

Như vậy, nông hộ được xem là cơ sở để hình thành trang trại, khi nông hộ đạtcác tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóa và giá trị bình quân một năm; có quy mô sảnxuất tương đối lớn so với trung bình của kinh tế hộ tại địa phương tùy theo ngành; có

sử dụng lao động làm thuê; chủ trang trại có kiến thức và trang trại lấy sản xuất hànghóa làm hướng chính… được xem là một trang trại Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sựthống nhất trong việc xác định trang trại, phân biệt giữa trang trại và nông hộ sản xuấthàng hóa giữa các vùng khác nhau, cho nên có nhiều cách gọi khác nhau với loại hìnhkinh tế này (trang trại hoặc hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp)

1.2.2 Nguồn lực tự nhiên, đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên

Nguồn lực tự nhiên là những nguồn vật chất tự nhiên phục vụ trực tiếp cho

đời sống dân sinh và phát triển kinh tế, trong đó, đối với đồng bào miền núi tronggiai đoạn chuyển dịch sang nền kinh tế hàng hóa thường được gọi là sinh kế dân cư

Còn điều kiện tự nhiên là các yếu tố của môi trường tự nhiên không sử dụng trực

tiếp làm các nguồn năng lượng để tạo ra lương thực, thực phẩm, các nguyên liệucho công nghiệp, nhưng nếu không có sự tham gia của chúng thì không thể tiếnhành hoạt động sống và sản xuất được, thí dụ như địa hình, đất đai, nguồn nước,nhiệt độ, độ ẩm [34]

“Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành

và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trongcuộc sống” [66] Trong các nghiên cứu địa lý và sinh thái, NLTN gồm hai phần: (a) cácđiều kiện địa lý tự nhiên truyền thống như địa chất – kiến tạo, địa hình, khí hậu, thủyvăn, thổ nhưỡng, sinh vật và tác động của con người được coi là một phần của giới tựnhiên; (b) các nguồn TNTN Nói một cách khác, NLTN là một hệ thống được hợp bởi

hai hợp phần là ĐKTN (môi trường sống của con người và xã hội loài người – môi

sinh), TNTN (nguồn của cải vật chất tồn tại trong môi trường sống, được con người

khai thác và sử dụng – mưu sinh), chúng gián tiếp hoặc trực tiếp tác động, tham gia vào

quá trình phát triển kinh tế nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người

Ngày đăng: 14/06/2019, 05:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Hiền, Nguyễn Xuân Mai (2008), Giáo trình Hệ thống canh tác, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Hiền, Nguyễn Xuân Mai (2008), "Giáo trình Hệ thống canh tác
Tác giả: Nguyễn Tất Cảnh, Trần Thị Hiền, Nguyễn Xuân Mai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
11. Chi hội Sinh thái cảnh quan Việt Nam (1992), Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận. Tuyển tập các báo cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi hội Sinh thái cảnh quan Việt Nam (1992"), Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận
Tác giả: Chi hội Sinh thái cảnh quan Việt Nam
Năm: 1992
12. Vũ Đức Chính, Nguyễn Văn Bình (2007), Giáo trình kĩ thuật trồng cây công nghiệp, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đức Chính, Nguyễn Văn Bình (2007), "Giáo trình kĩ thuật trồng cây công nghiệp
Tác giả: Vũ Đức Chính, Nguyễn Văn Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Kim Chương, Lại Huy Phương (2001), “Phương pháp đánh giá môi trường sinh thái miền núi phục vụ quy hoạch phòng hộ và sử dụng đất đai”, Thông báo Khoa học của các trường đại học, p 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Kim Chương, Lại Huy Phương (2001), “"Phương pháp đánh giámôi trường sinh thái miền núi phục vụ quy hoạch phòng hộ và sử dụng đấtđai
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chương, Lại Huy Phương
Năm: 2001
17. Nguyễn Thị Kim Chương (2010), Về phương pháp phân tích LVS phục vụ quy hoạch sử dụng đất. Tuyển tập các báo cáo khoa học, Hội nghị KH địa lí toàn quốc lần thứ 5, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Kim Chương (2010), "Về phương pháp phân tích LVS phục vụquy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chương
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2010
18. Nguyễn Thị Kim Chương và nnk (2017), Liên kết phân tích lưu vực với cảnh quan phục vụ quy hoạch sử dụng đất cho phát triển bền vững lâm – nông nghiệp vùng đồi núi, Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Ứng dụng GIS và viễn thám trong nghiên cứu địa lí và quản lí, giám sát tài nguyên môi trường, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết phân tích lưu vực với cảnh quan phục vụ quy hoạch sử dụng đất cho phát triển bền vững lâm – nông nghiệp vùng đồi núi
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chương, nnk
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2017
19. Chương trình phát triển tổng thể KT – XH vùng Tây Bắc, Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng Tây Bắc, thời kì 1996 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển tổng thể KT – XH vùng Tây Bắc
20. Nguyễn Sinh Cúc (2009), “Phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Quản lí kinh tế số 24, tập 1+2, p 66-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Tạp chí Quản lí kinh tế
Năm: 2009
21. Cục địa chất và Khoáng sản (2005), Bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000, Phan Sơn (chủ biên), Đào Đình Thục, Nguyễn Viết Thắng, Trần Văn Tỵ, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục địa chất và Khoáng sản (2005), "Bản đồ địa chất tỉ lệ 1:200.000," PhanSơn ("chủ biên
Tác giả: Cục địa chất và Khoáng sản
Nhà XB: NXBBản đồ
Năm: 2005
22. Cục thống kê tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên (2016), Niên giám thống kê năm 2015, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên (2016), "Niên giám thống kê năm 2015
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2016
23. Nguyễn Đức Cường (2010), Kỹ thuật trồng cam, quýt, bưởi, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Cường (2010), "Kỹ thuật trồng cam, quýt, bưởi
Tác giả: Nguyễn Đức Cường
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2010
24. Darghoouth et al (2008), Cách tiếp cận quản lý lưu vực, chính sách và vận hành: bài học về mở rộng quy mô. Water Sector Board Discussion Paper No.11, World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận quản lý lưu vực, chính sách và vận hành: bài học về mở rộng quy mô
Tác giả: Darghoouth et al
Nhà XB: World Bank
Năm: 2008
25. Lâm Quang Dốc, Nguyễn Đình Tám, Vũ Như Vân (2011), Từ điển địa lí dùng cho học sinh – sinh viên, NXB Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Quang Dốc, Nguyễn Đình Tám, Vũ Như Vân (2011), "Từ điển địa lí dùng cho học sinh – sinh viên
Tác giả: Lâm Quang Dốc, Nguyễn Đình Tám, Vũ Như Vân
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
Năm: 2011
26. Lê Kim Dung (2012), Đánh giá tổng hợp ĐKTN phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai và đề xuất các mô hình nông – lâm kết hợp trên đất dốc LVS Chu (phần lãnh thổ Việt Nam), Luận án tiến sĩ Địa lí, Viện Địa lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Kim Dung (2012), "Đánh giá tổng hợp ĐKTN phục vụ quy hoạch sử dụngđất đai và đề xuất các mô hình nông – lâm kết hợp trên đất dốc LVS Chu(phần lãnh thổ Việt Nam)
Tác giả: Lê Kim Dung
Năm: 2012
27. Đỗ Trọng Dũng (Chủ biên), Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương, Nguyễn Ngọc Khánh (2011), Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Tây Bắc Việt Nam trên phương diện đánh giá ĐKTN, NXB ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Tây Bắc Việt Nam trên phương diện đánh giá ĐKTN
Tác giả: Đỗ Trọng Dũng, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB ĐH Thái Nguyên
Năm: 2011
30. Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Bắc (2016), Số liệu khí tượng thủy văn, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Bắc (2016), "Số liệu khí tượng thủy văn
Tác giả: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Bắc
Năm: 2016
31. Đề tài KC.09.12, Lí luận và kinh nghiệm thực tiễn phát triển kinh tế - sinh thái đảo trong nước và thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài KC.09.12
32. Sa Trọng Đoàn (2000), Phát triển kinh tế HGĐ miền núi trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, HVCTGQHCM – Luận án tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế HGĐ miền núi trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường
Tác giả: Sa Trọng Đoàn
Nhà XB: HVCTGQHCM
Năm: 2000
33. Nguyễn Đăng Độ (2013), Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ định hướng phát triển nông – lâm nghiệp lưu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án tiến sĩ địa lí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ định hướng phát triển nông – lâm nghiệp lưu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Đăng Độ
Nhà XB: Luận án tiến sĩ địa lí
Năm: 2013
34. Nguyễn Xuân Độ và cộng sự (2006), “Đánh giá các vùng chuyên canh cà phê, cao su trên quan điểm địa lí học”, Kỉ yếu Hội nghị Khoa học Địa lí - Địa chính, p 43-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Độ và cộng sự (2006), “"Đánh giá các vùng chuyên canh càphê, cao su trên quan điểm địa lí học
Tác giả: Nguyễn Xuân Độ và cộng sự
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w