TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP .... - Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh giá hiệu quả ki
TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Mỗi địa hệ thống là sự kết hợp có quy luật của các thành phần địa lý nằm trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau rất phức tạp và tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh Theo quan điểm địa lý, lưu vực sông là một vùng lãnh thổ, một thực thể thống nhất về sinh thái và môi trường, khép kín về điều kiện tự nhiên, là một địa hệ thống hoàn chỉnh [85] Như vậy, lưu vực sông là một hệ thống tương đối độc lập, có mối quan hệ trao đổi vật chất và năng lƣợng, khi một thành phần thay đổi sẽ tác động đến các thành phần khác trong lưu vực Do đó, nhiệm vụ quản lý tổng hợp lưu vực sông không chỉ là quản lý tài nguyên nước, mà còn phải quản lý các dạng tài nguyên khác nhƣ tài nguyên đất, tài nguyên rừng, đa dạng sinh học Nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng đặc biệt đến quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực sông
Vì vậy, khai thác và quản lý tổng hợp lãnh thổ theo lưu vực sông là mối quan tâm lớn hiện nay ở nước ta
Sông Bé là một trong 5 phụ lưu lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai, với diện tích lưu vực khoảng 7.484 km 2 Địa hình lưu vực có sự phân hóa khá phức tạp: núi, đồi bát úp hoặc lƣợn sóng xen lẫn một số dạng địa hình lòng chảo và đồng bằng đã tạo nên sự phân hóa đa dạng về khí hậu, thổ nhƣỡng, sinh vật Việc xác định quy luật phân hóa và tiềm năng tự nhiên nhằm đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực theo hướng bền vững đang là vấn đề có tính cấp thiết Điều kiện tự nhiên lưu vực sông Bé khá thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và hàng năm nhƣ: cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, sầu riêng, bơ, lạc, ngô, sắn,… mang lại hiệu quả kinh tế cao cho dân cư trong lưu vực Tuy nhiên, trong những năm vừa qua các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp trên lưu vực sông Bé chưa tương xứng với tiềm năng hiện có và còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về xói mòn đất, mất rừng phòng hộ, lũ quét,… Sản xuất nông nghiệp của các địa phương trên lưu vực còn thiếu những quy hoạch chi tiết, người dân vẫn còn lúng túng trong việc lựa chọn những loại hình sản xuất nông - lâm nghiệp hiệu quả Cách thức sản xuất theo thói quen, phong trào, cùng với sự biến động theo hướng bất lợi của thị trường
2 nông sản nên lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu đang gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, việc xác lập cơ sở khoa học cho những định hướng quy hoạch, tổ chức lãnh thổ nông - lâm nghiệp ở lưu vực sông Bé đang là vấn đề cấp bách và có tính thời sự hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “ Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển nông – lâm nghiệp lưu vực sông Bé ”.
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Xác lập cơ sở khoa học trong đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên (ĐKTN) nhằm đề xuất định hướng phát triển nông – lâm nghiệp theo hướng bền vững tại lưu vực sông Bé
- Tổng quan các tài liệu liên quan làm căn cứ xây dựng cơ sở lý luận và quy trình đánh giá tổng hợp ĐKTN phục vụ định hướng phát triển nông - lâm nghiệp
- Xác định tính chất đặc thù về ĐKTN và nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ, trên cơ sở đó xây dựng bản đồ cảnh quan (CQ) lưu vực sông Bé tỷ lệ 1/250.000
- Đánh giá CQ và phân hạng mức độ thích hợp từng loại CQ phục vụ định hướng phát triển nông - lâm nghiệp
- Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng bền vững.
GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Công trình nghiên cứu thực hiện trong phạm vi của lưu vực sông Bé nằm trên địa phận các tỉnh Đắk Nông, Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai Ranh giới lãnh thổ nghiên cứu đƣợc xác định dựa trên cơ sở bản đồ địa hình, bản đồ thủy văn, bản đồ hành chính của 4 tỉnh nêu trên
3.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tổng hợp ĐKTN dựa trên quan điểm CQ Công trình nghiên cứu đánh giá CQ ở cấp loại CQ (tỷ lệ bản đồ 1/250.000) phục vụ phát triển nông – lâm nghiệp cho toàn lưu vực sông Bé
- Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái CQ nhằm xác định tiềm năng sinh thái tự nhiên của các đơn vị CQ trong phát triển nông - lâm nghiệp đã đƣợc lựa chọn và vận dụng trong luận án Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất được sử dụng làm cơ sở cho việc đề xuất định hướng phát triển nông - lâm nghiệp ở lưu vực sông Bé
- Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, lợi thế so sánh của các loại hình sử dụng đất và quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp của các địa phương trên lưu vực sông Bé, công trình nghiên cứu chọn cây cao su, cây ca cao, cây bơ, cây bưởi, cây sao đen phục vụ mục tiêu đánh giá Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu không đi sâu tìm hiểu kỹ thuật canh tác trong sản xuất nông - lâm nghiệp.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
- Công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích CQ để đánh giá ĐKTN phục vụ định hướng phát triển nông – lâm nghiệp lưu vực sông Bé Xây dựng bản đồ
CQ tỷ lệ 1/250.000 lưu vực sông Bé Xác định mức độ thích hợp và thứ tự ưu tiên của các loại CQ cho phát triển nông - lâm nghiệp ở lưu vực
- Đề xuất sử dụng hợp lý lãnh thổ phục vụ phát triển nông – lâm theo hướng bền vững ở từng vùng của lưu vực sông Bé.
LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
Luận điểm 1: Tính đa dạng trong cấu trúc và chức năng CQ lưu vực sông Bé là kết quả của sự tác động tổng hợp, phân hóa của các hợp phần tự nhiên cùng với hoạt động nhân sinh trong thể thống nhất của lưu vực sông Bé
Luận điểm 2 : Cơ sở khoa học quan trọng phục vụ đề xuất định hướng phát triển nông – lâm nghiệp của các tỉnh trong lưu vực theo hướng phát triển bền vững là đánh
4 giá tổng hợp ĐKTN nhằm xác định mức độ thích hợp của các đơn vị CQ cho mục đích phát triển các loại cây trồng cụ thể.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận đánh giá tổng hợp ĐKTN, làm phong phú thêm hướng nghiên cứu của địa lý ứng dụng phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ theo lưu vực sông
- Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ thêm quy luật phân hóa tự nhiên và hình thành nên các đơn vị CQ ở lưu vực sông Bé
- Cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ đối với các loại hình nông - lâm nghiệp ở lưu vực sông Bé theo hướng phát triển bền vững
- Kết quả của công trình nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở địa phương trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, quy hoạch khai thác lãnh thổ theo đơn vị CQ, đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH NÔNG – LÂM NGHIỆP
MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Theo Nguyễn Dƣợc (2001): Điều kiện tự nhiên là khả năng của toàn bộ các thành phần trong môi trường tự nhiên, có ảnh hưởng đến cuộc sống và các hoạt động của con người trên một lãnh thổ (ví dụ: vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, các nguồn nước,…) [22]
Như vậy, điều kiện tự nhiên là nhân tố của môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển KT – XH của mỗi quốc gia Ở mỗi lãnh thổ ĐKTN luôn có những mặt thuận lợi và khó khăn Do đó, cần đánh giá tổng hợp ĐKTN để làm rõ những tiềm năng, lợi thế và hạn chế của nó trong từng lĩnh vực cụ thể
D.L Armand (1983) đã đƣa ra khái niệm: “Tài nguyên thiên nhiên là các nhân tố tự nhiên được sử dụng vào phát triển kinh tế làm phương tiện tồn tại của xã hội loài người,…” [2]
Theo Lê Văn Thăng (2008): “Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống” [75]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): “Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất có trong tự nhiên mà ở một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể được sử dụng làm phương tiện sản xuất và đối tượng tiêu dùng”[44]
Tùy thuộc vào những tiến bộ của xã hội, trình độ phát triển khoa học – kĩ thuật của con người mà danh mục các loại TNTN được mở rộng Do đó, khái niệm tài
6 nguyên thiên nhiên có thể thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào sự phát triển lực lƣợng sản xuất
1.1.2 Cảnh quan, cấu trúc và chức năng cảnh quan
Từ “ cảnh quan ” là thuật ngữ khá phổ biến trong khoa học Địa lý, đƣợc sử dụng để biểu thị tư tưởng chung về một tập hợp quan hệ tương hỗ của các hiện tượng khác nhau trên bề mặt Trái đất
Nền móng của CQ học đã đƣợc xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu, sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái đất của các nhà địa lý kinh điển Nga: V.V Docutraev; L.C Berg; G.N Vƣxotxki; G.F Morozov,… ở Đức: Z Passarge; A Hettner; ở Anh: E.J Gerbertson và các nhà địa lý
Mỹ, Pháp,… Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự phân chia bề mặt Trái đất dẫn đến việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ lớp vỏ địa lý chỉ đƣợc phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, khi đó CQ đƣợc xác định nhƣ một
“đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” (A.G Ixatxenko, 1953)
Quá trình phát triển đó thể hiện qua sự xác định khái niệm CQ trong các định nghĩa của các tác giả ở các thời kỳ khác nhau, đánh dấu mỗi thời điểm phát triển của khái niệm cũng nhƣ của học thuyết CQ nhƣ sau:
“Cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và động vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hoà hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của Trái đất” (L.C Berge, 1931)
Năm 1948, N.A Xolsev đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Cảnh quan địa lý là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong đó có sự lặp lại một cách điển hình và có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các biến chứng đất, các quần xã thực - động vật” [29]
Năm 1959, X.V.Kalexnik nêu ra định nghĩa CQ nhƣ sau: "Cảnh quan địa lý là một bộ phận nhỏ của bề mặt Trái đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác, được bao bọc bởi các ranh giới tự nhiên và bản thân là một sự kết hợp các hiện tượng, đối tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ mọi mặt với lớp vỏ địa lý" [52] Nhƣ vậy, bất kì CQ nào cũng phải là kết quả của sự phát triển và phân dị trong lớp vỏ địa lý
N.A.Xolsev (1962) đƣa ra một định nghĩa rõ ràng hơn: "Cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, một kiểu địa hình, một khí hậu giống nhau và bao gồm một tập hợp những cảnh dạng chính và phụ quan hệ với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ thuộc riêng cho CQ đó"
Sau đó N.A Xolsev lại đƣa ra các điều kiện chủ yếu cho các CQ độc lập (cá thể) nhƣ sau:
+ Lãnh thổ mà các CQ hình thành phải chỉ nền địa chất đồng nhất Sau khi cải tạo nền, lịch sử phát triển tiếp theo của CQ phải đồng nhất về không gian