1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận

133 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 6,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của biển đảo, trong đó có huyện đảo Phú Quý đối với an ninh chính trị, toàn vẹn lãnh thổ cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, học viên đã quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI **********

TRƯƠNG THỊ THU HIỀN

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI **********

TRƯƠNG THỊ THU HIỀN

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN

CHUYÊN NGÀNH: Địa lý Tự nhiên

MÃ SỐ: 60.44.02.17

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ THANH HẰNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 4

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Địa lí tự nhiên, cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Địa lí, các cán bộ trường Đại học sư phạm

Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Uỷ ban nhân dân huyện đảo Phú Quý, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia và viện Địa lý đã cung cấp nguồn tư liệu, tài liệu quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã khích lệ, động viên tôi hoàn thành khóa học này

Trang 6

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 1.1 Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ

2 Hình 2.1 Sơ đồ địa chất đảo Phú Quý 43

3 Hình 2.2 Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Phú Quý 52

4 Hình 2.3 Nhiệt độ bình quân tháng, lớn nhất, nhỏ nhất và bình quân

năm tại trạm Phú Quý 53

5 Hình 2.4 Số ngày mưa, lượng mưa bình quân tháng và lượng mưa

ngày lớn nhất tại trạm Phú Quý 54

6 Hình 2.5 Độ ẩm không khí bình quân tháng tại trạm Phú Quý 55

7 Hình 2.6 Tốc độ gió (m/s) 56

8 Hình 2.7 Thống kê số cơn bão hoạt động trên vùng biển từ Bình

Thuận đến Cà Mau (1945 – 2008) theo các tháng 58

9 Hình 2.8 Sơ đồ địa chất thuỷ văn đảo Phú Quý 65

10 Hình 2.9 Sơ đồ phân bố cỏ biển đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 85

Trang 8

3 Bảng 2.1 Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Phú Quý (giờ) 52

4 Bảng 2.2 Nhiệt độ bình quân tháng trung bình nhiều năm tại trạm

Phú Quý (oC)

53

8 Bảng 2.6 Lượng mưa trung bình tháng tại trạm Phú Quý (mm) 55

9 Bảng 2.7 Độ ẩm không khí trung bình tháng tại trạm Phú Quý (%) 55

13 Bảng 2.11 Nhu cầu dùng nước huyện đảo Phú Quý (m3/ngày đêm) 60

14 Bảng 2.12 Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước đảo Phú Quý 65

16 Bảng 2.14 Một số chỉ tiêu số lượng của cỏ biển đảo Phú Quý tỉnh

Bình Thuận

94

17 Bảng 2.15 Cấu trúc thành phần loài san hô cứng vùng biển Phú Quý 97

18 Bảng 3.1 Phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe 106

Trang 9

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 11

1 Lí do chọn đề tài 11

2 Lịch sử nghiên cứu 12

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 15

6 Cấu trúc luận văn 18

PHẦN NỘI DUNG 19

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG VÙNG HẢI ĐẢO 19

1.1 Cơ sở lí luận 19

1.1.1 Quan niệm về đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên 19

1.1.2 Phát triển bền vững vùng hải đảo 19

1.1.3 An ninh quốc phòng vùng hải đảo 21

1.1.3.1 Các khái niệm liên quan 21

1.1.3.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về các vùng biển và thềm lục địa 23

1.2 Cơ sở thực tiễn 33

1.2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu 33

1.2.1.1 Vị trí, phạm vi khu vực nghiên cứu 33

1.2.1.2 Khái quát tiềm năng phát triển của huyện đảo Phú Quý 36

1.2.1.3 Dân cư 37

1.2.1.4 Tình hình kinh tế 39

1.2.2 Thực trạng phát triển bền vững và bảo vệ an ninh quốc phòng huyện đảo Phú Quý 40

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN 42

2.1 Đặc điểm địa chất, địa hình 42

2.1.1 Địa chất 42

2.1.2 Địa hình 44

2.1.2.1 Địa hình nguồn gốc bóc mòn 45

2.1.1.2 Địa hình nguồn gốc dòng chảy trên mặt (sông, suối) 46

2.1.2.3 Địa hình nguồn gốc biển 47

Trang 10

2.1.4.4 Địa hình nguồn gốc biển – gió 48

2.1.2.5 Bãi biển hiện đại 49

2.2 Đặc điểm khí hậu 52

2.2.1 Số giờ nắng 52

2.2.2 Chế độ nhiệt 53

2.2.3 Chế độ mưa, ẩm, bốc hơi 54

2.2.4 Chế độ gió 56

2.2.5 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt 57

2.2.5.1 Mưa dông 57

2.2.5.2 Bão 57

2.3 Đặc điểm thuỷ văn 58

2.3.1 Nước mặt 58

2.3.2 Nước ngầm 61

2.3.2.1 Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích tuổi Holocen (qh) 62

2.3.2.2 Tầng chứa nước lỗ hổng (qp 2 ) trong trầm tích tuổi Pleistocen muộn (mQ 1 3-2 ) 62

2.3.2.3 Tầng chứa nước khe nứt trong phun trào bazan – trầm tích tuổi Pleistocen muộn (β/Q 1 3-1 ) 63

2.3.2.4 Tầng chứa nước lỗ hổng (qp 1 ) trong trầm tích tuổi Pleistocen giữa - muộn (mQ 1 2-3 pt) 64

2.4 Đặc điểm hải văn 67

2.4.1 Thuỷ triều 67

2.4.2 Nhiệt độ, độ mặn nước biển 68

2.4.3 Sóng 68

2.4.4 Dòng chảy vùng biển 68

2.5 Thổ nhƣỡng 69

2.5.1 Đất đồi thấp dốc trên đá bazan 70

2.5.2 Đất nâu đỏ đồi thấp phẳng lồi trên đá cát kết và bazan nông 70

2.5.3 Đất nâu vàng đồi lồi thấp trên đá cát kết và bazan nông 70

2.5.4 Đất đỏ vàng trên đồi cát kết thấp và dốc 71

2.5.5 Đất đỏ vàng trên bán bình nguyên cát kết 72

2.5.6 Đất trên đồi cát xám 72

2.5.7 Đất trắng xám trên đồi sạn kết vỏ sò 72

2.5.8 Đất trắng xám trên bán bình nguyên sạn kết vỏ sò 75

2.5.9 Đất vàng nhạt trên bán bình nguyên sạn kết vỏ sò 75

Trang 11

2.5.10 Đất đỏ vàng trên bán bình nguyên cát vỏ sò chặt sít 75

2.5.11 Đất cát ven biển 75

2.6 Sinh vật 77

2.6.1 Thảm thực vật trên cạn 77

2.6.1.1 Thảm thực vật tự nhiên 78

2.6.1.2 Thảm thực vật nhân tác 81

2.6.2 Sinh vật biển 84

2.6.2.1 Sự đa dạng hệ sinh thái 84

2.6.2.2 Sự đa dạng về thành phần loài 87

2.7 Cảnh quan 93

2.7.1 Cấp hệ cảnh quan 93

2.7.2 Lớp cảnh quan 93

2.7.3 Kiểu cảnh quan 94

2.7.4 Các hạng cảnh quan trên đảo 97

2.7.5 Các loại cảnh quan 102

CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG HUYỆN PHÚ QUÝ 105

3.1 Đề xuất định hướng phát triển bền vững 105

3.1.1 Về kinh tế 105

3.1.1.1 Phát triển du lịch 105

3.1.1.2 Phát triển ngư nghiệp 109

3.1.1.3 Phát triển nông - lâm nghiệp 111

3.1.2 Về xã hội 114

3.1.3 Về môi trường 116

3.2 Đề xuất đảm bảo an ninh quốc phòng 119

PHẦN KẾT LUẬN 120

1 Kết luận 120

2 Kiến nghị 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC ẢNH 127

Trang 12

Quần đảo Phú Quý và cũng là một huyện đảo của tỉnh Bình Thuận, có hệ toạ

độ địa lí từ 9o50’B đến 10o45’B và từ 108o20’Đ đến 109o20’Đ, cách thành phố Phan Thiết 56 hải lí (khoảng 100km) về phía Đông Nam, cách quần đảo Trường sa 385km về phía Tây Bắc, cách Vũng Tàu 200km về phía Đông Ngày 27 – 4 – 1977, huyện đảo Phú Quý chính thức được thành lập theo Quyết định số 329-CP của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở đảo Phú Quý, khi đó thuộc tỉnh Thuận Hải, gồm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh Ngày 26-12-1991, tỉnh Thuận Hải được tách thành 2 tỉnh là Bình Thuận và Ninh Thuận, huyện đảo Phú Quý trực thuộc tỉnh Bình Thuận Đây là một huyện đảo đông dân cư với 27 744 người năm 2015 (Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận) [8], mật độ dân số trung bình là 1541 người/km2 cao nhất so với các huyện, thành phố khác của tỉnh Bình Thuận Huyện

Trang 13

đảo có lịch sử cư trú và phát triển lâu đời, nhưng đến nay vẫn chưa thực sự phát triển xứng đáng với tiềm năng sẵn có

Nhận thức được tầm quan trọng của biển đảo, trong đó có huyện đảo Phú Quý đối với an ninh chính trị, toàn vẹn lãnh thổ cũng như sự phát triển kinh tế - xã

hội đất nước, học viên đã quyết định lựa chọn chủ đề biển đảo, mà cụ thể là: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận”

2 Lịch sử nghiên cứu

Biển ngày càng có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - chính trị trên thế giới, đó cũng là lí do các vấn đề liên quan đến biển được quan tâm nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau

Việt Nam là một quốc gia biển theo đúng nghĩa về tỉ lệ chiều dài đường bờ biển với diện tích đất liền, văn hóa biển, dân cư miền biển, kinh tế biển đã xuất hiện

và ăn sâu vào tâm hồn người Việt Với một vùng biển giàu có, nhiều tiềm năng, Việt Nam cũng ý thức được những thuận lợi có được, quan tâm đầu tư và hướng ra biển, nhưng cho đến nay việc khai thác biển của nước ta còn có nhiều hạn chế và chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vấn đề chủ quyền và an ninh quốc phòng biển đảo còn có nhiều vấn đề cần giải quyết Để khai thác biển đảo hiệu quả và bền vững thì trước nhất cần phải hiểu về đặc điểm của biển đảo nước ta từng vùng, từng khu vực Từ đầu thập niên 90 của thế kỉ 20 đến nay, đã có nhiều công trình, dự án, báo cáo cấp nhà nước, cấp bộ, nghiên cứu về các vùng biển Việt Nam, có thể kể đến:

- Điều kiện tự nhiên các hải đảo ven bờ Việt Nam (Ba Mùn, Phượng Hoàng,

Cù Lao Chàm, Hòn Tre, Côn Sơn, Bảy Cạnh, Phú Quý, Hòn Thơm, Phú Quốc), Báo cáo Đề tài cấp Nhà nước 48B-05-01 (Trần Quang Ngãi năm 1990)

- Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng đảo Phú Quý - tỉnh Bình Thuận, Liên Đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Trung (Phạm Văn Năm năm 1997)

Trang 14

- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Phú Quý – Dự án ven bờ (Nguyễn Viết Thịnh năm 2002)

- Qui hoạch chung xây dựng đảo Phú Quý, Huyện Phú Quý - Tỉnh Bình Thuận (Bộ Xây dựng năm 2002)

- Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Quý thời kì 2006-2020, (Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Thuận năm 2007).

- Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một

số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam, Báo cáo đề tài cấp nhà nước KC.09.12 (Lê Đức Tố năm 2005)

- Đề tài: "Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” (Đỗ Văn Khương năm 2008)

- Thành phần loài và nguồn lợi rong biển, cỏ biển đảo Phú Quý (Cù Lao Thu), Bình Thuận Tuyển tập Nghiên cứu biển, XVI: 225-243 (Nguyễn Hữu Đại, Phạm Hữu Trí, Nguyễn Xuân Vị năm 2009)

- Nghiên cứu, đánh giá bước đầu tìm kiếm nước dưới đất ở độ sâu lớn hơn

80 mét và đề xuất giải pháp bảo vệ khai thác hợp lí tài nguyên nước cho huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận (Viện Địa lý Tài Nguyên – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2015)

Tuy nhiên, việc đánh giá một cách tổng hợp các điều kiện tự nhiên gắn với phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng ở huyện đảo Phú Quý còn hạn chế Vì vậy, với đề tài nghiên cứu này, tác giả mong muốn sẽ có những đóng góp thiết thực, mới mẻ và tin cậy về điều kiện tự nhiên huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, cũng như đề xuất hướng phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng của huyện đảo

Trang 15

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận trong phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng

- Thu thập, phân tích cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên huyện đảo Phú Quý

từ vị trí địa lí, địa chất – địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hải văn, thổ nhưỡng, sinh vật, cảnh quan

- Đánh giá điều kiện tự nhiên huyện Phú Quý đối với phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng

- Đưa ra các đề xuất định hướng phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng ở huyện đảo Phú Quý

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Không gian nghiên cứu

Bao gồm toàn bộ phần diện tích của huyện đảo Phú Quý (10 đảo và phần thềm lục địa, lãnh hải bao quanh các đảo của huyện đảo Phú Quý)

4.2 Nội dung

- Nghiên cứu các đối tượng thuộc điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lí, địa chất – địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hải văn, thổ nhưỡng, sinh vật, cảnh quan của huyện đảo Phú Quý

Trang 16

- Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên đến phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng huyện đảo Phú Quý

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Mọi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, được gọi là một hệ thống Quan điểm hệ thống là một quan điểm khoa học rất phổ biến trong nghiên cứu địa lí Các yếu tố tự nhiên trên một lãnh thổ luôn luôn có tác động qua lại, quan hệ với nhau chặt chẽ tạo nên một hệ thống động lực hở, tự điều chỉnh và có trạng thái cân bằng động

Vận dụng quan điểm này trong đề tài, huyện đảo Phú Quý được xem như là một hệ thống lãnh thổ tự nhiên bao gồm các hợp phần : Địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, hải văn, thổ nhưỡng, sinh vật,….Hệ thống tự nhiên này là một hệ thống con của hệ thống khu tự nhiên, miền tự nhiên, đồng thời nó lại chứa đựng nhiều hệ thống cấp thấp hơn: cảnh, diện địa lí,… Trong hệ thống này có sự tương tác giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội Đề tài này được thực hiện dựa trên những nguyên lí cụ thể sau:

+ Mỗi thành phần tự nhiên phải được nghiên cứu tổng hợp trong mối liên hệ biện chứng với các hiện tượng và các thành phần khác về không gian lãnh thổ cũng như về thời gian và động lực phát sinh

+ Mỗi thành phần hoặc đơn vị lãnh thổ Địa lí tự nhiên đều có quá trình phát sinh từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ lượng đến chất thông qua những bước nhảy vọt

+ Quá trình tồn tại và diễn biến của các thành phần và địa hệ đều tuân thủ theo các quy luật Địa lí tự nhiên, đồng thời chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế

xã hội,…

Trang 17

Đề tài giới hạn trong phạm vi đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên của huyện đảo Phú Quý, vì vậy tất cả các yếu tố tự nhiên đều được trình bày, phân tích, đánh giá dựa trên một hệ thống có mối liên hệ, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến quy hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Bất cứ một đối tượng địa lí nào cũng gắn với một lãnh thổ cụ thể Vì vậy, các quá trình nghiên cứu không thể tách khỏi lãnh thổ đó Đồng thời lãnh thổ nghiên cứu lại nằm trong một lãnh thổ lớn hơn, và có nhiều mối quan hệ với các lãnh thổ xung quanh cả về tự nhiên và kinh tế, xã hội Chính vì thế, lãnh thổ nghiên cứu sẽ vừa mang đặc điểm chung lại vừa có đặc điểm riêng biệt

Theo quan điểm này, một mặt, đề tài nghiên cứu trong lãnh thổ huyện đảo Phú Quý, mặt khác, đồng thời nghiên cứu mối liên hệ giữa Phú Quý với các khu vực lân cận trong vùng biển phía Nam và các vùng biển khác Qua đây có thể dễ dàng nhận thấy và khắc sâu hơn những nét riêng biệt về điều kiện tự nhiên của

huyện đảo so với các huyện đảo khác trong cả nước

Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên trên lãnh thổ để đưa

ra những đánh giá xác thực, phù hợp về việc sử dụng hợp lí, hiệu quả điều kiện tự nhiên để phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng huyện đảo Phú Quý

5.1.3 Quan điểm tổng hợp

Đối tượng nghiên cứu địa lí tự nhiên không phải là nghiên cứu các thành phần riêng lẻ của đối tượng tự nhiên mà luôn xem xét, phân tích và đặt chúng trong mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc của một lãnh thổ cụ thể

Nghiên cứu dựa trên quan điểm tổng hợp ở đề tài này là đưa ra những đánh giá, định hướng phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng dựa trên tất cả các yếu tố của tự nhiên : địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật, hải văn, không xem nhẹ cũng như ưu tiên bất kì yếu tố nào, đảm bảo được sự phát

triển tổng hợp và hệ thống

Trang 18

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Đối với bất kì vùng, lãnh thổ nào khi khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nguyên tắc phát triển bền vững cần được đặt lên hàng đầu Thực tế

đã cho thấy nhiều bài học kinh nghiệm về phát triển không bền vững đem lại những hậu quả khủng khiếp và lâu dài cho môi trường Trong nhiều trường hợp, kinh phí cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm hoặc hoàn nguyên môi trường còn lớn hơn nhiều lợi nhuận thu được từ việc khai thác tài nguyên không bền vững Mức độ bền vững của

hệ thống cảnh quan trong khu vực nghiên cứu cũng là thước đo mức độ bền vững của các chính sách phát triển và bảo tồn Gắn với đề tài này, một lãnh thổ hải đảo có tính chất gắn với môi trường biển, cách xa đất liền, rất nhạy cảm về môi trường, hệ sinh thái, thì nguyên tắc phát triển bền vững càng trở nên quan trọng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu

Đây là phương pháp quan trọng trong quá trình nghiên cứu nhằm có được nguồn tư liệu, số liệu hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu Tổng hợp và phân tích các tư liệu có liên quan để có cái nhìn tổng quan về đối tượng nghiên cứu Qua việc thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng phát triển bền vững, an ninh quốc phòng huyện đảo Phú Quý làm cơ sở để phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên tác động đến phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng

5.2.2 Phương pháp phân tích và đánh giá cảnh quan

Phân tích và đánh giá cảnh quan sử dụng trong đề tài này là từ việc phân tích

để xác định được đặc trưng của các đơn vị tổng hợp tự nhiên lãnh thổ và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Phú Quý để xác định mức độ thích hợp của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên đối với phát triển bền vững, từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị sử dụng hợp lí điều kiện tự nhiên và bảo vệ môi trường

5.2.3 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí

Đây là phương pháp quan trọng trong quá trình nghiên cứu Bản đồ vừa là phương pháp nghiên cứu, vừa là kết quả của quá trình nghiên cứu Trong quá trình

Trang 19

nghiên cứu, phương pháp bản đồ được sử dụng khá phổ biến, thể hiện trong các khâu: sử dụng các bản đồ thu thập được để tìm hiểu các đối tượng địa lí tự nhiên, biên tập bản đồ các thành tố tự nhiên, bản đồ cảnh quan ở thời điểm hiện tại để trình bày, minh chứng cho kết quả nghiên cứu

Bằng cách tạo ra các bản đồ và các dạng khác của thông tin ở dạng số Viễn thám và GIS cho phép tạo ra và hiển thị kiến thức về mặt địa lí theo những phương pháp đã có và phương pháp mới Nó giúp chúng ta có thể nhận thức, quản lí các hoạt động và các nguồn tài nguyên

5.2.4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, những người có chuyên môn trong các lĩnh vực địa lí, cảnh quan học, môi trường, quy hoạch lãnh thổ, để làm khách quan, chính xác kết quả nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Đề tài nghiên cứu bao gồm: Phần mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung bao gồm các chương sau:

Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn về đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng hải đảo

Chương II Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm bảo an ninh quốc phòng huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận

Chương III Đề xuất định hướng phát triển bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận

Trang 20

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ

ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC PHÒNG VÙNG HẢI ĐẢO

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quan niệm về đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (ĐKTN) là nhân tố của môi trường tự nhiên, không sử dụng trực tiếp làm các nguồn năng lượng để tạo ra lương thực, thực phẩm, các nguyên liệu cho công nghiệp, nhưng nếu không có sự tham gia của chúng thì không thể tiến hành tham gia sản xuất được, ví dụ như địa hình, thổ nhưỡng, nguồn nước,

1.1.2 Phát triển bền vững vùng hải đảo

Phát triển bền vững là sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường, để xã hội phát triển, sao cho sự phát triển hôm nay không làm hạn chế sự phát triển của ngày mai mà phải tạo nền tảng cho sự phát triển của tương lai Sự phát triển thực sự phải đảm bảo cho con người có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, trong môi trường sống lành mạnh Đó chính là mục tiêu của sự phát triển bền vững mà loài người hướng tới

Trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam), có nội dung về “Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển”, với các chính sách sau: [6]

 Về chính sách, pháp luật:

Trang 21

- Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và quản lí tài nguyên, môi trường biển theo quan điểm phát triển bền vững Chiến lược này bao gồm các nội dung phân vùng chức năng biển và ven biển, quản lí tổng hợp các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển, thành lập hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển, quy hoạch phát triển đô thị và dân cư ven biển, phát triển các ngành nghề

đa dạng và cải thiện đời sống cho những cộng đồng dân cư ven biển, phòng ngừa và làm giảm tác hại của thiên tai ven biển, trước hết là bão, lụt, sạt lở, nước dâng, tăng cường năng lực quản lí môi trường biển và ven biển, phòng ngừa và ứng phó với các sự cố môi trường biển

- Hình thành một thể chế liên ngành, thống nhất quản lí vùng biển và bờ biển Cần đổi mới cách lập quy hoạch, kế hoạch phát triển và quản lí chủ yếu nhằm đạt được lợi ích kinh tế cục bộ của ngành mà ít chú ý đến vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Cần có chế tài buộc phải lồng ghép các vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường vào trong kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế của ngành Trước mắt, các ngành khai thác dầu khí, giao thông vận tải thuỷ, thuỷ sản, lâm nghiệp, du lịch cần có chương trình phối hợp để cùng khai thác hợp lí, bảo

vệ tài nguyên và môi trường biển và ven biển

- Tiến dần đến khoán, giao quyền sử dụng mặt biển trong phạm vi cho phép cho người sản xuất nhằm tạo điều kiện thúc đẩy nghề nuôi trồng hải sản

- Tham gia và lập kế hoạch thực hiện các hiệp định và chương trình hành động quốc tế và khu vực về đánh cá, sử dụng bền vững và bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ đa dạng sinh học biển

 Về kinh tế:

- Đẩy mạnh đánh bắt hải sản xa bờ và điều chỉnh nghề cá ven bờ hợp lí

- Phát triển mạnh ngành nuôi, trồng thuỷ sản trong nước lợ, nước mặn ven biển theo hướng hài hòa với môi trường, đồng thời với việc phát triển và ứng dụng công nghệ sau thu hoạch nhằm sử dụng hợp lí, tiết kiệm sản phẩm của nghề thuỷ sản, bảo đảm an toàn thực phẩm và tăng thu nhập ngoại tệ qua xuất khẩu

Trang 22

- Phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm các hoạt động cảng

cá, sửa chữa và đóng tàu, ngư cụ, lưới, cung cấp các dịch vụ, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hết sức chú trọng công tác thông tin liên lạc, cứu nạn, cứu hộ các ngư dân và tàu thuyền đánh cá

- Phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề để tăng khả năng tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống cho các cộng đồng ngư dân ven biển, giúp cho công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển và ven biển được tốt hơn

 Về môi trường:

- Thiết lập và quản lí hiệu quả các khu bảo tồn biển và ven biển

- Đẩy mạnh áp dụng các tiêu chuẩn môi trường ngành và quốc gia

- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ bảo vệ môi trường biển và ven biển, công nghệ ứng cứu sự cố môi trường biển (tràn dầu, đắm tàu, ngập mặn )

1.1.3 An ninh quốc phòng vùng hải đảo

1.1.3.1 Các khái niệm liên quan

Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 [7], các khái niệm liên quan được đề cập đến như sau:

- “Đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỉ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận” (điều 5)

- Nội thuỷ: “Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải là nội thuỷ của quốc gia” (điều 8) Theo định nghĩa này thì nội thuỷ bao gồm cửa sông, vũng, vịnh, cảng biển và vùng nước ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển vùng nước lịch sử cũng theo chế độ nội thuỷ Nội thuỷ được coi như là bộ phận lãnh thổ trên đất liền của một quốc gia

- Lãnh hải (hay còn gọi là “vùng nước lãnh thổ”) là một dải biển ven bờ nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc nội thuỷ của quốc gia ven biển, có chiều rộng không quá 12 hải lí, kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước Lãnh hải được xác định thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển Chủ

Trang 23

quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải Đối với quốc gia quần đảo, lãnh hải nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ và vùng nước quần đảo của quốc gia đó Đối với các đảo riêng biệt, đáp ứng đúng định nghĩa đảo nêu trong Công ước Luật Biển năm

1982, thuộc về một quốc gia ven biển, nhưng nằm ngoài phạm vi lãnh hải chung của quốc gia đó, thì lãnh hải của từng đảo này cũng được xác định như trên

- Vùng tiếp giáp lãnh hải : ở trên một vùng giáp với lãnh hải, được gọi là vùng tiếp giáp lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lí kể

từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

- Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến giới hạn cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lí khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (Điều 76) Như vậy thềm lục địa pháp lí của quốc gia ven biển là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, bao gồm toàn bộ rìa lục địa (thềm lục địa tự nhiên, dốc lục địa và bờ ngoài của rìa lục địa) Ở nơi nào, rìa lục địa không ra đến 200 hải lí thì thềm lục địa pháp lí được mở rộng ra đến 200 hải lí tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Ở nơi nào, rìa lục địa vượt quá 200 hải lí thì ranh giới ngoài của thềm lục địa được xác định: nối các điểm ở nơi mà bề dày trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ các điểm

đó đến chân dốc lục địa, hoặc nối các điểm cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lí Giới hạn tối đa của thềm lục địa cũng không được vượt quá 350 hải lí tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hay không được cách đường đẳng sâu

2500 m nước một khoảng cách vượt quá 100 hải lí

- “Vùng đặc quyền kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lí kể từ đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”(Điều 57)

- “Bãi cạn lúc chìm lúc nổi (haut-fonds découvrants) là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thuỷ triều xuống thấp thì lộ ra, khi thuỷ triều lên cao thì bị ngập nước Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc

Trang 24

một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải Khi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì chung không

có lãnh hải riêng” (điều 13)

- Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa (Điều 121)

1.1.3.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về các vùng biển và thềm lục địa

Ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề biển đảo, đặc biệt là các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam Theo thời gian, hàng loạt tuyên bố, nghị định, nghị quyết, hiệp định được thông qua và ban hành nhằm khẳng định và củng cố vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển và thềm lục địa ở Biển Đông

Có thế kể đến:

(1) Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

(2) Nghị định số 30-CP ngày 29 tháng 1 năm 1980 của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(3) Nghị định số 31-CP ngày 29 tháng 11 năm 1980 của Hội đồng Chỉnh phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc tàu thuyền đánh cá nước ngoài tiến hành hoạt động nghề cá trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 25

(4) Tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

(5) Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì họp thứ 5 ngày 23 tháng 6 năm 1994

(6) Nghị định số 242-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 5 tháng 8 năm

1991 về việc Ban hành quy định về các bên nước ngoài và phương tiện nước ngoài vào nghiên cứu khoa học ở các vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(7) Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (Ban hành kèm theo Nghị định số 85/CP ngày 22 tháng 11 năm

1993 của Chính phủ)

(8) Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

(9) Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

(10) Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về Phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan

(11) Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia

(12) Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Indonesia về Phân định ranh giới thềm lục địa

(13) Thông tư số 89/2004/TT-BQP ngày 19/6/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 161/2003/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển

Những văn bản trên đều có mục đích khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng Biển Đông, thỏa thuận về phân định vùng biển và thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, hợp tác khai thác vùng biển chung với các nước ven bờ Trong nhiều thông cáo báo chí, Nghị định của Chính phủ đều nhắc lại và khẳng định một số vấn

đề chủ chốt sau: [35]

Trang 26

(1) Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất trở ra

Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thuỷ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải

(2) Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lí hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di

cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam

(3) Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng

200 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm do, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam

(4) Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào

bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt

Trang 27

Nam không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từ đường

cơ sở đó

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí tất cả các tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam

(5) Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải nói

ở Điều 1 đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng như đã quy định trong các điều 1, 2, 3 và 4 của Tuyên bố này

Hình 1.1 Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam [10]

Trang 28

(6) Xuất phát từ các nguyên tắc của Tuyên bố này, các vấn đề cụ thể liên quan tới lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được quy định chi tiết thêm trên cơ sở bảo

vệ chủ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế

(7) Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên [38]

(8) Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm

1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lí công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển

(9) Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam

(10) Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản

và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không

có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực [28]

Trang 29

An ninh biển là một bộ phận của an ninh quốc gia, khu vực và thế giới, có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề an ninh trên đất liền Với 70% dân số thế giới sống ở các khu vực cách bờ biển khoảng 100 dặm và đa số các khu vực phát triển nhất của thế giới đều nằm sát biển, an ninh biển ngày càng có ảnh hưởng lớn đến an ninh đất liền nói riêng và an ninh của các quốc gia nói chung

Cho đến nay, trên thế giới chưa có thuật ngữ chính thức được thừa nhận về

an ninh biển Tuy nhiên, khái niệm về "an ninh biển" có thể được hiểu là trạng thái

ổn định, an toàn, không có các mối đe dọa xuất phát từ biển và các vùng đất đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên biển hoặc các mối đe dọa từ biển đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên đất liền

Như vậy, nội hàm của an ninh biển cũng giống như an ninh trên đất liền, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Các vấn đề an ninh truyền thống trên biển liên quan đến chiến tranh, xung đột, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển Các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển bao gồm khủng bố, cướp biển, tội phạm xuyên quốc gia, di dân bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, thảm họa thiên nhiên

Việt Nam có ba mặt giáp biển là phía Đông, Nam và Tây Nam, có bờ biển dài 3260km; có vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; có gần 3000 đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa Do đó, an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam

về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định mục tiêu tổng quát của Chiến lược biển Việt Nam là: “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh." Đảng ta nhấn mạnh, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế biển đã trở thành lĩnh vực mũi nhọn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế

Trang 30

của đất nước đồng thời, vùng biển, hải đảo cũng là hướng phòng thủ chiến lược trọng yếu của quốc gia

Hiện nay có 4 “hồ sơ” chủ yếu ở Biển Đông liên quan tới Việt Nam, đó là: (1) Tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc Các triều đại phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu, quản lí quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, liên tục từ thế kỉ 16 Năm 1956, Trung Quốc đã đánh chiếm cụm đảo phía Đông và năm 1974, tiếp tục dùng sức mạnh quân sự chiếm các đảo phía Tây quần đảo này của Việt Nam Cả hai lần, Trung Quốc đều dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo này Đây là vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc

(2) Khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ: Sau khi kí Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ

và Hiệp định hợp tác nghề cá năm 2001, hai nước Việt Nam và Trung Quốc thống nhất sẽ đàm phán tiếp để phân định khu vực cửa vịnh Đến nay hai bên đã qua 7 vòng đàm phán nhưng vẫn chưa thành công Trong khi đang diễn ra đàm phán, Trung Quốc coi đây là vùng “tranh chấp” và đơn phương tiến hành các hoạt động khảo sát, thăm dò ở phía Tây đường trung tuyến “giả định” (nằm gần Việt Nam hơn)

(3) Tranh chấp ở quần đảo Trường Sa liên quan đến 5 nước (Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei) và 1 vùng lãnh thổ là Đài Loan Tháng 3/1988, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo ở quần đảo Trường Sa

(4) Yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lí và không được quốc tế công nhận; yêu sách này liên quan đến vùng thềm lục địa và chủ quyền, lợi ích của nhiều nước ven biển cũng như liên quan an ninh và tự do hàng hải quốc tế

Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam cho rằng các bên liên quan cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề tranh chấp Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lí để các bên liên quan trao đổi giải quyết vấn đề trên biển Trong điều kiện lập trường của các

Trang 31

nước còn khác xa nhau thì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là chuẩn mực để các quốc gia đối chiếu, xem xét lại các yêu sách của mình cho phù hợp Nếu tất cả các bên liên quan đều giới hạn các yêu sách chủ quyền của mình trong các chuẩn mực của Công ước thì các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông sẽ sớm được giải quyết, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên cũng như lợi ích của hòa bình ổn định và thịnh vượng của cả khu vực

Do các tranh chấp trên Biển Đông rất phức tạp nên cần phải thông qua đàm phán cả song phương và đa phương để giải quyết Đối với tranh chấp trên biển chỉ liên quan đến hai bên, cần thực hiện đàm phán song phương để giải quyết Đối với tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì các bên liên quan phải ngồi lại với nhau để cùng giải quyết Đối với các vấn đề liên quan đến tự do hàng hải và quyền lợi của các bên cả ở trong và ngoài khu vực thì cần có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia

có liên quan Trong trường hợp này, nếu chỉ đàm phán song phương mà không có

sự tham gia của các bên khác có thể dẫn đến sự hiểu lầm, nghi kị và làm cho đàm phán đi vào bế tắc

Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đang tiến hành đàm phán phân định vùng biển chồng lấn ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ Hai bên cũng đang tiến hành đàm phán và đạt được kết quả tốt đẹp trong việc hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm Đây là các vấn đề chỉ liên quan đến hai nước và các kết quả đạt được là rất tích cực, không chỉ bảo đảm lợi ích của Việt Nam và Trung Quốc mà còn góp phần xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực

Trong thời gian qua, tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trở nên phức tạp với nhiều vụ va chạm giữa các nước, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc Đặc biệt là việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương - 981 nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, ngang nhiên vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, do đó Việt Nam kiên quyết không để cho bất kì quốc gia, thế lực nào xâm phạm chủ quyền đó Việt Nam sẽ áp

Trang 32

dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình Việt Nam luôn thể hiện thiện chí, kiên trì giải quyết thỏa đáng bất đồng thông qua đàm phán, đối thoại và các biện pháp hòa bình khác theo đúng nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, phù hợp với các quy định và thực tiễn luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố

về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông

Gần đây, các vấn đề an ninh phi truyền thống nói chung và an ninh phi truyền thống trên biển nói riêng có xu hướng gia tăng và đang tạo ra thách thức mới đối với an ninh và ổn định của khu vực, đe dọa đến sự phát triển của các quốc gia Trong những năm qua, các nước trong khu vực như Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Việt Nam đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề do thảm họa thiên nhiên gây ra

Để giải quyết các thách thức an ninh phi truyền thống trên biển, một mặt Việt Nam chủ trương phát huy nội lực là chủ yếu, mặt khác tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân về tính nguy hại của thách thức an ninh phi truyền thống, quyền lợi, trách nhiệm của công dân trong phòng, chống thách thức an ninh phi truyền thống, bảo đảm phát triển bền vững Giải quyết hài hòa, đúng đắn mối quan hệ tương tác giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa và ứng phó với an ninh phi truyền thống một cách chủ động

Tăng cường công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo kịp thời tác động của an ninh phi truyền thống trên biển, nhất là tác động của biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, buôn bán phụ nữ và trẻ em Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, kết hợp với chú trọng phát triển môi trường xanh, bền vững, đồng thời tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách xã hội hóa trong phòng, chống thảm họa thiên nhiên, bảo vệ môi trường Tham gia tích cực và có trách nhiệm vào tiến trình hợp

Trang 33

tác quốc tế và khu vực trong phòng chống thách thức an ninh phi truyền thống, trong đó chú trọng hợp tác đa phương trong phòng chống thách thức an ninh phi truyền thống

Tích cực tham gia các cơ chế đối thoại khu vực và quốc tế để tăng cường, mở rộng hợp tác nội khối ASEAN và giữa ASEAN với các nước đối tác trong phòng chống thách thức an ninh phi truyền thống trên biển Hiện nay, tại khu vực đang có các diễn đàn, hội nghị đối thoại đa phương quan trọng của ASEAN như Hội nghị cấp cao ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị không chính thức Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng ASEAN (ACDFIM), Hội nghị các Tư lệnh hải quân, không quân, cảnh sát biển, tình báo ASEAN, diễn đàn đối thoại của quan chức quốc phòng các nước ASEAN ; các diễn đàn, hội nghị khu vực và quốc tế quan trọng mà ASEAN đóng vai trò trung tâm như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+1, ASEAN+3; Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+); Đối thoại Shangri-La, Hội thảo hải quân Tây Thái Bình Dương (WPNS) Đây là các kênh đối thoại tầm chiến lược để các nước ASEAN và ASEAN với các nước đối tác đối thoại trao đổi quan điểm, tạo sự đồng thuận trong nhận thức; xác định cơ chế, chính sách hợp tác trong đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống nói chung và an ninh phi truyền thống trên biển nói riêng

Đặc biệt, Việt Nam đánh giá cao và tích cực tham gia các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ADMM+ với 6 lĩnh vực ưu tiên gồm hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa, chống khủng bố, an ninh biển, quân y, gìn giữ hòa bình, hành động mìn nhân đạo, trong đó có 3 nhóm liên quan đến an ninh phi truyền thống trên biển

Trong thời gian qua, với nỗ lực của ASEAN và các nước đối tác đối thoại, khuôn khổ hợp tác này ngày càng đi vào thực chất và mang lại hiệu quả thiết thực trong thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN với các nước đối tác, đối thoại vì mục tiêu duy trì hòa bình, ổn định và phát triển

Việc duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông hiện nay và trong thời gian tới

sẽ phải giải quyết nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi nỗ lực chung của tất cả các

Trang 34

nước trong khu vực Trong duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông, các nước cần tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết các tranh chấp, bất đồng thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, xây dựng Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và thịnh vượng ở châu Á - Thái Bình Dương [22]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu

1.2.1.1 Vị trí, phạm vi khu vực nghiên cứu

Quần đảo Phú Quý và cũng là một huyện đảo của tỉnh Bình Thuận, có hệ toạ

độ địa lí từ 9o50’B đến 10o45’B và từ 108o20’Đ đến 109o20’Đ, cách thành phố Phan Thiết 56 hải lí (khoảng 100km) về phía Đông Nam, cách quần đảo Trường Sa 385km về hướng Tây Bắc, cách Vũng Tàu 200km về hướng Đông

Từ vị trí đảo Phú Quý, với trạm rađa quan sát biển có thể kiểm soát toàn bộ tuyến đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương tạo điều kiện rất thuận lợi để phát triển và cung cấp các dịch vụ hàng hải quốc tế Vì vậy, Phú Quý có vị trí cực kì quan trọng về an ninh quốc phòng, Ngoài vai trò đảo tiền tiêu bao quát vùng biển quan trọng ở Nam Trung Bộ, Phú Quý còn giữ vai trò của một điểm trung chuyển chủ yếu giữa đất liền, là hậu cần quan trọng đối với quần đảo Trường Sa

Đảo Phú Quý nằm trong vùng biển có trữ lượng cá lớn nhất cả nước, có nhiều thuận lợi trong việc tổ chức đánh bắt hải sản tại ngư trường Trường Sa, đảm bảo sự có mặt thường xuyên của công dân Việt Nam trong hoạt động kinh tế vùng biển làm tăng thêm sự khẳng định chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ trên vùng Biển Đông Với vị trí trên có thể xây dựng Phú Quý trở thành một trung điểm dịch vụ hậu cần, chế biến và tiêu thụ hải sản của cả một khu vực ngư trường rộng lớn, kéo dài từ Trường Sa đến Côn Đảo tạo cho các tàu đánh bắt hải sản xa bờ hoạt động dài ngày hơn và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 35

Ngoài ra, Phú Quý còn nằm gần khu vực khai thác dầu khí lớn, có nhiều triển vọng phát hiện thêm nhiều trữ lượng dầu khí mới, nên có nhiều yếu tố rất thuận lợi

để trở thành một cơ sở hậu cần dịch vụ quan trọng cho ngành dầu khí

Phú Quý là đảo lớn nhất, có diện tích 16 km2, chiếm đến 97% diện tích nổi của toàn huyện đảo Đảo Phú Quý từ lâu đã quen thuộc với cư dân với những tên gọi: Cù Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu Đảo có chiều dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam khoảng 7,5 km, chiều rộng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam khoảng 4,5 km Đảo Phú Quý được bao bọc xung quanh bởi 9 hòn đảo khác Hòn Trứng với diện tích 3600 m2 Đây là điểm tựa, nơi trú ngụ của nhiều tàu thuyền

Ở phía Bắc đảo Phú Quý có 3 hòn lẻ là: Hòn Đen, Hòn Đỏ, Hòn Giữa Hòn Đen nằm phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m có diện tích 23 000 m2

Hòn Đen gồm toàn đá đen nên người dân còn gọi là Hòn Nghiên, Hòn Mực Hòn Giữa là một dãy gành đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, vắt ngang như một nhịp cầu nối liền Hòn Đen với Hòn Đỏ, có diện tích 2900m2 Hòn Đỏ nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý có tên như vậy vì toàn đá màu đỏ, có diện tích 28 500m2 (còn gọi là Hòn Son, Hòn Bút Nghiên)

Hòn Hải (Hòn Khám) cách đảo lớn 35 hải lí về phía Nam có hình dạng là một khối đá vuông cạnh thẳng đứng cao hơn 100m, có diện tích 46 000m2 Hòn Hải

là điểm A6 để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trên vùng biển Đông Nam

Hòn Đồ Lớn (Hòn Bố) cách Hòn Hải 11 hải lí về phía tây, cách đảo lớn 27 hải lí về phía Nam, có diện tích 39 000m2

Hòn Tý có hình dáng của cái vung nồi đất nên còn gọi là Hòn Vung, cách Hòn Hải 3km về phía Tây - Tây Bắc

Hòn Đồ Nhỏ cách Hòn Đồ Lớn khoảng 2 hải lí về phía Đông - Đông Bắc, dài khoảng 10m, rộng 5m

Hòn Tranh nằm cách so với đảo lớn Phú Quý 800m về phía Đông Nam, có diện tích 2,7 km2

Trang 37

1.2.1.2 Khái quát tiềm năng phát triển của huyện đảo Phú Quý

 Tài nguyên khí hậu: Phú Quý có khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 27oC, có một mùa mưa và một mùa khô Lượng mưa năm thấp chỉ hơn 1300mm/năm Nằm trong vùng biển ít bão, gió mạnh vào mùa gió Tây Nam, có ảnh hưởng đến ra khơi và hoạt động của các đầm, lồng nuôi hải sản Điều kiện khí hậu về cơ bản lí tưởng cho dân cư sinh sống

 Tài nguyên nước ngọt: Trên đảo Phú Quý không có sông suối Tài nguyên nước ngọt duy nhất là nước ngầm nhưng nguồn nước ngầm cũng không phong phú, trong khi thực tế số dân ngày càng tăng lên, nhu cầu nước ngọt dùng cho sản xuất cũng tăng lên nhanh chóng Việc sử dụng nước hợp lí và tìm nguồn dự trữ nước ngọt phục vụ cho đời sống là điều cấp bách cần giải quyết ở huyện đảo Phú Quý

 Tài nguyên sinh vật trên đảo: Các thảm thực vật tự nhiên trên đảo đã bị thay thế bởi các thảm thực vật nhân tác, chỉ còn lại một số ít thảm rừng tự nhiên thứ sinh, cây bụi Các thảm thực vật nhân tác được hình thành trong quá trình khai thác đảo của con người, với các giống cây nông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, phi lao chắn cát, gió

 Tài nguyên khoáng sản: Trên đảo có đá quánh (trầm tích cát sạn – san hô gắn kết yếu) dùng làm vật liệu xây dựng, đá bazan đặc sít có thể dùng làm đá ốp lát, rải đường hay phối liệu đổ trần nhà

 Nguồn lợi sinh vật biển: Có thể nói rằng nguồn lợi sinh vật biển ở vùng triều và vùng nước xung quanh đảo Phú Quý khá phong phú về thành phần loài, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có giá trị kinh tế đặc biệt là bào ngư và một số loài giáp xác, thân mềm có khả năng khai thác Vùng biển đảo Phú Quý có một số ngư trường khai thác cá, tôm, mực quan trọng bậc nhất ở vùng biển Đông Nam Bộ Với trữ lượng cá ước tính khoảng 58 000 tấn, trữ lượng tôm khoảng 1747 tấn mỗi năm

là tiềm năng lớn để Phú Quý phát triển nghề cá

 Khả năng phát triển du lịch: Môi trường thiên nhiên đảo Phú Quý có những điều kiện thuận lợi nhất định cho việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch thể thao Một mặt, khí hậu ở đảo trong lành, lại ít chịu ảnh hưởng của bão, gió

Trang 38

mạnh Xung quanh đảo Phú Quý có các rạn san hô phát triển, vì thế, các bãi tắm không tốt lắm Trên đảo có các di tích lịch sử văn hóa, chùa chiền, thánh thất Cao Đài có thể thu hút khách du lịch Nguồn hải sản phong phú, có chợ hải sản Phú Quý Các chuyến tàu ra đảo ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, điện được cung cấp 24/24 là điều kiện giúp thúc đẩy du lịch huyện đảo đi lên

 Khả năng xây dựng dịch vụ hậu cần nghề cá, dịch vụ biển: So với các đảo miền Trung thì đảo Phú Quý có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên để xây dựng cảng và các hoạt động dịch vụ hàng hải Đảo tương đối lớn, có các địa hình có khả năng chắn sóng, có nhiều địa điểm có thể dùng làm bãi cập tàu Các địa điểm này có đặc điểm chung là các bãi ngang, bên ngoài có các rạn san hô ngầm, gần bờ tạo thành các vũng cho tàu thuyền có thể neo đậu Do ảnh hưởng của các mùa gió, nên không có địa điểm nào có thể khai thác cho tàu đậu quanh năm Thường về mùa gió Đông Bắc, tàu thuyền chuyển về các bến phía Tây của đảo, còn về mùa gió Tây Nam, các bến phía Đông đảo là nơi trú đậu thuận tiện

1.2.1.3 Dân cư

Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2015 huyện đảo Phú Quý có 27 744 người, mật độ dân số trung bình là 1541 người/km2 cao nhất so với các huyện, thành phố khác của tỉnh Bình Thuận

Tốc độ tăng dân số của huyện giảm dần qua các năm, nếu tính từ năm

1990 đến nay tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm từ 2,7% năm 1990 xuống còn 0,5% năm 2014

Bảng 1.1 Sự biến động dân số trung bình huyện Phú Quý giai đoạn 1990 – 2015

(Đơn vị: người) Năm 1990 1999 2005 2010 2015 Dân số 14680 21028 23902 26102 27744

(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận) [8]

Phú Quý là một huyện đảo thu hút được dân cư tới sinh sống từ lâu đời Dân

số ngày càng phát triển Những năm gần đây do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình nên tốc độ tăng dân số tự nhiên đã giảm đi nhanh chóng Phú Quý là đơn vị hành chính cấp huyện có mật độ dân số cao hơn thành phố tỉnh lị Phan Thiết (1090

Trang 39

người/km2 – số liệu năm 2015 của Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận), điều đó cho thấy sức hút dân cư rất lớn của huyện đảo

Bảng 1.2 Dân số huyện Phú Quý phân theo giới tính giai đoạn 2005 – 2015

(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận) [8]

Có thể thấy cơ cấu dân số phân theo giới tính của huyện Phú Quý có sự thay đổi, trước năm 2005 số dân là nam ít hơn nữ, từ năm 2005 trở đi tỉ lệ nam giới tăng lên rõ rệt, chiếm 51,02% năm 2010 và 51,17% năm 2015 Sự thay đổi này một phần

do gia tăng cơ học, khi giao thông giữa đảo và đất liền ngày càng thuận tiện, một phần do tập quán sản xuất đi biển cần nhiều lao động là nam giới

Dân trí và đời sống của người dân không ngừng được nâng lên Số hộ nghèo (theo tiêu chí mới) hiện còn 76 hộ (1,26%), hộ cận nghèo 124 hộ; 100% hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh và điện sinh hoạt Trung tâm y tế Quân – dân y (sáp nhập từ Bệnh viện Quân – dân y và Trung tâm y tế huyện từ tháng 5/2014) được đầu tư xây dựng quy mô lớn và 3 Trạm y tế tuyến xã đạt chuẩn quốc gia Giáo dục - Đào tạo được tập trung phát triển từng bước cơ bản, toàn diện; toàn huyện hiện có 14 trường học, trên 7000 học sinh các cấp (1 trường trung học phổ thông, 3 trường trung học

cơ sở, 6 trường tiểu học, 4 mẫu giáo, mầm non); có 4 trường đạt chuẩn quốc gia Thông tin liên lạc phát triển nhanh, mạnh, tổng số thuê bao hiện có 3690 máy (đạt 13,66 máy/100 dân, chưa tính số sử dụng điện thoại di động và các dịch vụ thông tin viễn thông khác) Đài phát thanh - truyền hình huyện đang tiếp phát sóng các chương trình truyền hình Trung ương (VTV1, VTV3) và đài Bình Thuận (BTV), phát triển hệ thống truyền hình cáp đến 3/3 xã Đáng chú ý là, theo Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/11/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI), trong đó có nội dung đồng ý chủ trương xây dựng Đề án phát triển toàn diện huyện đảo Phú Quý đáp ứng tốt yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế và quốc phòng, an ninh trong chiến lược biển nói chung, khắc phục tình trạng biển xâm thực, xây dựng khu neo đậu tránh, trú bão cho

Trang 40

tàu thuyền và khi có điều kiện sẽ nâng cấp, mở rộng sân bay Đây là điều kiện và động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương trong thời gian đến; nhất là điều kiện càng thuận lợi hơn kể từ ngày 1/6/2014, giá điện trên đảo bằng giá đất liền và từ 1/7/2014 điện lực Phú Quý

đã phát điện 24/24

Người lao động chủ yếu hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Vì thế, tỉ lệ người thất nghiệp thấp, nhưng tỉ lệ thiếu việc làm lại cao, thu nhập bấp bênh do phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như thời tiết, thời vụ, Để ổn định và cải thiện đời sống nhân dân cần có định hướng tăng cường hoạt động nuôi trồng, phát triển du lịch

tế biển, cả về khai thác, nuôi trồng, thu mua, chế biến, xuất khẩu, gắn với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và du lịch Đầu tư xây dựng từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng dân sinh, kinh tế; gắn chặt và phát huy tính lưỡng dụng giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh, tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc Chú trọng phát triển toàn diện

sự nghiệp văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục, đảm bảo an sinh xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân Đồng thời, tăng cường công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ trong tình hình mới…

Kinh tế huyện đảo Phú Quý chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thuỷ sản mà hầu hết là hoạt động đánh bắt, khai thác hải sản của ngư dân Đất trên đảo không phù hợp để trồng lúa, nhờ sự giao lưu tốt với đất liền, hiện nay diện tích trồng lúa

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An (chủ nhiệm đề tài KT-03-12) (1995), Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển (Báo cáo tổng hợp), Viện Địa lí, Chương trình nghiên cứu biển KT-03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội biển
Tác giả: Lê Đức An (chủ nhiệm đề tài KT-03-12)
Năm: 1995
2. Lê Đức An (2009), Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam tài nguyên và phát triển, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam tài nguyên và phát triển
Tác giả: Lê Đức An
Nhà XB: NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2009
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), 100 câu hỏi – đáp về biển, đảo (dành cho tuổi trẻ Việt Nam), Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi – đáp về biển, đảo (dành cho tuổi trẻ Việt Nam)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2013
5. Hồng Châu, Minh Tân (sưu tầm và tuyển chọn) (2013), Hoàng Sa – Trường Sa trong vòng tay Tổ quốc, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Sa – Trường Sa trong vòng tay Tổ quốc
Tác giả: Hồng Châu, Minh Tân (sưu tầm và tuyển chọn)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
8. Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận (2015), Niên giám Thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2015, Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Thuận năm 2015
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận
Năm: 2015
9. Nguyễn Văn Dũng (2015), Chuyên đề: Phân tích đặc điểm lớp phủ cảnh quan: thổ nhưỡng đảo Phú Quý, Dự án Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Phân tích đặc điểm lớp phủ cảnh quan: "thổ nhưỡng đảo Phú Quý
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2015
10. Nguyễn Dược (Tổng Chủ biên) (2017), Địa lí 8, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí 8
Tác giả: Nguyễn Dược (Tổng Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
12. Phùng Ngọc Đĩnh (2002), Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên Biển Đông Việt Nam
Tác giả: Phùng Ngọc Đĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
13. Phạm Hoàng Hải - Nguyễn Thượng Hùng - Nguyễn Ngọc Khánh (2000), Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải - Nguyễn Thượng Hùng - Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
14. Phạm Hoàng Hải (2006), Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên - kinh tế xã hội, thiết lập cơ sở khoa học các giải pháp kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo. Báo cáo, Đề tài độc lập cấp nhà nước ĐTĐL.08 G/04, 447 tr..Viện Địa lý, VKH&CNVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên - kinh tế xã hội, thiết lập cơ sở khoa học các giải pháp kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 2006
15. Phạm Hoàng Hải (2000), Nghiên cứu đề xuất các mô hình phát triển kinh tế xã hội bền vững cho một số khu vực ven biển và đảo ven bờ Việt Nam, Báo cáo, đề tài cấp nhà nước, KC09.20, 358 tr., Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các mô hình phát triển kinh tế xã hội bền vững cho một số khu vực ven biển và đảo ven bờ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 2000
17. Phan Thị Thanh Hằng (2015), Chuyên đề: Phân tích đặc điểm hợp phần cảnh quan: khí hậu đảo Phú Quý, Dự án Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Phân tích đặc điểm hợp phần cảnh quan: khí hậu đảo Phú Quý
Tác giả: Phan Thị Thanh Hằng
Năm: 2015
18. Phan Thị Thanh Hằng (2015), Chuyên đề: Phân tích, đánh giá các tài liệu, thông tin về đa dạng sinh học biển tại đảo Phú Quý, Dự án Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường một số hải đảo, cụm đảo lớn, quan trọng phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Phân tích, đánh giá các tài liệu, thông tin về đa dạng sinh học biển tại đảo Phú Quý
Tác giả: Phan Thị Thanh Hằng
Năm: 2015
19. Khương Văn Hải (2012), Ảnh hưởng nước biển dâng đến tài nguyên nước ngầm trên huyện đảo Phú Quý, Luận văn ThS Khoa học (lưu trữ Khoa Khí tượng- Thủy văn và Hải Dương hoc, trường ĐHKHTN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng nước biển dâng đến tài nguyên nước ngầm trên huyện đảo Phú Quý
Tác giả: Khương Văn Hải
Năm: 2012
20. Vũ Phi Hoàng (1984), Kể về hải đảo của chúng ta, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể về hải đảo của chúng ta
Tác giả: Vũ Phi Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1984
21. Hoa Mạnh Hùng (2015), Chuyên đề: Đánh giá tương tác của các yếu tố động lực biển tới cảnh quan đới bờ đảo Phú Quý, Dự án Điều tra cơ bản tài nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Đánh giá tương tác của các yếu tố động lực biển tới cảnh quan đới bờ đảo Phú Quý
Tác giả: Hoa Mạnh Hùng
Năm: 2015
22. Đại tá, ThS. Vũ Khanh (2015), Một số vấn đề cơ bản trong chính sách an ninh biển của Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản trong chính sách an ninh biển của Việt Nam
Tác giả: Đại tá, ThS. Vũ Khanh
Năm: 2015
23. Đỗ Văn Khương (2008), Báo cáo tổng kết Đề tài: "Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi
Tác giả: Đỗ Văn Khương
Năm: 2008
25. Phạm Văn Năm (1997), Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng đảo Phú Quý - tỉnh Bình Thuận, Liên Đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất vùng đảo Phú Quý - tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Phạm Văn Năm
Năm: 1997
26. Phạm Văn Năm (1997), Điều tra nâng cấp trữ lượng nước ngầm khu vực đảo Phú Quý - tỉnh Bình Thuận, Liên Đoàn ĐCTV - ĐCCT miền Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nâng cấp trữ lượng nước ngầm khu vực đảo Phú Quý - tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Phạm Văn Năm
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam [10] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 1.1. Sơ đồ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam [10] (Trang 27)
Hình 2.1. Sơ đồ địa chất đảo Phú Quý [19] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 2.1. Sơ đồ địa chất đảo Phú Quý [19] (Trang 44)
Hình 2.2.  Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Phú Quý (giờ) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 2.2. Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Phú Quý (giờ) (Trang 53)
Hình 2.3.  Nhiệt độ bình quân tháng, lớn nhất, nhỏ nhất và bình quân năm tại trạm Phú Quý - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 2.3. Nhiệt độ bình quân tháng, lớn nhất, nhỏ nhất và bình quân năm tại trạm Phú Quý (Trang 54)
Bảng 2.5. Số ngày mƣa (ngày) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.5. Số ngày mƣa (ngày) (Trang 56)
Bảng 2.8.  Lƣợng bốc hơi Piche trung bình tháng (mm) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.8. Lƣợng bốc hơi Piche trung bình tháng (mm) (Trang 57)
Bảng 2.9.  Tốc độ gió (m/s) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.9. Tốc độ gió (m/s) (Trang 58)
Hình 2.7.  Thống kê số cơn bão hoạt động trên vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 2.7. Thống kê số cơn bão hoạt động trên vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau (Trang 59)
Bảng 2.11.  Nhu cầu dùng nước (m 3 /ngày.đêm) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.11. Nhu cầu dùng nước (m 3 /ngày.đêm) (Trang 61)
Bảng 2.12. Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước đảo Phú Quý [25] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.12. Tổng hợp các chỉ tiêu về chất lượng nước đảo Phú Quý [25] (Trang 66)
Bảng 2.13. Đặc trưng cực trị của mực nước tại Phú Quý - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.13. Đặc trưng cực trị của mực nước tại Phú Quý (Trang 68)
Hình 2.9. Sơ đồ phân bố cỏ biển đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận [18] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Hình 2.9. Sơ đồ phân bố cỏ biển đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận [18] (Trang 86)
Bảng 2.14. Một số chỉ tiêu số lƣợng của cỏ biển đảo Phú Quý  tỉnh Bình Thuận [18] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.14. Một số chỉ tiêu số lƣợng của cỏ biển đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận [18] (Trang 90)
Bảng 2.15. Cấu trúc thành phần loài san hô cứng vùng biển Phú Quý [18] - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 2.15. Cấu trúc thành phần loài san hô cứng vùng biển Phú Quý [18] (Trang 93)
Bảng 3.2. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển bền vững và đảm báo an ninh quốc phòng huyện đảo phú quý, tỉnh bình thuận
Bảng 3.2. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w