Qua quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ xác định được cơ sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái từ đó đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp, định hướng p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Đoàn Thị Tiên
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
CHO XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI
Ở HUYỆN KRÔNG PA, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Đoàn Thị Tiên
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
CHO XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI
Ở HUYỆN KRÔNG PA, TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 60850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TSKH PHẠM HOÀNG HẢI
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sự giúp đỡ và động viên của mọi người trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn đã góp phần không nhỏ giúp cho luận văn có thể hoàn thiện Vì vậy, xin được gửi những lời tri ân sâu sắc tới gia đình, thầy cô và bạn bè của tôi
Lời tri ân đầu tiên xin được gửi tới người thầy đã luôn quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn và động viên em trong suốt thời gian qua- GS.TSKH Phạm Hoàng Hải
Đồng thời, cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã cung cấp những kiến thức chuyên ngành quý báu để em có thể hoàn thiện luận văn này
Xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của UBND tỉnh Gia Lai, UBND Krông Pa và người dân địa phương trong quá trình thực thực địa để thực hiện luận văn
Chân thành cảm các anh chị phòng Địa lý môi trường- Viện Địa lý và các anh chị, bạn học trong lớp SD&BVTNMT khóa 2011- 2013 đã nhiệt tình giúp đỡ
em trong thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn các tác giả trong đề tài cấp nhà nước thuộc chương trình Tây Nguyên, Mã số TN3/ 03 đã cung cấp nguồn tài liệu quý giá giúp tôi hoàn thiện luận văn
Lời tri ân sâu sắc xin dành tặng gia đình, những bạn bè thân thiết đã luôn dõi theo và sát cánh bên con trên mỗi bước đi trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2013 Học viên
Đoàn Thị Tiên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn 3
6 Kết quả và ý nghĩa của đề tài 3
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan tài liệu 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái trên thế giới 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái tại Việt Nam 7
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai 8
1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan 9
1.2.1 Khái niệm cảnh quan 9
1.2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan 11
1.2.3 Đánh giá cảnh quan 13
1.3 Cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái 16
1.3.1 Khái niệm hệ kinh tế sinh thái 16
1.3.2 Khái niệm mô hình hệ kinh tế sinh thái 17
1.3.3 Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại mô hình hệ kinh tế sinh thái 21
1.4 Quan điểm tiếp cận 24
1.4.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp 24
1.4.2 Quan điểm phát triển bền vững 25
Trang 51.4.3 Quan điểm lịch sử 25
1.5 Phương pháp nghiên cứu 25
1.5.1 Phương pháp tổng và phân tích tài liệu 25
1.5.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn 26
1.5.3 Phương pháp đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái 26
1.5.4 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA) 29
1.5.5 Phương pháp bản đồ, biểu đồ 30
1.5.6 Quy trình nghiên cứu 31
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 32
2.1 Vị trí địa lý 32
2.2 Điều kiện tự nhiên 32
2.2.1 Địa chất 32
2.2.2 Địa hình 33
2.2.3 Khí hậu- thủy văn 33
2.2.4 Thổ nhưỡng 35
2.2.5 Thảm thực vật 36
2.3 Điều kiện kinh tế- xã hội 37
2.3.1 Đặc điểm dân số 37
2.3.2 Tình hình phát triển kinh tế 38
2.3.3 Hiện trạng sử dụng đất 41
2.3.4 Hiện trạng môi trường 41
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỊA LÝ CHO XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI Ở HUYỆN KRÔNG PA, TỈNH GIA LAI 45
3.1 Đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội của huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai 45
3.1.1 Đặc điểm cảnh quan huyện Krông Pa 45
3.1.2 Đánh giá cảnh quan huyện Krông Pa cho phát triển nông- lâm- nghiệp 47 3.2 Hiện trạng các mô hình hệ kinh tế sinh thái trong khu vực nghiên cứu 57
Trang 63.2.1 Mô hình kinh tế Vườn- Ao- Chuồng (VAC) 59
3.2.2 Mô hình kinh tế Vườn- Chuồng (VC) 60
3.3.3 Mô hình kinh tế Ruộng- Nương rẫy 61
3.3.4 Mô hình kinh tế Rừng- Vườn -Chuồng 62
3.3.5 Mô hình Ruộng- Nương rẫy- Chuồng 63
3.3 Đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai 64
3.3.1 Cơ sở đề xuất các mô hình hệ KTST 64
3.3.2 Định hướng sử dụng cảnh quan và đề xuất mô hình hệ kinh tế sinh thái cho huyện Krông Pa 65
3.3.3 Kiến nghị 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….72
PHỤ LỤC 74
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 KTST: Kinh tế sinh thái
2 PTBV: Phát triển bền vững
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mối quan hệ của lĩnh vực KTST và kinh tế thông thường và hệ sinh thái, tài nguyên và kinh tế môi trường và phân tích tác động môi trường……… 6 Hình 1.2: Sơ đồ tổng quát các bước đánh giá KTST các cảnh quan……… 14 Hình 1.3: Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ KTST……21 Hình 1.4: Sơ đồ quy trình đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan 27
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam 11
Bảng 1.2 Hệ cấu trúc và chức năng của hệ kinh tế sinh thái……… 19
Bảng2.1 Một số chỉ tiêu phát triển ngành trồng trọt thời kỳ 2007- 2011 của huyện Krông Pa……… 38
Bảng 2.2 Chỉ tiêu phát triển ngành chăn nuôi thời kỳ 2007- 2011 của huyện Krông Pa 40
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh với năm 1994 của huyện Krông Pa 40
Bảng 2.4 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại thị trấn Phú Túc năm 2012 42
Bảng 2.5: Kết quả phân tích nước thải của nhà máy CBNS xuất khẩu Phú Túc….43 Bảng 3.1: Bảng hệ thống phân loại cảnh quan khu vực Krông Pa 45
Bảng 3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tổng hợp cho các ngành sản xuất 48
Bảng 3.3: Kết quả đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cho phát triển trồng trọt 51
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cho phát triển chăn nuôi 53
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cho phát triển rừng sản xuất 55
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả đánh giá thích nghi các cảnh quan 56
Bảng 3.7 Mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng huyện Krông Pa 57
Bảng 3.8 Một số định hướng khai thác và sử dụng các dạng cảnh quan huyện Krông Pa cho phát triển nông - lâm nghiệp 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Sau một thời kỳ dài lịch sử với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật- công nghệ, nền kinh tế toàn cầu có nhiều bước tiến mới Song cùng với đó, môi trường sinh thái bị phá hủy nặng nề để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của con người, điều đó
đã chỉ ra rằng, các yếu tố tự nhiên không phải là một nguồn tài nguyên vô tận, chúng chỉ có mức giới hạn nhất định Vì vậy, để bảo toàn sự sống cần tìm ra con đường phát triển bền vững, phải nghiên cứu cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lí, vừa đảm bảo phát triển kinh tế lại không đảm bảo được môi sinh Vấn đề toàn cầu này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và mô hình hệ kinh tế sinh thái được đề xuất là một trong các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng và thử nghiệm với nhiều khu vực nghiên cứu dựa trên các điều kiện tự nhiên nhằm khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có song vẫn bảo toàn môi trường Kết quả thu được đã khẳng định ưu thế của các mô hình hệ KTST và đưa vào áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia
Là một nước đang phát triển, Việt Nam bị rơi vào tình trạng suy thoái các hệ sinh thái do hệ thống quản lý chưa có sự đồng bộ, thiếu hiệu quả dẫn tới sự khai thác quá mức cho phát triển kinh tế của con người nhưng lại không thể tận dụng tối
ưu các điều kiện tự nhiên, xã hội Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp khả thi trong việc bảo đảm hai yếu tố phát triển kinh tế và môi trường sinh thái là điều thiết yếu
Và việc xây dựng các mô hình kinh sinh thái đã góp phần giải quyết vấn đề này tại nhiều địa phương
Với vị trí chiến lược quan trọng, là vùng đất tiếp giáp giữa ba tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk và Phú Yên, nối liền Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải miền Trung nên
sự phát triển của Krông Pa rất quan trọng với việc đảm bảo an ninh quốc phòng của vùng Tuy nhiên, với khí hậu khô hạn điển hình, khác biệt với các địa phương ở Tây Nguyên gây khó khăn tới quá trình sản xuất Đồng thời cư dân sinh sống ở đây lại chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ văn hóa tương đối thấp và kĩ thuật
Trang 11canh tác lạc hậu, mang tính chất truyền thống, tự phát không có áp dụng công nghệ mới Nguyên nhân trên dẫn tới thực trạng phát triển của Krông Pa hiện nay khá chậm chạp và có dấu hiệu suy thoái môi trường, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững địa phương Vì vậy, việc xây dựng một số mô hình hệ KTST phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi đây sẽ mở ra hướng phát triển mới cho Krông Pa thoát nghèo Do
đó, đề tài: “Nghiên cứu cở sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hệ hình kinh tế sinh
thái ở huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai” đã được lựa chọn Qua quá trình nghiên cứu,
đề tài sẽ xác định được cơ sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái từ đó đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp, định hướng phát triển bền vững cho địa phương Các kết quả của đề tài sẽ là nguồn tài liệu cho việc hoạch định phát triển của huyện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với điều kiện của huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái
- Đánh giá tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có của khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học địa lý để xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với khu vực nghiên cứu
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai gồm 14 xã, thị trấn
- Phạm vi khoa học: nghiên cứu đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn và các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng từ đó xác lập cơ sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn và các mô hình hệ kinh tế sinh
thái của huyện Krông Pa
5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái, đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái)
- Tài liệu báo cáo, thống kê về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường huyện Krông Pa
- Tài liệu về điều kiên tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Krông Pa
- Các kết quả điều tra thực địa và điều tra xã hội học
- Tài liệu của đề tài cấp nhà nước thuộc chương trình Tây Nguyên, Mã số TN3/ 03
6 Kết quả và ý nghĩa của đề tài
Kết quả
- Thành lập các bản đồ chuyên đề cho khu vực nghiên cứu tỉ lệ 1:50000
- Đánh giá hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái tại khu vực nghiên cứu
- Xác lập cơ sở khoa học địa lý cho xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với khu vực nghiên cứu
Ý nghĩa
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và là nguồn tài liệu tham khảo cho các hoạch định phát triển của địa phương
Trang 137 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
đến đề tài
Chương 2: Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Krông Pa, tỉnh Gia
Lai
Chương 3: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho xây dựng mô hình kinh tế sinh
thái ở huyện Krông Pa
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tài liệu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái trên thế giới
Kinh tế sinh thái phát sinh từ thế giữa thế kỷ 20 khi một nhóm các học giả nhận ra rằng những cải tiến trong chính sách quản lý môi trường và bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ tương lai là phụ thuộc vào việc tìm ra một giải pháp đúng đắn trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên Nhiều cuộc hội thảo giữa các nhà kinh tế và sinh thái học đã được tổ chức, đặc biệt là ở Thụy Điển và Hoa Kỳ nhằm khám phá ra sự liên kết giữa hai ngành nghiên cứu này [21] Điển hình trong các nghiên cứu liên ngành này là lý thuyết kinh tế học sinh thái của R.Costanza trong tác phẩm kinh tế sinh thái Trong đó, ông đã chỉ ra sự kết nối giữa kinh tế và sinh thái song chưa thể hiện đúng đắn bản chất của chúng trong chu trình vật chất năng lượng hay chính xác hơn là tính liên kết của hệ kinh tế sinh thái [22] Và "Mô hình hệ kinh tế sinh thái" của L.C.Braat và U.F.J.Vanlierop; "Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững" của S.Ikada; vv đã đưa ra những lý luận cơ bản về mô hình hệ kinh tế sinh thái và tính thực tiễn của vấn đề nghiên cứu [20] Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu khác như Mukhuna, K.B.Zvorưvkin, Leopold, Ixatsenko, lại phát triển theo hướng đi sâu vào từng khía cạnh của kinh tế sinh thái: Thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, cải thiện môi trường và bền vững
ngành Kinh tế sinh thái, được khởi xướng vào năm 1989 Các hội nghị quốc tế quan
trọng về kinh tế sinh thái đã được tổ chức, nhiều viện nghiên cứu kinh tế sinh thái
Trang 15đã được hình thành trên thế giới, và một số lượng lớn các cuốn sách đã được xuất bản phát triển cơ sở lý luận cho ngành khoa học này [22]
Kinh tế sinh thái bao gồm kinh tế, sinh thái học và các liên kết hiện có của chúng trong các hình thức của tài nguyên, môi trường kinh tế và phân tích tác động môi trường (hình 1.1) Các nhà kinh tế sinh thái được xem xét lại cả hệ sinh thái và kinh tế, ví dụ, mở rộng sự cân bằng vật liệu và mô hình năng lượng của hệ sinh thái cho các câu hỏi kinh tế, áp dụng các khái niệm từ kinh tế để hiểu rõ hơn bản chất của đa dạng sinh học [23]
Hình 1.1 Mối quan hệ của lĩnh vực kinh tế sinh thái và kinh tế thông thường và hệ sinh thái, tài nguyên và kinh tế môi trường và phân tích tác động môi trường [23]
Ngày nay, với các ưu điểm trong việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, kinh tế sinh thái đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và ngày càng hoàn thiện hệ thống lý luận Đặc biệt, vấn đề xây dựng các mô hình hệ kinh tế sinh thái đã và đang được nghiên cứu cụ thể và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn tại nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, hà Lan, Đức, Nhật Bản, vv Các khu vực cao nguyên ở châu Âu, Mỹ, Canada, v.v là những vùng đi đầu trong phát triển kinh tế - sinh thái, du lịch và dịch vụ, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch, các nhà đầu tư Vì vậy, các khu vực này có nguồn thu hàng chục tỷ đô la
Trang 16Các thành tựu về phát triển kinh tế cùng những lợi ích mà môi trường đạt được đã chứng minh tính hiệu quả của các mô hình hệ kinh tế sinh thái Điều này chính là cơ sở thúc đẩy các nghiên cứu lí luận sâu sắc hơn và các mô hình được đưa vào áp dụng rộng rãi tại các khu vực với nhiều mục đích khác nhau
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cơ sở lý luận và ứng dụng mô hình hệ kinh tế sinh thái được nghiên cứu đầu tiên bởi tác giả Phạm Quang Anh từ năm 1983 [1] Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập đến trong các công trình: “Tiếp cận vấn đề kinh tế sinh thái ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Pháp [14] hay “Mô hình kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững nông thôn” của Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải.[11]
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu đã vận dụng những cơ sở lý luận
mô hình hệ kinh tế sinh thái trên những lãnh thổ cụ thể như:
- Trương Quang Hải và nnk Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.[7]
- Đặng Trung Thuận, Nguyễn Cao Huần và nnk Nghiên cứu vùng đất ngập nước đầm Trà Ổ nhằm khôi phục nguồn lợi thủy sản và phát triển bền vững vùng ven đầm (2000).[12]
- Mô hình kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình - Báo cáo đề tài kinh tế - 01 – 13 của Đặng Trung Thuận
- Bên cạnh đó, còn rất nhiều công trình khác như: mô hình hệ KTST nông thôn bền vững của Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999) [11]; xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp tại xã Kỳ Hợp của Lê Trần Tuấn, Phạm Văn Ngạc; Xây dựng
mô hình tự nhiên – kinh tế - xã hội theo hướng Kinh tế - sinh thái - nhân văn và môi trường cho vùng gò đồi Quảng Bình của Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng; đề
tài nhánh: “Nghiên cứu đánh giá các mô hình phát triển kinh tế xã hội, tổ chức thực
hiện mô hình trình diễn tại Quảng Bình, Quảng trị” của Trần Đình Lý, thuộc đề tài
KC 08-07 Đề tài dựa trên kết quả của 7 đợt khảo sát trong năm 2001 - 2003 để thu
Trang 17thập dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của 2 tỉnh và nghiên cứu 16 mô hình đã có ở khu vực này, làm rõ mô hình phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị theo quan điểm phát triển hệ thống, đồng thời tiếp cận hai vấn đề chung của cả nước là dân số và xóa đói giảm nghèo
Và mối quan hệ giữa cộng đồng và các hệ sinh thái được quan tâm nghiên cứu chi tiết trong nghiên cứu về làng sinh thái - hệ sinh thái điển hình Trên cơ sở khảo sát chi tiết các đặc trưng sinh thái, nguồn lực lao động, và phân tích các đặc trưng lý - hóa của đất để quy hoạch chi tiết từng ô, từng thửa theo hình bàn cờ, mỗi
ô có diện tích từ 1,5-2 ha Mỗi ô có đai rừng phòng hộ bên ngoài cùng các mương thoát nước, bên trong phát triển nông nghiệp, thả cá, chuồng nuôi Bằng các biện pháp và kỹ thuật nông nghiệp, lâm nghiệp kết hợp với thủy lợi đã làm thay đổi đời sống của người dân xã Triệu Vân Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương mà có thể xây dựng mô hình làng sinh thái với các đặc trưng riêng [13] Ngoài ra, Viện kinh tế sinh thái đã có nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và một số
mô hình làng sinh thái tại 3 vùng sinh thái kém bền vững: đồng bằng úng ngập nước, cát hoang mạc ven biển và vùng đồi núi trơ trọc tại Việt Nam Một số mô hình làng sinh thái đã được xây dựng như: làng sinh thái Ba Trại, Ba Vì, Hà Tây; làng sinh thái Hải Thủy, Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình được xây dựng trên vùng đồi cát
di động; làng sinh thái Phú Điền cũng được đề cập đến Hiện nay, mô hình làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở giúp đỡ nhân dân về công nghệ, kỹ thuật nhằm cải tạo hệ sinh thái bản địa theo hướng bền vững, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống cư dân tại đó, đồng thời duy trì sự ổn định cân bằng sinh thái.[19]
Với các lợi điểm của mình, mô hình kinh tế sinh thái ngày càng được quan tâm và xây dựng ở nhiều địa phương của Việt Nam để hướng tới sự phát triển bền vững
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên vùng Tây Nguyên từ nhiều năm trước, góp phần vào sự phát triển của vùng này Trong đó phải kể đến Chương trình Tây Nguyên I và Tây Nguyên II cùng với các đề tài, dự
Trang 18án độc lập cấp Nhà nước đã triển khai đồng bộ, nghiên cứu điều tra tổng hợp, điều tra cơ bản vùng Tây Nguyên nói chung và trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng Đặc
biệt, tại thời điểm hiện nay, Chương trình Tây Nguyên III (Nghiên cứu đánh giá
tổng hợp tài nguyên môi trường và KT - XH nhằm đề xuất chiến lược KH&CN phục
vụ phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn 2030) đã và
đang được thực hiện từ năm 2011 đến năm 2015 Kết quả của các nghiên cứu này chính là những cơ sở cho việc thực hiện các quy hoạch, chiến lược cũng như xây dựng, đề xuất các mô hình phát triển kinh tế phù hợp
Ngoài ra, các ban ngành của tỉnh Gia Lai cũng có một số đề tài nghiên cứu
về các hình thức phát triển kinh tế tại địa phương: Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Gia Lai, Điều tra tình hình kinh tế trang trại tỉnh Gia Lai, 1999;
Kinh tế trang trại Gia Lai: thực trạng và giải pháp, 1999 UBND tỉnh Gia Lai, Mô hình phát triển kinh tế - xã hội làng đồng bào dân tộc Jrai ở tỉnh Gia Lai, 2004 Sở
Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh Gia Lai, Nghiên cứu phát triển tiềm năng du lịch
sinh thái tỉnh Gia Lai đến năm 2020, 2009 Kết quả các nghiên cứu này giúp lãnh
đạo Gia Lai tìm ra hướng phát triển đúng đắn cho tỉnh mình
Trên địa bàn huyện Krông Pa đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về
đánh giá tổng hợp nguồn tài nguyên cũng như về các mô hình hệ kinh tế sinh thái
1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan
1.2.1 Khái niệm cảnh quan
Cảnh quan học được quan tâm nghiên cứu từ cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX và được quan niệm theo các cách khác nhau: Cảnh quan là một khái niệm chung (F.N Minkov, D.L Armand ), là khái niệm loại hình (B.B Plolưnov ), là khái niệm cá thể (N.A Xoltsev, A.G Ixatrenko, ) [9]
Quan điểm cảnh quan là một khái niệm chung, đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể của bất kỳ cấp nào, đồng nghĩa với địa hệ Quan điểm cảnh quan là khái niệm chung giống như khái niệm về thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thực vật và có thể sử dụng cho bất kỳ đơn vị phân loại hay phân vùng địa lý địa lý tự nhiên
Trang 19Quan điểm cảnh quan được hiểu như là một khái niệm loại hình phản ánh các khu vực tách biệt của lớp vỏ địa lý có nhiều dấu hiệu chung Tính đồng nhất tương đối và tính lặp lại được thể hiện rõ trong hệ thống phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan Khái niệm này được sử dụng cả cho các cảnh quan tự nhiên và các cảnh quan bị biến đổi bởi hoạt động kinh tế của con người Cảnh quan là đối tượng cho nghiên cứu cảnh quan khi nhiều yếu tố chưa định lượng một cách chắc chắn và cần phải xác định tính đồng nhất tương đối để có thể gộp chúng vào một nhóm Điều này thuận lợi trong đo vẽ bản đồ cảnh quan khi ta không có điều kiện khảo sát kỹ
Quan điểm cảnh quan là một đơn vị cá thể: một lãnh thổ cụ thể, đồng nhất về phát sinh và lịch sử phát triển, đặc trưng bởi nền địa chất, một kiểu khí hậu đồng nhất, một phức hệ thổ nhưỡng, sinh vật quần đồng nhất và có một cấu trúc xác định
Dựa trên các quan điểm đó mà đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra Trong
đó, hai định nghĩa tiểu biểu là:
“Cảnh quan địa lý được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng
và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất,
về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao hàm một tổ hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [10]
Và một định nghĩa khác của A.G.Ixatrenco: “Cảnh quan là một địa hệ thống
nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp” [19]
Song dù xét theo quan điểm nào thì bản chất của cảnh quan vẫn được xem là một địa tổng thể tự nhiên, phức tạp vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của cảnh quan được hiểu ở chỗ là một lãnh thổ trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất Tính bất đồng nhất được biểu thị ở hai mặt: thứ nhất, cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất, thực vật) tạo nên Thứ hai, mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều
Trang 20dạng khác nhau, ví dụ địa hình âm và dương, và ngay trên một dạng địa hình dương (quả đồi - được coi như đồng nhất) cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sườn [9]
Sự khác nhau trong mỗi quan điểm chỉ là xét cảnh quan theo đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cách thức xác định và thể hiện cảnh quan trên bản đồ
Do vậy, cần hiểu đúng bản chất của cảnh quan, và khi nghiên cứu đánh giá cảnh quan cần phải xuất phát từ quan điểm tổng hợp, quan điểm hệ thống
1.2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan
Hệ thống phân loại và các chỉ tiêu để phân cấp dựa trên đặc tính của đối tượng nghiên cứu Đó là sự phân hoá thực tế theo không gian Hệ thống phân loại là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan Hiện nay đã có rất nhiều hệ thống phân loại chủ yếu là của các tác giả Liên Xô trước đây như: hệ thống phân loại của A.G Ixatrenco (1961) đưa ra 8 đơn vị là nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại; hay hệ thống phân loại cảnh quan của N.A Gvozdexki (1961), hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev… Tuy nhiên, vẫn chưa có một hệ thống phân loại nào được mọi người chấp nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp
Ở Việt Nam, đã có một số công trình đã đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan trong khi nghiên như các tác giả như: Vũ Tự Lập (1976), Nguyễn Thành Long và nnk (1983), Phạm Hoàng Hải (1997) Giữa các nghiên cứu này có chung là tương đối thống nhất về hệ thống các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam: Hệ (phụ hệ CQ) - Lớp (phụ lớp CQ) - Kiểu (phụ kiểu CQ) - Hạng CQ - Loại CQ
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam [4]
Hệ cảnh quan
Nền bức xạ chủ đạo quyết định tính đới Chế độ nhiệt
ẩm quyết định cường độ lớn của chu trình vật chất và năng lượng
Phụ hệ cảnh quan Chế độ hoàn lưu gió mùa quyết định phân bố lại nhiệt
ẩm gây ảnh hưởng lớn tới chu trình vật chất
Lớp cảnh quan Đặc điểm hình thái phát sinh của các khối địa hình lớn
Trang 21quy định tính đồng nhất của hai quá trình lớn trong chu trình vật chất bóc mòn và tích tụ
Phụ lớp cảnh quan Sự phân tầng bên trong của lớp, đặc trưng trắc lượng
hình thái địa hình trong khuôn khổ lớp
Kiểu cảnh quan
Những đặc điểm sinh khí hậu quy định kiểu thảm thực vật, tính chất thích ứng của đặc điểm phát sinh quần thể thực vật theo đặc trưng biến động của cân bằng nhiệt ẩm
Phụ kiểu cảnh quan Các đặc trưng cực đoan của sinh khí hậu ảnh hưởng
lớn tới các điều kiện sinh thái
Hạng cảnh quan Các kiểu địa hình phát sinh và nền nham
Loại (nhóm loại)
cảnh quan
Sự kết hợp của các quần xã thực vật phát sinh và hiện tại với loại đất trong chu trình sinh học nhỏ
Dưới loại cảnh quan là các đơn vị hình thái: dạng cảnh quan và diện cảnh quan
Dạng cảnh quan là một hệ thống liên kết các cảnh diện, có chung một hướng
quá trình địa lý tự nhiên, phân bố trong một dạng trung địa hình trên một nền nham đồng nhất Có 5 dấu hiệu để phân chia dạng cảnh quan:
- Dạng trung địa hình (là dấu hiệu quan trọng nhất)
- Nham thạch
- Tiểu tổ hợp đất (tập hợp các biến chủng đất theo các dạng trung địa hình)
- Tiểu tổ hợp thực vật (tập hợp các quần xã thực vật theo các dạng trung địa hình)
- Phức hợp các địa hệ đơn giản nhất
Khi tiến hành phân loại các dạng cảnh quan cần chú ý tới:
- Sự giống nhau và khác nhau có tính chất phát sinh tồn tại giữa chúng
- Sự kết hợp các cảnh diện đặc trưng cho mỗi một kiểu hay loại dạng địa lý
Có thể phân biệt hai dạng cơ sở:
- Dạng liên quan đến dạng địa hình dương của trung địa hình
Trang 22- Dạng lõm của trung địa hình, các bậc thềm thấp có độ ẩm cao (dòng chảy mặt, cung cấp nước ngầm)
Diện cảnh quan là đơn vị hình thái cảnh quan cơ sở, có điều kiện địa thế và
sinh cảnh đồng nhất, được đặc trưng bởi một sinh vật quần Một diện cảnh quan được đặc trưng bởi một nền nham, một kiểu vi khí hậu, một sinh vật quần đồng nhất
và một biến chủng thổ nhưỡng Địa thế là nhân tố chủ yếu của sự phân hoá diện cảnh quan
Tuy nhiên, với mỗi khu vực nghiên cứu sẽ sử dụng hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau phụ thuộc vào phạm vi, mục đích nghiên cứu và tỉ lệ bản đồ cảnh quan mà lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp
1.2.3 Đánh giá cảnh quan
a) Khái niệm
Bản chất của đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó Đánh giá cảnh quan có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể Vì vậy, đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [9]
Kết quả của nghiên cứu cơ bản là các bản đồ chuyên đề và dữ liệu thuộc tính các địa tổng thể Từ các kết quả nghiên cứu cơ bản thực hiện đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan để chỉ ra mức độ phù hợp của từng cảnh quan đối với các loại hình
sử dụng
Từ kết quả đánh giá cảnh quan sẽ đưa ra các phương án lựa chọn tổ chức, hoạch định chiến lược lâu dài, tương đối phù hợp và hiệu quả cao nhất của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng Đồng thời, đề xuất hướng quy hoạc lãnh thổ sản xuất một cách hợp lý nhất nhằm phát triển bền vững cho địa phương
b) Đánh giá cảnh quan
Trang 23Các bước đánh giá cảnh quan bao gồm: đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá kinh tế cảnh quan, đánh giá tính bền vững xã hội và đánh giá tích hợp (đánh giá tổng hợp)
Các dữ liệu đầu vào gồm: đặc điểm tự nhiên của các địa tổng thể và các nhu cầu sinh thái của dạng sử dụng cảnh quan Các thông tin đầu ra: mức độ thích nghi của các địa tổng thể đối với dạng sử dụng đó
Kết quả đánh giá: thể hiện ở dạng bảng hoặc bản đồ đánh giá thích nghi
Đánh giá ảnh hưởng môi trường là xác định, phân tích và dự báo những tác
động tích cực và tiêu cực, trước mắt và lâu dài mà việc sử dụng cảnh quan có thể
Mức độ thích nghi sinh thái
Đánh giá thích nghi sinh thái
Đánh giá tổng hợp Đánh giá
hiệu quả kinh tế
Xem xét tính bền vững môi
Bền vững môi trường
Cộng đồng,
chính sách
Hiệu quả kinh tế
Xem xét tính bền vững về mặt
Trang 24gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng sống của con người tại khu vực khai thác, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh, khắc phục những tác động tiêu cực
Các dữ liệu đầu vào: các hoạt động khai thác sử dụng cảnh quan Các thông tin đầu ra: xác định được tính bền vững môi trường của cảnh quan đối với các hoạt động khai thác, sử dụng cảnh quan
Đánh giá kinh tế cảnh quan là đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng cảnh quan
Các dữ liệu đầu vào: các số liệu liên quan đến chi phí, lợi ích thu được bằng tiền trên đơn vị diện tích và đơn vị thời gian do sử dụng cảnh quan đem lại Các thông tin đầu ra: là các bảng biểu phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động sử dụng cảnh quan theo các phương án
Phân tích ảnh hưởng xã hội: phân tích dựa vào truyền thống, tập quán sử
dụng cảnh quan và khả năng tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật của cộng đồng và không thể tách xa những định hướng phát triển kinh tế của nhà nước
Các dữ liệu đầu vào: đặc tính cộng đồng và các chính sách Các thông tin đầu ra: tính bền vững xã hội, những chỉ tiêu bền vững xã hội
Kết quả: Đánh giá tính bền vững xã hội sẽ cho phép lựa chọn các phương án
sử dụng cảnh quan và đầu tư thích hợp
Đánh giá tích hợp là phân tích, so sánh, lựa chọn các địa tổng thể thuận lợi
cho một hoặc nhiều mục tiêu sử dụng
Các sản phẩm ở đầu vào và đầu ra trong từng bước đánh giá tạo thành một quy trình đánh giá kinh tế sinh thái hoàn chỉnh, một bộ phận không thể thiếu và được thực hiện trong giai đoạn tiền quy hoạch cảnh quan
Như vậy, đánh giá cảnh quan giúp đánh giá tiềm năng phát triển của khu vực nghiên cứu, kết hợp với các mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng tại khu vực nghiên
cứu sẽ xác lập cơ sở địa lý cho việc đề xuất các mô hình kinh tế sinh thái bền vững
Trang 251.3 Cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái
1.3.1 Khái niệm hệ kinh tế sinh thái
Theo Robert Costanza, Chủ tịch của Hiệp hội quốc tế về Kinh tế sinh thái
“Kinh tế sinh thái chỉ ra mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế và hệ sinh thái” [22]
Như vậy, kinh tế học và sinh thái học là những chuyên ngành có chung một số lĩnh vực nghiên cứu và phần chung đó là kinh tế sinh thái
Theo Phạm Quang Anh: “Kinh tế học sinh thái là luận thuyết giúp con người
cải tạo ra quy trình làm kinh tế hợp với quy luật sinh thái (địa sinh thái) nhằm đảm bảo cân bằng cung của tự nhiên và cầu của con người một cách lâu bền nhất” [1]
Như vậy, kinh tế học sinh thái vẫn quan tâm đến hiệu quả kinh tế nhưng đặt lên hàng đầu lại là môi trường và các quy luật sinh thái, nói cách khác là phát triển kinh
tế gắn liền với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Hệ kinh tế sinh thái (Ecological Economic System) là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học sinh thái Khái niệm này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ trước đưa ra dưới nhiều góc độ và trên các quan điểm khác nhau Và ở Việt Nam, khái niệm hệ kinh tế sinh thái cũng được đưa
ra theo quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu:
Theo Phạm Quang Anh, (1983): “Hệ kinh tế sinh thái (Socio - Ecological
Economic System = SEES) được quan niệm là một hệ thống cấu trúc và chức năng
về mối quan hệ biện chứng và nhất quán giữa xã hội và tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ nhất định đang diễn ra các mối tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người trên ba mặt: khai thác, sử dụng và bảo vệ tiềm năng tài nguyên trên lãnh thổ
đó (cho quá trình sản xuất), tạo nên chu trình vận hành và bù hoàn vật chất - năng lượng - tiền tệ để biến nó thành một bậc thực lực về kinh tế (nghèo, đủ sống, trù phú…) cùng với một bậc trạng thái về môi trường (ô nhiễm - khắc nghiệt, bình thường và trong sạch - dễ chịu) nhằm thỏa mãn cho bản thân mình về vật chất và nơi sống”.[1]
Theo Đặng Trung Thuận, (1999): “Hệ kinh tế sinh thái là kết quả của mối tác
động tương hỗ của các yếu tố tự nhiên và kinh - tế xã hội dưới sự quản lý của con
Trang 26người sao cho các hoạt động này hoạt động theo quy luật sinh thái và quy luật kinh
tế nhằm đạt hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội bền vững” [11]
Nguyễn Văn Trương định nghĩa hệ kinh tế sinh thái ở cấp độ thôn, bản là các
làng sinh thái: “Làng sinh thái là một hệ sinh thái có không gian sống của một cộng
đồng người nhất định Hệ sinh thái này vừa có chức năng sản xuất ra những thứ cần thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ mối cân bằng sinh thái Trong hệ sinh thái con người có vai trò trung tâm để điều hòa các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững các khía cạnh tự nhiên lẫn khía cạnh xã hội” [12] Tùy vào điều
kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn) và xã hội (phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, phương thức sản xuất và sinh hoạt) mà mỗi vùng đề xuất được mô hình làng sinh thái với những đặc trưng riêng phù hợp với đặc trưng sinh thái của mình
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau song nhìn chung hệ kinh tế sinh thái hệ thống chức năng nằm trong các tác động tương hỗ giữa sinh vật với môi trường dưới sự điều khiển của con người nhằm mục đích phát triển bền vững Như vậy, hệ kinh tế sinh thái là một hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp (chức năng kinh tế) vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (chức năng sinh thái) Mỗi một hệ thống đều có quan hệ nội tại (quan hệ giữa các hợp phần bên trong) và mối quan hệ bên ngoài (quan hệ giữa các hệ thống với nhau và môi trường xung quanh)
1.3.2 Khái niệm mô hình hệ kinh tế sinh thái
Mô hình hệ kinh tế sinh thái (Ecological Economic System Model) là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định
- nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt, sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con người [11]
Mỗi mô hình hệ kinh tế sinh thái có sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra nhằm đảm bảo sự bền vững của mô hình
Trang 27- Đầu vào: Nguồn lực của mô hình là các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Yếu tố tự nhiên bao gồm các thành phần của lớp vỏ địa lý đưa vào mô hình dưới dạng nhiệt
ẩm, các vật chất vô cơ, hữu cơ và các thông tin di truyền Các yếu tố kinh tế - xã hội thì có nguồn lực lao động, phương thức sản xuất, công cụ, máy móc, chính sách xã hội, vv… Các yếu tố này được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại Trong đó, điều kiện tự nhiên giữ vai trò là nền tảng cho các yếu tố kinh tế - xã hội nhưng đồng thời chịu sự chi phối của yếu tố kinh tế - xã hội
- Đầu ra: là các sản phẩm về kinh tế - xã hội, môi trường Các sản phẩm đầu ra của
mô hình tạo ra nguồn của cải, vật chất phục vụ cho cuộc sống con người và phát triển xã hội Ngoài ra, các sản phẩm này còn thải vào môi trường lượng lớn chất thải trong quá trình sản xuất [6]
Mỗi mô hình kinh tế sinh thái sẽ bao gồm 3 phân hệ chính: [1]
- Phân hệ tự nhiên: là tổ hợp các điều kiện tự nhiên bao gồm cấu trúc địa chất – địa
hình, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng và sinh vật có chức năng vận hành, sản xuất và tái tạo nguồn vật chất - năng lượng duy nhất khả thi cho nhân loại
- Phân hệ xã hội: gồm dân cư, dân tộc, sự phân bố và cơ cấu Đây là sản phẩm cao
cấp của tự nhiên, phụ thuộc vào tự nhiên đồng thời cũng chi phối lại tự nhiên, hệ quả của hoạt động đó tốt hay xấu tùy thuộc vào tầm văn hóa của chính con người
- Phân hệ sản xuất: con người đã tác động thực sự vào tự nhiên Nếu các tác động
đó không đúng theo quy luật của tự nhiên, sẽ làm đảo lộn chu trình sinh - địa - hóa,
vốn là chu trình tối ưu của tự nhiên, tạo ra sự “mất cân bằng sinh thái”
Bảng 1.2: Hệ cấu trúc và chức năng của hệ kinh tế sinh thái [1]
Nền địa chất
- Dưới tác động của nội lực và ngoại lực quyết định dặc điểm địa hình, quyết định đặc điểm các vỏ phong hóa và tính chất lý hóa của đất
Trang 28- Quyết định đối tượng sản xuất và hoạt động sống ở các cấp lãnh thổ vừa và nhỏ qua trường nhiệt ẩm của hệ sinh thái
- Quyết định cây non liên canh trong tổ hợp sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp và chi phối đén nhịp điệu mùa, cơ cấu thời vụ
- Phân phối tài nguyên nước phù hợp với địa hình và mặt đệm
- Trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khỏe con người
Đất và nền
dinh dưỡng
- Tích lũy và dự trữ hóa năng lượng cho sinh vật sản xuất
và là môi trường cho sinh vật tiêu hủy
- Nơi khép kín chu trình sinh - địa – hóa trên cơ sở liên quan chặt chẽ với điều kiện khí hậu, nhiệt ẩm, quyết định
xu hướng và cường độ trong sản xuất nông – lâm – ngư và trong việc thành tạo tài nguyên sinh vật
- Là nơi sống và khai thác của con người, là tư liệu sản xuất tối quan trọng – tài nguyên đất
Sinh quần
- Từ sinh vật sản xuất - sinh vật tiêu thụ hực hiện chu trình sinh - địa - hóa Tiết kiệm vật chất và năng lượng Làm giảm sự mất mát do xói mòn trong chu trình địa chất
- Trực tiếp và gián tiếp điều hòa nước, nhiệt, dinh dưỡng
Trang 29và cải tạo môi trường
- Giữ chức năng tự điều chỉnh trong hệ sinh thái tự nhiên
- Phân phối và lưu thông những sản phẩn khai thái và sử dụng được đến khu vực có nhu cầu là nhân tố quan trọng tạo thị trường
Phân hệ
sản xuất
Nông nghiệp
- Sản xuất nguồn vật chất - năng lượng hữu cơ nhân sinh trong mối tương tác giữa con người với vi khí hậu; đất và sinh quần; hình thành và mở đầu chu trình vật chất - năng lượng - tiền tệ
- Đảm bảo nhu cầu vật chất thiết yếu để sống - vật chất hữu cơ cho con người
Công nghiệp
- Hoàn thành khâu cuối của sản xuất vật chất hàng hóa, tăng giá trị chất lượng hang hóa sản phẩm Nông nghiệp, tạo công cụ lao động cho con người
- Quyết định cho tính hiện đại hóa, cường độ phát triển tổng thể của nền kinh tế
Công nghiệp tái
tạo tài nguyên
- Giảm bã thải, làm sạch môi trường giải quyết khủng hoảng sinh thái, nhất quán hóa quá trình “phát triển kinh tế” và “bảo vệ môi trường” chỉnh lại những chỗ lệch hướng trong chu trình vật chất - năng lượng – tiền tệ Công nghệ
tế để điều chỉnh sản xuất theo nhu cầu của quá trình tạo thị
Trang 30thông tin trường
- Tăng giá trị hàng hóa cho sản phẩm qua lợi nhuận thương mại
Tuy mỗi phân hệ giữ một chức năng riêng song chúng được liên kết chặt chẽ với nhau trong mô hình tạo nên sự liên hoàn
- Ô nhiễm môi trường
- Cải thiện môi trường
Sản phẩm xã hội:
- Thỏa mãn nhu cầu vật chất
- Thỏa mãn nhu cầu giải trí
a) Nguyên tắc nghiên cứu
Khi nghiên cứu kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2 nguyên tắc: cấu trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái [6]
- Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện chứng và tác động tương hỗ giữa các yếu tố của hệ thống
- Nguyên tắc kinh tế - sinh thái: phản ánh hoạt động của hệ thống phải đảm bảo tính kinh tế, thích nghi sinh thái và môi trường, mô hình phải có tính khả thi, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường, phải phù hợp với nền kinh tế thị trường
b) Cơ sở xây dựng mô hình
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở [6]
Trang 31(1) Kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, kinh tế tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế - xã hội, hạ tầng cơ sở kĩ thuật tự nhiên và tổ chức sản xuất - xã hội,…Đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên không chỉ liên quan đến quá trình sản xuất mà cả với việc trao đổi, buôn bán và phân phối sản phẩm cuối cùng
(2) Chiến lược sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường với mục tiêu phát triển phát triển kinh tế xã hội trong cơ cấu kinh tế, trên cơ sở đặc điểm tài nguyên sinh thái của vùng mà xây dựng cấu trúc mô hình hệ sinh thái
(3) Hoạt động của hệ thống theo chu trình năng lượng - sản xuất - tiêu thụ là chu trình liên ngành và trên cơ sở kỹ thuật sinh thái
(4) Điều khiển hệ kinh tế sinh thái là điều khiển chu trình năng lượng - sản xuất - tiêu thụ, các quy luật kinh tế và quy luật sinh học, do đó phải hoàn thiện cơ chế kinh
tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (chu trình sinh - địa - hóa)
Do đó, để đảm bảo sự dụng đúng mức, ổn định và tránh những ảnh hưởng gây lãng phí và suy thoái tài nguyên thiên nhiên, góp phần giải quyết những yêu cầu đặt ra của cộng đồng, con người cần tìm ra hướng phát triển tối ưu nhất Và việc xây dựng mô hình kinh tế sinh thái phù hợp cho từng vùng là giải pháp hữu hiệu Mỗi mô hình chỉ có thể tồn tại khi nó mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường thực
sự Điều đó có nghĩa mô hình được người dân chấp nhận và áp dụng trong quá trình sản xuất kinh tế của họ Đây chính là cơ sở của việc xây dựng mô hình kinh tế sinh thái hợp lý, bảo đảm nguyên tắc phát triển bền vững
c) Cơ sở phân loại và chỉ tiêu đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái
Mô hình hệ kinh tế sinh thái được phân loại theo các tiêu chí khác nhau dựa trên mục đích sử dụng [7]
- Phân loại theo cơ cấu sản xuất: tính phức tạp hay đơn giản của mô hình phụ thuộc
vào vị trí, đặc điểm tự nhiên địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn và các điều kiện kinh tế - xã hội (vốn, lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác của mỗi dân tộc)
Trang 32- Phân loại theo quy mô sản xuất: tùy thuộc vào diện tích canh tác, hướng sản xuất
chuyên môn hóa, trình độ sản xuất, trình độ quản lý,…mà ta có thể có mô hình kinh
tế hộ gia đình hay mô hình kinh tế trang trại
- Phân loại theo mức thu nhập: mỗi mô hình có hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào
cơ cấu sản xuất, phương thức canh tác,…Theo quy định chung của nhà nước có 5 kiểu mô hình hệ kinh tế sinh thái với quy mô hộ gia đình: kiểu mô hình có thu nhập cao, khá, trung bình, thấp, rất thấp
Tuy nhiên, để được đánh giá là mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững mỗi
mô hình cần đảm bảo các tiêu chí:
- Thích nghi sinh thái: tính thích nghi sinh thái thường được đánh giá thông qua
mức độ phù hợp giữa nhu cầu sinh thái của các loại hình sử dụng (cây trồng, vật nuôi) với tiềm năng sinh thái của vùng Mức độ thích nghi sinh thái thường được phân thành các cấp độ khác nhau và thường đánh giá theo điểm tùy thuộc vào mức
độ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cảnh quan với các điều kiện của cây trồng tại khu vực nghiên cứu
- Chỉ tiêu kinh tế: thường được đánh giá ở mức sống của người lao động thông qua
thu nhập theo phương pháp phân tích chi phí - lợi ích Chỉ tiêu này ngoài việc góp phần nâng cao mức sống của người dân còn gián tiếp nâng cao học vấn, ý thức,… của người dân
- Chỉ tiêu bền vững môi trường: Mô hình hệ kinh tế sinh thái không chỉ nhằm mục
đích đạt hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đạt được mục tiêu phát triển bền vững và
bảo vệ môi trường Chỉ tiêu bền vững môi trường của một hệ kinh tế sinh thái được
nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng có thể đánh giá dưới một số khía cạnh sau:
Khả năng chống lại các hiện tượng cực đoan như ô nhiễm, xói mòn, rửa trôi
Nguy cơ ô nhiễm tài nguyên đất, nước, không khí thông qua các hoạt động như phun hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón…
Khả năng phục hồi cảnh quan mà mô hình kinh tế hoạt động
Trang 33 Ngoài ra, có thể kể đến việc cải tạo môi trường và sức khỏe con người được đảm bảo
- Chỉ tiêu bền vững xã hội: chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tập quán, truyền
thống, phương thức canh tác, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp nhận các mô hình kinh tế của người dân, khả năng đầu tư vào sản xuất,… Ngoài ra
nó còn được đánh giá thông qua mức độ đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu về mặt vật chất
và tinh thần của con người ở mức độ nào; mức tăng trưởng kinh tế có đáp ứng được mức tăng dân số hay không
Một mô hình kinh tế sinh thái bền vững khi đảm bảo được các chỉ tiêu trên, một trong các chỉ tiêu không đảm bảo thì mô hình trở nên kém bền vững Đó cũng chính là các biến quan trọng trong bài toán kinh tế sinh thái, có thể chia thành 3 bài toán con: bài toán kinh tế tài nguyên, bài toán kinh tế văn hóa và bài toán kinh tế môi trường, trong đó bài toán kinh tế văn hóa được đưa lên hàng đầu
1.4 Quan điểm tiếp cận
1.4.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp
Nghiên cứu cảnh quan cũng như kinh tế sinh thái cần xem xét và nhìn nhận một cách đầy đủ các nhân tố có thể ảnh hưởng đến một thể thống nhất hữu cơ Vì các đơn vị lãnh thổ địa lý tự nhiên là một hệ thống phức tạp được cấu thành bởi các hợp phần tự nhiên, có tác động tương hỗ lẫn nhau thông qua các dòng vật chất - năng lượng - thông tin Khi bất kỳ một hợp phần nào đó bị tác động và bị biến đổi thì các hợp phần khác cũng sẽ bị biến đổi theo Dựa trên cơ sở các kết quả phân tích toàn diện, đồng bộ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên thiên nhiên với quy luật phân hoá của chúng, cũng như các mối tác động tương hỗ của các hợp phần của tổng thể hợp thể địa lý để nghiên cứu đánh giá tài nguyên và kinh
tế sinh thái Vì vây, khi nghiên cứu cơ sở địa lý cho việc xây dựng mô hình hệ kinh
tế sinh thái Krông Pa cần xét cảnh quan tại đây theo một hệ thống hoàn chỉnh nhằm tổng hợp tất cả các yếu tố để xây dựng được mô hình phù hợp, góp phần cho việc quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên môi trường tiến tới PTBV
Trang 341.4.2 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng phải đảm bảo cho các thế hệ tương lai những điều kiện về tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày hôm nay (WCED, 1987)
Vì vậy, khi nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế sinh thái cần phải đảm bảo các yêu cầu của phát triển bền vững: thích nghi sinh thái, vấn đề môi trường, hiệu quả kinh tế cao và vấn đề xã hội Bất kỳ một mô hình kinh tế nào cũng chỉ được coi
là bền vững khi sử dụng một cách hợp lý nguồn vào (nhân tố tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội), và phân phối hợp lý sản phẩm nguồn ra (sản phẩm kinh tế - xã hội, môi trường)
1.4.3 Quan điểm lịch sử
Các hợp phần địa lý tự nhiên tồn tại và phát triển theo quy luật riêng và chịu chi phối của các hợp phần tự nhiên khác Trong từng giai đoạn lịch sử, chúng bị biến đổi dưới các tác động tự nhiên và hoạt động nhân tác Đồng thời, để xác lập được mô hình hệ kinh tế sinh thái cần nghiên cứu cụ thể về lịch sử khai thác tài nguyên thiên nhiên của khu vực nghiên cứu để tìm ra được mô hình thích hợp với tập quán sản xuất của người dân địa phương Vì vậy, khi nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái cần phải đứng trên quan điểm lịch sử để có thể đưa ra được những biện pháp hữu hiệu cho sử dụng, bảo vệ và cải tạo các hệ sinh thái phục vụ cho phát
triển bền vững
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Đây là phương pháp chủ yếu, được sử dụng phổ biến và là điều kiện tiên quyết trong mỗi công trình nghiên cứu Để kết quả nghiên cứu chính xác cần thu thập các tài liệu, công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái và đánh giá thích nghi các cảnh quan Các tài liệu này được nghiên cứu và tổng hợp về phần cơ
sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, còn có các tài liệu về điều kiện tự nhiên, các thống kê về tình hình phát triển kinh tế và môi trường tại Krông Pa, các loại bản
Trang 35đồ liên quan Tất cả được phân tích, đánh giá và tổng hợp lại để xác định cơ sở cho việc xây dựng mô hình
1.5.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Đây là phương pháp đánh giá nhanh được sử dụng trong đề tài với mục đích tiếp cận người dân địa phương để thu thập thông tin qua phỏng vấn với phiếu điều tra đã lập sẵn và tìm hiểu, bổ sung thêm các thông tin còn thiếu hoặc chưa rõ ràng
- Hiện trạng các mô hình kinh tế sinh thái ở Krông Pa: loại mô hình và các hợp phần trong mô hình, sự phân bố của chúng tại khu vực, vv
- Thông tin chung về hộ gia đình (nhân khẩu, lao động, thu nhập hàng năm từ các
mô hình); các yếu tố đầu vào và ra của từng mô hình thông qua các hộ gia đình, ý kiến của người dân về các mô hình hệ kinh tế sinh thái
- Bổ sung thêm về hiện trạng sử dụng đất
Sau quá trình điều tra thông tin thu thập được sẽ được tổng hợp và xử lý để đánh giá thực trạng mô hình hệ kinh tế sinh thái ở Krông Pa
1.5.3 Phương pháp đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái
Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan theo tiếp cận KTST nhằm đánh giá mức độ thích hợp của các dạng cảnh quan ở Krông Pa với các hình thức sử dụng nông, lâm nghiệp
Trang 36Quy trình đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan:
Hình 1.3 Sơ đồ quy trình đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan [9]
2.1 Xác định nhu cầu sinh thái
Trang 371) Thống kê đặc tính các nhóm đạng cảnh quan
2) Lựa chọn các yếu tố đánh giá: dựa vào nhu cầu sinh thái của cây trồng và tính chất của địa tổng thể
3) Đánh giá thành phần: Dựa vào bảng cơ sở đánh giá thành phần
4) Đánh giá chung: Theo công thức
Công thức tính điểm trung bình cộng:
D K n
D
1
1
Trong đó: D A: điểm đánh giá chung địa tổng thể A,
D i : điểm đánh giá yếu tố thứ i,
K i : hệ số tầm quan trọng của yếu tố thứ i, i: yếu tố đánh giá, i=1,2, ,n
Xác định trọng số của các yếu tố Vai trò của các yếu tố tham gia vào sự tạo thành mức độ thích nghi sinh thái địa tổng thể đối với chủ thể là không giống nhau, do đó cần có hệ số điều chỉnh trước khi phân hạng thích nghi sinh thái của chúng Hệ số này gọi là trọng số
Trọng số Ki được xác định theo ma trận tam giác:
Bảng 1.1 Ma trận tam giác xác định trọng số các yếu tố
Trang 38+ Trọng số được tính theo công thức:
i i
i i
R
R K
1
5) Phân hạng mức độ thích nghi sinh thái
Để phân hạng mức độ thích nghi sinh thái các cảnh quan cần xây dựng bảng cơ sở đánh giá chung dựa vào kết quả tính điểm trung bình cộng Khi xây dựng bảng cơ
sở đánh giá chung, các nhà khoa học thường chia thành vài cấp, thường là 4, 5, 6, cấp Mỗi cấp tương ứng với những khoảng giá trị của điểm dánh giá chung
Khoảng điểm D của các cấp trong trường hợp lấy đều nhau được tính theo
công thức:
M
D D
Bảng 1.2 Bảng cơ sở đánh giá chung
1.5.4 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA)
Phương pháp này giúp phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại hình sản xuất [8] Vì vậy, dựa trên các công thức tính toán của phương pháp này để đánh giá mức độ hiệu quả của từng loại mô hình hệ KTST hiện có trong khu vực Krông Pa Từ đó chỉ ra mô hình mang lại lợi ích cao nhất cho người dân địa phương, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình hệ KTST tại đây
Trang 391.5.5 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Các dữ liệu trong quá trình nghiên cứu sẽ được mô hình hóa bằng các biểu
đồ, sơ đồ giúp các nội dung trình bày mang tính trực quan hơn, thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố được trình bày Phương pháp bản đồ được sử dụng để thể hiện các phân bố không gian của khu vực và các kết quả đánh giá phân hạng cảnh quan
Trang 401.5.6 Quy trình nghiên cứu
Kiến nghị và giải pháp
Định hướng sử dụng cảnh quan và xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái
Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái và hiệu quả kinh tế
Môi trường
3 Xây dựng bản đồ cảnh quan
4 Đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan
1 Mục tiêu Nhiệm vụ
Xác định nhu cầu thông tin và thu thập thông tin
2 Khảo sát thực địa Điều kiện tự nhiên Kinh tế - xã hội
Các loại hình sử dụng đất
Xã hội Thích nghi
sinh thái
Hiệu quả kinh tế
Bước 1
Bước 2
Bước 3