1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ khoa học môi trường và bảo vệ môi trường

99 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, đề tài:“ Đánh giá tổng hợp các iều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh” được thực hiện nhằm nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

DẢI VEN BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

DẢI VEN BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo T.S Bùi Thị Ngọc Dung là người trực tiếp hướng dẫn, đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo tận tâm và chu đáo trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới toàn thể các Thầy Cô giáo Bộ môn Sinh thái và Ban lãnh đạo Khoa Môi trường đã luôn quan tâm giúp đỡ tác giả và nhóm học viên K19 Sinh thái về điều kiện học tập tốt, nguồn tài liệu cũng như các ý kiến chuyên môn cho tác giả, để tác giả hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, nơi là nguồn cổ vũ, động viên lớn về mặt tinh thần giúp tác giả hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong cuộc sống

và trong khoa học nói riêng

Trang 4

Phan Thị Thanh Nhàn K19 Cao học Môi trường

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Các khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Dải ven biển 3

1.1.2 Phát triển bền vững 6

1.1.3 Nông nghiệp phát triển bền vững 8

1.2 Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở dải ven biển Việt Nam 10

1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên dải ven biển: 10

1.2.2 Các nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội ở dải ven biển 21

1.3 Các nghiên cứu về sử dụng đất ở dải ven biển Việt Nam và Hà Tĩnh 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.1 Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh 29

2.2.2 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh 29

2.2.3 Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát triển nông nghiệp bền vững 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

Trang 5

3.1 Đánh giá thực trạng và tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi

trường tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển Hà Tĩnh 31

3.1.1 Đánh giá các yếu tố về tự nhiên 31

3.1.2 Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội tác động lên dải ven biển Hà Tĩnh 42

3.1.3 Nhận xét chung 53

3.2 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác nông nghiệp hiện có ở dải ven biển Hà Tĩnh 56

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của vùng nghiên cứu 56

3.2.2 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất 58

3.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại sử dụng đất 65

3.2.4 Đánh giá mức độ thích hợp của vùng nghiên cứu với các loại sử dụng đất chính 76

3.3 Đề xuất các giải pháp để khai thác sử dụng bền vững đất ven biển của tỉnh Hà Tĩnh 78

3.3.1 Cơ sở khoa học đề xuất sử dụng dải ven biển Hà Tĩnh 79

3.3.2 Cơ sở lựa chọn các loại sử dụng đất bền vững 79

3.3.3 Kết quả đề xuất sử dụng bền vững đất cát ven biển tỉnh Hà Tĩnh 80

3.3.4 Giải pháp thực hiện các đề xuất: 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

DANH MỤC BẢNG

Trang 6

Bảng 1: Nhiệt độ không khí khu vực ven biển Việt Nam 13

Bảng 2: Đặc trưng gió dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế 14

Bảng 3: Phân bố mưa dải ven biển vùng Nghệ An - Thừa Thiên Huế 15

Bảng 4: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm (%) 22

Bảng 5: Dân số trung bình dải ven biển Việt Nam 24

Bảng 6: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất các huyện, thành phố thuộc vùng nghiên cứu 31

Bảng 7: Phân loại và quy mô diện tích các loại đất thuộc vùng nghiên cứu 36

Bảng 8: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010-2012 43

Bảng 9: Bảng so sánh giá trị sản xuất nông nghiệp 2008 -2010 44

Bảng 10: Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 45

Bảng 11 Năng suất 1 số cây trồng chính ở dải ven biển Hà Tĩnh 46

Bảng 12: Sản lượng thủy sản theo các năm của vùng nghiên cứu 46

Bảng 13: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giai đoạn 2008 - 2012 47

Bảng 14: Diện tích trồng mới tập trung phân theo loại rừng (ha) 48

Bảng 15: Diện tích, dân số, mật độ dân số vùng nghiên cứu 50

Bảng 16: Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo loại hình kinh tế và phân theo ngành kinh tế 50

Bảng 17: Lao động từ 15 tuổi đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 51

phân theo thành thị nông thôn 51

Bảng 18: Tỷ lệ thất nghiệp phân theo thành thị, nông thôn ở Hà Tĩnh 51

Bảng 19: Hiện trạng sử dụng đất ven biển tỉnh Hà Tĩnh 56

Bảng 20: Các loại sử dụng đất trên vùng nghiên cứu 59

Bảng 21: Hiệu quả kinh tế của LUT1 65

Bảng 22: Hiệu quả kinh tế LUT2 66

Trang 7

Bảng 23: Hiệu quả kinh tế LUT3 67

Bảng 24: Hiệu quả kinh tế LTU4 68

Bảng 25: Hiệu quả kinh tế của LUT 5 68

Bảng 26: Hiệu quả kinh tế của LUT 6 70

Bảng 27: Hiệu quả kinh tế LUT 7 71

Bảng 28: Hiệu quả kinh tế LUT 9 73

Bảng 29: Tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất 74

Bảng 30: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 75

Bảng 31: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất 75

Bảng 32: Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 76

Bảng 33: Kết quả phân hạng thích hợp đất cát ven biển tỉnh Hà Tĩnh 77

Bảng 34: Đề xuất sử dụng bền vững đất ven biển tỉnh Hà Tĩnh 80

DANH MỤC HÌNH Hình 1 : Sơ đồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững 7

Hình 2: Bản đồ đất dải ven biển Hà Tĩnh 38

Hình 3: Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 – 2012 44

Hình 4: Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 45

Hình 5: Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm 52

Hình 6: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất dải ven biển Hà Tĩnh 57

Hình 7: Bản đồ đề xuất sử dụng đất dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh 81

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

1 DVB: Dải ven biển

2 IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế

3 LLSX: Lực lượng sản xuất

4 ASEAN: Hiệp hội các quốc gia khu vực Đông Nam Á

5 PTBV: Phát triển bền vững

6 GIS: Hệ thống thông tin địa lý

7 FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp

8 DT, DTTN: Diện tích tự nhiên

9 LUT: Loại sử dụng đất

10 BVTV: Bảo vệ thực vật

11 CNNN: Công nghiệp ngắn ngày

12 TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

13 TPCG: Thành phần cơ giới

14 VQG: Vườn quốc gia

15 RNM: Rừng ngập mặn

16 HST: Hệ Sinh Thái

17 CNH, HĐH, CN: Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, Công nghiệp

18 GTGT: Giá trị gia tăng

19 DHBTB: Duyên hải Bắc Trung bộ

Trang 9

Phan Thị Thanh Nhàn K19 Cao học Môi trường

mà nơi khác không có

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, là một địa bàn nhạy cảm với các biến đổi khí hậu,có 137km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế - xã hội Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi cho quá trình sản xuất và hoạt động sống của con người

Do dải ven biển là nơi sinh sống của hàng triệu cư dân nghèo, luôn chịu áp lực của sóng gió, cảnh sạt lở bờ nghiêm trọng hàng năm Nhiều khu dân cư phải di dời do mất đất sống, nhiều bãi biển du lịch vốn nổi tiếng đã mất đi, nhiều thất thoát nhà cửa, tài sản và cả mạng sống đã xảy ra Mặc dù sự tàn phá hệ sinh thái đã xảy mãnh liệt và triền miên, nhưng vẫn còn những quần thể sinh vật như một minh chứng khoa học và thực tiễn cho những ai quan tâm đến môi trường sinh thái, đồng thời cũng là nơi cung cấp nguồn vật liệu để phục hồi hệ sinh thái ven bờ theo hướng phát triển bền vững

Chính vì vậy, đề tài:“ Đánh giá tổng hợp các iều kiện tự nhiên - kinh tế

xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh” được thực hiện nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của điều kiện tự

nhiên và kinh tế - xã hội đến khai thác sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệp là đòi hỏi hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi

trường

2 Nội dung nghiên cứu

Trang 10

- Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh

- Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh

- Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát

triển nông nghiệp bền vững

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dải ven biển tỉnh

Hà Tĩnh đến phát triển nông nghiệp

- Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển Hà Tĩnh

\

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm c bản

1.1.1 Dải ven biển

Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển,…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa, Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về dải ven biển

và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và khoa học kinh tế [8] Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương thuật ngữ “dải ven biển” là:

- Nga: Vùng duyên hải

- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)

- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)

- Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải

Theo Word Bank thì vùng ven biển (Coastal zone) là nơi chuyển tiếp giữa đất

và đại dương, bao gồm môi trường bờ và nước biển Thành phần của nó có thể bao gồm vùng đồng bằng ven sông, đồng bằng ven biển, vùng đất ngập nước, bãi biển, cồn cát, rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, khác tính năng ven biển.[27]

Khái niệm vùng bờ: Vùng bờ biển (coastal area), gọi tắt là vùng bờ, là mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên (natural system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên

bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các bên liên quan trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác Vì thế, vùng bờ còn được gọi là đới tương tác và các hệ sinh thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ Thế nhưng trong thực tiễn quản lý vùng bờ, người ta (các nhà quản lý và người dân)

Trang 12

thường rất ít để ý đến mối quan hệ bản chất này [Đầu tư cho các Hệ sinh thái Vùng bờ biển - IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế)]

Ngoài ra, trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Nam Á khi đề cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các nước ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước

Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến các vùng ven biển và cho rằng: “ Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn” Cách hiểu này tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên ven biển Song đối với các nghiên cứu về dân cư, kinh tế xã hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu nhập và tính toán các số liệu thống kê.[10]

Quan niệm việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới dải ven biển của mỗi nước cũng khác nhau Ngoài ra, trong từng lĩnh vực khoa học khác nhau cũng có những khái niệm riêng về dải ven biển và cách tiếp cận riêng để xác định phạm vi ranh giới của dải ven biển

Ở nước ta, khái niệm về dải ven biển đã được đề cập từ lâu dưới nhiều góc độ khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Đặc biệt, từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, trong những công trình khoa học liên quan đến biển và ven biển nước ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về dải ven biển và các phương án khác nhau để xác định ranh giới của dải ven biển khác Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:

Trong các báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chương trình điều tra nghiên cứu biển của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “Vùng

Trang 13

ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước,…” Theo cách hiểu như trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ biển Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu kinh tế - xã hội và dân cư rất thuận lợi Song cũng có những hạn chế, vì những hiện tượng và đối tượng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nước làm ranh giới của vùng ven biển.[10]

Trong đề tài “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005”, mã số 48B.06.02, do Viện Kế hoạch dài hạn

và phân bố LLSX thực hiện (1986 - 1990), các tác giả đã xác định Vùng ven biển bao gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các huyện ven biển (từ Bắc xuống Nam có 105 huyện ven biển thuộc 24 tỉnh thành và đặc khu trong

đó có 3 thành phố thị xã và 5 huyện đảo, với diện tích 5,9 triệu ha, bằng 18,1% diện tích lãnh thổ cả nước) và phần trên biển gồm toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m trở vào)

Trong đề tài KT.06.07 “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp vùng

bờ biển Việt Nam, góp phần đảm bảo an toàn môi trường và phát triển bền vững” thuộc Chương trình điều tra nghiên cứu biển giai đoạn 1996 - 2000 do Phân viện Hải dương học tại Hải phòng thực hiện (1996 - 2000), các tác giả đã đưa ra một khái niệm tổng quát về đới bờ biển (hay dải ven biển) như sau: đới bờ biển là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới rộng và nhạy cảm và là một hệ thống tự nhiên đặc trưng bởi các quá trình tương tác; một khu vực có tiềm năng tài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các hoạt động của con người

Về phạm vi ranh giới của đới biển, các tác giả cho rằng có nhiều cách phân định khác nhau phụ thuộc vào các quan niệm và mục đích của các hoạt động quản lý Trên quy mô toàn cầu, người ta thường xác định giới hạn về phía lục địa của đới bờ biển là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủy triều; giới hạn về phía biển là thềm lục địa Còn ở quy mô một quốc gia thì đới bờ biển có không gian hẹp hơn Về phía lục địa là đường nối các điểm còn chịu tác động của biển như: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều,… Ở nơi khác thì lấy điểm cách đường

Trang 14

bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con người có thể tác động trực tiếp đến môi trường cửa sông ven biển Còn về phía biển là đường thẳng sâu bằng một phần hai bước sóng (thường nằm giữa 30 - 50m nước) Tại khu vực này, sóng biển có thể tác động trực tiếp làm biến cải địa hình đáy

Tóm lại, với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về dải ven biển và phương pháp xác định ranh giới dải ven biển Trong đó, phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên căn cứ về tự nhiên Riêng một số nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh giới hành chính Việc phân định ranh giới dải ven biển nhằm mục đích xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần được xem xét trong mối quan

hệ thống nhất giữa các điều kiện tự nhiên, sinh thái với các điều kiện xã hội nhân văn

và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực

1.1.2 Phát triển bền vững

1.1.2.1 Khái niệm

Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo “Tương lai của chúng ta” của ủy ban Môi Trường và phát triển của ngân hàng thế giới (WB) Do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thống nhất

và hoàn chỉnh Một số khái niệm Khoa học Môi trường về “Phát triển bền vững”:

- Tại hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug đã xác định:

“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường (Hình 1).[15]

Trang 15

Hình 1 : S ồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững

Hiện nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của WB được sử dụng rộng rãi hơn cả: “Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”

1.1.2.2 Cơ sở của Phát triển bền vững

Cơ sở của phát triển bền vững là giảm hết mức việc làm cạn kiệt tài nguyên môi trường: đất, nước ngọt, các thủy vực, khoáng sản,… Đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng tài nguyên không tái tạo được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc thay thế chúng

Bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loài động vật, thực vật nuôi trồng cũng như hoang dã Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng quản lý phương thức và mức độ sử dụng, làm cho các nguồn tài nguyên vẫn còn có khả năng hồi phục

Duy trì các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo cho cuộc sống cộng đồng và nên nhớ rằng sức chịu đựng của các hệ sinh thái trên Trái đất là có hạn

Nếu có điều kiện thì duy trì các hệ sinh thái tự nhiên Hoạt động trong khả năng chịu đựng của Trái đất Phục hồi lại môi trường đã bị suy thoái, giữ gìn sự cân bằng các hệ sinh thái.[15]

1.1.2.3 Các chỉ tiêu phát triển bền vững

Trang 16

Để so sánh, nhận xét, đánh giá mức độ phát triển bền vững có thể sử dụng một

số chỉ tiêu mang tính định lượng

Có thể phân thành hai nhóm chỉ tiêu:

- Chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống: đó là các chỉ tiêu phát triển con người (HDI), bao gồm:

+ Thu nhập quốc dân tính theo đầu người, biểu thị bằng các chỉ số GDP + Tuổi thọ bình quân đối với nam giới và nữ giới

+ Học vấn hiển thị bằng tỉ lệ mù chữ, tỉ lệ người có trình độ trung học, đại học và trên đại học

+ Tự do trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

+ Chất lượng môi trường, mức độ ô nhiễm nặng, vừa và không ô nhiễm

- Chỉ tiêu về tính bền vững sinh thái: Một xã hội được coi là bền vững sinh thái khi:

+ Nó bảo tồn hệ sinh thái phụ trợ cuộc sống và đa dạng sinh học

+ Đảm bảo rằng việc sử dụng tài nguyên tái tạo được là bền vững và giảm thiểu việc làm suy thoái tài nguyên không tái tạo được

+ Nằm trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái phụ trợ

1.1.3 Nông nghiệp phát triển bền vững

1.1.3.1 Khái niệm

Theo định nghĩa của TAC/CCIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công của tài nguyên thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên.[16]

Những vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp bền vững là: bảo vệ môi trường đất, nước và khởi xướng một số hệ thống canh tác bền vững với mục đích kiến tạo một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn

Trang 17

những nhu cầu của con người mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường được thực hiện trên các mô hình canh tác tổng hợp, canh tác bền vững trên đất dốc, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp,…

1.1.3.2 Các nguyên lý phát triển nông nghiệp bền vững

- Quản lý đất bền vững:

Mục tiêu để sử dụng đất theo những cách đảm bảo thu được những lợi ích lâu bền nhất Cách để làm giảm thiểu các mâu thuẫn và đạt được kết quả tốt nhất là liên kết

để phát triển kinh tế và xã hội với vấn đề củng cố và bảo vệ môi trường

Quản lý đất bền vững tùy thuộc vào từng loại đất cụ thể Ở những nơi đất ổn định, phì nhiêu thì việc trồng cây và quản lý canh tác sẽ theo phương thức bền vững, bù

đủ lượng dinh dưỡng trong các sản phẩm thu hoạch và cây trồng mang theo Còn những vùng đất xấu cần xác định những phương thức quản lý và sản xuất thích hợp Biện pháp quản lý đất bền vững nhằm tránh sự thoái hóa đất, duy trì độ phì chính dựa vào Quy trình quản lý tốt nhất (Best Management Practice - BMP) Quy trình này bao gồm:

- Bảo vệ cấu trúc đất và hàm lượng hữu cơ của đất

Trang 18

thuật trồng trọt; tối ưu việc sử dụng phòng trừ sinh học; sử dụng hạt giống công nhận;

xử lý hạt giống; sử dụng hạt giống/vật liệu nhân giống sạch bệnh; điều chỉnh thời vụ gieo trồng; hợp lý về thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; làm vệ sinh đồng ruộng khi bị nhiễm sâu bệnh,

- Quản lý công nghệ sinh học:

Công nghệ sinh học là quá trình sử dụng các kiến thức truyền thống và công nghệ hiện đại nhằm làm thay đổi vật chất gen trong thực vật, động vật, vi sinh vật và tạo ra các sản phẩm mới

Công nghệ sinh học đáp ứng các cơ hội mới mang tính toàn cầu giữa các nước giàu về kiến thức công nghệ này với các nước đang phát triển giàu về tài nguyên sinh vật nhưng thiếu vốn và kiến thức để sử dụng các tài nguyên đó Công nghệ sinh học cung cấp nguồn năng lượng tái sinh và các nguyên liệu thô sơ từ các chất thải hữu cơ

và vật chất thực vật Xử lý các chất thải hóa học hữu cơ theo cách rẻ hơn và hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống Phát triển các giống cây mọc nhanh có năng suất cao, đặc biệt là cây cho củi đốt Điều quan trọng là kỹ thuật mới phải không được phá vỡ tính tổng hòa về môi trường hoặc làm tăng thêm các mối đe dọa cho sức khỏe Người dân phải nhận thức được những lợi ích và những rủi ro của công nghệ sinh học

Đó là một nhu cầu đòi hỏi đối với những nguyên tắc đã được thỏa thuận quốc tế về đánh giá rủi ro và quản lý mọi khía cạnh của công nghệ sinh học

Số dân nghèo trên thế giới hiện sống tập trung hầu hết ở vùng nông thôn và phương kế sinh nhai của họ thường gắn với nông nghiệp Do đó, thúc đẩy sự phát triển nông thôn thông qua nông nghiệp được thể hiện qua chính sách phát triển của nhiều quốc gia Dựa theo tổ chức phát triển Canada (CIDA) đã đặt ra theo hai hướng: bền vững về phương kế sinh sống và sự lành mạnh của hệ sinh thái.[15] [16]

1.2 Các nghiên cứu về iều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở dải ven biển Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên dải ven biển:

Dải ven biển là một hệ thống tự nhiên phức tạp có giá trị tài nguyên đặc thù khác hẳn với các vùng lục địa và các vùng biển lân cận Dải ven biển có các thuộc tính

cơ bản sau:

Trang 19

- Là một hệ tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập nhưng không cô lập

- Có cấu trúc mang tính chuyển tiếp rõ rệt giữa lục địa và biển

- Có cấu trúc dị phân phức tạp, gồm nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như các hệ cửa sông, đầm phá, các hệ sinh thái,…

- Có mối tương tác và quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần bên trong hệ (hay các quá trình nội tại của hệ)

- Có hệ sinh thái rất đa dạng và tài nguyên thiên nhiên phong phú, tạo điều kiện

để phát triển đa ngành, nhưng cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa các ngành trong việc khai thác sử dụng tài nguyên

- Là khu vực tập trung dân cư đông đúc và có các hoạt động kinh tế - xã hội rất sôi động

- Có chức năng to lớn về môi trường và sinh thái nhưng rất nhạy cảm, dễ bị tác động và tổn thương

Có thể nói dải ven biển là một khu vực thường xuyên biến đổi, hết sức nhạy cảm đối với các tác động tự nhiên cũng như tác động của con người Mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con người diễn ra ở ngoài biển và trên các khu vực lân cận trong chừng mực nhất định đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên dải ven biển.[15]

1.2.1.1 Địa chất:

Đặc điểm địa chất của dải ven biển Việt Nam khá phức tạp Mặc dù diện tích không lớn nhưng ở đây có mặt hầu như tất cả các thành tạo địa chất của lãnh thổ Việt Nam với tuổi từ cổ đến trẻ nhất Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo có thể chia dải ven biển Việt Nam thành 6 vùng địa chất sau:

- Vùng Đông Bắc Bắc Bộ: chủ yếu là đá trầm tích trung sinh, trong đó có trầm tích chứa than điệp Hòn Gai; đá vôi Devon và các Cacbon-pecmi; phương cấu trúc theo hướng Đông - Bắc

- Vùng đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa: chủ yếu là các trầm tích bở rời đệ tứ, phương cấu trúc địa chất cắt gần thẳng góc với đường bờ

Trang 20

- Vùng Bắc Trung Bộ: có trầm tích Đệ tứ tại các đồng bằng ven biển và các đá

Cổ sinh, Trung sinh ở vùng đồi núi; phương cấu trúc cắt đường bờ thành một góc nhọn

- Vùng Trung Trung Bộ: có các đá biến chất nguyên sinh và cổ sinh hạ, trầm tích trẻ phân bố hạn chế; phương cấu trúc phức tạp, bị đường bờ biển cắt với các góc khác nhau

- Vùng Nam Bộ: chủ yếu là các trầm tích bở rời trẻ, tuổi đệ tứ

lý, tránh những tác động có hại của các quá trình ngoại sinh, đồng thời cần bảo vệ lớp phủ thực vật để bảo vệ lớp phủ thổ nhưỡng

- Nhóm kiểu địa hình đồi (gồm 4 kiểu): được tách ra khỏi các địa hình khác bởi

độ chênh lệch cao từ 10 – 150m Địa hình đồi có nguồn gốc xâm thực – bóc mòn phát triển trên các bề mặt peliment hoặc thềm song, biển thuộc đới chuyển tiếp giữa vùng nâng và hạ Từ Nam đèo Hải Vân trở vào, điển hình là Ninh Thuận, Bình Thuận và Đông Nam Bộ, thường là các dãy đồi mạng lưới xâm thực thưa có máng trũng, xâm thực kéo dài

Nhìn chung, nhóm địa hình này có diện phân bố khá lớn và khá thích hợp cho phát triển các cây công nghiệp dài ngày (chè, cafe) hoặc cây màu…Tuy nhiên trong quá trình khai thác cần có các biện pháp canh tác hợp lý, tránh phá hủy cân bằng của trắc diện sườn, gây xói mòn, thoái hóa đất và các quá trình mương xói nhất là đối với dạng đồi bát úp

- Nhóm địa hình đồng bằng (có 16 kiểu): gồm hai phụ nhóm là đồng bằng tích

tụ trên các trũng tân kiến tạo và đồng bằng tích tụ, tích tụ - bóc mòn trên rìa miền nâng

Trang 21

Đối với địa hình đồng bằng trên các trũng vòng tân kiến tạo ra các đồng bằng delta lớn, rất thuận tiện cho phát triển nông nghiệp, trước hết là lúa và cây công nghiệp ngắn ngày Nhưng trong quá trình khai thác sử dụng cần đề phòng bị tái nhiễm mặn Riêng nhóm địa hình đồng bằng rìa miền nâng thường nhỏ hẹp, song có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp, rau, màu các loại,… Tuy nhiên đối với nhóm địa hình này cần có các biện pháp để hạn chế quá trình rửa trôi (do lũ), thoái hóa đất và chống cát bay, cát nhảy…

- Nhóm địa hình bãi biển và bờ (gồm 6 kiểu): chịu tác động trực tiếp của biển thông qua dao động của mực nước thủy triều được xếp vào nhóm địa hình bãi, bị ngập nước lúc triều lên và phơi ra lúc triều rút Nhóm địa hình này có khả năng nuôi trồng thủy hải sản (tôm, cá nước lợ, rau câu,…) và xây dựng các cơ sở du lịch - nghỉ dưỡng, song cần chú ý đến vấn đề cấp nước ngọt.[17] [18]

1.2.1.3 Khí hậu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động đan xen nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa, sự tương tác biển – lục địa, điều kiện địa hình, đặc điểm đường bờ biển,… dải ven biển Việt Nam có khí hậu rất đặc sắc của chế độ khí hậu miền duyên hải với sự phân hóa rõ rệt của chế độ nhiệt và chế độ mưa

ẩm

a Chế độ nhiệt

Dải ven biển Việt Nam nằm trải dài trên 15 vỹ độ (từ 800 – 2300 vỹ Bắc) nên chế độ nhiệt bị phân hóa mạnh theo không gian và thời gian Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động từ 23oC - 24oC ở phía bắc và khoảng 24oC - 26oC ở phía nam Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thay đổi không lớn, cao nhất đạt 42,1oC ở ven biển Nam Trung Bộ và giảm xuống 38oC về phía Bắc Bộ và Nam Bộ (Bảng 1).[11]

Về mùa đông, do hoạt động của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ không khí hạ thấp một cách rõ rệt làm cho nền nhiệt ở ven biển phía Bắc Vịnh Bắc Bộ giảm đáng kể Tại đây hàng năm có tới 3 tháng lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 18oC ) Ven biển từ Thanh Hóa trở vào đến Bắc Đèo Ngang chỉ có 1 - 2 tháng lạnh và ven biển từ Quảng Bình đến Bắc đèo Hải Vân không có tháng lạnh nào

Bảng 1: Nhiệt ộ không khí khu vực ven biển Việt Nam

Trang 22

Khu vực ven biển Nhiệt ộ TB Thấp nhất Cao nhất

1 Từ Quảng Ninh – Thanh Hóa 32,20C 5,00 C 37,80C

2 Từ Nghệ An – Thừa Thiên Huế 24,30C 7,50C 39,90C

3 Từ Quảng Nam – Khánh Hòa 26,00C 110C 42,10C

4 Từ Ninh Thuận – Cà Mau 25,90C 12,40C 38,40C

Bảng 2: Đặc trưng gió dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế

[Niên giám thống kê 2012]

So với nhiều khu vực khác trong nội địa, tốc độ gió ở dải ven biển thường cao hơn hẳn, trung bình 2m/s, nhiều nơi đạt tới 4m/s Đặc biệt ở những khu vực có bão hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt động, tốc độ gió rất cao có thể đạt tới 45 - 50m/s hoặc trên 50m/s

Tốc độ gió trung bình tăng dần từ Bắc xuống Nam; ngược lại, tốc độ gió cực đại giảm dần Càng xuống phía nam tính ổn định càng cao hơn Tuy nhiên, do địa hình bờ biển và địa hình dãy Trường Sơn nên khu vực ven biển từ Nghệ An đến Thừa Thiên

Trang 23

Huế có hướng gió kém ổn định hơn và gió thịnh hành thường lệch hướng với hướng chính của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam (bảng 2) [11]

c Chế độ mưa

Trên lãnh thổ Việt Nam, VQG Bạch Mã - Bà Nà thuộc dải ven biển có lượng mưa lớn nhất với tổng lượng mưa lớn nhất trung bình trên 3.200mm/năm - lớn nhất có thể đạt 5.185mm/năm Cơ chế mùa mưa ở dải ven biển rất đa dạng Mùa mưa bắt đầu muộn nhất ở ven biển Trung Bộ và sớm dần về hai phía Bắc và Nam Các khu vực ven biển có lượng mưa biến động từ 800 đến 3000mm/năm Dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế có các tháng mưa tập trung vào tháng 9, 10, 11 với lượng mưa trung bình là 2.325mm/năm

Do ảnh hưởng hoàn lưu gió mùa, đặc biệt là gió mùa mùa đông, tại dải ven biển xuất hiện các kiểu “mưa trái mùa” như mưa từ mùa hè sang mùa thu, hoặc mưa từ cuối thu kéo dài sang đầu đông Chế độ mưa cũng rất khác nhau giữa các vùng và giữa chúng có những vùng chuyển tiếp, thể hiện sự chuyển dịch giữa hai chế độ mùa mưa

Sự khác biệt trong cơ chế mùa mưa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chỉ đạo phát triển sản xuất nông, ngư nghiệp ở dải ven biển Tại những khu vực khác nhau, do ảnh hưởng của chế độ mưa nên mùa vụ sản xuất nông nghiệp cũng như mùa vụ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng rất khác nhau

Bảng 3: Phân bố mưa dải ven biển vùng Nghệ An - Thừa Thiên Huế

Vùng bờ

biển

Đặc trưng mưa Lượng mưa

TB năm (mm)

Số ngày mưa trong năm

Lượng mưa lớn nhất (mm)

Lượng mưa nhỏ nhất (mm)

Các tháng mùa mưa (>100mm)

Các tháng mưa hông tập trung

Khu vực ven biển Bắc Trung Bộ gồm hàng loạt các đồng bằng nhỏ kế tiếp nhau

Do địa hình đồi núi kề ngay gần đồng bằng nên ảnh hưởng của thủy triều đến các sông trong vùng không lớn Chế độ triều phức tạp, biên độ triều trung bình từ 1,2 - 2,5m , tốc

độ truyền triều không lớn, mặt khác các sông ở đây thường hẹp, ngắn và dốc nên nên

Trang 24

sự tiết giảm của triều dọc sông diễn ra nhanh Nhìn chung, khu vực ven biển Bắc Trung

Bộ có dòng chảy mặt khá dồi dào Mô đun dòng chảy dao động từ 30 - 50l/s km2, cá biệt ở Huế, mô đun dòng chảy đạt xấp xỉ 60 - 70l/s km2, thuộc loại lớn nhất trong khu vực Tại đây thành phần thủy văn lục địa có vai trò lớn hơn các thành phần khác trong tổng thể chế độ nước ven bờ của khu vực

1.2.1.5 Thổ nhưỡng

Dải ven biển là khu vực chịu tác động đan xen của hàng loạt các yếu tố tự nhiên

và kinh tế xã hội nên lớp phủ thổ nhưỡng rất phong phú về chủng loại và phức tạp về tính chất Theo kết quả phân loại thổ nhưỡng, tại dải ven biển Việt Nam có 15 nhóm đất chính với 37 loại đất Dưới đây là các nhóm đất tiêu biểu phân bố ở khu vực Bắc miền Trung [7][16][24]

a Nhóm đất cát biển:

Nhóm đất cát biển có diện tích 1,2 triệu ha, phân bố rộng khắp dọc ven biển Quảng Ninh đến Kiên Giang dưới dạng các bãi cát và đụn cát nhưng tập trung nhiều nhất ở ven biển Ninh Thuận và Bình Thuận

Đất cát biển thường phân bố ở các dải cát dài, hẹp, cao so với đồng bằng, có thành phần cơ giới nhẹ (cát chiếm 90 - 95%) Các chất dinh dưỡng trong đất rất nghèo, mùn chỉ có 0,9%, đạm, lân tổng số rất nghèo, đất chua, độ pH thấp, xấp xỉ 4, khả năng giữ nước giữ màu kém,… nên năng suất cây trồng thấp

Mặc dù có những hạn chế nhưng do thành phần cơ giới nhẹ, nên dễ canh tác, có thể trồng nhiều cây hoa màu, lương thực, công nghiệp, ăn quả Tuy nhiên trong quá trình canh tác phải tăng cường bón phân cải tạo đất

b Nhóm đất mặn

Diện tích 981ha, phân bố hầu hết ở các tỉnh ven biển nhất là Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,… Đất phát sinh trên phù sa mới bồi vùng ven biển nên tỷ lệ muối clorua cao Đất thường có độ phì lớn, thành phần cơ giới trung bình với thịt nặng,

pH từ 6 - 7,5 Đất này thường hạn chế cây trồng, song nếu rửa mặn được thì có khả

năng sản xuất cao

c Nhóm đất phù sa

Trang 25

Đất phù sa có diện tích 645,6 ngàn ha phân bố ở các vùng đồng bằng ven biển Vùng đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Phú Yên đất được hình thành trên sự bồi đắp phù sa của các sông

Mã, sông Lam, sông Kiên Giang, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông Vệ và sông Ba

Nhìn chung, đất sét có sự phối hợp rất hài hòa giữa các cấp hạt với một tỷ lệ sét vừa phải (khoảng 20 - 25%) và tỷ lệ limon thích hợp (cấp hạt 0,05 - 0,01mm chiếm khoảng 50%) Đất có thành phần cơ giới thường là thịt nhẹ, ít chua tới trung bình, độ

pH từ 6,0 - 6,5 Đặc điểm nổi bật của đất phù sa là giàu cation kiềm thổ (Ca và Mg), phổ biến là lớn hơn 100lđl/100g đất, nên độ no của đất luôn cao Lân trong đất khá giàu, trung bình đạt 0,11% - 0,15% Đây là loại đất màu mỡ của dải ven biển, thích hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên, trong quá trình canh tác trên đất này cần tính toán

kỹ thời vụ gieo trồng

d Nhóm đất xám – bạc màu

Đất xám – bạc màu có diện tích 381,7 ngàn ha, thường phân bố ở các vùng tiếp giáp giữa đồng bằng phù sa mới và vùng đồi trên các thềm bậc hai hoặc ba, hoặc trên các dốc tụ, thường rửa trôi theo bề mặt và chiều sâu Đất thường có độ chua pH (ít khi vượt quá 4,7 ở tầng đất mặt), nghèo đạm, lân, kali Tỷ lệ C/N ở tầng mặt thường lớn hơn 12 Đất này cần được cải tạo bằng nhiều biện pháp kỹ thuật tổng hợp, tăng cường bón phân hữu cơ, bón vôi, phân khoáng kết hợp với cày sâu hợp lý và áp dụng chế độ luân canh có cây họ đậu

Tầng than bùn ở đất than bùn dày từ 50cm đến 120cm, được hình thành do sự tích tụ xác lá cây, cỏ lâu ngày Đất thường bị glay mạnh, bí, quá trình phân giải chất hữu cơ rất chậm, có phản ứng chua hoặc rất chua, rất giàu hữu cơ Đất than bùn có thể khai thác làm phân hữu cơ bón cho cây trồng

Trang 26

f Nhóm đất đỏ vàng

Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất, khoảng 2,15 triệu ha, chiếm tới 45% diện tích tự nhiên dải ven biển Đất chủ yếu phân bố ở các vùng đồi và núi thấp ven biển, nơi có độ cao dưới 1000m Trong nhóm đất đỏ vàng có các loại đất chính sau:

+ Đất nâu đỏ phát triển các đá Bazan, các đá macma trung tính và bazo khác….tại các địa hình đồi đỉnh bằng, thấp thoải hoặc lượn sóng thuộc các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng trị và Phú Yên Nhìn chung đất Bazan có tầng đất sâu (từ 1,2 đến

5 – 10m), tầng mùn khá dày (30 - 40m), tỷ lệ mùn khoảng 4 – 5% giàu đạm, lân, đất tơi xốp, thoáng khí, có độ phì cao, có thể trồng hoa, màu và các loại cây công nghiệp có giá trị như cà phê, cao su, chè,…

+ Đất đỏ nâu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá vôi ở ven biển Ninh Bình và Bắc Quảng Bình Đất có tầng dày 0,6 - 1,2m, thành phần cơ giới nặng, đất tơi xốp, độ ẩm tương đối, độ phì nhiêu trung bình, nhưng thường chua

+ Đất vàng đỏ phát triển trên các đá macma axit phân bố khá tập trung ở các vùng đồi, núi thấp rìa các đồng bằng ven biển từ Nghệ An đến Khánh Hòa Đất vàng

đỏ thường có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt cát hơi khô Đất thường nhiều sỏi sạn, có cấu trúc rời rạc, khả năng giữ nước, giữ màu kém, độ phì nhiêu từ kém đến trung bình

+ Đất vàng nhạt trên đá cát phân bố ở Quảng Ninh, vùng đồi Nghệ An – Hà Tĩnh và phía Bắc Quảng Bình…, có tầng mỏng (0,3 – 0,6m), thành phần cơ giới rất nhẹ, rất chua, kém phì nhiêu Đất rất dễ bị rửa trôi, xói mòn và khả năng giữ nước, giữ màu rất kém

Nhìn chung, các loại đất feralit ở dải ven biển thường có độ phì nhiêu thấp hơn các loại đất tương ứng ở vùng đồi núi, tầng đất thường mỏng và lẫn nhiều sỏi, sạn Vì vậy, vấn đề bảo vệ rừng ở các vùng đất này là bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái có nguy cơ bị suy thoái, đặc biệt ở khu vực ven biển miền Trung là hết sức cấp bách

g Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 237.800ha, phân bố trên tất cả các độ cao của vùng đồi ven biển các tỉnh: Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận,… Do bị xói mòn

Trang 27

rửa trôi mạnh nên đất có tầng dày rất mỏng hoặc chỉ còn rất ít ở các hốc đá, do vậy nếu rừng ở đây bị phá hủy thì rất khó hoặc không thể phục hồi được

1.2.1.6 Các hệ sinh thái ở vùng ven biển

a Hệ sinh thái rạn san hô

San hô là những sinh vật tương đối đơn giản, chúng tồn tại ở khắp các vùng biển nông cũng như sâu Chúng là những cá thể hình trụ rất nhỏ (gọi là polyp) có hàng xúc tu ở trên đầu để bắt mồi trong môi trường nước và được xếp vào lớp san hô (Anthozoa), ngành động vật ruột khoang (Coelenterata) trong hệ thống phân loại động vật

Rạn san hô là một trong những hệ sinh thái đặc sắc của biển Việt Nam, nơi có

đa dạng sinh học rất cao, năng suất sơ cấp lớn, cảnh quan kỳ thú Các rạn san hô của Việt Nam phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam trên diện tích khoảng 1.222km2, tập trung nhiều ở vùng biển Nam Trung bộ, quần đảo Hoàng Sa và Trường sa

San hô Việt Nam rất đa dạng và phong phú với khoảng 350 loài tạo rạn kèm theo khoảng 3.000 loài sinh vật khác có đời sống liên quan và gắn bó với vùng rạn san

hô Trong đó, có khoảng 2.000 loài sinh vật đáy, 500 loài cá và nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm hùm (Panulirus), bào ngư (Haliotis diversicolor), trai ngọc (Pteria martensi), hải sâm (Holothuria), sống gắn bó trực tiếp với san hô

Trong 15 năm trở lại đây, các tỉnh ven biển miền Trung và một số đảo có người sinh sống thuộc quần đảo Trường Sa có độ phủ trên rạn san hô đang bị giảm dần theo thời gian, nhiều nơi độ phủ giảm trên 30% Điều này cho thấy rạn san hô đang bị phá hủy và có chiều hướng suy thoái mạnh Sự biến đổi diện tích và những tổn thương của nhiều rạn san hô gây nhiều thiệt hại cụ thể như sự giảm đa dạng sinh học; sinh thái và chất lượng môi trường biển; mất kế sinh nhai của cộng đồng vùng ven biển và thiệt hại cho ngành du lịch và thủy sản

Trang 28

dạng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tương đối cao, nhưng thấp hơn so với rừng mưa nhiệt đới trên lục địa và rạn san hô

Trước năm 1987, rừng ngập mặn phân bố ở ven biển nước ta khoảng trên 400.000 ha (miền Nam 250.000 ha) Sau năm 1987 còn lại 252.500 ha với trên 94 loài thực vật ngập mặn, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long (191.800 ha), vùng cửa sông ven biển miền Bắc (46.400 ha) và ở miền Trung khoảng 14.300 ha Trong đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều động vật thủy sinh có giá trị kinh tế cao Tập trung ở phần lớn ở các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu,…

Rừng ngập mặn (RNM) có các chức năng sinh thái và giá trị kinh tế rất quan trọng như: bảo vệ bờ biển khỏi xói lở; bảo vệ các thảm cỏ biển và rạn san hô ở ngoài biển ven bờ; nơi sinh nở và cư trú của nhiều loài thuỷ hải sản (cá, tôm, cua bùn); nơi cung cấp thực phẩm và duy trì đời sống sinh vật biển; địa điểm du lịch sinh thái tiềm năng; bảo vệ các vùng đất khai hoang lấn biển; do bộ rễ chùm đặc biệt RNM là “chiếc bẫy” tự nhiên phù sa và các chất gây ô nhiễm từ lục địa mang ra Giá trị kinh tế thu được từ cá và gỗ rừng ngập mặn ở nước ta chừng 6.000 USD/ha/năm Tuy nhiên, rừng ngập mặn ở Việt Nam, điển hình ở Hà Tĩnh đang ngày càng bị thu hẹp, hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng 500 ha Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do con người tàn phá, cộng với tình trạng cây bị sâu bọ, hàu, hà ăn gốc Ngoài ra, do thổ nhưỡng Hà Tĩnh không phù hợp với một số loại cây trồng Ở một số xã thuộc huyện Lộc Hà và Thạch Hà, số diện tích rừng ngập mặn bị chết còn do nguyên nhân ngọt hóa sông Nghèn

c Thảm cỏ biển

Hệ sinh thái thảm cỏ biển – ngôi nhà quan trọng của các loài sinh vật biển HST này gồm các thực vật thuỷ sinh bậc cao (Hydrophytes), nhóm có hoa (Anthophyta) thích nghi sống ngập nước biển với môi trường độ muối cao, chịu được lực tác động của sóng gió, thuỷ triều và có khả năng thụ phấn trong nước

Đến nay, trên thế giới đã phát hiện được 58 loài cỏ biển thuộc 12 chi, 4 họ, xuống sâu đến 60m Vùng nước nông ven bờ Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương có khoảng 50 loài, bao gồm 16 loài ở Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có 14 loài, thuộc 9

Trang 29

chi, 4 họ Như vậy, với 14 loài cỏ biển, Việt Nam thuộc diện có hệ sinh thái cỏ biển khá đa dạng, phong phú

Do đặc trưng khí hậu, ở Việt Nam phân bố loài cỏ biển có xu thế tăng dần từ Bắc vào Nam Dọc đường bờ biển Việt Nam đã xác định được 32 vùng cỏ biển phân

bố tập trung, trong đó lớn nhất là Phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế) có tới 1000ha cỏ biển, còn ở Hà Tĩnh có Ðầm Xuân Hội (Hà Tĩnh) chỉ có 50ha cỏ biển

Thảm cỏ biển là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao và đóng góp quan trọng đối với tổng năng suất sơ cấp của vùng nước ven bờ và là nguồn thức ăn quan trọng đối với nhiều sinh vật, đặc biệt là rùa biển, thú biển và cá biển Người ta cũng tính rằng, sinh lượng trung bình trong thảm cỏ biển đạt 250g khô/m2, cứ 1m2 diện tích thảm cỏ biển sản sinh ra10 lít ôxy hoà tan/ngày giúp cho quá trình hô hấp của các loài động vật biển Vì vậy, thảm cỏ biển cũng thường là những bãi sinh sản, nơi kiếm ăn Ở Việt Nam người ta thu được khoảng 10 triệu USD từ giá trị của 1.800 ha thảm cỏ biển

ở phá Tam Giang và vịnh Cam Ranh (Phạm Văn Ninh, 2004)

1.2.2 Các nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội ở dải ven biển

Về mặt kinh tế, dải ven biển là nơi tập trung các hoạt động kinh tế rất đa dạng như: hoạt động cảng, hàng hải, du lịch giải trí, khai thác nuôi trồng thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp ven biển, khai khoáng, đô thị hóa,… đồng thời cũng là nơi tập trung dân số với mật độ rất cao Do vậy việc hoạch định các chính sách phát triển và xây dựng các kế hoạch, mô hình phát triển hợp lý theo quan điểm phát triển bền vững

là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với dải ven biển

1.2.2.1 Điều kiện kinh tế

Cùng với xu thế phát triển chung của kinh tế cả nước, kinh tế dải ven biển có bước phát triển tích cực và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân

Từ 2005 trở lại đây, kinh tế dải ven biển luôn tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định Bình quân thời kỳ 1996 - 2003 tốc độ tăng trưởng GDP của dải ven biển đạt 9,9% /năm, gấp hơn 1,4 lần tốc độ tăng trưởng GDP cả nước (bình quân cả nước cùng thời

kỳ là 7,0%) Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2008 đến 2010 tăng nhẹ Hiện nay, do quá trình suy thoái kinh tế nên từ năm 2008 đến 2010 tốc độ tăng trưởng GDP giảm nhẹ chỉ còn 4,44%, trong đó lĩnh vực nông lâmnghiệp và thủy sản giảm từ 4,68% từ

Trang 30

năm 2008 còn 2,72% năm 2012 Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng giảm từ 5,98% năm 2008 xuống còn 3,84% năm 2012 (Bảng 4)

Vùng ven biển Bắc Bộ (Quảng Ninh - Quảng Trị) và ven biển Trung bộ (Thừa Thiên Huế - Bình Thuận) đều tăng chậm hơn mức trung bình của toàn dải ven biển, với tốc độ tương ứng là 8,8% / năm và 8,3 %/năm, đồng thời chỉ chiếm 22,8% và 23,4% GDP dải ven biển cả nước

Bảng 4: So sánh tốc ộ tăng trưởng GDP qua các năm (%)

Nông lâm nghiệp và th y sản 4,68 2,78 2,72

[Tổng quan kinh tế Việt Nam 2012]

Mặc dù dải ven biển có diện tích không rộng, chỉ chiếm 18,4% diện tích tự nhiên cả nước nhưng hàng năm đóng góp một tỷ lệ khá lớn trong nền kinh tế quốc dân

và ngày càng gia tăng Năm 1995 mức đóng góp của dải ven biển trong GDP cả nước

là 29,6%, đến 2003 tỷ lệ này tăng lên 35,4%, trong đó riêng công nghiệp ven biển đóng góp khoảng 15,5% tổng GDP và 38,6% trong GTGT của ngành nông nghiệp cả nước

Nói chung, dải ven biển là khu vực có nhiều lợi thế hơn hẳn các vùng khác trong nội địa, là nơi hội tụ nhiều yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, do vậy kinh tế dải ven biển đã và đang phát huy vai trò ngày càng to lớn của mình trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.[15][20][21]

Hà Tĩnh có điểm thuận lợi là hệ thống giao thông rộng khắp với các tuyến đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển tạo thành hệ thống liên hoàn, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế đối nội và đối ngoại Nhiều công trình thủy lợi lớn đang được triển khai thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất như công trình thủy lợi

đa mục tiêu Ngàn Trươi - Cẩm Trang có hồ chứa gần 800 triệu m3

Ngoài ra, Dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh có vị trí địa lý, kinh tế, quốc phòng quan trọng, với hệ thống đường xuyên Việt, hệ thống đường Đông - Tây nối các cảng biển với nước bạn Lào nên có điều kiện giao lưu, phát triển kinh tế xã hội một cách toàn diện Kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, với nhiều loại sản

Trang 31

phẩm có giá trị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ khá cao Những năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 10% năm (cao hơn so với mức phát triển chung vùng DHBTB)

Ngành nông nghiệp có những tiến bộ đáng kể, bằng việc đổi mới cơ chế quản

lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, phân bón, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh tổng hợp đưa mức bình quân lương thực từ 221 kg/người/năm (1987) lên 397 kg/người/năm (2009), trong vùng đã hình thành các vùng chuyên canh lúa ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh)

Tuy nhiên, một diện tích đáng kể đất bị ảnh hưởng phèn, mặn có nguồn gốc phù

sa hoặc cát biển ở địa hình thấp trũng đã ngọt hóa nhiều năm chuyển sang cấy lúa nhưng không hiệu quả Gần đây, số diện tích đó được chuyển sang nuôi trồng thủy sản (tôm sú, cua) đạt hiệu quả cao Theo thống kê của các huyện ven biển, tỷ lệ GDP của ngành nông nghiệp chiếm bình quân 35,6%

Bên cạnh đó, với bờ biển dài, có nhiều đầm, vũng, mặt nước mặn, lợ cho phép vùng phát triển nuôi trồng thuỷ sản như: tôm, cua, ngao, rau câu, cá có giá trị kinh tế cao Quá trình bồi lắng vật liệu phù sa thành tạo những bãi triều, trải qua thời gian và các hoạt động của con người đã tạo thêm những vùng đất ngập triều rộng lớn, là tiềm năng để phát triển các sản phẩm thủy sản biển

Ngoài ra, tỉnh Hà Tĩnh có nhiều di tích văn hóa, lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng khắp vùng Phía Đông có bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp được quy hoạch thành các khu du lịch sinh thái biển Đây là những tiềm năng tốt để thu hút đầu tư phát triển các ngành du lịch, dịch vụ, đánh bắt hải sản, khai thác biển

1.2.2.2 Phát triển xã hội dải ven biển

a Điều kiện giáo dục, y tế

Dải ven biển chiếm trung bình khoảng 20% dân số thế giới sống trong phạm vi cách đường bờ về phía nội địa 30km và khoảng 40% trong phạm vi cách đường bờ 100km và trên các đảo ven bờ Ở Việt Nam số liệu đến năm 2003 thì dân số sống ở dải ven biển là 21,4 triệu người chiếm 26,7% dân số cả nước, trong đó dân số thành thị chiếm 26,5%

Trang 32

Dân số vùng ven biển có tỷ lệ khá lớn do công tác dân số kế hoạch hóa gia đình chưa thực sự hiệu quả Quan niệm phải có con trai để đảm đương công việc đi biển của dân cư các vùng nông thôn ven biển còn khá nặng nề nên tỷ lệ sinh lớn, do đó, tốc độ tăng dân số chung của dải ven biển thường cao hơn các vùng khác trong nội địa Một trong những đặc điểm quan trọng ở dải ven biển nước ta là dân cư sống tập trung với mật độ khá cao, đặc biệt là ở những thành phố lớn Nhìn chung, tại các huyện có điều kiện đất đai canh tác và có ngư trường tốt, mật độ dân số thường cao hơn nhiều so với những vùng sâu nội địa

Mật độ dân số bình quân ở dải ven biển cao hơn gấp 1,4 lần mật độ trung bình của cả nước Dân cư ven biển phân bố rất không đều giữa thành thị và nông thôn cũng như giữa các khu vực lãnh thổ, trong đó tập trung nhiều nhất là ven biển Trung bộ, chiếm 36,8% dân số ven biển cả nước, tiếp đến là ven biển Bắc Bộ chiếm 34,6% và ít nhất là khu vực ven biển Nam Bộ chỉ chiếm 28,1% dân số ven biển cả nước

Bảng 5: Dân số trung bình dải ven biển Việt Nam Khu vực ven biển Dân số (người) Tỷ lệ (%) Mật ộ DS (ng/km 2 )

[Viện chiến lược phát triển 2012]

Nguồn nhân lực ở dải ven biển phân bố rất đồng đều giữa các khu vực Lao động tập trung nhiều nhất ở 2 khu vực có dân số đông là ven biển Trung Bộ (chiếm 35,7%) và ven biển Bắc Bộ (chiếm 34,4%).(Bảng 5)

Hà Tĩnh có dân số trẻ (trên 52,6% trong độ tuổi lao động), trong đó có trên 20%

đã được đào tạo; học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm khoảng từ 20.000 đến 25.000, là nguồn lực dồi dào bổ sung cho lực lượng lao động Hệ thống giáo dục đang ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng lao động hiện tại và tương lai

Ngoài vốn, công nghệ, chính sách, yếu tố nhân lực là động lực thu hút đầu tư

Do đó, Hà Tĩnh có kế hoạch đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật phù hợp với cơ cấu

Trang 33

ngành nghề Mục tiêu đến 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% (đào tạo nghề 50%), hàng năm giải quyết việc làm cho trên 3,2 vạn lao động.[6][15][21]

Nhìn chung, điều kiện y tế tại hầu hết các khu vực ven biển đang trong tình trạng xuống cấp, quá tải Điều kiện vệ sinh ở các xã ven biển cũng rất thấp kém Còn điều kiện giáo dục ở dải ven biển những năm gần đây đã có những cải thiện một cách đáng kể Hầu hết các huyện ven biển đã có hệ thống giáo dục các cấp tương đối đồng

bộ Đến nay 100% số xã ven biển đều đã có thống giáo dục các cấp tương đối đồng bộ Tuy nhiên, điều kiện giáo dục còn đứng trước nhiều thử thách như: tình trạng nghèo nàn; xuống cấp về cơ sở vật chất; đội ngũ giáo viên thiếu và phần lớn chưa được chuẩn hóa; chất lượng học tập thấp,…Tình trạng học sinh bỏ học ở các vùng nông thôn ven biển có xu hướng gia tăng, tình trạng thất học, tái mù chữ của con em các làng vạn chài

là khá phổ biến

b Phát triển xã hội

Các hoạt động của khu công nghiệp và khu dân cư cũng có khả năng gây ô nhiễm như: công nghiệp hoá chất, đóng sửa tàu thuỷ, xi măng, than, khai khoáng, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,… cũng tập trung ở vùng này Tỷ lệ tăng dân số dải ven biển ở nước ta cao hơn trong đất liền (2,3% so với trung bình cả nước 1,8%/năm), kéo theo nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường vùng bờ tăng theo Về đơn vị hành chính, ngoài 28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương, còn có 12 huyện đảo với 66 đảo có dân sinh sống (tổng số trên 155 nghìn người, mật độ dân số trung bình trên các đảo là 95 người/ km2), riêng ở huyện đảo Trường Sa

có 21 hộ và 80 khẩu

Dải ven biển đã đóng góp quan trọng về mặt kinh tế - xã hội trong thời gian qua và ngược lại tương lai của các ngành này cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường và các HST vùng bờ Khoảng 20 triệu người dân ven biển và trên các hải đảo có sinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi biển đem lại Mức sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sản vật của biển và ven biển Vì vậy, đầu tư

để bảo tồn các hệ sinh thái vùng bờ là đầu tư cho tương lai của người dân ven biển, đặc biệt đối với người nghèo

1.3 Các nghiên cứu về sử dụng ất ở dải ven biển Việt Nam và Hà Tĩnh

Trang 34

Theo Nguyễn Tác An (Viện Hải Dương học), thành phần và chất lượng đất ven biển tuy không màu mỡ bằng những vùng khác nhưng có địa hình bằng phẳng, vị trí thuận lợi…nên đã được con người sử dụng làm nơi cư trú và phát triển kinh tế

Diện tích tự nhiên của dải ven biển 5.967.700ha, chiếm 18,7% tổng diện tích đất

cả nước Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 26,3% DTTN (khoảng 1.568 triệu ha), đất lâm nghiệp chiếm 24,5% (khoảng 1.463,5 triệu ha), đất hoang hóa chiếm 27,2% (khoảng 1.622 triệu ha), đất làm muối chiếm 2,9% (khoảng 0,172 triệu ha) Đặc điểm nổi bật là vùng đất nông nghiệp ven biển tuy không lớn nhưng đã cung cấp hơn 25% tổng sản lượng lương thực toàn quốc (Đoàn Văn Tước, 1994)

Qua kết quả điều tra, đánh giá, phân tích thì dải ven biển Hà Tĩnh có 5 loại sử dụng đất đai chính như sau:

+ Cây vừng trồng ở các huyện có diện tích gieo trỉa lớn như: Lộc Hà: 269ha, Kỳ Anh: 344ha, Nghi Xuân: 302ha, Cẩm Xuyên: 184ha

+ Cây khoai lang: các huyện có diện tích khá lớn như: Kỳ Anh: 212ha, Nghi Xuân 188ha, Can Lộc 164ha

Sản xuất vụ Hè Thu thường diễn ra trong điều kiện thời vụ gieo trồng không thuận lợi Thời tiết đầu vụ nắng nóng gây hạn cục bộ ở một số địa phương như Kỳ Anh, Can Lộc, Giai đoạn lúa trổ nhiệt độ cao, gió tây nam mạnh ảnh hưởng đến quá

Trang 35

trình phơi màu của cây lúa, giai đoạn lúa chín nếu có mưa lớn có thể gây ngập, mùa vụ này thường dẫn đến sản phẩm đầu ra thấp, chi phí chăm sóc cao

Sản xuất vụ Đông Xuân: thường trồng lúa Đông Xuân ở các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên,…

+ Lạc Đông Xuân: các huyện có diện tích trồng lạc lớn như: Kỳ Anh: 2.858ha; Nghi Xuân: 2.049ha

Và các cây trồng màu khác như vừng, ngô; sắn trồng ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên;

Vụ Đông Xuân triển khai trong điều kiện thời tiết nhiều thời điểm rét nhất trong năm, số giờ nắng ít hơn nhiều, lượng mưa trung bình cao Do đó, mỗi vụ mùa cần có những biện pháp cụ thể để đối phó với thời tiết khắc nghiệt như gieo cấy lại kịp thời nếu mạ chết vì rét, hay các biện pháp chống chọi rét của vụ Ngoài ra, còn trồng một số cây lâu năm như: chè, cao su, cây ăn quả (cam, bưởi)

Lâm nghiệp trong vùng nghiên cứu gồm, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng tập trung trong đó bao gồm rừng phòng hộ đặc dụng và rừng sản xuất

Nuôi trồng thủy sản năm 2013, đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở nuôi tôm đầu tư phát triển nuôi tôm trong ao đất lót bạt, cải tiến kỹ thuật trong nuôi tôm như: xây dựng nhà ương tôm, tăng cường hệ thống sục oxy đáy cho nuôi tôm công nghệ cao trên cát, nuôi tôm trong ao đất lót bạt ; xây dựng các mô hình điểm về nuôi tôm trong ao đất có sử dụng quạt nước, mật độ 30 - 40 con/m2 theo hướng bền vững; diện tích nuôi tôm trên cát, nuôi thâm canh, công nghệ cao đạt khá

Công tác thu hút, xúc tiến đầu tư vào nuôi trồng thuỷ sản đạt được một số kết quả khá tốt như: Công ty Thông Thuận (Bình Thuận) đầu tư phát triển giống tôm đạt gần đạt 60 triệu con, đang tiếp tục triển khai các dự án nuôi tôm trên cát tại Cẩm Xuyên 250ha; trại tôm Cương Gián; hạ tầng các vùng nuôi tôm trên cát theo quy hoạch chi tiết cũng đang được đầu tư xây dựng

Hiệu quả các mô hình sản xuất đều cho hiệu quả kinh tế cao nhất là các mô hình nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghệ cao, nuôi trên cát; nuôi tôm trong ao đất mật

Trang 36

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loại đất dải ven biển (số lƣợng, đặc điểm, tính chất, sự phân bố)

- Các loại sử dụng đất

- Các loại cây trồng, vật nuôi chính gắn với các loại sử dụng đất

- Kinh tế hộ nông dân và cơ sở sử dụng đất để sản xuất

- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan tới sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệp

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu bao gồm 6 huyện và 1 thành phố ven biển của tỉnh Hà Tĩnh là:TP Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh

Trang 37

Ranh giới vùng nghiên cứu được khoanh vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 đối với vùng

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường

và tác động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh

2.2.1.1 Đánh giá các yếu tố về tự nhiên

2.2.1.2 Đánh giá các yếu tố về kinh tế - xã hội

2.2.1.3 Đánh giá các yếu tố về môi trường

2.2.2 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh

2.2.2 1 Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất dải ven biển

2.2.2 2 Nghiên cứu về kinh tế hộ liên quan tới sử dụng dải ven biển

2.2.2 3 Nghiên cứu các giải pháp sử dụng hợp lý dải ven biển

2.2.3 Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát triển nông nghiệp bền vững

2.3 Phư ng pháp nghiên cứu

1 Phương pháp kế thừa các thông tin, tư liệu đã có, trong đó có những tài liệu rất có giá trị như: các kết quả nghiên cứu về số lượng, chất lượng đất cát biển và bãi bồi ven biển của Viện QH&TKNN; các kết quả nghiên cứu về đất cát vùng TH - NA - HT; kết quả nghiên cứu của báo cáo phát triển kinh tế ven biển của Viện nghiên cứu chiến lược, niên giám thống kê Hà Tĩnh 2012…

2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa nghiên cứu về các loại hình sử dụng đất dải ven biển để xác định khả năng khai thác, sử dụng và cải tạo chúng được phân theo các đối tượng như sau:

- Các điểm đại diện cho các loại đất chính: nhóm đất cát biển, nhóm đất mặn, đất phèn, nhóm đất xám – bạc màu, nhóm đất lầy và đất than bùn, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

Trang 38

- Loại sử dụng đất có hiệu quả bền vững, theo các công thức luân canh có quy

mô lớn về diện tích

- Các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao và có triển vọng phát triển

3 Phương pháp điều tra kinh tế hộ nông dân theo phương pháp (PRA), để phân tích hiệu quả kinh tế của các hoạt động của hộ nông dân trên dải ven biển

4 Điều tra, đánh giá mức độ thích hợp các loại đất dải ven biển với các loại sử dụng đất được lựa chọn theo TCVN 8409: 2010

5 Phương pháp đánh giá sử dụng đất bền vững theo quan điểm của FAO:

* Hiệu quả kinh tế tập trung xác định các chỉ tiêu:

- Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

- Hiệu quả một đồng chi phí = Tổng thu/tổng chi phí

Trong đó:

+ Tổng thu nhập/1ha = Sản lượng x giá bán

+ Tổng chi phí/1ha = Giống + phân bón + thuốc BVTV + Công lao động

* Hiệu quả xã hội:

Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập tới một số chỉ tiêu sau:

- Mức độ chấp nhận của người dân

- Khả năng đảm bảo an toàn lương thực

- Khả năng thu hút lao động

- Giá trị ngày công lao động

* Hiệu quả môi trường:

Đánh giá hiệu quả môi trường là xem xét trên cơ sở thực trạng và nguyên nhân gây áp lực đến môi trường nhằm loại bỏ các loại sử dụng đất có khả năng gây tác động xấu đến môi trường sinh thái Các tác động đến môi trường cần phân tích ở vùng nghiên cứu là:

Trang 39

- Cải thiện và bảo vệ môi trường đất

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thực trạng và tác ộng c a các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển Hà Tĩnh

nghiệp

Đất lâm nghiệp

Trang 40

Lộc Hà 11.853 4,02 0,43 3,18 5,08

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh 2012]

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên Hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ

17o53'50'' đến 18o45'40'' vĩ độ Bắc; 10505'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với tỉnh Nghệ An

- Phía Tây giáp Lào

- Phía Đông giáp với biển Đông

- Phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình

Hà Tĩnh có thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và 11 huyện Diện tích tự nhiên (DTTN) là 599.731ha, trong đó 9.200ha đất ở; 122.225ha đất nông nghiệp; 351.266ha đất lâm nghiệp; 44.742ha đất chuyên dùng; 34.616ha đất chưa sử dụng

Số liệu ở bảng 6 cho thấy: các huyện ven biển có diện tích 273.051ha, chiếm 45,52% diện tích tự nhiên Trong đó, đất nông nghiệp chiếm tới 65,56% và đất lâm nghiệp chiếm 32,81% Do vậy, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế của vùng

Hà Tĩnh có 127km đường quốc lộ 1A, 87km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85km, quốc lộ 12 dài 55km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã - xã hội.[12]

3.1.1.1 Đặc điểm địa hình

Nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, Hà Tĩnh có địa hình hẹp và dốc, nghiêng dần từ Tây sang Đông, độ dốc trung bình 1,2% Địa hình bị chia cắt bởi nhiều sông suối đã tạo nên 137 km bờ biển, có nhiều sông, cửa lạch và các bãi biển đẹp Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, dãy núi phía Tây có độ cao trung bình 1.500 m, phân hoá phức tạp và bị chia cắt mạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau

Ngày đăng: 29/10/2015, 15:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : S   ồ giải thích khái  niệm Phát triển bền vững - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Hình 1 S ồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững (Trang 15)
Bảng 2: Đặc trưng gió dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 2 Đặc trưng gió dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế (Trang 22)
Bảng 6: Diện tích và c  cấu sử dụng  ất các huyện, thành phố thuộc vùng nghiên - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 6 Diện tích và c cấu sử dụng ất các huyện, thành phố thuộc vùng nghiên (Trang 39)
Hình 3: Biểu  ồ chuyển dịch c  cấu kinh tế giai  oạn 2010 – 2012 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Hình 3 Biểu ồ chuyển dịch c cấu kinh tế giai oạn 2010 – 2012 (Trang 52)
Hình 4: C  cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Hình 4 C cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 (Trang 53)
Bảng 10:  C  cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 10 C cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 (Trang 53)
Bảng 11. Năng suất 1 số cây trồng chính ở dải ven biển Hà Tĩnh - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 11. Năng suất 1 số cây trồng chính ở dải ven biển Hà Tĩnh (Trang 54)
Bảng 14:  Diện tích trồng mới tập trung phân theo loại rừng (ha) - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 14 Diện tích trồng mới tập trung phân theo loại rừng (ha) (Trang 56)
Hình 5: Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Hình 5 Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm (Trang 60)
Bảng 20: Các loại sử dụng  ất trên vùng nghiên cứu - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 20 Các loại sử dụng ất trên vùng nghiên cứu (Trang 67)
Bảng 22: Hiệu quả kinh tế LUT2 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 22 Hiệu quả kinh tế LUT2 (Trang 74)
Bảng 24: Hiệu quả kinh tế LTU4 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 24 Hiệu quả kinh tế LTU4 (Trang 76)
Bảng 25: Hiệu quả kinh tế c a LUT 5 - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 25 Hiệu quả kinh tế c a LUT 5 (Trang 76)
Bảng 32: Tổng hợp  ánh giá hiệu quả sử dụng  ất - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Bảng 32 Tổng hợp ánh giá hiệu quả sử dụng ất (Trang 84)
Hình 7: Bản đồ đề xuất sử dụng đất dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh - Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên   kinh tế xã hội cho dùng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ  khoa học môi trường và bảo vệ môi trường
Hình 7 Bản đồ đề xuất sử dụng đất dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w