Chính vì vậy, với đề tài Đỗ Lai Thúy và phê bình thơ, tôi mong muốnđóng góp một cái nhìn hoàn toàn khách quan về tình hình văn học sau năm 1986, những nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy về Thơ m
Trang 1HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ PHƯỢNG
ĐỖ LAI THÚY VÀ PHÊ BÌNH THƠ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Đăng Dung
HÀ NỘI, 2018
Trang 3Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn, tác giả luận văn xin được chân thành cảm ơn BGH trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy, cô giáo, cán bộ giảng viên đã giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tác giả
Xin cảm ơn sự giúp đỡ và ủng hộ của Ban giám hiệu và cán bộ giáo viên của trường THPT Đồng Đậu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trương
Đăng Dung - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắn luận văn
những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo và các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 09 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phượng
Trang 4Tôi tên là: Phạm Thị Phượng- học viên lớp cao học khóa 20, chuyên ngành Lí luận văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi trình bày trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân trong suốt quá trình học tập và công tác Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng 09 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phượng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Lịch sử vấn đề 5
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
C HƯƠNG 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1986 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐỖ LAI THÚY 8
1.1 Khái lược về phê bình văn học sau 1986 8
1.2 Sự xuất hiện của Đỗ Lai Thúy 22
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 NGƯỜI THƠ TRONG MẮT THƠ 27
2.1 Thơ mới và cái Tôi nhìn từ “Mắt thơ” 27
2.1.1 Khái quát về Thơ mới và sự xuất hiện của cái Tôi 27
2.1.2 Thế Lữ- người bộ hành phiêu lãng 37
2.1.3 Xuân Diệu- nỗi ám ảnh thời gian 40
2.1.4 Huy Cận- sự khắc khoải không gian 49
2.1.5 Nguyễn Bính- đường về chân quê 53
2.1.6 Vũ Hoàng Chương- đào nguyên lạc lối 55
2.1.7 Đinh Hùng- người kiến trúc chiêm bao 59
2.1.8 Bích Khê- sự thức nhận ngôn từ 61
2.1.9 Hàn Mặc Tử- một tư duy thơ độc đáo” 65
2.1.10 Xuân Thu Nhã Tập- khúc hát thiên nga 68
2 2 Hành trình nghệ thuật của Thơ mới nhìn từ “Mắt thơ” 72
Trang 62.2.3 Quan niệm về con người 78
Tiểu kết chương 2 81
CHƯƠNG 3 THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC 82
3.1 Khái lược về hệ hình tư duy lý thuyết và Thơ như là mỹ học của cái khác 82
3.1.1 Khái lược về hệ hình tư duy lý thuyết 82
3.1.2 Khái lược về “Thơ như là mỹ học của cái khác” 84
3.2 Thơ Việt Nam nhìn từ hệ hình tư duy tiền hiện đại 87
3.2.1 Bản chất của thơ Việt Nam khi nhìn từ hệ hình tư duy tiền hiện đại 87
3.2.2 Mỹ học thơ theo lý thuyết hệ hình tư duy tiền hiện đại 89
3.3 Thơ Việt Nam nhìn từ hệ hình tư duy hiện đại 90
3.3.1.Bản chất của thơ Việt Nam khi nhìn từ hệ hình tư duy hiện đại 90
3.3.2 Mỹ học thơ theo lý thuyết hệ hình tư duy hiện đại 99
3.4 Thơ Việt Nam nhìn từ hệ hình tư duy hậu hiện đại 100
3.4.1 Khái niệm hậu hiện đại 100
3.4.2 Bản chất của thơ Việt Nam khi nhìn từ hệ hình tư duy hậu hiện đại 102
3.4.3 Mỹ học thơ theo lý thuyết hệ hình tư duy hậu hiện đại 105
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
bao gồm: Lịch sử văn học, Lý luận văn học, Phê bình văn học Nếu lịch sử văn họcnghiên cứu văn học trong trật tự thời gian, lý luận văn học nghiên cứu văn học trong
sự phát triển tổng thể, thì phê bình văn học nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể.Tuy nhiên, đối tượng của phê bình văn học không chỉ lấy tác phẩm văn học làm đốitượng chính mà còn xem xét tác phẩm ấy trong mối tương quan với tác giả, trào lưu,trường phái văn học Thêm nữa, đã nói đến phê bình văn học là đề cập đến vai tròquan trọng tất yếu của chủ thể tiếp nhận (độc giả) khi đứng trước một hiện tượngvăn học Mặc dù vậy, khi khoa học nghiên cứu văn học phát triển mạnh mẽ, nhiềuđộc giả có phần hoang mang không thực sự định hướng tốt trong khâu tiếp nhận thì lúc ấy những nhà phê bình văn học chân chính xuất hiện như người chỉ đường dẫnlối không chỉ cho công chúng tiếp nhận mà thậm chí còn cho cả các nghệ sĩ sáng tácvốn đang tưởng rằng mình nắm quyền uy tối thượng Tiếp nhận văn học không cómột giới hạn hay một công thức cho sẵn nào, nhưng trên sự định hướng chuẩn mớitạo ra được cái lệch chuẩn Nhà phê bình chính là người góp phần quan trọng đểhình thành nên cái chuẩn trong nghiên cứu văn học Do đó, phê bình văn học ngàycàng phát triển và có vai trò quan trọng trong hệ thống các khoa học văn học
1.2 Phê bình văn học với tư cách là một bộ môn khoa học nghiên cứu về vănhọc đã chứng minh được giá trị đặc biệt, tác động lớn đến nhiều mặt của đời sốngvăn học, từ khâu sáng tác đến khâu tiếp nhận văn học Nhà phê bình cũng khẳngđịnh được vị trí quan trọng trong nghiên cứu, thậm chí có lúc nhà phê bình làm hộ
cả công việc của nhà văn và độc giả, chỉ ra những điều chính nhà văn cũng không
chương nghệ thuật Phê bình văn học tác động tới tất cả các khâu của quá trình sáng
tạo nghệ thuật gồm một chuỗi mắt xích liên quan: hiện thực- nhà văn- tác phẩm- người đọc- hiện thực Phê bình tác động tới sự thụ cảm thế giới của nhà văn, có ảnh
hưởng trực tiếp đến cá tính sáng tạo của nhà văn, tới quá trình sáng tạo ra tác phẩm,
Trang 8tác động trực tiếp tới tác phẩm văn học, có tác dụng định hướng người đọc, saucùng nó tác động đến hiện thực đời sống Nói như Biêlinxki: “ không phải nghệthuật sinh ra phê bình, cũng không phải phê bình sinh ra nghệ thuật, mà cả hai đều
là con đẻ của tinh thần thời đại” Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm riêng lẻ, còn phêbình văn học đưa những tác phẩm riêng lẻ vào một hệ thống văn học để chúng trởthành một chỉnh thể Càng ngày phê bình văn học càng trở thành nhịp cầu nối liềnmạch sự vận động, phát triển của văn chương
khẳng định giá trị tự thân của nó, đặc biệt sau 1986 ý thức về sự đổi mới thơ dấy lênmạnh mẽ Chính không khí cởi mở của văn học đã thổi một luồng sinh khí mới vàođời sống văn chương, trong đó có thơ và phê bình thơ Thơ là một loại hình nghệthuật độc đáo Khác với văn xuôi, thơ ca luôn đi sâu vào thế giới nội tâm con người,nghiêng về cảm nhận những rung động tinh tế trong tâm hồn con người Người làmphê bình thơ là người bắc nhịp cầu nối nhà thơ với độc Do vậy, mục tiêu và đối tượng phê bình thơ không phải là khách thể, là cái ngoại giới được miêu tả, màchính là tác giả, là chủ thể trữ tình của sự biểu hiện Phát hiện của phê bình thơ nằm
ở phong cách, giọng điệu Một nhà thơ lớn là một nhà thơ có phong cách lớn Mộtnền thơ lớn là một nền thơ có nhiều phong cách Việc tạo ra phong cách là mục đíchhướng đến của bất kỳ người nghệ sĩ nào Chưa có phong cách thì chưa thể nói đếnmột nền thơ Việc phát hiện ra giọng điệu riêng, phong cách riêng – nó là cái tinh tuý, cái đặc sắc của mỗi nhà thơ, để không lẫn với ai – đó là mục tiêu, nhiệm vụcũng là thành tựu của phê bình thơ Cho nên, phê bình văn học nói chung và phêbình thơ nói riêng đáng để chúng ta nghiên cứu một cách nghiêm túc
tới tư cách khoa học với nhiều tên tuổi, nổi bật trong đó có nhà phê bình Đỗ Lai
tâm học vào nghiên cứu văn hóa- văn học nghệ thuật Cũng từ đó, phê bình văn họcthoát khỏi phương pháp phê bình chủ quan cảm tính để thực sự đi vào quỹ đạo củamột bộ môn nghiên cứu khoa học Đỗ Lai Thúy là người có đóng góp to lớn cho sự
Trang 9phát triển của phê bình, đặc biệt là khuynh hướng phê bình phân tâm học Việt Namvới nhiều trang viết tài hoa, sắc sảo, lối phê bình mới lạ giàu chất trí tuệ, tư duykhoa học rõ ràng Đỗ Lai Thúy đến với văn chương khá muộn và bắt đầu nổi tiếng trong giới nghiên cứu phê bình với Mắt thơ, và sau đó với hàng loạt các bài viết: Từcái nhìn văn học ( Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, 1999); Hồ Xuân Hương hoàiniệm phồn thực ( Nhà xuất bản văn hóa Thông tin, 2000); Chân trời có người bay ( Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2006); Theo vết chân những người khổng lồ ( Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2006); Bút pháp của ham muốn ( Nhà xuất bản
Tri thức, 2009); Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy ( Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2010); Thơ như là mỹ học của cái khác ( Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2012);
Vẫy vào vô tận ( Nhà xuất bản Phụ nữ, 2014), Bờ bên kia của viết ( Nhà xuất bản
Hội nhà văn, 2016) Từ Mắt thơ đến Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai
Thúy đã tạo nên bước đột phá trong công tác nghiên cứu phê bình
đề lại chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về sự nghiệp của ông Có chăngchỉ là những bài báo, những bài phỏng vấn, những cuộc tọa đàm hội thảo… Trong
bình thơ Chính vì vậy, với đề tài Đỗ Lai Thúy và phê bình thơ, tôi mong muốnđóng góp một cái nhìn hoàn toàn khách quan về tình hình văn học sau năm 1986,
những nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy về Thơ mới trong Mắt thơ nhìn từ góc độ cái tôi và từ hành trình nghệ thuật, Đỗ Lai Thúy với Thơ như là mỹ học của cái khác
nhìn từ hệ hình tư duy tiền hiện đại, tư duy hiện đại và tư duy hậu hiện đại
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Thấy rõ những chuyển biến lớn trong nghiên cứu phê bình văn học sau năm
1986 và vị trí, vai trò của nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy; hành trình đi từ Mắt thơ đến Thơ như là mỹ học của cái khác
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 10Vận dụng những kiến thức lý luận để tìm hiểu về Đỗ Lai Thúy trong hànhtrình nghiên cứu phê bình thơ
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tác phẩm nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Lai Thúy rất phong phú,nhưng trong phạm vi luận văn này, người viết chỉ tập trung khảo sát hai công trình
của ông: Mắt thơ và Thơ như là mỹ học của cái khác “Nếu Mắt thơ tìm kiếm
những không gian mới thì Thơ như là mỹ học của cái khác tìm kiếm những con mắt
mới Cả Mắt thơ và Thơ như là mỹ học của cái khác đều tìm kiếm ở nơi tôi một cái tôi vô ngã”(Đỗ Lai Thúy).[37,tr.1]
4 Phương pháp nghiên cứu
làm nổi bật những nét đặc trưng cũng như khác biệt của đối tượng nghiên cứu khảosát
nhằm cung cấp những chi tiết, dữ kiện, số liệu chính xác tạo cơ sở tin cậy để triểnkhai các luận điểm trong luận văn
một phương pháp hữu hiệu của nghiên cứu khoa học Chúng tôi sử dụng thao tácnày để rút ra những đặc điểm chung cũng như những đặc sắc riêng của đối tượngnghiên cứu Trên cơ sở so sánh đối chiếu, sẽ thấy được cái mới, những đóng gópriêng biệt của Đỗ Lai Thúy đối với phê bình thơ nói riêng và phê bình văn học nóichung
phân tích những quan điểm phê bình thơ của Đỗ Lai Thúy qua hai công trình Mắtthơ và Thơ như là mỹ học của cái khác Phân tích điểm độc đáo trong phê bình thơ
Trang 11của ông, từ đó khái quát lại đặc điểm tư duy và sự vận động tư duy lý thuyết phêbình thơ của Đỗ Lai Thúy từ Thơ mới cho đến thơ hậu hiện đại
pháp nghiên cứu tiểu sử học, phương pháp lịch sử xã hội…trên quan điểm lịch sử
và quan điểm hệ thống
5 Lịch sử vấn đề
phê bình thơ nói riêng ngày càng khẳng định được vị trí vững chắc Lúc đầu, phê
của độc giả thuộc tầng lớp tri thức hoặc của những người sáng tác văn học Sau đó,phê bình văn học phát triển và được tách riêng, dần trở thành một công việc mangtính đặc thù Tuy nhiên, trước thế kỉ XVII, phê bình văn học vẫn giữ một vị tríkhiêm tốn trong lòng công chúng yêu văn chương Công việc phê bình cũng mới chỉdừng lại ở việc đánh giá mang tính khái quát về các tác phẩm, giới thiệu tác phẩmđến với độc giả
sôi động Việc hình thành các thiết chế xã hội và sự phát triển của các lĩnh vực khácnhư nhà xuất bản, báo chí, công chúng, dư luận….càng làm cho văn học được “thay
da đổi thịt”; thị hiếu và công chúng văn học đòi hỏi nghiên cứu văn học trong đó cóphê bình buộc phải đa dạng hóa, phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu vănchương nghệ thuật
xuất hiện như phê bình tiểu sử, phê bình xã hội học, phê bình xã hội học, phê bìnhphân tâm học, phê bình thi pháp học… khiến cho không khí phê bình được thổithêm nhiều sinh khí mới Phê bình văn học tồn tại và phát triển cho đến nay đã trảiqua rất nhiều những bước thăng trầm để khẳng định được vị trí là một trong ba yếu
tố cơ bản của nghiên cứu văn học Chưa bao giờ độc giả được chứng kiến sự phongphú, đa dạng, dày dặn kinh nghiệm của nhiều cây bút phê bình luôn nỗ lực khôngngừng trong việc đi tìm và định hình phong cách phê bình mới Nhà phê bình Đỗ
Trang 12Lai Thúy là một trong những cây bút tài hoa trên con đường tìm đến một lối viết lạ.Ông âm thầm đóng góp cho nghiên cứu văn học những trang viết sắc sảo, hấp dẫn,
lôi cuốn: Mắt thơ, Hồ Xuân Hương- hoài niệm phồn thực, Chân trời có người bay,
Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa, Bút pháp của ham muốn, Phê bình
văn học- con vật lưỡng thê ấy, Thơ như là mỹ học của cái khác, Theo vết chân
những người khổng lồ……Dù có nhiều đóng góp như vậy trong nghiên cứu các hiệntượng văn học nước nhà nhưng nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy lại chưa trở thành đốitượng nghiên cứu của nhiều độc giả Những bài viết, những công trình đã công bố
về nhà phê bình Đỗ Lai Thúy còn rất hạn chế Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trênTạp chí sông Hương số 244, tháng 6 năm 2009 đã có bài viết “ Phê bình phân tâmhọc và Đỗ Lai Thúy” đề cập đến vai trò tiếp nối và sự phát triển của Đỗ Lai Thúytrong việc đưa phương pháp nghiên cứu phê bình phân tâm học trở thành phươngpháp nghiên cứu chủ đạo trong việc tìm hiểu các hiện tượng văn hóa vốn gây nhiềutranh cái như Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Hồ Xuân Hương….Nguyễn Mạnh Tiếntrên báo Văn hóa Nghệ An số ra ngày 21/4/2011 có bài viết “Tính lưỡng thê củaphê bình văn học Đỗ Lai Thúy” Bài viết đã giải thích cặn kẽ khái niệm tính lưỡngthê và nhìn rõ cuộc nổi loạn của những hệ hình hay phương pháp viết lịch sử phêbình văn học Tác giả Cao Thị Hồng vẫn trên trang phê bình văn học số ra ngày03/05/2014 cũng có bài viết “Đỗ Lai Thúy và vấn đề ứng dụng phân tâm học trong Bút pháp của ham muốn” đã phân tích một cách chặt chẽ, thấu đáo về biểu hiệnphân tâm học trong việc khám phá các hiện tượng văn học ….Trên báo Văn hóaNghệ An số ra ngày 20/8/2014, tác giả Hoàng Thị Huế có bài viết “ Đỗ Lai Thúy:
Từ Chân trời có người bay đến Vẫy vào vô tận” Bài viết sắc sảo chỉ ra sự khác biệtcủa hai cuốn sách tuy cùng viết về những chân dung văn học nhưng cách tiếp cận
có bài viết về chân dung phê bình văn học với nhan đề “Đỗ Lai Thúy và phê bìnhphân tâm học Việt Nam” Bài viết đã thực sự đem đến cho độc giả một cái nhìnkhách quan về phê bình phân tâm học và những công lao của Đỗ Lai Thúy trongviệc đưa phê bình phân tâm học phát triển lên một trình độ mới Nói chung, việc
Trang 13nghiên cứu sự nghiệp của Đỗ Lai Thúy mới dừng lại ở những cuộc tọa đàm, những
phân tâm của ông Trong khi đó, sự nghiệp và những đóng góp của ông cho phê bình văn học cần phải được nghiên cứu một cách công phu, tỉ mỉ thì lại hầu nhưchưa có một công trình nào Nhất là trong lĩnh vực phê bình thơ, Đỗ Lai Thúy đãcho ra đời hai chuyên luận Mắt thơ và Thơ như là mỹ học của cái khác thì chưa có
một hành trình tìm kiếm và giải mã thế giới bí ẩn của thơ, là hành trình giải mã thơViệt Nam trong tiến trình hiện đại hóa Do đó, trong hiện tại và tương lai, Đỗ LaiThúy và phê bình văn học của ông nhất thiết cần phải được nghiên cứu, đánh giámột cách công bằng, khách quan và khoa học
Qua việc khảo sát Mắt thơ đến Thơ như là mỹ học của cái khác, chúng tôi
muốn có cái nhìn khoa học về sự vận động tư duy phê bình Đỗ Lai Thúy đối vớiphê bình thơ Việt Nam
Trên cơ sở đó, cho thấy những đóng góp của Đỗ Lai Thúy đối vơí phêbình thơ, không chỉ dừng lại ở thơ hiện đại mà cả thơ trung đại Việt Nam
Đặc biệt qua luận văn, thấy rõ những khác biệt trong bút pháp phê bìnhcuả Đỗ Lai Thúy so với các nhà phê bình trước đây và cả bây giờ
Từ những đóng góp lớn của Đỗ Lai Thúy, chúng tôi chỉ ra sự vận độngđổi mới của tư duy thơ Việt Nam đương đại, phê bình thơ nói riêng và phê bình vănhọc nói chung
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Phê bình văn học Việt Nam sau 1986 và sự xuất hiện của Đỗ LaiThúy
Chương 2: “Người thơ trong mắt thơ”
Chương 3: “Thơ như là mỹ học của cái khác”
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1986
VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐỖ LAI THÚY 1.1 Khái lược về phê bình văn học sau 1986
các hoạt động sáng tác và tiếp nhận văn học theo nguyên tắc, đường lối văn họcCách mạng dưới sự chỉ đạo văn nghệ của Đảng Cộng sản Do vậy, không khí phêbình chưa thực sự được cởi trói khỏi những ràng buộc của văn học thời chiến Saunăm 1975, văn học được trả về với đời sống vốn có của riêng nó, cùng với nhữngđòi hỏi bức thiết của công cuộc đổi mới văn học, phê bình văn học nói riêng đặt ranhững yêu cầu và nhiệm vụ mới, nhận thức lại bản chất, chức năng văn học trongthời đại mới không còn phù hợp với giai đoạn văn học kháng chiến Do vậy, khôngkhí phê bình bắt đầu có những bước chuyển mạnh mẽ Từ năm 1975 đến năm 1985, diễn ra nhiều cuộc hội thảo trên báo chí về những vấn đề thực tiễn đời sống sau
chiến tranh được đưa vào tác phẩm văn học, trong đó đáng chú ý nhất là bài báo Về
một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của tác giả Hoàng Ngọc Hiến- người đi tiên phong đổi mới tư duy lý luận phê bình văn học.Với tư duy lý luận nhạy bén, lập luận sắc sảo Hoàng Ngọc Hiến có sự tiên cảmmạnh mẽ về tương lai, sẵn sàng đoạn tuyệt với quá khứ, phủ nhận cả chính mình Ông nhìn ra được những điều còn thiếu sót cần khắc phục trong bao nhiêu năm vănhọc phát triển dưới thời kháng chiến Không ngần ngại, e dè, không ngợi ca thái quánhững gì quá khứ đi qua, cũng không cần tô vẽ tương lai, Hoàng Ngọc Hiến đã thực
sự gióng lên tiếng chuông thức tỉnh về sự cần thiết phải đổi mới cả một nền tư duyvăn nghệ cũ, chứ không riêng gì công tác lý luận, phê bình Tuy nhiên, bài viết củaông không phải đều được số đông chấp nhận Có nhiều người phản bác cho rằngtác giả đang phủ nhận những thành tựu to lớn mà nền văn học Cách mạng đạt đượcvới sứ mệnh cao quý trong bao nhiêu năm qua Cho đến năm 1979, trong cuộc Hội
nghị nhà văn Đảng viên bàn về sáng tác văn học, Hoàng Ngọc Hiến tìm thấy tiếng
Trang 15nói chung với nhà văn Nguyên Ngọc Tác giả của một thời Đất nước đứng lên cho rằng: văn học nghệ thuật của ta thời chiến đã thực hiện vẻ vang nhiệm vụ tuyên
truyền Cách mạng, cổ vũ chiến đấu Tuy nhiên, văn học của ta chưa xứng tầm với
với cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc trong mấy chục năm qua, nhiều khi đồng nhấtnhiệm vụ văn học với nhiệm vụ chính trị, văn học mới chỉ quan tâm tới số phận
chung của cộng đồng mà quên mất số phận riêng của từng người…từ đó làm xói
mòn năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ và triệt tiêu năng lực thẩm mĩ của độc
giả Những bài phát biểu của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc làm nảy sinh nhiều
quan niệm trái chiều trong giới nghiên cứu phê bình Tuy nhiên, nó cũng có tácdụng gợi những suy nghĩ đánh giá nghiêm túc trong độc giả về những gì đã qua vàphương hướng cho những gì đang tới Đặc biệt từ thập niên 80 trở đi, công tác lý
luận phê bình càng được phát triển hơn trước Từ tiểu thuyết Đất trắng (tập 1-1979
Quang Trang, Trần Duy Thanh…đã có cái nhìn công bằng hơn về chiến tranh, cái giá của hòa bình Đến các truyện ngắn của Dương Thu Hương (1982), Đứng trướcbiển của Nguyễn Mạnh Tuấn (1982), Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng (1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu (1983)….càng làmcho đời sống phê bình thêm phần sinh động Các nhà phê bình nhận ra sự thay đổitrong ngòi bút của các nhà văn, chuyển hướng sang đề tài thế sự đời tư, khai thác
tưởng như không có gì vào truyện để thể hiện cái nhìn sâu sắc về con người và cuộcsống Đáng chú ý nhất là Nguyễn Minh Châu Ông trở thành một “hiện tượng” đượcquan tâm nhất trong giới nghiên cứu văn học những năm 80 Đọc Người đàn bà trênchuyến tàu tốc hành, các nhà phê bình đều nhận ra nhà văn đã đi đào sâu những mất
chấn thương thể xác và tinh thần đau đớn còn đọng lại mãi dù tiếng súng, tiếng bom
đã ngừng Ấy là những “mặt trái của tấm huy chương” mà trước đây, ta không dám
đề cập tới Hay đọc Bức tranh, nhà phê bình Thiếu Mai cho rằng: “giá trị của tácphẩm chính ở chỗ nó thức tỉnh lương tri và phần người tốt đẹp trong mỗi con
Trang 16người” Đọc Khách ở quê ra, GS Phan Cự Đệ khẳng định: “Nguyễn Minh Châukhông dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào phân tích tâm lí, tiềm thức, muốn thức tỉnhcon người từ sâu bên trong với giọng điệu riêng” Còn GS Phong Lê thì cho rằng:
“Nguyễn Minh Châu có giọng điệu riêng, tạo ra được thế giới nghệ thuật riêngnhưng cũng bày tỏ trạng thái phân vân khi đọc Khách ở quê ra xong vẫn không biếtđâu là vấn đề cốt lõi của truyện bởi vì nhân vật lão Khúng sao mà kì lạ đến thế?” Nguyễn Kiên thì khẳng định: “sự tâm huyết của Nguyễn Minh Châu là vô cùngđáng quý, hướng đi phù hợp với quy luật phát triển chung” Trong khi đó, Lê ThànhNghị lại chỉ ra trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu lập luận chưa đủthuyết phục, kết cấu không chặt chẽ, hình tượng nhân vật khó hiểu, sử dụng hàihước đôi chỗ không hợp lý Tô Hoài và Lê Lựu thì lại nhìn thấy ở Nguyễn MinhChâu sự tài tình khi biết biến những cái bình thường lặt vặt trong cuộc sống hàngngày để nâng nó lên một tầm triết lý…Chỉ riêng một Nguyễn Minh Châu của đầuthập niên 80 đã làm cho không khí phê bình văn học lúc bấy giờ được thổi thêm làngió mới, đưa công tác nghiên cứu phê bình văn học vào guồng quay đổi mới, hứahẹn nhiều thành tựu mới
nhà lý luận phê bình như: Ngô Thảo, Nguyễn Khải, Nguyễn Văn Hạnh, Lê NgọcTrà, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Minh Châu…với những tuyên ngôn mới về nghệthuật trong các báo văn nghệ, các tạp chí Sau đó, một diện mạo mới của nền lý luậnphê bình được chuyển đổi từ tư duy tiền hiện đại (chủ yếu tiếp cận từ tác giả), sang
tư duy hiện đại (tiếp cận chủ yếu từ văn bản tác phẩm) đến tư duy hậu hiện đại ( chủyếu tiếp cận từ người đọc)
được nhìn ở bề nổi, thì khuynh hướng phê bình được nhìn ở chiều sâu của vấn đề Nếu trước năm 1975, các khuynh hướng phê bình còn giản đơn, chưa có nhiều lốiphê bình ngự trị do yêu cầu của “ văn hóa nghệ thuật là một mặt trận”, văn học chủyếu lấy vai trò tuyên truyền cổ vũ Cách mạng làm nhiệm vụ then chốt, nên hạn chếsức sáng tạo của nhà văn và hạn chế luôn các kiểu tư duy phê bình mới Đến sau
Trang 17năm 1986, trong không khí cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, trong xu thế hội nhậptoàn cầu và sự bùng nổ của khoa học công nghệ, văn học trở về với đời sống thườngnhật, được “cởi trói” khỏi khuôn khổ văn học thời chiến, người nghệ sỹ được viếttrong tư duy nhận thức lại, kéo theo đó phê bình văn học buộc phải phát triển trongthế cạnh tranh gay gắt để khẳng định chỗ đứng trong lòng công chúng văn học Vàcho đến nay, chưa bao giờ người ta thấy sự tồn tại phong phú cùng một lúc nhiềukhuynh hướng phê bình văn học đến thế:
của nghệ thuật, đánh dấu bằng những công trình như Nghệ thuật thi ca của Aristot,Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp Đến đầu thế kỷ XX, thi pháp học tái sinh thànhthi pháp học hiện đại và tồn tại với hai nhánh chính: thi pháp học lịch sử và trườngphái hình thức Nga Ở Việt Nam, thi pháp học không đến sớm trong việc phê bình,nghiên cứu văn học Trước năm 1986, mới chỉ có Cao Xuân Hạo và Phan Ngọc tiếpcận Sau năm 1986, nhiều nhà nghiên cứu lấy thi pháp học làm phương pháp phê
pháp văn học trung đại ( Trần Đình Sử), Thi pháp hiện đại ( Đỗ Đức Hiểu) NếuTrần Đình Sử tiếp nhận thi pháp học từ trường phái thi pháp học lịch sử của Nga,thì Đỗ Đức Hiểu lại tiếp nhận phương pháp này từ các nhà thi pháp học Tây Âu Khi có sự xuất hiện của nhiều hiện tượng văn học đặc biệt như Nguyễn Minh Châu,Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, hay công cuộc cách tân thơ nổ rarầm rộ…thì nhiều phương pháp phê bình cũ trở nên lạc hậu, đòi hỏi phải có mộtphương pháp phê bình mới Đỗ Đức Hiểu là một trong những cây bút tiên phongđem lại sự đổi mới cho phê bình văn học đương thời Những thành công của ông trong các tiểu luận phê bình về Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, về truyện
tượng văn học đặc sắc Sau Đỗ Đức Hiểu, thi pháp học nhanh chóng được truyền bárộng rãi, phê bình thi pháp học mở ra những cách tiếp cận mới trong văn chương,làm sụp đổ sự đơn giản nhàm chán của lối phê bình truyền thống Theo đánh giá của
Trang 18Đỗ Lai Thúy thì “ thi pháp học là phương pháp đầu tiên minh chứng cho thành quả
của sự thay đổi hệ hình trong phê bình văn học Nó mở ra một lối thoát cho phê
bình văn học Việt Nam vốn đang có nguy cơ lâm vào ngõ cụt”.[36,tr.17] Nhưngđồng thời chính Đỗ Lai Thúy cũng chỉ ra những hạn chế của phương pháp này: “thipháp học trở nên thời thượng, và đã là thời thượng thì sẽ mang tính chất phongtrào, nông nổi, dễ thành hời hợt.””.[36,tr.17] Dù còn nhiều hạn chế, nhưng khôngthể phủ nhận những thành công mà phê bình Thi pháp học mang đến Nó cho ngườiđọc nhận diện một quan niệm mới về hình thức nghệ thuật- hình thức mang tính quan niệm, về thế giới nghệ thuật, không gian thời gian nghệ thuật và về con người
đầu tiên vận dụng thuyết phân tâm học của S Freud, nhưng sau đó một thời giandài, phương pháp này không có đất tồn tại bởi người Việt ta coi việc đề cao bảnnăng tính dục là cách hạ thấp giá trị con người Phải đến thời kì đổi mới, với thái độcởi mở và tinh thần khoa học khách quan, phân tâm học mới được nhìn nhận, cụ thể
ở Việt Nam đến Đỗ Lai Thúy, phân tâm học mới được “tái nhập” và khẳng địnhđược giá trị của nó khi đi khám phá, lý giải về tâm lý sáng tạo của chủ thể Bằngviệc vận dụng thuyết phân tâm học, Đỗ Lai Thúy đã có những khám phá thú vịtrong nghiên cứu một số hiện tượng văn học gây tranh luận hoặc phức tạp như HồXuân Hương, Hoàng Cầm, Chế Lan viên Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp
ngộ nhận, áp đặt
bật về thân thế, tiểu sử, những biến động trong cuộc đời của tác giả để từ đó cắtnghĩa, lý giải sáng tác của họ Phê bình tiểu sử luôn lấy con người để làm minhchứng cho sáng tác (Văn là người) Ví dụ, khi nghiên cứu Hàn Mặc Tử, Trần ThanhMại đã khảo cứu hoàn cảnh địa lý, gia đình, cuộc sống nghèo túng, những đau đớnbệnh tật, những đau thương trong đời sống tâm hồn từ những trắc trở tình duyêncủa nhà thơ để lý giải những tâm tư, tình cảm của ông trong từng trang viết Từ saunăm 1975, có nhiều công trình viết theo phương pháp phê bình tiểu sử học được chú
Trang 19ý, nổi bật là các công trình nghiên cứu phê bình về tác giả văn học Việt Nam hiện
đại như: “Nhà văn tư tưởng và phong cách”, “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, “Nhà văn hiện đại- chân dung và phong cách” (Nguyễn Đăng Mạnh) Tuy nhiên, phương pháp phê bình này đôi khi quá thiên về tiểu sử, cuộc đời
tác giả mà dễ bỏ qua những yếu tố tác động khác bên ngoài vào tác phẩm
nhánh chính là phong cách học và kí hiệu học ( Ngôn ngữ thơ- Nguyễn Phan Cảnh,Ngôn ngữ thơ Việt Nam- Hữu Đạt, Những vấn đề thi pháp của truyện- Nguyễn Thái
cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều- Phan Ngọc, Kí hiệu học và phê bình văn học-
tâm cho việc nghiên cứu và tiếp cận thế giới văn chương của nhà văn Từ những đặcđiểm kí hiệu ngôn ngữ mà định hình phong cách tác giả và đời sống của tác phẩm
Do vậy, không giống như phê bình tiểu sử mang ít nhiều dấu ấn chủ quan thì phê bình ngôn ngữ học mang dấu ấn khách quan Việc tiếp cận nhà văn và tác phẩm từngôn ngữ học giúp nhà phê bình và độc giả có cái nhìn biện chứng thấu đáo, toàndiện hơn trước các hiện tượng văn học
một hiện tượng thẩm mĩ, vận dụng thường xuyên các phạm trù khái niệm mĩ họcvào phê bình văn học ( Hoàng Ngọc Hiến) Nếu nhìn văn học từ góc độ mĩ học thìmỗi nhà phê bình ở góc độ nào đó cũng phải là một nhà mĩ học Các tác giả tiêubiểu nhất cho khuynh hướng phê bình mĩ học phải kể đến như Lê Ngọc Trà, ĐỗVăn Khang, Hoàng Ngọc Hiến…trong đó một số công trình của Hoàng Ngọc Hiến:Những ngả đường vào văn học (NXB Giáo dục, 2006); Triết lý văn hóa và triếtluận văn chương (NXB Giáo dục, 2006) ….luôn lật xới văn học trên nhiều bìnhdiện văn hóa, đạo đức, triết học, mĩ học, giúp tác giả phát hiện ra nhiều vấn đề vănhọc cực kỳ lý thú trong một lối phê bình sắc sảo, lôi cuốn, mới lạ
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac làm nền tảng tư tưởng soi chiếu, cắt nghĩa, đánh
Trang 20giá các hiện tượng văn học, giải thích văn học bằng các yếu tố/ điều kiện xã hội.Tuy nhiên, phương pháp này thường bỏ qua hoặc xem nhẹ phương diện nghệ thuậtcủa tác phẩm, không quan tâm đúng mức đến bình diện chủ quan và tính tích cựccủa chủ thể sáng tạo Do đó, một số nhà phê bình xã hội học thường hay rơi vào quytắc cứng nhắc, đôi khi bảo thủ, công thức Sa đà vào phương pháp phê bình này, vôhình trung ta đã không xem tác phẩm văn học như một hiện tượng nghệ thuật màngược lại có khi biến tác phẩm trở thành một tài liệu để tìm hiểu, nhìn nhận, đánhgiá, lý giải chính xã hội mà nhà văn đang sống, còn bản thân nhà văn không đượcnhìn nhận như một chủ thể sáng tạo mà được nhìn như một con người giai cấp
tối ưu Việc phân chia các phương pháp phê bình hoặc việc xếp nhà phê bình vào vịtrí phương pháp này hay phương pháp kia cũng chỉ mang tính chất tương đối
lại ở các phương pháp phê bình mà còn ở đội ngũ phê bình văn học Đây là lựclượng nòng cốt đưa phê bình văn học đi đúng quỹ đạo của tiến trình phát triển văn Trên con đường đi tới hiện đại hóa, phê bình văn học phải hướng tới tính chuyênnghiệp Đội ngũ phê bình chính là người làm nên tính chuyên nghiệp ấy Nếu phânchia theo sự phát triển lịch sử văn học thì đội ngũ phê bình được chia ra trước vàsau năm 1975 Trước năm 1975, đội ngũ phê bình văn học đã được hình thành khá đông đảo và bắt đầu có tính chuyên nghiệp dần, góp phần đáng kể vào việc làmphong phú diện mạo văn học Có thể kể đến một số nhà phê bình như Hoài Thanh ( phê bình ấn tượng), Hải Triều (phê bình xã hội học Mác xít), Trương Tửu (phê bình phân tâm học), Trần Thanh Mại (phê bình tiểu sử)…Sau năm 1945, do yêu cầu củathời đại, văn học nói chung và phê bình nói riêng phải thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụlịch sử của công cuộc kháng chiến nên văn hóa văn nghệ đi đúng đường hướng dưới
sự lãnh đạo của Đảng để phục vụ tối đa cho công cuộc kháng chiến cứu nước Vì vậy, trong đội ngũ làm phê bình trước hết là những nhà lãnh đạo Đảng (TrườngChinh) hoặc là những vị cán bộ Đảng Cộng sản được giao nhiệm vụ chỉ đạo mặttrận văn nghệ như Tố Hữu, Hà Xuân Trường Đương nhiên, do phụng sự Cách
Trang 21mạng nên tính chuyên nghiệp trong phê bình không được đề cao Ngoài ra, các nhàvăn nhà thơ trước 1975 cũng tham gia tích cực vào công tác phê bình như XuânDiệu, Chế Lan viên, Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông …hoặc những giảng viên
Đình Kỵ cũng tích cực tham gia vào đời sống phê bình văn học Thêm nữa sự xuấthiện của báo chí đã nhanh nhạy bám sát đời sống văn học, không thiên về học thuật
mà thường có lối viết linh hoạt, văn phong báo chí họ giúp cho công chúng kịp thờinắm bắt tình hình văn học, nhưng cũng không hiếm khi gợi ra được những vấn đề
có ý nghĩa thực sự của sáng tác và phê bình Nhìn lại đội ngũ phê bình giai đoạntrước 1975, có thể thấy đó là một đội ngũ khá đông đảo, thuộc nhiều thế hệ, trong
đó có không ít cây bút già giặn, một số đã tạo dựng được phong cách riêng rõ nét.Tuy nhiên, đội ngũ ấy chưa thể nói là mạnh và thực sự có tính chuyên nghiệp.Những cây bút có tầm văn hóa triết học sâu rộng và bản lĩnh tư tưởng vững vàng thìcòn rất hiếm, những người có được phong cách riêng ổn định và rõ nét cũng khôngnhiều Tính khoa học, đặc biệt là việc vận dụng các phương pháp phê bình khoa họccòn rất hạn chế, số đông vẫn làm phê bình theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa, tự giớihạn và bằng lòng với việc sử dụng một số công cụ quen thuộc của phê bình xã hộihọc với những nguyên lý sơ đẳng của lý luận văn học Mác-xít được du nhập từ cácgiáo trình lý luận văn học ở Liên Xô và Trung Quốc đương thời Cái yếu của phê bình văn học giai đoạn này không chỉ ở lối phê bình xã hội học giản đơn, nhiều khirơi vào cực đoan tả khuynh, dung tục, quy chụp về lập trường tư tưởng, ít chú ý cácgiá trị thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật, mà còn ở sự nghèo nàn về các khuynhhướng phong cách, bút pháp phê bình tình trạng nói trên của phê bình văn học trước
1975 về cơ bản vẫn được tiếp tục trong thời kỳ sau 1975 đến trước khi diễn ra caotrào đổi mới
đầu (1975-1985) về cơ bản nền văn học vẫn tiếp tục vận động theo quán tính củavăn học sử thi thời chiến tranh, tuy đã có một số tác giả nhạy cảm với sự đổi thaycủa thời đại nên đã ý thức được những đòi hỏi mới của văn học nói chung, phê bình
Trang 22nói riêng Dù còn ở dạng “phôi thai” chưa thực sự gọi là đổi mới nhưng đã cónhững dấu hiệu mở màn Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 trở đi, phê bình văn học đã có sự thay đổi rất đáng kể, cả ở diện mạo và vai trò của nó trong đờisống văn học và đời sống xã hội Phê bình văn học đã tiến hành nhận thức lại nhiềuvấn đề cơ bản của lý luận và thực tiễn văn học, tự nhìn lại và chỉ ra những yếu kém,khiếm khuyết của chính mình trong giai đoạn vừa qua Phê bình văn học trong thời
kỳ đầu đổi mới thật sự đã có vai trò tích cực trong sự đổi mới ý thức nghệ thuật củanền văn học và cũng tác động đáng kể đến sự chuyển biến trong ý thức xã hội Độingũ tác giả phê bình văn học từ 1986 đến nay rất đông đảo, bao gồm nhiều thế hệ
và ở nhiều khu vực, và đáng chú ý là đã bước đầu hình thành một số khuynh hướngphê bình, một số phong cách rõ nét Ở giai đoạn này các nhà lãnh đạo Đảng, Nhànước không trực tiếp tham gia hoạt động phê bình văn học, không can thiệp quá sâuvào những vấn đề chuyên môn học thuật, nghệ thuật Tuy không tham gia trực tiếpvào hoạt động phê bình văn nghệ nhưng có những trường hợp hoạt động thực tiễncủa một nhà lãnh đạo Đảng có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự đổi mới văn học
và đổi mới lý luận phê bình Đội ngũ phê bình trong các viện nghiên cứu, cáctrường đại học cũng hình thành một số khuynh hướng phê bình có ảnh hưởng khôngchỉ trong các nhà trường mà trong cả giới văn học như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ,Hoàng Trinh, Phong Lê, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng NgọcHiến, Đỗ Đức Hiểu, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Đặng Anh Đào, Lê Ngọc Trà,Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Lã Nguyên, Huỳnh Như Phương, Mã Giang Lân, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Bùi Việt Thắng, Đỗ Lai Thúy, Phạm Vĩnh Cư,
Vũ Tuấn Anh, Phan Trọng Thưởng, Bích Thu, Mai Hương, Lưu Khánh Thơ…
Phương, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn MinhChâu…… Nguyễn Minh Châu là nhà văn là nhà văn trở về sau chiến tranh và đãnhanh chóng bắt nhịp kịp với cuộc sống đời thường Ông bắt đầu đi tiên phongtrong việc nhận thức lại nhiều vấn đề của đời sống xã hội Ông nhận chân ra vănhọc thời chiến dù đã thực hiện vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình nhưng kiểu tư duy
Trang 23văn học lại không còn phù hợp với văn học thời bình Do đó, nhà văn luôn trăn trở,suy nghĩ không yên về tvai trò, ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ trước conngười và cuộc sống mới Nhà văn kiên quyết đi tìm một hướng đi mới cho sáng táccủa mình, là cánh chim đầu đàn trong việc đổi mới văn học và tư duy lý luận phê bình và được xem là “người mở đường tài năng, tinh anh” Tác phẩm “Hãy đọc lời
ai điếu cho một giai đoạn minh họa” của ông đã gây một tiếng vang lớn, có tácdụng thức tỉnh rất nhiều những nhà văn cùng thời có đủ bản lĩnh để nhìn thẳng vào
sự thật, nghiêm túc kiểm điểm lại mình và đặt ra nhiệm vụ sáng tác mới cho mộtgiai đoạn mới, không thể giữ đôi mắt cũ để nhìn cuộc sống mới
vai trò không nhỏ của lĩnh vực báo chí Sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,báo chí đã tạo đà để có bước phát triển mạnh mẽ Sự đa dạng các tờ báo từ Trungương đến địa phương, sự hoạt động sôi nổi của các diễn đàn văn hóa, sự tham giatích cực của các nhà báo làm công tác phê bình, nhiều nhà văn nhà thơ đồng thờicũng là nhà báo khiến cho văn học và báo chí ngày càng có mối liên hệ mật thiếtvới nhau, khiến đời sống văn học, báo chí và phê bình ngày càng trở nên sôi nổi.Những tác giả tiêu biểu như Thiếu Mai, Ngô Thảo, Lại Nguyên Ân, Vương TríNhàn, Phong Điệp… góp phần làm cho không khí phê bình đa sắc hơn Tuy nhiên,
do đặc trưng của báo chí là nặng về việc cập nhật thông tin sự kiện mang tính thời
sự, những vấn đề mới một cách nhanh chóng chính xác, cho nên những bài phê bìnhthường không sâu, chưa có tính lý luận khái quát cao Tuy vậy, cùng với sự vậnđộng, biến đổi của nền văn học từ sau năm 1975, mặc dù vẫn chưa thoát khỏi tình trạng phân tán nhưng đội ngũ tác giả phê bình từ sau 1975, chủ yếu là từ 1986 kháđông đảo, trong đó hứa hẹn nhiều những cây bút có phong cách, đủ bản lĩnh đểgánh vác công việc lớn lao trong nghiên cứu văn học
những cây bút đã thành danh, một thời mang kiểu tư duy cũ, nay chuyển sang kiểu
tư duy mới như Hoàng Ngọc Hiến, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, PhanNgọc, Hoàng Trinh, Phong Lê, Phương Lựu, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Hạnh,
Trang 24Nguyễn Đăng Mạnh, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trương ĐăngDung, La Khắc Hòa, Phạm Xuân Nguyên, Lê Huy Bắc, Phan Trọng Thưởng, LưuKhánh Thơ, Nguyễn Văn Long, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp….; đã tạo luồnggió mới thổi tung những ao tù nước đọng, đưa lý luận phê bình trở về với những
thi pháp học (1998)- Trần Đình Sử; Từ văn bản đến tác phẩm (1998) và Tác phẩm văn học như một quá trình (2004)- Trương Đăng Dung; Thi pháp hiện đại
con vật lưỡng thê ấy (2010)- Đỗ Lai Thúy; Lý thuyết văn học hậu hiện đại (2011)-
Phương Lựu, Những chuyển động của thơ Việt Nam đương đại – Nguyễn Đăng
Điệp… đã thực sự đem đến những thành tựu quan trọng, một quan niệm cởi mởcho lý luận phê bình văn học Từ sau năm 1986, đội ngũ phê bình văn học ngàycàng trở thành một lực lượng đông đảo góp phần đổi mới tư duy và diện mạo củaphê bình văn học, giúp công tác phê bình tìm thấy vai trò thực sự của mình trongđời sống văn học vốn đang chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ mới Nổi bật nhấttrên diễn đàn phê bình văn học thời kì mới là những tên tuổi: Nguyễn Đăng Mạnh,Chu Văn Sơn,Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Lai Thúy
tìm hiểu thế giới nghệ thuật của nhà văn, để từ đó tìm ra phong cách nghệ thuật của
họ Ông rất thành công trong việc xây dựng một phương pháp luận nghiên cứu tácgiả văn học, dồng thời cũng để lại nhiều bài tiểu luận xuất sắc khi khắc họa chândung, phong cách nhà văn hiện đại như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Đình
thuyết về thi pháp Ông được biết đến không chỉ như một chuyên gia về Thơ Mớivới Ba đỉnh cao Thơ Mới khi tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Xuân Diệu, NguyễnBính và Hàn Mặc Tử, mà còn là nhà phê bình có nhiều quan tâm đến thơ đương đại.Với độ nhạy cảm cao, Chu Văn Sơn luôn phát hiện ra “ mắt thơ” ở mỗi nhà thơ, coi
Trang 25đó như cánh cửa mở rộng vào thế giới nghệ thuật của họ Cũng trong Ba đỉnh caoThơ mới, Chu Văn Sơn đã tìm ra được tốp ba chân kiềng của Thơ mới: Xuân Diệu- mới nhất; Nguyễn Bính- quen nhất; Hàn Mặc Tử- lạ nhất và ông xem họ như làTam Đảo, Ba Vì của Thơ mới Sở dĩ ông nhạy cảm được với các nhà thơ như vậy là
nghệ thuật độc đáo của họ Phê bình của Chu Văn Sơn lôi cuốn bởi chất văn baybổng, bởi những lý lẽ xác đáng, khoa học… Lối văn Chu Văn Sơn không nặng chấthàn lâm, kinh viện mà khá cởi mở, phóng khoáng với một giọng văn êm dịu, mộtlối sử dụng ngôn ngữ lịch lãm, sang trọng tạo nên một sức cuốn hút kì lạ đối với người đọc Ấn tượng nhất khi đọc những bài viết của ông là khả năng phát hiện tinh
tế cái thần của tác phẩm, hồn văn của một tác giả để rồi đưa ra những nhận xét ngắngọn nhưng lại có sức khái quát hết sức lớn lao Với “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam,ông viết “ Đó là hai đứa trẻ trên một thế giới già nua, là hai mầm cây non vừa đâmlên trên một mảnh đất khô cằn, bạc phếch Liệu chúng có thể lớn lên thành nhữngcái cây tươi tốt, khỏe mạnh hay không? Hay chúng sẽ sớm tàn tạ, héo úa đi nhưnhững cái cây kia của phố huyện này Hãy cứu lấy những đứa trẻ, cứu lấy tương laicủa phố huyện này, của thế giới này” Với “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, ông viết: “Người ta thấy cái tâm đang điều khiển cái tài, cái tài đang phụng sự cái tâm.Nói đúng hơn cái tài, cái tâm đang hòa vào nhau để tạo nên cái đẹp” Chu Văn Sơn gọi Nguyễn Bính là “kiếp con chim lìa đàn”, Hàn Mặc Tử là “một định nghĩa bằngmáu về thơ”, Hoàng Cầm là “gã phù du Kinh Bắc”, Nguyễn Duy là “thi sĩ thảodân”, Vi Thùy Linh là “thi sĩ ái quyền”… Lối văn của Chu Văn Sơn cứ từ tốn, chậmrãi, nhẹ nhàng nhưng lại hấp dẫn người nghe đến kì lạ
luận Thi pháp học 1998, thi pháp thơ Tố Hữu 1987, Thi pháp văn học Trung đạiViệt Nam 1998, Thi pháp Truyện Kiều 2002) Ông rất coi trọng yếu tố hình thức(hình thức mang tính quan niệm, hình thức mang tính quy phạm, hình thức thốngnhất với nội dung, hình thức là mô hình thế giới nghệ thuật được kiến tạo bằng ngôntừ) Ông là người đi tiên phong trong việc khắc phục việc chia tách nội dung và
Trang 26hình thức khi phân tích văn bản, tác phẩm nghệ thuật Trần Đình Sử là nhà nghiên cứu được tiếp nhận nhiều tri thức văn hóa từ Trung Quốc và Liên Xô Đến với vănchương khá muộn nhưng ông đã tạo lập được dấu ấn phong cách của mình trênnhiều lĩnh vực từ văn học trung đại đến văn học hiện đại, cả trong lĩnh vực nghiêncứu lý luận Điều nhà văn quan tâm nhất khi là nghiên cứu đó chính là mối quan hệgiữa nội dung và hình thức nghệ thuật Chính vì vậy, thi pháp học được ông nghiêncứu một cách công phu, tỉ mỉ, có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nhà nghiên cứu saunày Giáo trình nghiên cứu thi pháp của Trần Đình Sử trở thành một tài liệu quantrọng được giảng dạy hoặc làm tài liệu tham khảo cho hầu hết sinh viên Văn khoacũng như nhiều nhà nghiên cứu
phê bình nhất định nào như một số đồng nghiệp, nhưng trên thực tế, các bài phêbình của ông luôn được miêu tả, cắt nghĩa một cách kĩ càng, thấu đáo với cái nhìn điềm tĩnh, cách viết chừng mực, kín kẽ mà vô cùng sắc sảo Ông đã có những pháthiện thú vị khi viết về Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Hoàng Cầm, Vi Thùy Linh, Nguyễn Quang Thiều, Hữu Thỉnh…đặc biệt nhất gần đây với việc “trình làng” và được nhận giải thưởng cho cuốn sách „Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện
tượng”, ông đã góp phần quan trọng vào việc nhìn lại cả một chặng đường thơ ca
Việt Nam hiện đại sau nhiều lần chuyển dịch “hệ hình” thơ Nguyễn Đăng Điệpcũng chỉ ra con đường hiện đại hóa thi ca không bao giờ thẳng tắp mà luôn cónhững khúc quanh lịch sử, nhưng với sự vượt thoát đi lên, thơ Việt Nam đã tạođược những cú hích mang tính đột phá trong hành trình hiện đại hóa Dù không cóđiều kiện để khảo sát tất cả các nhà thơ hiện đại, hậu hiện đại….nhưng với sự lốiviết sắc, chín của mình Nguyễn Đăng Điệp đã thực sự tái hiện “những sinh thể thica” từ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên cho đếnHữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Thiều,Trương Đăng Dung Trong đó bài viết về Trương Đăng Dung của Nguyễn ĐăngĐiệp chủ yếu xoay quanh tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng với những ám ảnhthời gian, những dằn vặt về kiếp sống nhân sinh, về sự mong manh của thân phận
Trang 27con người, về những điều phi lý đang tồn tại trong cuộc sống….Cuốn sách tuy
Nguyễn Đăng Điệp lại cho người đọc nhận thức được rõ nét những bước chuyểnmình vượt thoát đi lên của thơ ca Việt Nam Sự chuyển mình của thơ ca có lúc gậpghềnh, quanh co, đứt đoạn nhưng đó là những bước chuyển quan trọng để đến vớicái mới, với sự giao thoa và hội nhập của thời đại mới Đó cũng chính là sự thay dađổi thịt của “sinh thể thơ ca” trong quá trình hiện đại hóa
như là một thứ duyên nợ trong sự nghiệp nghiên cứu văn học của mình Đọc nhữngbài viết của ông, ta thấy một cá tính, một lối phê bình riêng biệt không hề trộn lẫnvới bất cứ nhà phê bình nào Gặp Đỗ Lai Thúy, nhận thấy ở ông một cá tính cũngthật khác biệt Vừa trầm ngâm, giản dị, vừa tự nhiên mà rất đỗi chân tình Cái giản
dị chân tình, cộng với chút “bụi bặm” mang cốt cách nghệ sỹ và một tư duy khoahọc nhạy bén đã hun đúc lên một Đỗ Lai Thúy với những trang viết tài hoa, tinh tế,sắc sảo Nhưng trước khi đến với phê bình, Đỗ Lai Thúy cũng đã từng làm thơ, viếtvăn, viết kịch, làm biên tập….đã có những khoảng thời gian sống đúng cuộc đời củangười nghệ sỹ thực thụ Nhưng rồi công việc đó đều dang dở và ông chọn phê bìnhlàm bước đi sau cùng, xem đó là “bản mệnh” của mình, là “nghiệp” của mình Đốivới ông, phê bình văn học thực sự là một “con vật lưỡng thê” bởi nó thỏa mãn nhànghiên cứu ở cả hai phương diện: một bên là trí tuệ- khoa học với một bên là tìnhcảm- nghệ thuật Điều đặc biệt ở nhà phê bình Đỗ Lai Thúy là ông bước đi giữa đôi
bờ ấy, một chân trên con đường nghệ thuật và chân kia bên lãnh địa khoa học Nóichung, muốn làm một nhà phê bình không thể không có tố chất của một người nghệ
sỹ và không thể không có một trực giác nghệ thuật hay một linh khiếu thẩm mỹ.Muốn phê bình tốt thì cần phải cảm thụ tác phẩm tốt trước đã Và nhà phê bình ĐỗLai Thúy vẫn miệt mài đặt chân trên hai con đường ấy để đến với lối thám mã của
nay, mấy chục năm gắn bó với nghề, niềm vui nỗi buồn, thành công và những thịphi có những lúc bủa vây lấy ông Nhưng nhận thức nó như là một tất yếu, một cái
Trang 28giá thường tình phải đánh đổi cho nghiên cứu nghệ thuật, Đỗ Lai Thúy vẫn giữ mộtthái độ điềm nhiên, một phong thái đĩnh đạc, một cách ăn nói chừng mực, kiệmlời… ông cứ cặm cụi với từng con chữ và để lại nhiều những trang phê bình độcđáo, sâu sắc
chưa có vị trí chắc chắn hay chưa được nhìn nhận đúng với vai trò như một khoahọc, những nhà phê bình chuyên nghiệp còn ít, ai cũng có thể làm phê bình khi ngẫuhứng, nhiều lối phê bình đơn giản, dễ dãi, đôi khi thổi phồng hoặc bóp méo các giátrị văn học sẽ ngăn cản tiến trình phát triển văn học nói chung… Tuy vậy, với khátvọng cách tân cháy bỏng của những nhà lý luận phê bình chân chính, phê bình vănhọc nói chung, phê bình thơ nói riêng đã từng bước gia tăng tính chuyên nghiệp, đadạng phong phú, chất lượng Trên đà đổi mới, công tác phê bình đang nỗ lực đểngày một cập nhật với sáng tác, nhuần nhuyễn trong lý luận, ý thức cá tính hóa ngàycàng cao trên tinh thần dân chủ và khoa học Trong nhiều năm qua, phê bình trong
hệ thống các khoa học văn học có nhiều bước tiến đáng kể xứng đáng với sự kìvọng của công chúng yêu văn chương
1.2 S ự xuất hiện của Đỗ Lai Thúy
Đỗ Lai Thúy là nhà phê bình chịu ảnh hưởng sâu sắc của lối phê bình phân tâm học Ông chọn phân tâm học làm chìa khóa để tiếp cận thế giới nghệ thuật củaNguyễn Du, Hồ Xuân Hương, nhận thức lại Thơ Mới hoặc khám phá những cáikhác, bí ẩn độc đáo của các nhà cách tân thơ Việt….Mấy chục năm làm việc miệtmài, Đỗ Lai Thúy đã có nhiều đầu sách gây tiếng vang Ông bắt đầu nổi tiếng tronggiới nghiên cứu, phê bình văn học với “Mắt thơ” (Nxb Lao Động, 1992; Nxb Giáodục, 1997; Nxb Văn hóa Thông tin, 2000; Nxb Hội nhà văn, 2012) Sau Mắt thơ,
Đỗ Lai Thúy có: “Từ cái nhìn văn hóa” (Nxb Văn hóa dân tộc, 1999), “Hồ XuânHương hoài niệm phồn thực” (Nxb Văn hóa thông tin, 2000), “Chân trời có người
văn hóa” (Nxb Văn hóa thông tin, 2005); “Bút pháp của ham muốn” (Nxb tri thức,
Trang 29như là mỹ học của cái khác’ (Nxb Hội nhà văn,2012) Ngoài viết sách viết, Đỗ Lai
chân những người khổng lồ” (Nxb Văn hóa thông tin, 2006), “Phân tâm học và văn
hóa nghệ thuật” (Nxb Văn hóa thông tin, 2000, 2004), “Phân tâm học và văn hóa
Văn hóa thông tin, 2003), “Phân tâm học và tính cách dân tộc” (Nxb tri thức,
trước độc giả chủ yếu như một nhà nghiên cứu, phê bình văn học Nói đến phê bình
Đỗ Lai Thúy, độc giả nhớ về phương pháp phê bình phân tâm học Ông là người cócông lớn trong việc đưa phân tâm học vào nghiên cứu cứu văn học như một phươngpháp chính thống mà trước nay ở nước ta vốn không mặn mà, thậm chí tẩy chay nó.Ông gắn bó với phân tâm học bao nhiêu năm và thấy rõ được tác dụng tích cực củaphương pháp này đối với nghiên cứu các tác giả, tác phẩm văn học Đóng góp đầutiên là với bộ sách được biên soạn công phu, gồm bốn cuốn “Phân tâm học và văn
hóa nghệ thuật”, “Phân tâm học và văn hóa tâm linh”, “Phân tâm học và tình yêu,
Phân tâm học và tính cách dân tộc” Với bộ sách này, ông là người vận dụng phântâm học vào phê bình văn học Việt Nam, là cầu nối của tư duy hiện đại sang đếnhậu hiện đại Mặc dù, phân tâm học còn khá xa lạ ở Việt Nam, nhưng Đỗ Lai Thúy
đã sớm thành công, tạo được ấn tượng bất ngờ, mạnh mẽ, tiêu biểu là các công trình
Hoàng Cầm, Đỗ Lai Thúy tiếp cận từ những ẩn ức đời tư, những éo le trong cảnhngộ, những sang chấn tâm lý từ thủa thiếu thời cho đến lúc trưởng thành của nhàthơ….để giải mã những giấc mơ, tìm ra những đặc trưng thơ Hoàng Cầm Haynghiên cứu Chế Lan viên, Đỗ Lai Thúy liên tưởng đến căn bệnh “rối loạn đa nhâncách” , có một Chế Lan Viên tồn tại như một cái tháp bốn mặt mà chỉ cần nhìn mộtmặt thôi cũng đã thấy đủ “nghìn trò cười khóc” Còn nghiên cứu về Hồ XuânHương, Đỗ Lai Thúy vận dụng triệt để phân tâm học, chỉ ra mối quan hệ giữa cái
Trang 30văn hóa học Nhìn chung, Đỗ Lai Thúy luôn lấy tư tưởng của S Freud làm hệ quychiếu Phân tâm học của S Freud được xây dựng trên nền tảng của hai hệ thống líthuyết: lí thuyết về ham muốn và lí thuyết về vô thức S Freud quy mọi hành vi củacon người vào ham muốn, chủ yếu là ham muốn tính dục Ham muốn này được chegiấu trong vô thức, hóa thành ẩn ức, mặc cảm Ẩn ức bị dồn nén lâu ngày hóathành một thứ tâm bệnh đòi hỏi phải được giải tỏa Nghệ thuật chính là sự thăng hoacủa cái ẩn ức tính dục bị dồn nén kia Tuy nhiên, khi áp dụng phân tâm học vàonghiên cứu các hiện tượng văn học, Đỗ Lai Thúy luôn nhìn mỗi hiện tượng văn học
ấy trong sự đa dạng, không hiện tượng nào giống hiện tượng nào Nhà phê bình tìmcho mỗi hiện tượng văn học một cách tiếp cận khác nhau Đây cũng chính là điểmkhác biệt lớn nhất trong hướng nghiên cứu của ông so với các bậc tiên khu Thêm nữa, trước năm 1945, những nhà phê bình phân tâm học Việt Nam như TrươngTửu, Nguyễn Văn Hanh luôn chú ý nghiên cứu bối cảnh lịch sử xã hội, tiểu sử nhàvăn …làm nền tảng để cắt nghĩa lý giải văn bản, tức là hai ông đi theo xu hướngphân tâm học tác giả Họ cũng phân tích văn bản, nhưng đối tượng tìm kiếm của họtrong văn bản là trạng thái tâm lí của nhân vật trữ tình (với ca dao, thơ Hồ XuânHương), hoặc nhân vật truyện kể (Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du) Mục đích tìm kiếm của họ là hoàn nguyên hình tượng tâm lí tác giả Cho nên, cáctác phẩm “Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương”, “Kinh thi Việt Nam”, “Nguyễn Du và
Truyện Kiều” của Trương Tửu, “Hồ Xuân Hương: Tác phẩm, thân thế và văn tài”
của Nguyễn Văn Hanh đều thuộc phạm trù phê bình phân tâm học tác giả Đỗ Lai
để cắt nghĩa lý giải các hiện tượng văn học Cho nên, phê bình Đỗ Lai Thúy là phê
yếu tố về thời đại, hoàn cảnh sống, thân thế tác giả….ngược lại ông luôn xem chúngnhư những “gia vị” để làm sâu sắc hơn các hiện tượng văn học Ví dụ, viết về tập
Về Kinh Bắc, Đỗ Lai Thúy phải nhắc tới cái “vết nứt tâm – địa chấn” trong tâm hồnHoàng Cầm sau vụ Nhân văn giai phẩm để độc giả hiểu sâu hơn những ẩn ức tâm lýcủa nhà thơ Còn lại, chỗ dựa để ông cắt nghĩa cái nhìn nghệ thuật của nhà văn
Trang 31chính là văn bản Chất liệu chính của văn bản là các phạm trù ngôn ngữ hiểu như lànhững cấu trúc biểu nghĩa được sử dụng trong văn bản nghệ thuật là cơ sở quantrọng nhất, khách quan nhất cho người làm nghiên cứu phê bình dựa vào để đánhgiá, thẩm bình Ngoài ra, Đỗ Lai Thúy không phải chỉ tìm tới duy nhất một phươngpháp phê bình, mà ở ông là sự kết hợp nhiều phương pháp phê bình khác nhau nhưphong cách học, thi pháp học, ký hiệu học, phân tâm học Và ứng với mỗi đối tượngnghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp nào cho hiệu quả Ví dụ như, nghiên cứuHoàng Cầm, Hồ Xuân Hương ông sử dụng phê bình phân tâm học, nghiên cứu LêĐạt dùng kí hiệu học, nghiên cứu Bích Khê dùng ngôn ngữ học….tức mỗi đốitượng sẽ có một phương pháp phê bình chủ đạo để nghiên cứu
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
phê bình về thơ đặc sắc nhất đó chính là Mắt thơ và Thơ như là mỹ học của cái
khác Với hai chuyên luận này, Đỗ Lai Thúy đã tái dựng lại cả một tiến trình thơ catrong bối cảnh hiện đại bắt đầu từ Thơ mới cho đến thơ Việt Nam sau giai đoạn Thơmới Cũng từ hai chuyên luận này, Đỗ Lai Thúy đã đem đến cho thơ ca một diệnmạo phê bình mới Lần đầu tiên, thơ dưới góc độ phê bình được khám phá, giải mã
ở nhiều tầng kích, bằng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau Nếu trong Mắt thơ,
Đỗ Lai Thúy mở cánh cửa xâm nhập vào thế giới của chín gương mặt Thơ mới
ông chọn ra bảy gương mặt thơ tiêu biểu của thơ Việt thời hậu Thơ mới và nỗ lựctìm kiếm cái Khác trong “Mắt thơ‟ lần hai Một điều đáng lưu tâm nữa đó là, cả haichuyên luận phê bình thơ này, Đỗ Lai Thúy chỉ chọn ra một số các nhà thơ để đưavào nghiên cứu Ông không liệt kê rườm rà tất cả các tác giả, tác phẩm của họ, màchỉ quy tụ gói gọn trong hơn chục người Lẽ cố nhiên, cả một thời đại lớn, thi nhânkhông dừng chân ở hơn chục gương mặt như trong sách của Đỗ Lai Thúy, thậm chícòn rất nhiều những nhà thơ lớn hơn nhưng với nhà phê bình, những thi nhân đượcđặc chọn có duyên “hạnh ngộ” với nhà phê bình Và đã là cơ duyên thì chỉ có thểdùng những nung nấu của ngòi bút để viết về nhau, viết cho nhau mong báo đápchút “tình tri âm” Có thể nói với Mắt thơ và Thơ như là mỹ học của cái khác, ĐỗLai Thúy đã định hình một cách chắc chắn phong cách phê bình thơ của mình, gópphần đưa phê bình thơ đi vào quỹ đạo mới với những đột khởi mới, giúp phê bình thơ nói riêng và phê bình văn học nói chung sống đúng bản chất của một trong ba
bộ phận cấu thành khoa học văn học
Trang 33CHƯƠNG 2
“NGƯỜI THƠ TRONG MẮT THƠ”
2.1 Thơ mới và cái Tôi nhìn từ Mắt thơ
2.1.1 Khái quát về Thơ mới và sự xuất hiện của cái Tôi
Phong trào Thơ mới 1932-1945 đã mang một diện mạo đa màu sắc qua tác
phẩm phê bình Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh- Hoài Chân Thi nhân Việt
con mắt của Hoài Thanh- Hoài Chân, ta thực sự nhìn thấy sự lên ngôi rực rỡ của cáitôi cá nhân khi nó thoát khỏi sự trói buộc của ý thức hệ Nho gia, tịnh tiến dần đếnvới ảnh hưởng của mĩ học phương Tây Khi phong trào thơ mới ra đời, đã có rấtnhiều cách hiểu về nó: có người xem Thơ mới là thơ lãng mạn, có người xem Thơmới là cách hiểu để phân biệt với thơ cũ (thơ truyền thống), có người lại cho đó làthơ tự do v v… Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh quan niệm : “Thơ mới là sựđổi mới nội dung lẫn hình thức thơ, nhưng cái chính là nội dung, là phần hồn của
rằng : “Thơ mới là thơ xuất hiện sau năm 1932 và làm bởi những người có tân học,chịu ảnh hưởng rõ rệt câu thơ, câu văn của Pháp… các thi sĩ Thơ mới chống lại lốithơ gò bó, khuôn sáo trên báo chí đương thời mà họ gọi là thơ cũ Họ chủ trương
đổi mới thơ ca và gọi thơ đổi mới của họ là thơ tự do” Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy lại cho rằng: “Khái niệm Thơ mới được dùng ở đây để chỉ dòng thơ xuất hiện
từ những năm 1932-1945 Trước đây, Thơ mới thường được gọi là thơ lãng mạn bởi
muốn đối lập nó với thơ Cách mạng hoặc chỉ bởi thấy nó là lãng mạn chứ khôngthấy sự vận động từ lãng mạn sang tượng trưng và chớm sang siêu thực của nó” Cách định nghĩa Thơ mới của nhà phê bình Đỗ Lai Thúy thâu tóm được cả lược sửThơ mới, sự tồn tại, vận động cũng như phạm vi còn thiếu sót trong sự tồn tại củaThơ mới Trong Từ điển văn học, phong trào Thơ mới được xem là phong trào thơ
ca việt Nam xuất hiện từ năm 1932 và phát triển mạnh mẽ cho tới Cách mạng thángTám năm 1945…được thơ ca giai đoạn sau 1945 kế thừa và phát huy trở thành hình thức thơ ca của thời đại Nói chung, sự phát triển phong phú về thơ ca giai đoạn
Trang 341932-1945 đã tạo ra sự phong phú trong cách hiểu và tiếp nhận Thơ mới Dù hiểutheo cách như thế nào, ta vẫn khẳng định được Thơ mới là một hiện tượng văn họcvận động không ngừng trong tiến trình văn học mà ở đó cốt lõi của nó là sự cách tântriệt để về Thi pháp và sự bùng nổ mãnh liệt của cái Tôi cá nhân
nó đã giải phóng cái Tôi cá nhân, khiến cái Tôi “nổi loạn”, nó giải thoát cho vănhọc thoát khỏi ao nước tù đọng để vươn mình ra dòng sông thơ ca mới Nếu trướcThơ mới, con người luôn bị ràng buộc bởi những trách nhiệm và nghĩa vụ với quêhương, đất nước, gia đình … cho nên con người sống trước hết vì cái ta chung, cái
ta nhân danh cộng đồng Đó là con người trong mối quan hệ với vua – tôi, cha- con, chồng- vợ, với nợ tang bồng trung quân ái quốc, với trung- hiếu- tiết- nghĩa Conngười mang trên vai những vấn đề lớn lao của thời đại ( trả thù nhà, đến nợ nước)
Vì rất nhiều nghĩa vụ nên con người phải gác lại tất cả những tình cảm riêng tư, gáclại tất cả những suy nghĩ thường tình để hướng đến cái ta lớn lao Cũng bởi lẽ đó,cái Tôi không có chỗ đứng Nó đứng ngoài lề cuộc sống ,bơ vơ, lạc lõng tận cùng.Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, với sự du nhập và ảnh hưởng của văn hóaphương Tây vào Việt Nam, một cuộc Cách mạng thi ca bùng nổ Rầm rộ cùng một
những nhà thơ mới và phong trào Thơ mới Cũng lần đầu tiên, cái Tôi có cơ hộiđược thăng hoa Một loạt chân dung Thơ mới độc đáo như những “vì sao lạ” chiếm
lĩnh bầu trời văn học Việt Nam Mở đầu với bài Tình già của Phan Khôi đăng trên
Phụ nữ tân văn số 10/03/1932 và gần như kết thúc với nhóm Xuân thu nhã tập Cảmột thời đại phát triển, người ta bắt gặp được biết bao giọng thơ mới mẻ: Thế Lữđưa ta đến với chốn bồng lai, tiên cảnh; Nguyễn Bính đưa ta về không gian làng quêthơm mát ngọt ngào; Lưu Trọng Lư giúp ta tìm kiếm một vùng đất của tuổi hoamộng; Chế Lan Viên vẽ ra trước mắt ta một thế giới điêu tàn, kinh dị với muôn mahờn sờ soạng dắt nhau đi; Hàn Mặc Tử mang cả hai thái cực của niềm vui- nỗibuồn, sự sống- cái chết, hạnh phúc- khổ đau vào trong thơ với tất cả tình yêu vô bờ
và tha thiết hướng về cuộc đời trần thế trong những suy tư, dằn vặt; hay đến với thế
Trang 35giới thơ ca của Xuân Diệu, người đọc như lạc vào cả một vườn hoa đầy hương sắcngọt ngào mà thi nhân dành trọn vẹn tình yêu và khát khao sống mãnh liệt của mình
để dâng tặng cho đời… tất cả đã góp phần tạo ra thời đại của cái Tôi tồn tại vớiđúng cái chất riêng của mình, không pha tạp trộn lẫn, và cũng không phải buộcgánh trên vai nó bất kì một nhiệm vụ nào khác nữa
một “thời đại trong thi ca” Hai nhà phê bình nhận thấy trên thi đàn cùng một lúc xuất hiện một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, hùng tráng như Huy Thông, trong sángnhư Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dịnhư Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu….Mỗi nhận địnhngắn gọn mà thâu tóm được các hồn Thơ mới, được cả phong cách nhà thơ Nhà phê bình dùng “ hồn tôi để hiểu hồn người”, lấy chính những rung động con tim củamình để mở cửa thế giới nghệ thuật Thơ mới Cho nên đọc, ta bắt gặp một thế giớicủa riêng Hoài Thanh- một thế giới tràn đầy màu sắc, đầy ấn tượng Khi phê bình,Hoài Thanh chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường phái ấn tượng Bản chất của phêbình ấn tượng gắn chặt với những nhận định chủ quan, cho nên người ta gọi đó làphê bình ấn tượng chủ quan Các nhà phê bình Ấn tượng chỉ tin vào tác phẩm vàvào bản thân mình để ghi lại những cảm nghĩ, những rung động ấn tượng chủ quancủa mình về tác phẩm Nhà phê bình phần lớn chỉ quan tâm đến tác phẩm, bỏ quatác giả hoặc tách tác giả ra khỏi mối liên hệ với tác phẩm Cảm xúc cá nhân của nhàphê bình, những ấn tượng của nhà phê bình về tác phẩm được cảm nhận qua chínhtâm hồn họ Họ đến với thế giới Thơ mới qua cách một tâm hồn đồng điệu gặp mộttâm hồn đồng điệu Họ suy nghĩ cảm nhận như thế nào sẽ viết như thế ấy Họ thànhthật một cách tuyệt đối những cảm xúc, ngẫm suy của mình trên trang giấy Và
tâm tư, tình cảm đối với đối tượng phê bình mình đang hướng tới Không giống nhưcác nhà phê bình khách quan khoa học, phê bình ấn tượng nói chung, phê bình Hoài
những đặc trưng Thơ mới Ông không ngần ngại , rụt rè nói thẳng nói thật lòng
Trang 36mình Trong cả một “ thời đại thi ca” cũng đâu phải nhà phê bình chọn hết hoặcchọn đại đối tượng nghiên cứu Ông chỉ tập trung vào những nhà thơ và những bàiThơ mới mà ông cho là hay nhất, đáng nghiên cứu nhất, hoặc chí ít tác giả tác phẩm
ấy có cái duyên “ tri âm” với nhà phê bình Con đường để đến với thế giới vănchương nghệ thuật nhiều khi gồ ghề chông gai, nhưng đôi lúc thật giản đơn và lắmnhững tình cờ Xét cho cùng đó là chuyện đồng tâm, đồng điều, đồng hồn Hoài Thanh đã thực sự là người đi tiên phong tìm được chiếc chìa khóa để mở cánh cửaThơ mới, ngụp lặn hồn mình trong thế giới thơ lãng mạn Ông viết thật hay, thật tài
về nhiều nhà Thơ mới như Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Thông, HuyCận, Hàn Mặc Tử….cùng những tác phẩm của họ được trích in cẩn thận Lời đầu
nhưng thâu tóm rất trúng tinh thần cái tôi cá nhân Thơ mới Có thể xem Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh- Hoài Chân là công trình phê bình có giá trị đầu tiên vềThơ mới Với phương pháp phê bình ấn tượng chủ quan, Hoài Thanh đã chỉ rõ vănphong mỗi nhà Thơ mới, nhận xét một cách nghiêm túc về tác phẩm của họ Chođến nay, cuốn sách vẫn là tài liệu tham khảo nghiên cứu đáng tin cậy cho độc giả vànhiều nhà phê bình văn học Bằng chứng là nhiều đoạn trong Thi nhân Việt Nam được đọc thuộc, được trích dẫn nhiều nơi Người ta chẳng phải đã đọc đến thuộclòng cách đánh giá của Hoài Thanh: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Namchưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người tathấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như LưuTrọng Lư, hung tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo nãonhư Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan viên….và thiết tha rạo
rực băn khoăn như Xuân Diệu” [17,tr.34] Hay khi ông định nghĩa về cái Tôi thơ
mới , ta cũng thấy nó đặc biệt biết bao: “Khi chữ Tôi với cái nghĩa tuyệt đối của nóđến giữa thi đàn việt Nam, bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu Nó cứluôn đi theo các chữ anh, chữ bác, chữ ông đã thấy chướng Huống hồ giờ nó đếnmột mình Nhưng, ngày một ngày hai, nó mất dần cái vẻ bỡ ngỡ nó được vô số
người quen Người ta lại còn thấy nó đáng thương Mà thật nó tội nghiệp
Trang 37quá……Đời chúng ta nắm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưngcàng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tìnhcùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùngXuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say
đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” [17,tr.34] Chất
nhân Việt Nam qua biết bao thập kỷ vẫn là cuốn sách được nâng niu, giữ gìn; vai trò
to lớn của Hoài Thanh trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc là không thể phủnhận Tuy nhiên, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh mới chỉ chỉ ra được nhữngbiểu hiện bề nổi của cái Tôi mà chưa đi sâu khám phá, giải mã cặn kẽ thế giới nộitâm phong phú, phức tạp, nhiều ẩn ức của các nhà thơ mới Hay cũng không phảitác giả, tác phẩm Thơ mới nào Hoài Thanh cũng có cảm hứng phê bình Thị hiếuthẩm mỹ của Hoài Thanh mới chỉ bó gọn trong thẩm mỹ lãng mạn, mà chưa vượtbiên sang đến được với tượng trưng, siêu thực cho nên ông thực sự lúng túng khiđứng trước một số hiện tượng thơ kì lạ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, thậm chí bỏqua những tượng đài lớn như Đinh Hùng, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh…
Năm 1992, Đỗ Lai Thúy trình làng chuyên luận Mắt thơ đã đưa Thơ mớiđược nghiên cứu theo một cách khác Đỗ Lai Thúy với chuyên luận Mắt thơ khiếnThơ Mới được nhìn với diện mạo mới, bút pháp và góc nhìn cũng hoàn toàn khác.Mắt thơ không liệt kê rườm rà các tác giả, tác phẩm mà chỉ giới thiệu những nhà thơtiêu biểu cho các trào lưu nghệ thuật tồn tại và phát triển trong thời kì 1932-1945 như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực Tác phẩm thực sự là cuộc tìm kiếm “người
thơ trong mắt thơ” và “người thơ trong mắt nhau”
Mắt thơ được chia làm 2 phần: Người thơ trong mắt thơ (Phần phê bình
trong mắt thơ bao gồm 11 chương nhỏ: Chương đầu và chương cuối: Nêu vấn đề vàtổng kết Phần trọng tâm các chương giữa: Đỗ Lai Thúy lựa chọn, sắp xếp các nhàthơ mới tiêu biểu theo quá trình phát triển: mở đầu là Thế Lữ- người đi đầu củaphong trào Thơ Mới Sau đó đến Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính (lãng mạn
Trang 38phương Tây), đến Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bích Khê (thơ tượng trưng),
dừng chân ở Hàn Mặc Tử (siêu thực) và một chương dành cho Xuân thu Nhã tập
Người thơ trong mắt nhau là phần cuối cùng, Đỗ Lai Thúy ghi chép lại lời của
“người thơ” nói/ viết về nhau trong những cảm xúc, sự tình khác nhau
không gian khám phá mới mà nhà phê bình gọi là “hành trình thám mã” Nhà phê bình mở rộng giới hạn biên độ trong cái nhìn về tác giả, tác phẩm, mạnh dạn đưavào một số đối tượng phê bình mà Thi nhân Việt Nam bỏ qua và theo Đỗ Lai Thúy
đó là một thiếu sót Cũng khác với Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Mắt thơ của
Đỗ Lai Thúy đi sâu hơn vào việc giải thích cặn kẽ nguyên nhân những cung bậc tâmtrạng, những ẩn ức đời tư, những xáo trộn cuộc sống…mà nếu nhìn từ bên ngoài
hoặc trên lập trường chủ quan khó có thể hiểu trọn vẹn
“ giải mã dấu vết”, mở cánh cửa xâm nhập vào tâm thức nhà thơ, khám phá muônđiều tinh diệu Trực giác và tâm hồn đã giúp Đỗ Lai Thúy vượt qua sự khác biệt vềthời đại sống, hoàn cảnh sống để tiếp xúc với linh hồn thi sĩ Thơ mới Ông lấy thếgiới quan khoa học, lập trường phê bình khách quan chủ nghĩa làm nền tảng kim chỉnam để định hướng cho lối tư duy phê bình của mình Ông cho rằng mỗi nhà thơmới đều có những mật mã riêng trong thế giới thơ của mình, đòi hỏi người tiếpnhận thực sự phải là một nhà giải mã Muốn giải mã, nhất định phải có chìa khóa để
mở cánh cửa vốn đang đóng kín mít xung quanh thi nhân Công việc giải mã không
hề giản đơn mà vô cùng phức tạp, khó khăn và nhọc nhằn Với Đỗ Lai Thúy, ôngcho rằng “ mã số của thơ chỉ có thể cất giấu trong và bằng ngôn từ Có khi nó nằmtrong từ chìa khóa….đó là những ám ảnh, những vết nứt địa chấn, những dòngdung nham núi lửa cho phép người đọc cảm và hiểu được những gì đang xảy ra
phẩm….mã số không nằm ở một nơi nhất định nào mà đan cài vào mọi cấp độ củatác phẩm như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, bố cục” [33,tr.25] Cũng trong chính quá
Trang 39trình thám mã Thơ mới, Đỗ Lai Thúy luôn đặt ra những yêu cầu thật nghiêm ngặtđối với nhà phê bình Nó thực sự là một công việc khoa học đúng nghĩa bởi nhà phêbình phải là người dẫn nẻo vào thế giới của cái đẹp Nhà phê bình không chỉ dừnglại ở việc khen, chê tác phẩm mà còn xây cất một văn bản khác ( một siêu văn bản )
mà văn bản ấy có thể trùng hoặc không trùng với văn bản của nhà thơ Nói khác đi,nhà phê bình không chỉ khám phá ra cái đẹp mà còn phải là người sáng tạo ra cái
đẹp Do đó, khi viết Mắt thơ, Đỗ Lai Thúy đã trăn trở rất nhiều để giải thích cho
cặn kẽ thấu đáo cái mật mã trong từng cái Tôi thơ mới
Đỗ Lai Thúy đã tổng kết lại những chiến thắng mà Cái Tôi Cá Nhân đạtđược sau một cuộc nổi dậy ồn ào: Thứ nhất, thể xác và giác quan đã được giảiphóng, thoát khỏi sự kìm hãm của khuôn khổ Nho giáo Thứ hai, đó là quyền tự dolựa chọn Tự do lựa chọn là yếu tố cần thiết để trở thành một Con Người Cá Nhânđích thực Vì vậy, “Hành trình thám mã” của Mắt Thơ là hành trình đi giải mã cáctầng tâm lý cá nhân của thi sĩ Thơ mới Dù cùng một thời đại, nhưng ở mỗi cá nhânđều có một thực tại phản ánh khác nhau nên cách họ phản ánh thực tại khác nhau
Đỗ Lai Thúy không lẩy ra các điểm thú vị như Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi
nhân Việt Nam, mà ông loay hoay tìm cách biểu hiện thực tại bên trong của các nhàthơ Thực tại bên trong này thể hiện qua các ám ảnh thơ ấu, khuyết tật thân thể,hoàn cảnh sống Những sự khác biệt của thực tại ấy tạo nên cá tính của nhà thơ,thứ được gọi là “phong cách” “Phong cách cũng là chỗ đặc dị, nơi chứa đựng mật
số của tác phẩm văn chương Nếu thi phẩm là một thông điệp nghệ thuật mà nghệ sĩngôn từ muốn gửi đến cho độc giả thì thông điệp đó phải được mã hóa Sự vào mã
của thi nhân có thể diễn ra ở tầng hữu thức hoặc vô thức, thường thì ở cả hai
Nhiệm vụ cả các nhà phê bình là cùng bạn đọc tìm cách giải mã tác phẩm Trênhành trình thám mã có khi là vô tận này, độc giả sẽ được hưởng những khoái cảmthẩm mỹ Nếu mật số được cất giấu ở tầng hữu thức thì sự kiếm tìm cũng dễ vì chìakhóa chỉ có thể để ở vài “nơi quy định” Còn khi sự mã hóa diễn ra ở tầng hầm vô
thức thì coi như chìa khóa đã rơi vào “rốn bể”.” [33,tr.24]
Trang 40Đỗ Lai Thúy bắt đầu xuất phát trên hành trình thám mã của mình qua “ngônngữ tác phẩm” chứ không phải qua tiểu sử tác giả hay hoàn cảnh xã hội Với ông,khám phá là một sự thưởng lãm Trong quá trình ấy, kiến thức khoa học và phươngpháp luận là cần thiết, nhưng cần thiết hơn hết là trực giác, một thứ bản năng tinhthần giúp linh hồn của nhà phê bình có thể vượt qua khác biệt về thời đại để tiếpxúc với linh hồn thi sĩ Và điều ấy, khiến tác phẩm Mắt Thơ toát lên khí vị của nghệ
sĩ, Đỗ Lai Thúy trở thành một nhà phê bình đa tình, người có thể cảm được cái tìnhcủa mỗi nhà thơ, người đã phong tước hiệu cho mỗi cái tình Trong hành trình giải
mới Ông nhìn thấy người bộ hành phiêu lãng trong Thế Lữ; nỗi ám ảnh thời gian ởXuân Diệu; sự khắc khoải không gian ở Huy Cận; đường về chân quê trong Nguyễn
nhân con người ấy lại có những đặc điểm riêng về tuổi thơ, hoàn cảnh sống, nhữngkhát vọng, những tổn thương và chấn động tâm lý riêng…đương nhiên sẽ sản sinh
ra những tư tưởng, quan điểm riêng Họ vượt lên trên cái chuẩn chung của Thơ mới,vươn đến cái lệch chuẩn Chính sự lệch chuẩn ấy tao ra phong cách cá nhân cho mỗinhà thơ