1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long – chi nhánh hà nội

63 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 172,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.Như đã trình bày ở trên, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, vì vậy vaitrò của nguồn vốn đối với các ngân hàng thương

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu của tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

HĐTD Hoạt động tín dụng

TCTD Tổ chức tín dụng

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1:Sơ đồ bộ máy tổ chức ngân hàng TMCP Kiên Long - chi nhánh HàNội

Biểu 2.1 Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền tại ngân hàng TMCP Kiên Long– chi nhánh Hà Nội từ năm 2013-2015

Biểu 2.2: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn tại ngân hàng TMCP Kiên Long –chi nhánh Hà Nội từ năm 2013-2015

Biểu 2.3: Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng khách hàng tại ngân hàngTMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội từ năm 2013-2015

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, nhu cầu về vốn trong nền kinh

tế ngày càng lớn do vậy hệ thống các trung gian tài chính trong nền kinh tế đã

và đang phát huy vai trò của mình là cầu nối giữa những người thừa vốn( những người có nhu cầu gửi tiền) và những người thiếu vốn (những người

có nhu cầu vay).Trong hệ thống các trung gian tài chính người ta không thểkhông nhắc tới các Ngân hàng thương mại với chức năng chủ yếu là cung cấpvốn cho nền kinh tế

Với Việt Nam, mặc dù nước ta có nguồn tài nguyên phong phú, nguồnlao động dồi dào song để khai thác hết được những thế mạnh sẵn có đó đòihỏi chúng ta phải có một nguồn vốn lớn Thêm vào đó quá trình công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước cũng đang đòi hỏi một lượng vốn lớn Vì vậy, hệthống ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc khai thác những nguồnvốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng vềvốn của khách hàng

Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt độngcủa các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút lượng vốnlớn để cho các doanh nghiệp vay, thực hiện tái đầu tư thúc đẩy nền kinh tếphát triển Đây chính là hoạt động truyền thống, chủ yếu của Ngân hàng.Chính vì vậy, kết quả huy động vốn của tổ chức tín dụng cao hay thấp có ảnhhưởng không chỉ đối với sự tồn tại và phát triển của bản thân tổ chức tín dụng

mà nó còn tác động trực tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với một nền kinh

tế vừa bước ra khỏi cơ chế bao cấp và đang khởi sắc trong những bước đầuđổi mới như ở nước ta

Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vàonhững thành tựu đã đạt được trong thập niên qua, ngành Ngân hàng đã phảivượt qua không ít khó khăn để phấn đấu cho mục tiêu phát triển đất nước Vì

Trang 7

mục tiêu này, không ai khác mà chính hệ thống Ngân hàng phải trở thành bànđạp vững chắc cho nền kinh tế Tuy nhiên, 10 năm đổi mới chưa phải lànhiều, Ngân hàng còn phải giải quyết nhiều những khó khăn trước mắt màmột trong những vấn đề nổi cộm là hiệu quả công tác huy động vốn của ngânhàng hiện nay.

Là một bộ phận cấu thành trong guồng máy của hệ thống ngân hàng,ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội đã góp phần không nhỏ vào

sự phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực Hà Nội nói riêng.Song cũng không tránh khỏi những khó khăn chung Nâng cao hiệu quả củahoạt động huy động vốn để củng cố sự tồn tại và phát triển ngân hàng, đãđang và sẽ là những vấn đề được quan tâm bởi ngân hàng TMCP Kiên Long

và hệ thống ngân hàng

Qua quá trình thực tập tại ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh HàNội, em nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng mà hệ thống ngân hàng ViệtNam nói chung và ngân hàng TMCP nói riêng rất quan tâm và tìm mọi biệnpháp nhằm hoàn thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được chinhánh còn những hạn chế, tồn tại cần khắc phục để đạt được kết quả tốt hơn

Vì vậy, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và hoàn thành đề tài: “Nâng cao hiệu

quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp với hy vọng góp phần nhỏ bé

của mình vào việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn kinh doanh tại chi nhánh

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chất lượng huy động vốn của NHTM

nói chung và ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội nói riêng

* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chất lượng huy động vốn tại ngân

hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội từ năm 2013 đến năm 2015.

4 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp với kiến thức đã học được ở nhà trường cùng với sự hướng dẫn,chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn thực tập, bên cạnh đó em còn kết hợp một sốphương pháp nghiên cứu sau:

• Phương pháp thống kê kinh tế: xử lý số liệu thu thập được

• Phương pháp tổng hợp và thống kê: thống kê số liệu của đơn vị thực tập, tổnghợp thông tin từ sách báo, Internet… từ đó rút ra nhận xét, kết luận

5 Kết cấu Khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mụcbảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, Khóa luận được trình bàytheo 3 chương sau với cấu trúc như sau:

Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương Mại.

Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hà Nội.

Do thời gian có hạn, vấn đề lại rất phức tạp và đa dạng, hơn nữa khảnăng chuyên môn và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, nên những gì emtrình bày trong khóa luận khó tránh khỏi sai sót, rất mong có sự bổ sung, góp

ý hướng dẫn của các thầy, cô và đơn vị nơi em thực tập

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 9

1.1 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.

1.1.1. Khái niệm nguồn vốn.

Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạolập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng

1.1.2 Kết cấu nguồn vốn.

Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đivay, và một số vốn khác

* Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, đó là nguồntiền được đóng góp chủ yếu bởi những người chủ ngân hàng Vốn chủ sở hữucủa ngân hàng bao gồm các loại khác nhau và được phân thành vốn cấp 1 vàvốn cấp 2

Trong đó vốn cấp 1 ( vốn cơ bản) được xem là sức mạnh tiềm lực thực

sự của ngân hàng

+Vốn cấp 1 bao gồm:

-Vốn điều lệ

-Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ

-Lợi nhuận không chia

-Thặng dư vốn cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luậttrừ đi phần được dùng để mua cổ phiếu quỹ( nếu có)

+Vốn cấp 2 ( vốn bổ sung) bao gồm :

-Giá trị tăng thêm của tài sản cố định và giá trị tăng thêm của các loạichứng khoán đầu tư được định giá lại theo quy định của pháp luật

-Quỹ dự phòng tài chính

-Trái phiếu chuyển đổi do TCTD phát hành và các công cụ nợ khác thỏamãn các điều kiện quy định của pháp luật

* Vốn huy động

Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền( nội tệ và ngoại tệ)

và bằng vàng được hình thành từ 2 bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốnhuy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá

Trang 10

* Vốn đi vay.

Trong quá trình kinh doanh các NHTM luôn có tình trạng dư thừa vàthiếu vốn tạm thời, khi đó các NHTM có thể gửi số vốn tạm thời nhàn rỗi vàocác TCTD khác để hưởng lãi hay đi vay vốn của các TCTD khác để tận dụng

cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán, các quy định của phápluật có liên quan

+Vốn vay của các TCTD khác

Hầu hết các NHTM đều được tổ chức thành hệ thống nhiều chi nhánh vàhạch toán kinh doanh toàn hệ thống Các chi nhánh thực hiện việc điềuchuyển vốn qua hội sở chính thông qua cơ chế vay mượn hoặc cơ chế muabán vốn Khi thiếu vốn các chi nhánh có thể được nhận điều chuyển vốn hoặcmua vốn từ hội sở chính Nếu trong hệ thống ngân hàng không đáp ứng đủnhu cầu các NHTM có thể đi vay của các TCTD khác và được thực hiện ởNHTW của từng hệ thống

+Vốn vay của NHTW

NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là người cho vay cuối cùngtrong nền kinh tế, vì vậy các NHTM có thể được NHTW cho vay vốn khi cónhu cầu Ở Việt Nam NHTW chỉ cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới hìnhthức sau:

- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá,cho vay lại theo hồ sơ tín dụng

Ngoài ra, NHTW còn cho các NHTM và bổ sung nguồn vốn thiếu hụttrong thanh toán bù trừ dưới hình thức cho vay thấu chi và cho vay qua đêm.Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ Tướng Chính Phủ chấp thuận,NHTW còn cho vay đối với các NHTM tạm thời mất khả năng chi trả và cónguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống

Vốn vay của TCTD khác và vay của NHTW chiếm tỷ trọng nhỏ trongtổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tác dụng làm gia tăngnguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng nó còn có ý nghĩa trong việc

Trang 11

đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dụngvốn của các NHTM.

* Nguồn vốn khác

Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động các NHTMcòn có thể tạo lập vốn từ nhiều nguồn khác bao gồm vốn trong thanh toán vàvốn ủy thác

Vốn trong thanh toán là số vốn có được do ngân hàng làm trung gianthanh toán trong nền kinh tế Gồm:

Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản thanh toán của người trảnhưng chưa chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng do phải luân chuyển,

xử lý chứng từ thanh toán

Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại ngân hàng nhưng chưathanh toán trong một số hình thức thanh toán như séc bảo chi, thư tín dụng,thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, ký quỹ…

Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của các tổ chức trong vàngoài nước trong các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lý nhận ủy thác củacác tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình,

dự án Trong thời gian vốn được ngân hàng tiếp nhận nhưng chưa giải ngânhết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến hạnchuyển lại cho chủ đầu tư,ngân hàng có được một số vốn để kinh doanh Mặtkhác, khi thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng sẽ được hưởng hoa hồng phí Ngoài ra ngân hàng còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho cácdoanh nghiệp, cũng như thu hộ lợi tức đầu tư chứng khoán cho khách hàng…những nghiệp vụ này cũng tạo thêm nguồn vốn cho ngân hàng

Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụngđôi khi rất ngắn nhưng điều đáng quan tâm là với nguồn vốn này ngân hàngkhông phải tốn kém chi phí huy động và có điều kiện phát triển các nghiệp vụ vàdịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của khách hàng

Trang 12

1.1.3. Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Như đã trình bày ở trên, ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, vì vậy vaitrò của nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại đầu tiên cũng sẽ Quyếtđịnh đến quy mô, năng lực và khả năng mở rộng quy mô của các ngân hàng.Nhìn từ góc độ kinh tế, có thể khái quát hóa các vai trò của nguồn vốn này đốivới hoạt động của một ngân hàng thương mại dưới một vài các khía cạnh sau:+ Vốn là cơ sở của hoạt động ngân hàng: NHTM muốn hoạt động kinhdoanh được thì phải có vốn, vốn phản ánh năng lực chủ yếu để Quyết định khảnăng kinh doanh

- Để có giấy phép thành lập thì NHTM phải có vốn pháp định

- Để thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình thì NHTM cần phảithường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt hoạt động kinhdoanh của mình

+ Vốn của NHTM Quyết định đến quy mô và khả năng mở rộng hoạtđộng kinh doanh của NHTM:

- Quy mô của NHTM thể hiện ở Tổng tài sản (tiền, chứng khoán, quy môcho vay, tài sản cố định, …) nếu nguồn vốn lớn thì tài sản cũng lớn

- Phạm vi: nếu nguồn vốn lớn thì có thể mở rộng hệ thống chi nhánh tạicác địa phương khiến địa bàn hoạt động được rộng hơn

- Khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh: nếu nguồn vốn lớn thì có khảnăng cung cấp nhiều loại hình sản phẩm, dịch vụ dẫn đến đa dạng hóa sảnphẩm dịch vụ, …

+ Vốn của NHTM Quyết định đến khả năng thanh toán của NHTM đó.Điều này thể hiện như sau:

- Nguồn vốn lớn thì dự trữ thực tế lớn, tạo điều kiện cho NHTM có thể tậptrung vốn, ứng phó kịp thời với trường hợp khách hàng rút tiền lớn hơn so với

dự kiến ban đầu

- Nguồn vốn lớn thì NHTM có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư (đầu tưtrên thị trường chứng khoán: dự trữ thứ cấp) Khi đó sẽ tạo điều kiện phân tánrủi ro, NHTM có điều kiện kinh doanh an toàn hơn

Trang 13

- Nguồn vốn lớn NHTM sẽ có uy tín cao trên thị trường Trong trườnghợp NHTM thiếu hụt trong thanh toán thì có điều kiện thuận lợi trong việcvay mượn và bù đắp kịp thời thiếu hụt trong thanh khoản, …

Thông qua hệ thống các vai trò mang đậm chất kinh tế của nguồn vốnngân hàng thương mại ta có thể nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động huyđộng vốn đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng thương mại

1.2. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1.2.1 Khái niệm huy động vốn.

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại Hoạt động này mang lại nguồn vốn đê ngân hàng có thế thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng vafcung cấp các dịch vụ huy động vốn được phản ánh vào tài sản bên nợ Do đó huy động vốn còn được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ.

Theo quy định của pháp luật thì NHTM được huy động vốn dưới cáchình thức sau đây:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới cáchình thức tiền không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và các loại tiền gửi khác

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy độngvốn của tổ chức, các nhân trong nước và ngoài nước khi được thống đốcNHNN cho phép

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chứctín dụng nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo quy định của luật NHNN Việt Nam

1.2.2 Các hình thức huy động vốn.

a) Nhận tiền gửi

Là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổchức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanhtoán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghịệp vụ kinh doanh khác.Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng

Trang 14

khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiếtkhấu, thanh toán… nhưng không có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệmphải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiềnđể sử dụng Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy độngcủa các NHTM Các hình thức nhận tiền gửi của các NHTM rất đa dạng, tuỳthuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:

Trang 15

*Theo tiêu thức nguồn hình thành

Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức là các khoản tiền mà cánhân và tổ chức trực tiếp chuyển vào Ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tết kiệm,doanh nghiệp nộp tiền bán hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế được Ngân hàng tập trung lại Các cá nhân và tổ chứcthường gửi tiền với kỳ hạn và mục đích khác nhau, các cá nhân thường gửitiền để hưởng lãi còn các tổ chức doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịchvụ thanh toán của Ngân hàng

Tín dụng tạo tiền gửi: Ít người biết được rằng đây là một hình thức nhận

tiền gửi Khi Ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển sốtiền cho vay của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trongNgân hàng Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng

có thể sử dụng số tiền đó mặc dù với thời hạn rất ngắn

*Theo tiêu thức kỳ hạn

Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thứcnày để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xâydựng chiến lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đóvào quá trình hoạt động kinh doanh

Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác

định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do

đó lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳhạn xác định Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàngchưa có dự định rõ ràng trong tương lai Đây là hình thức chủ yếu được cácdoanh nghiệp lựa chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh Do vậylượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồnvốn huy động của Ngân hàng Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biếnđộng cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm(%) nhất địnhcủa lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được nhất định tuỳ thuộc vào dự tínhcủa Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng tiền huy động được trong

Trang 16

thời gian tới Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả

lý dự trữ của Ngân hàng

Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa người gửi

tiền và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó Do

có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để cho vayvới thời hạn tương ứng hoặc có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn đểcho vay trung và dài hạn Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn địnhcao nên Ngân hàng chủ động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụcho hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy Ngân hàng trả lãi cho người gửitiền cao hơn lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán,Ngân hàng đưa ra các kỳ hạn khác nhau như 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, Mứclãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao Cáckhách hàng gửi tiền theo loại này thì khi đến hạn sẽ được hoàn trả cả gốc vàlãi theo qui định, nếu chưa đến hạn mà khách hàng gửi tiền rút tiền ra trướcthì khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn

*Theo tiêu thức loại tiền

Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các NHTM nhận được,

nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ thuộcvào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiềnnày thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm

Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền

gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP,DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàngnhư kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanhtoán quốc tế…các Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường

có nguồn vốn ngoại tệ lớn Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đadạng hoá về phương thức huy động vốn của các NHTM

*Theo tiêu thức mục đích sử dụng

Trang 17

Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục

đích là tìm kiếm một khoản thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình Thôngthường tiền gửi có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn Những người gửi tiền tiếtkiệm là những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng đượcchi tiêu trong tương lai Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiềntrực tiếp vào Ngân hàng hoặc gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thứcchuyển qua tài khoản

Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước

phát triển,thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.Những người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (thông thường là cáckhoản tiền đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhấtđịnh trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởnglãi trên số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác Khi có nhu cầu sử dụng tiềnvào mục đích nói trên, nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngânhàng có thể hỗ trợ thêm một phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp

lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên Đây là một hình thức huy động vốntrung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng thời có tác dụng tíchcực trong việc hỗ trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa, phương tiện

Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà đểđược hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các khoản tiềngửi thanh toán có số lượng lớn Mặt khác một số Ngân hàng thường ưu tiên hơnđối với các doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư nhất địnhtrên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịuchi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng mộtkhoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình

Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanhtoán không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu

Trang 18

thông, mặt khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp Khi thựchiện chức năng là trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo đượcmột nguồn vốn từ hoạt động thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng,tài khoản tiền gửi chờ thanh toán… Các khoản tiền tạm thời đang nằm ở tàikhoản của Ngân hàng chờ sử dụng nên được coi là nhàn rỗi NHTM cũng thuhút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ kháchhàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận vốn uỷ thác của các tổchức trong và ngoài nước… Do tiền được giải ngân theo tiến độ công việcnên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các khoản tiền đó vào kinh doanh.

b) Đi vay trên thị trường liên ngân hàng (NHTW và các TCTD khác)

Tuỳ theo tình hình hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do củacác khoản vay của mình mà Ngân hàng có những hình thức vay phù hợp Với cáchình thức vay như trên Ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian Đối với mụcđích sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho Ngân hàng thì haihình thức vay vốn trên không phù hợp Ngân hàng có thể sử dụng phương thứckhác như vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTW Thực tế chothấy hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn thì không đồng đều giữa các Ngânhàng, ở những thời điểm có những Ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có những Ngânhàng tạm thời đang thừa vốn thì các Ngân hàng này có thể vay mượn lẫn nhau vìmục đích của cả đôi bên Hơn nữa các Ngân hàng đều làm trung gian thanh toáncho nền kinh tế nên các Ngân hàng đều mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau và trongnhững trường hợp Ngân hàng nào đó thiếu vốn để thanh toán chi khách hàng củamình thì Ngân hàng kia có thể cho vay để Ngân hàng đó đảm bảo khả năng thanhtoán Trong những trường hợp cấp bách mà Ngân hàng không thể vay được ở cácNgân hàng khác thì có thể vay ở NHTW vì NHTW là người cho vay cuối cùngđối với các NHTM Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTWchia thành các loại sau:

Trang 19

Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức mà NHTM xin vay vốn bổ sung

nguồn vốn ngắn hạn của mình Trong trường hợp này các NHTM chỉ đượcvay khi còn hạn mức tín dụng theo qui định của NHTW

Vốn vay đê đảm bảo khả năng chi trả: Các NHTM vay vốn của NHTW

để bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán hoặc thiếu hụt trong dự trữ(thường là vay với thời hạn ngắn)

Tái cấp vốn: NHTW cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các chứng từ có

giá Các chứng từ này phải hợp lệ, hợp pháp và an toàn Tái cấp vốn gồm cócác hình thức: Cho vay bằng chiết khấu hoặc tái chiết khấu giấy tờ có giá vàcho vay có bảo đảm

Tuy nhiên việc NHTM vay vốn ở NHTW phụ thuộc vào chính sách tiềntệ quốc gia trong từng thời kỳ mà NHTW có thể cho vay với khối lượng, thờihạn, lãi suất, hạn mức… khác nhau để thực hiện chính sách tiền tệ của mình.Như vậy với đặc điểm tiện lợi của kỳ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay từ các tổchức tín dụng khác hoặc vay ở NHTW là tuỳ theo mục đích sử dụng của cáckhoản vay cùng với tính cân đối giữa nguồn vốn và cho vay tại những thời kỳ nhấtđịnh Với một tỷ lệ lãi suất đủ sức hấp dẫn, Ngân hàng có thể chủ động huy độngđược lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn Vì vậy các hoạt động về nguồn vốnngày nay được gọi là nguồn vốn chủ động thu gom của các Ngân hàng và hoạtđộng quản lý dự trữ Hơn nữa việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngoài mụcđích huy động còn có mục đích khác như kiềm chế lạm phát, góp phần hình thành

và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán- Một kênh huy động vốntrung và dài hạn hữu hiệu của nền kinh tế

c) Phát hành giấy tờ có giá

Các giấy tờ có giá là công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy độngvốn trên thị trường cho một mục đích nào đó Lãi suất của loại này phụ thuộcvào sự cấp thiết của việc huy động vốn Do đó để huy động vốn qua kênh này

có hiệu quả các ngân hàng cần đưa ra phương thức huy động và lãi suất hấp

Trang 20

dẫn các khách hàng Thường các ngân hàng quy định mức lãi suất cao hơn lãisuất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.

Trong hình thức huy động này ngân hàng chủ động đứng ra thu hút cácnguồn vốn trong xã hội bằng cách phát hành các chứng từ có giá Các chứng

từ có giá do NHTM phát hành gồm có :

- Chứng chỉ tiền gửi : là một công cụ nợ có ý nghĩa quan trọng trong quản lý

và điều hành vốn của ngân hàng Mức lãi của chứng chỉ tiền gửi được quy địnhtrực tiếp qua thỏa thuận giữa ngân hàng và người gửi tiền hoặc được quy định ởmức mà người gửi tiền chấp nhận Tuy nhiên người mua chứng chỉ tiền gửi mệnhgiá lớn thường nhạy cảm với lãi suất nên để huy động được khối lượng lớn loạinày lãi suất của nó phải lớn hơn lãi suất trái phiếu kho bạc

- Kỳ phiếu ngân hàng : cũng là một công cụ nợ của ngân hàng , tính chất

như chứng chỉ tiền gửi Kỳ phiếu ngân hàng thường được phát hành theo đợt

và có mục đích với thời hạn ngắn, thường là dưới 12 tháng

- Trái phiếu ngân hàng : là công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn

Trái phiếu ngân hàng là công cụ giúp ngân hàng chủ động trong huy động cácnguồn vốn đầu tư dài hạn để thực hiện các dự án dài hạn và vốn này có tính

ồn định về thời gian sử dụng và lãi suất

Việc phát hành các chứng từ có giá chỉ được thực hiện sau khi các ngânhàng đã cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn và được sự đồng ý của NHTW Các giấy tờ có giá của ngân hàng thường được phát hành dưới haiphương thức trả lãi sau và trả lãi trước Đối với phương thức trả lãi sau , cácgiấy tờ có giá khi phát hành được bán theo mệnh giá, khi đến hạn khách hàngđược thanh toán theo mệnh giá cộng tiền lãi Về tính chất có thể coi như mộtkhoản tiền gửi có kỳ hạn thông thường của khách hàng Còn đối với phươngthức trả lãi trước, các giấy tờ có giá loại này khi phát hành được bán theomệnh giá trừ lãi, khi đáo hạn thanh toán theo mệnh giá

Một trong những tiêu chí quan trọng để người dân lựa chọn ngân hàng đểgửi tiền chính là khả năng cung ứng nhiều tiện ích thuận tiện chứ không chỉ đơn

Trang 21

thuần là chức năng cất trữ tiền tệ và kiếm lời qua lãi suất Do đó, khách hàng sẽluôn tìm đến những ngân hàng có uy tín, lãi suất hấp dẫn, phong cách phục vụtốt, sản phẩm dịch vụ phong phú, tiếp thị hiệu quả, phân phối và cung ứng dịchvụ thuận tiện Chính vì vậy, để hoạt động huy động vốn trong dân đạt hiệu quảcao, các NHTM sẽ phải cạnh tranh rất gay gắt, qua đó nâng cao chất lượngphục vụ, củng cố uy tín và khẳng định vị thé của mình.

d) Huy động từ các nguồn khác

*Điều chuyển vốn

Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty vàcác công ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng Chinhánh trực thuộc Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay làchu chuyển vốn điều hoà Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại cácđịa bàn khác nhau là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tếcủa từng vùng, do phong tục tập quán…) Cho nên những Chi nhánh Ngânhàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳlập kế hoạch lên Ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điềuhoà cần thiết cho hoạt động của mình

Còn những Ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt qúa khả năng sửdụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn vềNgân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà Như vậy Ngân hàng mẹ chịutrách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánhtrong cùng hệ thống Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà này thấp hơn chi phínguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được nhận nguồn vốn này saukhi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau

* Nguồn uỷ thác đầu tư

Một số Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đại lý Khi đótrong nguồn vốn của Ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu tư.Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trongnước hoặc nước ngoài uỷ thác cho Ngân hàng một khoản tiền để Ngân hàng

Trang 22

thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vaycủa Chính phủ được uỷ thác.

*Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷnhiệm chi hay ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ cũng giúp ngân hànglàm tăng nguồn vốn của mình

* Nguồn khác

Gồm các khoản phải nộp, phải trả như: thuế chưa nộp, lương chưatrả cũng góp phần làm tăng nguồn huy động trong công tác huy động vốncủa NHTM

1.3. Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả huy động vốn.

* Hiệu quả huy động vốn là gì?

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chứctín dụng khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt Bất kỳbiến động nào dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh củangân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Vì vậy, hiệu quảtrong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác đúng đắn hoạtđộng huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi và khẳngđịnh sự phát triển trên thị trường của ngân hàng

Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi sosánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặckết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp cácthông tin có ý nghĩa khác nhau Đặc biệt không thể tính kết quả bằng cách lấykết quả - chi phí vì như vậy chỉ cho ra một chỉ tiêu kết quả chứ không phải chỉtiêu kết quả

Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng chỉ khi nào đạt được kết quảcao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả Tuy

Trang 23

nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất

là rất khó

Như vậy, hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao

nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Đó chính là sự đáp ứng kịp thời,đầy đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý

* Sự cần thiết nâng cao hiệu quả huy động vốn

Trong môi trường kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thìvốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh Ngân hàngnào trường vốn sẽ có khả năng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng cókhả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vịthế trên thị trường Nhận thức được vai trò to lớn của vốn trong hoạt độngkinh doanh các NHTM luôn tìm cách tăng nguồn vốn của mình, tìm mọi biệnpháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy động vốn

Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ chốt của Ngân hàngđảm bảo cho ngân hàng có thể tồn tại và thực hiện chức năng của một trunggian tài chính trong nền kinh tế, bởi chức năng hoạt động chủ yếu của ngânhàng là “ đi vay để cho vay ” Như chúng ta đã biết, một ngân hàng muốnthành lập phải có đủ vốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định.Nhưng số vốn tự có chiếm khoảng 10% vốn hoạt động Pháp lệnh ngân hàngquy định một ngân hàng được phép huy động một lượng vốn tối đa bằng 20lần vốn tự có của mình

Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng Từ khi có cácngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với các hoạt động của

nó, trải qua quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thì nghiệp vụ huy độngvốn cũng được đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Hiệu quả côngtác huy động vốn được các ngân hàng quan tâm không chỉ vì nó là một nghiệpvụ truyền thống của ngân hàng mà còn vì nó là một trong những hoạt động chủyếu quyết định đến các hoạt động kinh doanh khác đến sự tồn tại và phát triển

Trang 24

của ngân hàng Do đó trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả công tác huy độngvốn luôn là vấn đề được các ngân hàng thương mại chú trọng.

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn.

* Các chỉ tiêu định tính

(1) Sự hài lòng của khách hàng.

Hoạt động của ngân hàng nhằm mục tiêu cơ bản là thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng Do đó sự hài lòng của khách hàng cũng là một chỉ tiêu đánh giáchất lượng của hoạt động huy động vốn.Sự hài lòng của khách hàng được thểhiện trên một số mặt:

- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động là công cụ quan trọng trong côngtác huy động vốn, đặc biệt là huy động từ các tầng lớp dân cư Do đó, mộtchính sách lãi suất hợp lý, vừa có tính chất cạnh tranh vừa đảm bảo hiệu quảkinh doanh là rất cần thiết đối với ngân hàng Bởi lẽ mục tiêu chủ yếu củangười gửi tiền là hưởng lãi Như vậy nếu ngân hàng đưa ra mức lãi suất caothì sẽ thu hút được khách hàng Tuy nhiên, ngân hàng phải xây dựng mức lãisuất dựa trên các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo vừa huy động được vốn, vừamang lại lợi nhuận cho ngân hàng Ngân hàng nào xây dựng được chính sáchlãi suất hợp lý thì ngân hàng đó có chất lượng huy động vốn cao

- Thái độ phục khách hàng: hoạt động kinh doanh của ngân hàng là sựkết hợp của nhiều yếu tố, trong đó thái độ phục vụ khách hàng của nhân viênngân hàng là rất quan trọng Nếu ngân hàng nào có được đội ngũ cán bộ cónăng lực và có thái độ phục vụ tốt thì đây là yếu tốquan trọng thu hút kháchhàng và nguồn vốn của họ, Như vậy, thái độ phục vụ khách hàng càng tốt thìchất lượng công tác huy động vốn càng cao

- Huy động vốn kèm theo sự phát triển các dịch vụ khác

Hoạt động của ngân hàng mang tính hệ thống và có quan hệ mật thiết vớinhau Do vậy một ngân hàng có chất lượng huy động vốn tốt khi ngân hàng

đó phát triển được các dịch vụ đi kèm công tác huy động vốn Ngược lại, khingân hàng huy động được số lượng vốn tương đối song lại không phát triển

Trang 25

được các dịch vụ đi kèm thì hoạt động huy động vốn đó vẫn chưa đảm bảochất lượng tối ưu.

(2) Chấp hành các chính sách về huy động vốn của ngân hàng Trung

Ương

Ngân hàng không chỉ thực hiện tốt hiệu quả trong huy động vốn vớicác khách hàng và đem đến sự hài lòng cho khách hàng mà phải thực hiện tốtcác chính sách, quy định của NHTW trong nghiệp vụ huy động vốn Thể hiện

ở một số mặt sau đây:

-Chủ động nghiên cứu, hướng dẫn các chi nhánh, phòng giao dịch thựchiện các giải pháp về huy động theo đúng chính sách, quy định của NHTW,giúp NHTW thực hiện tốt vai trò quản lý tiền tệ

-Tăng cường thanh tra, giám sát các chi nhánh, phòng giao dịch trongviệc chấp hành các chính sách lãi suất và các quy trình, quy định trong nghiệpvụ huy động vốn Xử lý nghiệm các trường hợp vi phạm, trường hợp phátsinh các vướng mắc vượt thẩm quyền phải báo với thống đốc NHTW

-Tích cực tham gia đóng góp những ý kiến mà trong thực tiễn gặp phảinhững bất cập, khó khăn cho NHTW để đưa ra những giải pháp nhằm hoànthiện những chính sách, quy định tốt hơn, phù hợp hơn với thực tế

* Các chỉ tiêu định lượng

a Khối lượng vốn, mức tăng trưởng và tính bền vững

Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượngđể thoả mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanhkhác ngày càng tăng của ngân hàng Nếu ngân hàng huy động được mộtlượng vốn lớn, nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiềnlớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay sẽ không lớn, hiệu quảhuy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầu với vấn đề thanh khoản.Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động

và số lượng vốn huy động có kỳ hạn Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ

Trang 26

gia tăng đều đặn, đạt mục tiêu nguồn vốn đặt ra là nguồn vốn tăng trưởng ổnđịnh.

b Chi phí huy động vốn

Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗingân hàng, vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làmthay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng

Tỷ trọng các khoản

mục chi phí =

Số chi cho từng khoản mục

x 100(%)Tổng chi phí

Qua chỉ số này, chúng ta có thể biết được kết cầu các khoản chi phí để cóthể hạn chế các khoản chi phí bất hợp lý, tăng cường các chi phí có lợi chohoạt động huy động vốn

Lãi suất bình

quân đầu vào =

Tổng chi phí trả lãi thực tế

x 100(%)Tổng số vốn huy động bình quân

Trả lãi tiền gửi là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất, nó là yếu tốquyết định đến việc hoạch định lãi suất cho vay, do vậy ngân hàng cần phảiphân tích cụ thể chỉ tiêu lãi suất bình quân đầu vào

Chi phí khác: Bên cạnh chi phí là lãi suất, trong quá trình HĐV ngânhàng còn phải chịu một số chi phí khác như: chi phí tiền lương nhân viên, chiphí in ấn giấy tờ nghiệp vụ, chi phí cơ sở vật chất, chi phí giao dịch…Chi phínày thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí, nhưng nếu tiết kiệm đượccũng góp phần giảm bớt gánh nặng chi phí cho ngân hàng

c Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh

Để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, thường sử dụng cácchỉ tiêu so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu tín dụng, thanhtoán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động có thể đáp ứng được

Trang 27

bao nhiêu, ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu ấy Đểđạt được mục tiêu này, ngân hàng phải có cơ cấu vốn hợp lý Cơ cấu vốn huyđộng ở đây bao gồm cơ cấu vốn theo ngắn hạn và trung hạn, dài hạn, cơ cấuvốn theo nội tệ và ngoại tệ, theo tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp Cơcấu vốn hợp lý có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu sử dụng vốn, không cótình trạng bất hợp lý giữa vốn huy động với nhu cầu sử dụng vốn Ví dụ: khiphân tích cơ cấu vốn để đánh giá về khả năng và quy mô thu hút vốn từ nềnkinh tế của NHTM ta có chỉ số:

Hệ số sửdụng vốn =

Doanh số cho vay

X 100(%)Vốn huy động

d Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận của Ngân hàng là chỉ tiêu được xác định thông qua doanh thu

và chi phí của Ngân hàng Lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ Ngân hàng cóhoạt động hiệu quả, có thể bỏ ra chi phí ít mà hiệu quả thu lại cao Muốn vậyNgân hàng cần có các kênh huy động hiệu quả với chi phí thấp nhưng sao chovẫn đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của mình

e Một số chỉ tiêu khác:

- Mức độ hoạt động của vốn huy động: Được đánh giá qua chỉ tiêu hệ số

sử dụng vốn Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt (trong điều kiện vẫnđảm bảo các giới hạn an toàn trong hoạt động kinh doanh) điều này thể hiệnnguồn vốn được sử dụng tối đa

- Mức độ thuận tiện của khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửitiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng Tiết kiệm thời gan và chi phícho khách hàng

- Thời gian để huy động một lượng vốn nhất định

- Một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút ra trước hạn, kỳ hạn thực

tế của nguồn vốn

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn.

Trang 28

* Nhân tố khách quan.

+ Môi trường pháp lý

Nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chịu sự điều chỉnh rất lớn củamôi trường pháp lý Có những Bộ Luật tác động trực tiếp mà chúng ta thườngthấy như: Luật các TCTD, Luật NHNN Những Luật này qui định tỷ lệ huyđộng vốn của ngân hàng so với vốn tự có, qui định về việc gửi và sử dụng tàikhoản tiền gửi có những Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạt động ngânhàng như Luật Đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM không được nhận tiền gửihoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất doNHNN đề ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định mà NHNN chophép Bên cạnh những bộ luật đó thì chính sách tài chính tiền tệ của mộtquốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM

+ Môi trường kinh tế xã hội

Tình hình kinh tế xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động khôngnhỏ đến quá trình huy động vốn của ngân hàng Khi nền kinh tế tăng trưởnghay suy thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM Mọibiến động của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng,giảm nguồn vốn huy động từ bên ngoài của ngân hàng Nền kinh tế tăngtrưởng, sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạomôi trường cho việc thu hút vốn của NHTM thuận lợi Ngược lại, khi nềnkinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người dân không gửi tiền vào ngân hàng màgiữ tiền để mua hàng hóa, việc thu hút vốn gặp khó khăn

+ Tâm lý, thói quen khách hàng

Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngânhàng và những đối tượng sử dụng vốn đó Về môi trường xã hội ở các nướcphát triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyểnvào tài khoản của họ Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiềnmặt thường lớn hơn ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọngtác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền Thu nhập ảnh hưởng

Trang 29

đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tương lai Cònyếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền Tâm lýtin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng là ổn định lượng tiền gửivào , rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trongtương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt , đó là mối lo lớn củamọi ngân hàng

* Các nhân tố chủ quan

+ Chính sách lãi suất và phí dịch vụ của ngân hàng

Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính Ngânhàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việchuy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn Để duy trì và thu hút thêmnguồn vốn, ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những

ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên Hơn nữa hệthống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu nguồn vốn Songsong với đó là đưa ra các dịch vụ đa dạng, phong phú đáp ứng tốt nhu cầukhách hàng với mức phí hợp lý

Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để

có thể có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhấtcho ngân hàng để bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợinhuận cho ngân hàng

+ Hình thức huy động vốn của ngân hàng

Hình thức huy động càng phong phú, hấp dẫn thì ngân hàng càng có khảnăng huy động được nhiều vốn hơn Do vậy các ngân hàng luôn tìm cách đadạng hóa hình thức huy động để cạnh tranh thu hút vốn Ngân hàng có thể đưa

ra nhiều loại hình tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn, các hình thức tiết kiệm

dự thưởng hấp dẫn, tiết kiệm trả lãi bậc thang theo bậc về thời gian gửi tiền vàtheo quy mô tiền gửi…

+ Vị thế, uy tín của ngân hàng

Trang 30

Khách hàng thường tin tưởng vào một ngân hàng hoạt động lâu năm hơnmột ngân hàng mới thành lập Mặc dù không phải tất cả các ngân hàng cóthâm niên hoạt động lâu hơn, thì đều tốt hơn, mà vì ngân hàng nào hoạt độnglâu năm, thì khách hàng có thể hiểu rõ về ngân hàng đó để gửi tiền như: uytín, thế lực trên thị trường, có nguồn vốn, khả năng thanh toán chi trả Do đó,các NHTM cần nâng cao uy tín thông qua các nghiệp vụ của mình, từng bướcthỏa mãn tối đa nhu cầu của người gửi tiền,hoạt động kinh doanh có lãi và giữchữ tín trong lòng khách hàng là tiền đề cho việc huy động vốn.

+ Mạng lưới huy động vốn,công nghệ, cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộcủa ngân hàng

Ngân hàng có mạng lưới huy động vốn càng rộng rãi thì càng có khảnăng thu hút được nhiều vốn Các ngân hàng ở gần trung tâm tài chính, thànhthị, khu đông dân cư…thường có khả năng huy động vốn cao Đồng thời cácngân hàng cũng không ngừng mở rộng mạng lưới ra các vùng nông thôn,miền núi,vùng sâu vùng xa, tạo ra một mạng lưới huy động rộng rãi, tạo điềukiện thuận lợi cho người gửi tiền

Khách hàng luôn muốn giao dịch kinh doanh với các ngân hàng có trụ sởkiên cố và bề thế, có công nghệ hiện đại, có đội ngũ cán bộ công nhân viênnhiệt tình, có trình độ chuyên môn cao Điều này đòi hỏi các ngân hàng phảiđầu tư hiện đại hoá công nghệ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thường xuyên đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên Trong môi trường kinh doanh hiện nay,ngân hàng có thái độ phục vụ tốt sẽ chiếm được tình cảm của khách hàng, khi

đó ngân hàng có thể tạo được hình ảnh tốt đối với các khách hàng quen thuộccũng như tiếp cận thêm được những khách hàng mới Có thể nói ngân hàngcần phải chú trọng tới thái độ và phong cách phục vụ đối với khách hàng

Trang 31

GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC

Phòng Dịch vụ khách hàngPhòng Giao dịchTrưởng Phòng Tín DụngPhòng Hành ChínhTổ Kế Toán

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN KIÊN LONG – CHI NHÁNH HÀ NỘI.

2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Hà Nội

Ngân hàng TMCP Kiên Long, tên quốc tế là Kienlong Commercial JointStock Bank, viết tắt là Kienlong Bank ( tiền thân là NHTMCP Nông ThônKiên Long) đi vào hoạt động từ ngày 25/10/1995 tại Kiên Giang, được thànhlập theo giấy phép hoạt động số 0056/NN-CP ngày 18/09/1995 do NHNNViệt Nam cấp với thời gian hoạt động là 50 năm

Giấy phép thành lập số 1115/GB-UB ngày 02/10/1995 do UBND tỉnhKiên Giang cấp Quyết định số 2434/QĐ-NHNN ngày 25/10/1995 của Thốngđốc NHNN chấp thuận việc chuyển đổi mô hình hoạt động từ nông thôn lên

đô thị và đổi tên thành NH TMCP Kiên Long

Qua 15 năm hoạt động, NH TMCP Kiên Long đã trở thành một ngânhàng thương mại cổ phần phát triển mạnh, bền vững và tạo được niềm tin củakhách hàng Từ một ngân hàng hoạt động tín dụng tại các vùng nông thônĐồng bằng sông Cửu Long với số vốn điều lệ ban đầu 1,2 tỷ đồng, đến nayvốn điều lệ của Ngân hàng đã lên 3.000 tỷ đồng Hiện tại, NH TMCP KiênLong đã có mạng lưới hoạt động tại các vùng trọng điểm trong cả nước với

79 Chi nhánh và Phòng Giao dịch Phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 150 Chinhánh và Phòng Giao dịch trong cả nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức.

Để quản lý điều hành mọi hoạt động trong Doanh nghiệp, cần phải cómột bộ máy các cấp, các khâu liên kết với nhau theo quan hệ dọc và ngang, cónhững chức năng, quyền hạn và trách nhiệm xác định

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Kiên Long-chi nhánh Hà Nội.

Ngày đăng: 21/05/2019, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS. TS. Phạm Ngọc Dũng, PGS. TS. Đinh Xuân Hạng (Đồng chủ biên) (2011), “Giáo trình Tài chính – Tiền tệ”, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính – Tiền tệ
Tác giả: PGS. TS. Phạm Ngọc Dũng, PGS. TS. Đinh Xuân Hạng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2011
2. PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi, ThS. Trần Cảnh Toàn (Đồng chủ biên) (2011), “Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại”, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thị Mùi, ThS. Trần Cảnh Toàn (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2011
4. David Cox (2007), “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại”, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
Tác giả: David Cox
Nhà XB: NXB Chính trịquốc gia
Năm: 2007
12. Website: http://www.kienlongbank.com.vn Link
5. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 Khác
6. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 Khác
7. Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN Quy chế tiền gửi tiết kiệm Khác
8. Điều lệ Ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội Khác
9. Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội (2013-2015) Khác
10. Báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội (2013-2015) Khác
11. Bản thuyết minh báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Kiên Long – chi nhánh Hà Nội (2013-2015) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w