1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

35 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 451,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãi suất là chi phí cho việc sử dụng khoản vốn mà người đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. 2. Các loại lãi suất : 2.1. Lãi suất cơ bản : Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng thương mại chủ lực áp dụng đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn. Lãi suất này được quyết định bởi Ngân hàng nhà nước, để tăng hoặc giảm lãi suất hiện hành cho các khoản vay ngắn hạn. Lãi suất cơ bản được xem là lãi suất chính, bởi vì các khoản vay dành cho các khách hàng nhỏ hơn cũng sẽ phải dựa theo lãi suất này.

Trang 1

CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤT

1 Khái niệm về lãi suất :

Lãi suất là chi phí cho việc sử dụng khoản vốn mà người đi vay sử dụng trong một thờigian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sởhữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

2 Các loại lãi suất :

2.1 Lãi suất cơ bản :

Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng thương mại chủ lực áp dụngđối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn Lãi suất này được quyếtđịnh bởi Ngân hàng nhà nước, để tăng hoặc giảm lãi suất hiện hành cho các khoản vay ngắnhạn Lãi suất cơ bản được xem là lãi suất chính, bởi vì các khoản vay dành cho các kháchhàng nhỏ hơn cũng sẽ phải dựa theo lãi suất này

2.2 Lãi suất tiền gửi ngân hàng:

Là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng Lãi suất tiền gửi ngânhàng có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm…), thờihạn gửi và quy mô tiền gửi

2.3 Lãi suất tín dụng ngân hàng:

Là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ ngân hàng Lãi suất tíndụng ngân hàng cũng có nhiều mức tuỳ theo loại hình vay (vay thương mại, vay trả góp, vayqua thẻ tín dụng…), theo mức độ quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng… và phụ thuộc cảvào sự thoả thuận giữa hai bên

2.4 Lãi suất chiết khấu:

Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếuhoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

2.5 Lãi suất tái chiết khấu:

Áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thứcchiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của cácngân hàng này

Trang 2

2.6 Lãi suất tái cấp vốn :

Là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho NHTM Ở Việt Nam,NHNN tái cấp vốn cho NHTM dưới các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiếtkhấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay dưới hình thứccầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn

2.7 Lãi suất liên ngân hàng:

Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liênngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của ngân hàngtrung ương Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và

tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất :

Lãi suất biến động do các nhân tố sau:

* Mức cung - cầu tiền tệ :

Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường(lượng tiền M1 hay M2) Chính phủ tác động thông qua chính sách thắt chặt hay nới lỏngtiền tệ sẽ làm cung tiền giảm hoặc tăng

Cầu tiền là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức để làm phương tiện giao dịch,mua bán trên thị trường…

Giao điểm giữa đường cung tiền và cầu tiền sẽ xác định lãi suất cân bằng Khi có sựthay đổi trong lượng cung tiền hoặc cầu tiền hoặc cả hai sẽ tạo ra điểm cân bằng mới hay mộtmức lãi suất cân bằng mới

* Lạm Phát:

Khi lạm phát dự tính trong tương lai sẽ tăng, người có khả năng cho vay không muốnnắm giữ tiền mặt mà đổ xô đi mua hàng hóa, dự trữ vàng và ngoại tệ Điều này dẫn đến quỹcho vay giảm, đồng thời sẽ khuyến khích người đi vay hơn vì chi phí thực của việc vay tiềngiảm xuống, người đi vay sẽ kiếm được lợi nhờ vào hàng hóa được mua bằng tiền đi vaytăng lên Do đó cung tiền và cầu tiền tăng lên khi dự tính lạm phát tăng lên sẽ làm cho lãisuất tăng

* Sự ổn định của nền kinh tế:

Trang 3

- Ảnh hưởng đến cung tiền vay: Khi nền kinh tế ổn định và phát triền làm cho thịtrường ổn định, ít rủi ro hơn khuyến khích người dân muốn đầu tư nhiều hơn vào những tàisản mang lại lợi tức cao Vì vậy cung tiền vay tăng lên.

- Ảnh hưởng đến cầu tiền vay : Nhu cầu vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các

dự án đầu tư, mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp làm cho cầu tiền vay tăng lên

Khi cung cầu tiền vay đều tăng nhưng đường cung dịch chuyển ít hơn cầu tiền thì mớilàm cho lãi suất cân bằng tăng lên được

* Các chính sách của chính phủ :

Để đạt tới một số mục tiêu của nền kinh tế giải quyết các vấn đề liên quan tới tăngtrưởng, công ăn việc làm, ổn định giá cả thị trường thì Nhà nước sử dụng các công cụ bằngchính sách: chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá….sẽ tạo ra sự biến động của lãi suất

4 Vai trò của Lãi suất trong nền kinh tế :

Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là trung tâm trong chính sách tiền tệcủa chính phủ:

* Đối với sự phân bổ các nguồn lực: thì lãi suất là một loại giá cả, nó có vai trò phân

bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết ban đầu trước khi điđến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, dự án hay tài sản Mặt khác, trong tiêu dùng vàtiết kiệm của hộ gia đình thì lãi suất cũng có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh thunhập của kinh tế gia đình

* Với các hoạt động đầu tư : Khi lãi suất cao, sẽ giảm các khoản đầu tư vào vốn hiệnvật vì phải chi trả lãi vay cao hoặc doanh nghiệp có thể lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng thay

vì đầu tư Dẫn đến chi tiêu đầu tư giảm Ngược lại khi lãi suất giảm

Không chỉ có vậy với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu còn chịu ảnh hưởngcủa lãi suất đặc biệt là lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ

* Lãi suất với lạm phát: Trong thời kỳ lạm phát tăng, tăng lãi suất cho phép hệ thốngngân hàng có thể giảm tiền mặt trong lưu thông, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm và lạmphát được kiềm chế

* Vai trò của lãi suất đến việc huy động vốn: Lãi suất là chi phí huy động vốn củadoanh nghiệp và ngân hàng Các doanh nghiệp phải xem xét khả năng lợi nhuận thu được vớichi phí huy động vốn bỏ ra để quyết định huy động vốn từ nguồn nào và đầu tư vào đâu để

có lợi cho doanh nghiệp nhất Còn ngân hàng phải xem xét giữa lãi suất huy động với khảnăng cho vay ở mức lãi suất cao hơn để đưa ra phương hướng hoạt động đảm bảo mục tiêu

Trang 4

của ngân hàng và phát triển Cụ thể lãi suất huy động < lãi suất cho vay< tỷ suất lợi nhuậnbình quân.

II LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1 Khái niệm tỷ giá hối đoái :

Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền chính là giá của đồng tiền này được tính bằng một sốđơn vị đồng tiền khác Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền củahai quốc gia khác nhau

2 Phân loại tỷ giá hối đoái :

Trên thị trường ngoại hối, thông thường chúng ta tiếp cận các loại tỷ giá hối đoái sauđây :

- Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành : tỷgiá mua vào và tỷ giá bán ra

- Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giátiền mặt và tỷ giá chuyển khoản Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt ,séc, thẻ tín dụng Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán quangân hàng

- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá mởcửa và tỷ giá đóng cửa, tỷ giá giao ngay

- Căn cứ vào chế độ quản lý tỷ giá, tỷ giá được chia thành tỷ giá cố định và tỷ giáthả nổi

- Căn cứ mối quan hệ giữa tỷ giá với chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái được chiathành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực

3 Các nhân tố tác động đến tỷ giá:

Cán cân thanh toán quốc tế: tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông

qua đó tác động đến tỉ giá Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, theo tác động của quy luậtcung cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá Ngược lại khi cáncân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá

Lạm phát: Lạm phát biểu hiện ra là sự tăng giá của thị trường Trong một quốc gia,

khi lạm phát tăng sẽ làm cho sức mua của đồng nội tệ giảm đi và đồng tiền của quốc gia này

sẽ bị giảm giá so với quốc gia có mức lạm phát thấp hơn

Lãi suất: là nhân tố tác động rất lớn đến TGHĐ Nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi

suất ngoại tệ hay lãi suất thị trường quốc tế, điều này sẽ thu hút những dòng tiền trên thịtrường quốc tế chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong

Trang 5

nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao Kết quả là cung ngoại tệ trên thị trường trongnước tăng lên, từ đó làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá hay đồng nội tệ lên giá.Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường quốc

tế, sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội tê mất giá

Ngoài ra có các yếu tố khác như: chính sách kinh tế và sự điều chỉnh vĩ mô của

chính phủ, yếu tố tâm lý của người dân, sức mua của các đồng tiền và tốc độ lạm phát củacác nước có liên quan, trạng thái cung cầu ngoại tệ, chênh lệch mức lãi suất giữa các nước cóliên quan, thực trạng của hoạt động thị trường tài chính, hệ số tín nhiệm của các đồng tiềntrên thị trường tài chính quốc tế

4 Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế mở:

Trong nền kinh tế mở, hầu hết các nước đều quan tâm đến tỉ giá hối đoái vì tỉ giá có ảnhhưởng rất lớn đối với hoạt động thương mại quốc tế, trạng thái cán cân thanh toán, tốc độtăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát

TGHĐ và hoạt động thương mại quốc tế :

TGHĐ là một phạm trù kinh tế liên quan đến việc tính toán và so sánh giá trị giữa 2đồng tiền, cho nên một sự biến động của TGHĐ sẽ làm thay đổi sức mua của 2 đồng tiền và

do vậy làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của 2 quốc gia trong quan hệ tỉ giá trên thịtrường quốc tế cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến quy mô thương mại quốc tế

Một khi giá cả hàng hóa trở nên rẻ hơn, thì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽđược nâng cao, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng Nền kinh tếthu được nhiều ngoại tệ và cán cân thanh toán được cải thiện Ngược lại, một khi đồng nội tệlên giá trong sự tương quan với sự mất giá của đồng ngoại tệ sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi,nhập khẩu tăng lên, cán cân thanh toán trở nên xấu đi

TGHĐ và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm:

Khi đồng nội tệ mất giá sẽ khuyến khích gia tăng xuất khẩu, từ đó gây tác động thúcđẩy sản xuất trong nước phát triển và tạo việc làm ổn định cho người lao động Tuy nhiên,đồng nội tệ mất giá sẽ làm cho giá cả hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập khẩu tăng cao, từ đó giáthành sản phẩm trong nước cũng tăng Điều này làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng cao

và sức ép lạm phát cao trong nước trở nên mạnh mẽ hơn

Ngược lại, khi đồng nội tê lên giá thì hàng hóa nhập từ nước ngoài trở nên rẻ hơn, từ đólàm lạm phát trong nước giảm thấp vì những hàng hóa đó đều được tính vào chỉ số giá cảtrong nước Thế nhưng, đồng nội tệ lên giá sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu, làm thu hẹp sảnxuất trong nước và thất nghiệp gia tăng

Trang 6

III MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ

Mối quan hệ giữa lãi suất trên thị trường tiền tệ với tỷ giá trên thị trường hối đoái sẽđược hiểu rõ thông qua việc nghiên cứu hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect)

và lý thuyết ngang giá lãi suất

Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào đó có lãi suất thấphơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ

có lãi suất cao hơn Nói cách khác, trừ kỳ hạn hoặc bù kỳ hạn trên giá kỳ hạn là xấp xỉ tươngđương với chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chútrọng đến việc tỷ giá giao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng

tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước

Sự cân bằng thị trường hối đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều kiện mà theo đólợi tức dự kiến của các khoản tiền gởi của hai loại tiền bất kỳ là tương đương thì được đobằng một loại tiền (nghĩa là đo bằng các đơn vị có thể so sánh với nhau được) Chỉ khi tất cảcác tỷ suất lợi tức dự kiến đều bằng nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng tiền lãi, thì sẽkhông có tình trạng dư cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng không có tình trạng dưcầu về một số loại tiền gởi khác Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại tiền gởinào ở trong tình trạng dư cầu hoặc dư cung Do vậy, có thể nói rằng thị trường hối đoái sẽcân bằng khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi

Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mức lãi suất cao là công cụ để chốnglạm phát và nó thường được sử dụng để đáp ứng yêu cầu can thiệp vào nền kinh tế Ngoài ra,chính sách lãi suất còn được sử dụng vào mục đích điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ.Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó là phươngpháp thường được sử dụng với mong muốn có những thay đổi cấp thời về tỷ giá Cơ chế tácđộng của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau: Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầungoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùngchiều của lãi suất trên thị trường Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồngvốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốnngoại tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ đểthu lãi cao hơn Kết quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng) Trong trường hợp ngược lại, nếumuốn tỷ giá tăng thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu

Tuy nhiên lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách giántiếp, chứ không phải là mối quan hệ trực tiếp và nhân quả Các yếu tố để hình thành lãi suất

và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) không nhất

Trang 7

thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (hạ xuống chẳng hạn) Lãi suất lên cao có thể thuhút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệtrong nước không ổn định, thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngoài,vấn đề lúc đó lại đặt ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đềthu hút được lãi nhiều.

Trang 8

CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

– TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

I THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ LÃI SUẤT QUA CÁC THỜI KỲ

Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh vực ngânhàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủtướng Chính phủ), làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh vềngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/5/1989 của Hội đồng nhà nước,

có hiệu lực từ ngày 1/10/1990 với nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp vàxây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển Đến ngày 1/10/1998 Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổchức tín dụng ra đời và có hiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng chohoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế

Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy nhữngbước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế Quá trình :

1 Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7/2000) :

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổicăn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất , bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huyđộng (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suấtđầu ra) Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,

ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủnghoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á

2 Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000-5/2002) :

Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độtrong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản doNHNN và các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản +0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Lãi suất cơ bản

và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽcông bố điều chỉnh kịp thời Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàngthương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trườngquốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy

Trang 9

Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa vàtừng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.

3 Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008):

Từ cuối tháng 5/2002, Thống đốc đã có Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việcthực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng ViệtNam của các ngân hàng đối với khách hàng Trong đó quy định các ngân hàng xác định lãisuất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệmcủa khách hàng vay; NHNN công bố lãi suất cơ bản nhưng với mục đích định hướng lãi suấtthị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các ngân hàng khi ấn định lãi suất kinh doanh.Việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong những năm qua đã tạo điều kiện cho các ngânhàng chủ động trong việc huy động và cho vay vốn, tăng năng lực cạnh tranh, chủ độngphòng ngừa rủi ro và hội nhập vào nền tài chính khu vực và quốc tế

NHNN điều hành lãi suất theo hướng thận trọng, linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãisuất với mức lãi suất cơ bản được duy trì ổn định là 8,25%/năm Lý do chủ yếu của việc giữ

ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chếtác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểmsoát lạm phát Đối với việc kiểm soát mức tăng tiền tệ để kiềm chế lạm phát, thì chủ yếu sửdụng nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, còn lãi suất chỉ đóng vai trò bổ trợ cho cáccông cụ này

4 Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :

Trang 10

Năm 2007, lạm phát ở nước ta lại tăng cao lên 12,63%, đó là hậu quả của chính sáchtiền tệ nới lỏng và tăng trưởng nóng ở nước ta trong hai năm 2006-2007 Đến hết tháng06/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 18,44% so với 31/12/2007 và 24,8% so với cùng kỳ nămtrước, mức cao nhất trong 15 năm kể từ năm 1993 Ngân hàng Nhà nước buộc phải ra mộtloạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành tínphiếu bắt buộc theo quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 nhằm rút bớt tiền từ lưuthông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợtín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô Bước đầu đã làm giảm bớt một phần lượngtiền từ các NHTM, giảm đáng kể hệ số nhân tiền, nhưng lại nẩy sinh tình trạng khó khănthanh khoản cho các NHTM, nhất là những NHTMCP nhỏ Từ đó, làn sóng tăng lãi suấttrong huy động dấy lên, từ tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh

do các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VND lên mức 13-14%/năm và đã đẩy lãi suấtcho vay lên đến mức trên 20%/năm

Cũng trong thời gian này, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu nóng lên, đếngiữa tháng 2/2008 đã lên đến 30%, có ngân hàng đặt thầu lên đến 40%/năm Trong khi đó lãisuất cơ bản của NHNN chỉ với mức 8,75%/năm và lãi suất tái chiết khấu cấp vốn với mức7,5%/năm, lãi suất chiết khấu với mức 6%/năm theo quyết định 306/QĐ-NHNN ngày30/1/2008 vẫn không có tác dụng hướng dẫn thị trường Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhànước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này

Tiếp đó thực hiện chỉ đạo của chính phủ trong việc sử dụng công cụ lãi suất để kiềmchế lạm phát, ngày 16/5/2008, NHNN đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơchế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, theo đó qui định việc các TCTD ấn địnhlãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150%

Trang 11

của lãi suất cơ bản do NHNN công bố Trên cơ sở quyết định trên, cùng ngày 16/5/2008,NHNN qui định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 12%/năm.Sau quyết định tănglãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất huy động của các NHTM điều chỉnh lên 16-17%/năm.

Từ khi NHNN tiếp tục tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm thì lãi suất huy động lại đẩy lêntheo, thường ở mức 17-18%/năm Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụngphù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực Đếnhết tháng 06/2008, khi GDP tăng khoảng 6,8% thì tốc độ tăng M2 chỉ tăng 6% so với đầunăm và mức độ tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 12%/năm, nguy cơ thiếu thanh khoản củacác NHTM đã được giải tỏa

Quý 3/2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết địnhcủa NHNN trong việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: lãi suất cơ bản giảm xuống

từ 14% còn 8,5%; lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên 3,5%/năm, 5%/năm,10%/năm sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm; tín phiếu bắt buộc đựơc thanh toántrước hạn; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% xuống đến 5% và các loại lãi suất chiết khấu, lãisuất tái cấp vốn cũng được hạ xuống Chỉ số lạm phát ở tháng 7/2008 được công bố ở mức1,13% là mức thấp nhất so với các tháng trước đã làm cho tình hình dịu đi, tháng 8/2008 là1,56%, đến tháng 9/2008 chỉ còn 0,18%, tháng 10/2008 giá cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm0,19%), sang tháng 11/2008 chỉ số giá giảm với mức độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng12/2008 chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm còn 0,68%, cả năm 2008 mức lạm phát là 19,98%.Tăng trưởng GDP đạt 6,23%, thấp hơn dự kiến khoảng 2%

Như vậy, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất kiềm chế lạm phát một cách hiệu quả.

Bước sang năm 2009 thì những biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độtăng trưởng, cũng như chính sách vĩ mô đã có những kết quả tích cực Ngày 01/02/2009Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn vềlãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụđời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là

cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro

Năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi Do áp lực từ cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lýgăm giữ ngoại tệ Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi Chính sách tiền tệ một cách linhhoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường NHNN đã hạ thấp

Trang 12

lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5% Các loạilãi suất: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toánđiện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngânhàng nhà nước đối với các ngân hàng đều được giảm với mức phổ biến là 1% Cụ thể lãi suấttái cấp vốn là 7%/năm so với mức 8%/năm như trước đây Lãi suất tái chiết khấu là 5%/năm

so với mức 6%/năm Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng vàcho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước đối với cácngân hàng giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợlãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanhnghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhucầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng

5 Cơ chế lãi suất thỏa thuận (4.2010 đến nay):

NHNN thực hiện chính sách tiền tệ khá thận trọng trong những tháng đầu năm 2010 do

áp lực lạm phát bùng nổ trong quý I Tuy nhiên, việc lạm phát ổn định ở mức thấp trong quý

II nên NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thận trọng từ quý II đã làm cho tăngtrưởng tín dụng tăng cao hơn, điều này được thể hiện qua Thông tư 12 của NHNN ban hànhngày 14/4/2010 về việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận và thể hiện qua việc quyết tâm củaChính phủ trong việc thực hiện mục tiêu lãi suất “vào 10 ra 12” Trong thực tế cho thấy rằngmục tiêu này của Chính phủ đã không phát huy được tác dụng vì mặt bằng lãi suất trong nềnkinh tế diễn biến theo chiều ngược lại và đứng ở mức cao

Trước diễn biến của lạm phát tăng cao từ tháng 9, NHNN đã trở lại với chính sách tiền

tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua việc nâng lãi suất cơ bản lên 9% vàcác lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu lên 8% từ ngày 5/11/2010 Việc nâng lãi suấtnày cùng với những quy định mới của Thông tư 13 về nâng tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ cấp tín

Trang 13

dụng đã ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng và phần nào tác động đến mặtbằng lãi suất cao ở thời điểm hiện tại Hơn nữa, thị trường tiền tệ chứng kiến cuộc đua lãisuất mạnh mẽ giữa các ngân hàng vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12 với lãi suất huy độnglên đến 18% và lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng hơn 13%, trong đó có cảnhững ngân hàng lớn tham gia vào cuộc đua này đã cho thấy vấn đề thanh khoản của hệthống ngân hàng có thể đang gặp khó khăn ở thời điểm hiện tại.

Sự bất ổn của thị trường tiền tệ trong năm 2010 cho thấy các công cụ điều hành tiền tệcủa Ngân hàng nhà nước không còn nhiều hiệu quả khi lãi suất cơ bản chỉ còn mang tính chấttham khảo do lãi suất hiện tại đang được áp dụng theo cơ chế thỏa thuận, tỷ lệ dự trữ bắtbuộc hiện tại đã gần quá ngưỡng chịu đựng của hệ thống ngân hàng nên việc nên khả năngtăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gần như không còn trong khi hoạt động thị trường mở từ lâu chưaphải là công cụ hữu hiệu để ổn định thị trường tiền tệ Việt Nam Hơn nữa, việc chính sách tàikhóa được mở rộng trong một thời gian dài với mức thâm hụt ngân sách hàng năm đều trên5% (giới hạn an toàn) chính là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả củachính sách tiền tệ của NHNN và dẫn tới những bất ổn trên thị trường tiền tệ ở thời điểm hiệntại Chính những bất ổn của chính sách tiền tệ trong năm qua cùng với việc nợ công và thâmhụt ngân sách lần lượt vượt ngưỡng an toàn ở mức 56,6% GDP và 5,8% GDP đã dẫn đếnviệc hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn là Moody’s và S&P lần lượt hạ mức tínnhiệm Việt Nam xuống còn B1 và BB và làm cho CDS của Việt Nam ở mức cao nhất so vớicác nước trong khu vực Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho Việt Nam trong việc huy độngnguồn vốn quốc tế trong thời gian tới

6 Đánh giá chung về chính sách điều hành lãi suất ỡ Việt Nam thời gian qua :

Điều hành lãi suất là một hành động quan trọng của ngân hàng trung ương đối với ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế Mặc dù có những thành công trong việc điều hành hệ thống ngânhàng đem lại tăng trưởng và ổn định cho nền kinh tế, cách thức điều hành lãi suất của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn cho thấy một vài điểm chưa hoàn thiện:

- Chính sách lãi suất bị động chưa bắt kịp diễn biến thực tế: Thực tế thời gian qua

chúng ta thường xuyên chứng kiến những biến động trái chiều trong lãi suất và tính thanhkhoản của thị trường Những biến cố xãy ra thường vượt sức chịu đựng của thị trường thì lúcnày cơ chế chính sách mới được đưa ra để hướng dẫn thay vì chính sách của Nhà nước phảiphát huy tác dụng là công cụ dự báo, dẫn dắt và định hướng thị trường

- Chính sách điều chỉnh thường tạo ra cú sốc lớn, doanh nghiệp gặp rủi ro khi

chưa có công cụ phòng ngừa: Một hệ lụy từ việc chính sách chưa thể hiện vai trò dự báo,

Trang 14

dẫn dắt thị trường Khi tình hình biến động theo một chiều hướng xấu thì lúc này NHNN mớiđưa ra “toa trị bệnh”, chính những điều chỉnh không báo trước này làm doanh nghiệp bị lúngtúng, thậm chí là gặp rất nhiều khó khăn Đồng thời vì sự thay đổi đột ngột trong chính sáchnày, doanh nghiệp chưa có thời gian và công cụ phòng ngừa tạo ra áp lực lớn cho doanhnghiêp.

- Tồn tại cơ chế lãi suất 2 giá song song nhau, làm bóp méo thị trường : Tình hình

vừa qua cho thấy, thị trường gặp khó khăn về tính thanh khoản, doanh nghiệp khó tiếp cậnvốn Trong khi cần phải duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn lớn làm đẩy lãisuất trên thị trường tự do tăng cao, trong khi lãi suất cơ bản do nhà nước ban hành để hướngdẫn thị lại ở mức quá thấp và bị vô hiệu lực Khi có khoảng chệnh lệch và để kiềm chế vay

nợ tín dụng thì NHTW điều chỉnh lãi suất lên cao hơn, nhưng nhu cầu vay nợ doanh nghiệpvẫn cao, thì “lãi suất ngầm” trên thị trường cao hơn quy định thông qua thỏa thuận riêng

- Điều hành lãi suất quá dựa vào tín hiệu doanh nghiệp: việc ra quyết định về lãi

suất của NHNN Việt Nam là luôn chậm vì không chú trọng đủ mức vào những dấu hiệu vĩ

mô phản ánh khuynh hướng của nền kinh tế, NHNN dường như thường hay dựa vào nhữngthông tin vi mô để đưa ra quyết định Hiện tượng căn cứ vào lời kêu ca thiếu vốn làm ăn củadoanh nghiệp là không thích hợp trong việc ra quyết định về lãi suất Trong bất kỳ trườnghợp nào được hưởng ưu đãi (lãi suất), các doanh nghiệp được hưởng rồi sẽ vẫn kêu thiếuchẳng ai nói đủ rồi bao giờ, còn những doanh nghiệp chưa được tiếp cận lại càng kêu to Docách tiếp cận như vậy, việc kéo dài chính sách ưu đãi lãi suất là tất yếu Và hành động này làkhông hợp lý, nó giống bạn giữ chân ga quá lâu khi xe đã lên đỉnh dốc, làm cho xe quá đà,khó kiểm soát sau đó

II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI QUA CÁC THỜI KỲ:

1 Giai đoạn 1992 đến 1997:

Giai đoạn 1992 đến khi khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á (7/1997), NHNNViệt Nam áp dụng chính sách TGHĐ cố định để kiềm chế lạm phát Việc điều hành tỷ giácòn quá sơ cứng và thụ động, đồng Việt Nam bị định giá cao so với đôla Mỹ Điều này đã tạo

ra và tích lũy các nhân tố gây mất ổn định và kiềm hãm sự phát triển kinh tế

2 Giai đoạn từ 1997 đến 1999:

Mặc dù thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam không bị kéo vào làn sóng khủng hoảng tàichính Châu Á, nhưng Chính phủ và NHNN đã thấy được tính chất nghiêm trọng của việc ápdụng chế độ TGHĐ cố định lâu dài nên đã có khoảng 10 lần điều chỉnh biên độ Nhưng

Trang 15

NHNN vẫn còn lúng túng trong việc điều hành tỷ giá Dù vậy, sự vận động tỷ giá trong giaiđoạn này có thể cho rằng TGHĐ đã từng bước vận động theo cơ chế thị trường.

3 Giai đoạn 1999 đến 2006:

Trong giai đoạn này, Việt Nam phải thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường tàichính tiền tệ thì việc giữ tỷ giá ở mức thấp sẽ gây nhiều bất lợi Từ 26/2/1999, NHNN chấmdứt công bố tỷ giá chính thức mà chỉ công bố TGBQLNH của đồng Việt Nam so với đôla

Mỹ Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá còn nhiều phức tạp Cơ chế điều hành tỷ giá quy định biên

độ mua bán làm việc yết giá của NHTM còn cứng nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu ngoại

tệ trên thị trường

Ngày 12/7/2000, NHNN áp dụng nghiệp vụ thị trường mở Tỷ giá biến động liên tục,lúc tăng, lúc giảm đột ngột, không do ý chí chủ quan của NHNN mà do sự mất cân đối cungcầu ngoại tệ

Ngày 01/07/2002, NHNN VN công bố nới lỏng biên độ lên 0,25% so với tỉ giá giaodịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng Biên độ giao dịch này được giữ cố định trongthời gian dài, từ 2003 đến 2006 Tỉ giá năm 2003 tăng 3% so với năm 2002 và ổn định vớiviệc đồng Việt Nam được định giá thấp đã cải thiện rõ rệt tình trạng thâm hụt cán cân thươngmại từ -12,8% GDP năm 2003 xuống còn -8,8% năm 2006, góp phần cải thiện cán cân tàikhoản vãng lai từ -4,9% GDP năm 2003 xuống còn -3% GDP năm 2006, đã tiếp tục cải thiệnđược cán cân thanh toán quốc tế, qua đó dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng Đồng thời, sự ổn địnhcủa tỉ giá đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, từ đây các nhân tố lạm phát được nuôidưỡng, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định

Từ ngày 07/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào WTO, một biểu hiện rõ rệt nhất saukhi hội nhập, đó là dòng vốn nước ngoài chảy vào nhiều, áp lực lạm phát gia tăng Để không

đi chệch hướng, Nhà nước đã có những chính sách đổi mới hợp lý, trong đó có chính sáchđiều hành tỉ giá hối đoái Chính vì thế, ngày 31/12/2006, NHNN đã nâng biên độ giao dịch tỉgiá lên 0,5% so với 0,25% trước đó Bên cạnh đó, để kiềm chế lạm phát, NHNN đã áp dụngchính sác thắt chặt tiền tệ như tăng lãi suất, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc ở các ngân hàng thươngmại Và yêu cầu ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc nhằm hạn chế nguồn cung tiền và giảmtốc độ tăng giá của các mặt hàng

Trang 16

4 Giai đoạn 2007-2009:

Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong 5 năm trở lại đây (2006-2011), nguồn: TVSI

Sau khi là thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO cũng nảy sinhmột vấn đề Việt Nam đang phải “đối mặt” đó là xử lý các nguồn vốn ngoại tệ chuyển vào VNvới khối lượng rất lớn, song vấn đề đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW ViệtNam là thực hiện mục tiêu điều hành tỷ giá Trong nước, tỷ giá USD/VND trên các thịtrường từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2007 tương đối ổn định nhưng biến động khá nhiều trongtháng 8 và tháng 9 Vào thời điểm giữa tháng 8 tỷ giá mua - bán USD/VND của NHTM vàtrên thị trường tự do tăng nhanh do nguồn cung về ngoại tệ giảm sút, trong khi cầu về ngoại

tệ lại tăng mạnh làm VND mất giá khá mạnh Từ tháng 9, nguồn cung ngoại tệ trên thịtrường đã có chiều hướng tăng mạnh, thị trường ngoại tệ lại có biểu hiện dư thừa ngoại tệ.Với chủ trương chung tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích nghi vớimức độ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong năm 2007, NHNN cũng đã nới rộngbiên độ tỷ giá giữa USD/VND Ngày 24/12/2007 Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định

mở rộng biên độ tỷ giá từ ±0,5% lên ±0,75% (tăng 0,25%), tạo điều kiện cho các NHTM ấnđịnh tỷ giá mua bán linh hoạt hơn sát với cung cầu ngoại tệ trên thị trường Cơ chế tỷ giángày càng linh hoạt hơn sẽ đòi hỏi các NHTM và thành viên tham gia thị trường ngoại hốiphải nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá, để đảm bảo hiệu quả sản xuấtkinh doanh

So với thời điểm đầu năm 2007, tỷ giá BQLNH tăng 12đ/USD, cuối năm đang ở mức16.113đ/USD Tỷ giá của các NHTM giảm khoảng 20-35đ/USD, giao dịch ở mức16.000/16.010/16.030đ/USD Tỷ giá mua bán USD/VND trên thị trường tự do cũng giảm từ5-35đ/USD so với thời điểm đầu năm và giao dịch ở mức 16.020/16.040đ/USD trên thịtrường Hà Nội và 16.050/16.085đ/USD trên thị trường TP HCM

Trang 17

Đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, thì đếngiữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD Tuy nhiên, vào những ngàycuối tháng 3/2008, thị trường đảo chiều, VND không thể tăng giá tăng mạnh hơn Trongtháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN phải bánngoại tệ can thiệp thị trường Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-cầu ngoại tệtrên thị trường, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND Tỷ giáUSD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới Ở hầu hết cácNHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá bán daođộng xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD Tính toán của Tổng cục Thống kê công bốcho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước

đó Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời điểm giá chợ đen lêntới 19.000-19.800 VND/USD

Đến trung tuần tháng 8, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự

do không quá cách biệt, cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.489 VND/USD lên16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496 VND/USD Tuy nhiên cuối tháng 10 tỷ giá ở cácNHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800 VND/USD, trong khi tỷ giá bình quân liên ngânhàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ, giá USD trên thị trường tự do cũng đã xuống dưới mốc17.000 VND Còn trên thị trường thế giới, phần lớn tất cả các ngoại tệ mạnh trên thế giới đềumất giá so với USD nhất là sau khi Chính phủ Mỹ can thiệp vào thị trường tài chính, ngănchặn khủng hoảng khiến USD lên giá

Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá thêm ±3% vào ngày 25/12/2008 (trước đó là07/03/2008 tăng từ ±0,75% lên 1% và 7/11/2008 từ 1% lên 2%) được xem là một quyết địnhcho ba mục tiêu là: thứ nhất đưa giá sát với thị trường hơn; thứ hai là giúp hội nhập thitrường tốt hơn; thứ ba là là kích thích xuất khẩu, chống trì trệ sản xuất

Đầu tháng 1/2009 đến tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND không có biến động mạnh - tănggiảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD - nguyên nhân phần lớn là do có sự canthiệp của nhà nước Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2), tỷ giá lại biến động khá mạnh Tỷgiá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND

có nơi đã lên đến 18.000đ Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiếncho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giágiao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanhnghiệp có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do Trong phiên sángngày 20/3/2009, đồng USD trên thị trường tự do còn giữ biên độ trung bình trên cả nước:

Ngày đăng: 04/05/2019, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w