1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận bản chất tài chính doanh nghiệp

30 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 878,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội đồng quản trị đại diện cho quyền lợi của các cổ đông và bổ nhiệm các chức năng quản lý cao nhất của công ty đồng thời có nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động của các nhà quản lý luôn tuân

Trang 1

cô Nguyễn Thị Uyên Uyên

Lớp: Cao Học Ngày - Khóa: 22 Nhóm 1:

1 Bùi Thị Thuỳ Dung

2 Trần Minh Bảo Ngọc

3 Trần Đào Phương Linh

4 Lương Thị Thanh Vương

Trang 2

MỤC LỤC

1 Bản chất tài chính doanh nghiệp 3

1.1 Công ty cổ phần 3

1.2 Nhà quản trị tài chính 6

1.2.1 Nhà quản trị tài chính là ai? 6

1.2.2 Vai trò nhà quản trị tài chính 7

1.3 Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý 9

1.3.1 Ích lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý 9

1.3.2 Bất lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý 10

2 Chi phí đại diện 10

2.1 Định nghĩa 10

2.1.1 Chi phí giám sát 11

2.1.2 Chi phí ràng buộc 12

2.1.3 Chi phí phụ trội 12

2.2 Các nhân tố tác động đến chi phí đại diện 12

2.2.1 Loại hình doanh nghiệp 12

2.2.2 Tài sản 13

2.2.3 Tổng nợ 13

2.2.4 Dòng tiền 13

2.2.5 Các nhân tố khác 13

2.3 Chi phí đại diện trong công ty cổ phần 14

2.3.1 Các dạng mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần 14 2.3.2 Phân loại chi phí đại diện trong công ty cổ phần 17

2.4 Chi phí đại diện trong công ty cổ phần tại Việt Nam 26

2.4.1 Thực trạng về người đại diện và chi phí đại diện ở Việt Nam 26

2.4.2 Nguyên nhân phát sinh chi phí đại diện 26

2.4.3 Tác động của chi phí đại diện 27

2.4.4 Kiểm soát chi phí đại diện trong các CTCP Việt Nam 27

Trang 3

1 Bản chất tài chính doanh nghiệp

Các nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với 3 câu hỏi quan trọng, đó là:

(1) Trong rất nhiều các cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào?

(2) Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu

tư đã được hoạch định đó

(3) Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách phân phối như thế nào?

Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu thứ hai lien quan đến huy động vốn và câu hỏi thứ ba liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định (1) và (2)

Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị doanh nghiệp trên thị trường Vấn đề là thực hiện điều đó như thế nào? Có thể có một số hoạt động tài chính bạn có thể tìm hiểu trong môn học này nhưng trên thực tế các giám đốc tài chính lại không vận dụng đúng như vậy Điều này cho thấy tãi sao để hiểu thấu đáo và áp dụng thành công các kiến thực tài chính doanh nghiệp là một việc hết sức khó khăn Mặc dù môn học này

có thể không giúp cho bạn giải quyết được toàn bộ các vấn đề phát sinh trong thực tiễn nhưng nó sẽ cung cấp những nghuyên tắc và kiến thức mà tất cả các quyết định tài chính điều dựa trên đó làm nền tảng Và môn học này cũng sẽ cho bạn thấy cách sử dụng các công cụ cần thiết trong giao dịch thương mại và tài chính như thế nào

1.1 Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

 Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

 Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân

 Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã đóng góp vào doanh nghiệp Điều này có nghĩa là các cổ đông sẽ không chịu trách nhiệm cá nhân trước các nghĩa vụ tài chính của công ty Chẳng hạn nếu công ty phá sản thì không ai được quyền yêu cầu liên đới các tài sản riêng các cổ đông của nó đối với các nghĩa vụ trả nợ của công ty Trong trường hợp này các cổ đông chỉ mất phần góp vốn ban đầu của mình mà thôi

Trang 4

 Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác

 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, tách bạch về mặt luật pháp đối với các

Một công ty cổ phần sau khi thành lập có hai giai đoạn hoạt động:

 Công ty cổ phần nội bộ (The private corporation): thường là công ty mới được thành lập và các cổ phần của nó chỉ được nắm giữ bởi một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, chẳng hạn như là các nhà quản lý của công ty và một vài người khác cùng chung vốn Trong trường hợp này, các cổ phần của công ty không được mua bán, giao dịch rộng rãi trong công chúng

 Công ty cổ phần đại chúng (The public corporation): là khi công ty cổ phần nội

bộ bắt đầu tăng trưởng và thêm nhiều cổ phần được phát hành nhằm gia tăng

bổ sung thêm vốn thì những cổ phần của nó sẽ được giao dịch mua bán rộng rãi trên thị trường Hầu hết các công ty nổi tiếng trên thế giới và các công ty lớn đều là những công ty cổ phần đại chúng

Xét về mặt quản lý, mặc dù các cổ đông là những người nắm quyền sở hữu công ty cổ phần nhưng họ không hẳn sẽ là người trực tiếp quản lý nó Thay vì tham gia quản lý trực tiếp thì những cổ đông này sẽ bỏ phiếu để lựa chọn một hội đồng quản trị Một trong số thành viên hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức danh quản

lý cao nhất là Tổng Giám Đốc hoặc chức danh Tổng Giám Đốc có thể được hội đồng quản trị lựa chọn từ một người bên ngoài không phải là cổ đông của công ty Hội đồng quản trị đại diện cho quyền lợi của các cổ đông và bổ nhiệm các chức năng quản lý cao nhất của công ty đồng thời có nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động của các nhà quản

lý luôn tuân theo đúng muc tiêu tối đa giá trị lợi ích của các chủ sở hữu

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã mang lại cho loại hình công ty cổ phần một thời gian hoạt động được xem là vĩnh viễn Thậm chí ngay cả khi các nhà quản lý từ nhiệm hoặc bị bãi nhiệm và bị thay thế thì công ty cổ phần vẫn tồn tại Hoặc các cổ đông có thể rút khoản vốn góp của mình ra khỏi công ty bằng cách

Trang 5

bán cá cổ phần của mình chi những nhà đầu tư khác mà vẫn không làm gián đoạn hoạt động của công ty

Từ những khái niệm trên về công ty cổ phần, ta có thể rút ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạch định tài chính của công ty cổ phần

 Thuận lợi

 Công ty cổ phần có khả năng thu hút được rất nhiều nhà đầu tư mà trong

đó có thể có những nhà đầu tư chỉ nắm giữ một cổ phần trị giá rất thấp, tương ứng cho một phiếu biểu quyết duy nhất và nhận một tỷ lệ ít ỏi lợi nhuận và cổ tức Cho đến những nhà đầu tư không lồ như các quỹ hưu bổng và các công ty bảo hiểm mà những khoản đầu tư của nó có thể lên đền hàng triệu cổ phần, tương ứng với nó là một con số rất lớn phiều biểu quyết cũng như tỷ lệ chia cổ tức của công ty

 Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao vì nó có quyền phát hành các loại chứng khoán ra thị trường, có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần mới tới các nhà đầu tư

 Do các cổ đông có thể chuyển nhượng vốn dễ dàng nên đối tượng tham gia góp vốn cho công ty cổ phần cũng đa dạng hơn, khả năng công ty huy động vốn cao hơn

 Khó khăn

 Việc quản lý một bộ máy theo luất định của một công ty cổ phần và việc thông đạt những thông tin cần thiết của nó đến các cổ đông sẽ phải tốn nhiều thời gian và chi phí

 Công ty cổ phần là một pháp nhân tồn tại độc lập với các cổ đông nên các khoản thuế thu nhập mà công ty này và các cổ đông của nó phải nộp cũng sẽ được tách biệt

 Sự tách biệt về quyền sở hữu và quyền quản lý cũng mang lại nhiều mâu thuẩn mà rõ nhất là vấn đề đại diện, vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết hơn ở phần sau

Trang 6

1.2 Nhà quản trị tài chính

1.2.1 Nhà quản trị tài chính là ai?

Chúng ta sử dụng thuật ngữ Giám đốc tài chính để chỉ những người có trách nhiệm đưa ra những quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối Trong hầu hết các trường hợp và trong hầu hết các công ty khác nhau, trách nhiệm này được Giám đốc tài chính phân bổ và cùng thực hiện bởi nhiều người

Các nhà quản trị cấp cao trong một công ty luôn có liên quan đến những quyết định tài chính bao gồm cả những kỹ sư, những nhà thiết kế sản phẩm mới Vì việc thiết kế những sản phẩm mới sẽ xác định chủng loại sản phẩm thực mà công ty sẽ phải đầu tư Ngay cả những nhà quản trị marketing cũng tham gia vào quyết định đầu tư vì bản thân một chiến lược quảng cáo cũng là một dự án đầu tư quan trọng, nhưng là đầu

tư vào tài sản vô hình và được mong đợi là sẽ bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra bằng gia tăng doanh số và lợi nhuận của công ty trong tương lai

Tuy nhiên, có một vài nhà quản trị mà chuyên môn đặc biệt của họ là trong lĩnh vực tài chính Vai trò của họ được thể hiện tổng quát trong hình sau bao gồm: Giám đốc tài chính (CFO), Giám đốc vốn và Kế toán trưởng

Giám đốc vốn

Bộ phận quản

trị tín dụng

Bộ phận quản trị tiền mặt

Bộ phận

chi tiêu vốn

Bộ phận lập kế hoạch tài chính

Kế toán trưởng

Bộ phận quản lý thuế

Bộ phận

kế toán chi phí

Bộ phận kế toán tài chính

Bộ phận quản

lý hệ thống dữ liệu

TỔNG GIÁM ĐỐC

Giám Đốc Tài Chính

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Trang 7

Hình: Vai trò của Giám đốc tài chính

 Giám đốc tài chính: điều hành trực tiếp cả hai vị trí giám đốc vốn và kế toán trưởng Bản thân giám đốc tài chính có trách nhiệm chính trong việc hoạch định các chính sách tài chính và các kế hoạch tài chính phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp Thông thường người phụ trách cao nhất về tài chính của công ty – các CFO – đồng thời cũng có trách nhiệm quản lý điều hành toàn bộ hoạt động chung của một công ty với mức độ vượt hơn chuyên môn chính về tài chính của họ, và các CFO cũng có thể là thành viên của ban giám đốc

 Giám đốc vốn: có trách nhiệm quản trị dòng tiền của doanh nghiệp, tìm kiếm huy động nguồn vốn mới và duy trì mối quan hệ với các ngân hàng, với các cổ đông cũng như với tất cả các nhà đầu tư khác, những người đang nắm giữ các chứng khoán mà công ty đã phát hành, đảm bảo tối đa hóa giá trị doanh nghiệp

 Kế toán trưởng: chuyên thiết lập các báo cáo tài chính hằng năm, quản lý hệ thống kế toán nội bộ của công ty và theo dõi các khoản thuế phải nộp nhằm đảm bảo rằng tiền luôn được sử dung hiệu quả và tuân thủ các quy định của luật pháp về các giao dịch chứng khoán

1.2.2 Vai trò nhà quản trị tài chính

Để tìm hiểu vai trò của nhà quản trị tài chính chúng ta nhắc lại khái niệm về tài sản thực và tài sản tài chính:

 Tài sản thực (real assets): phần lớn tài sản thực là tài sản hữu hình nhu8 máy móc thiết bị, nhà xưởng và văn phòng làm việc Một số tài sản khác

là các tài sản vô hình như độc quyền về kỹ thuật, uy tín thương hiệu và bằng phát minh sáng chế… tất cả những tài sản này đều có giá trị tương lai của nó

 Tài sản tài chính (financial assets) hay chứng khoán (securities): là các loại giấy tờ có giá công ty có thể phát hành khi cần tạo vốn Các loại giấy tờ có giá này bản thân nó có một giá trị nhất định bởi vì nó được

Trang 8

đảm bảo trên các tài sản thực của công tyva2 dòng thu nhập tương lai

mà nó mang lại Các tài sản tài chính không chỉ bao gốm các khoản vay

nợ ngân hàng mà còn bao gồm các cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán đăc biệt khác

 Các giám đốc tài chính là chiếc cầu nối giữa hoạt động của một doanh nghiệp và thị trường tài chính (financial market), thị trường tài chính là nơi mà ở đó các nhà đầu tư đang nắm giữ các tài sản tài chính được phát hành bởi các công ty Vai trò của giám đốc tài chính được thể hiện trong hình sau cho thấy dòng chảy của tiền mặt đi từ nhà đầu tư đến công ty

và sau đó quay trở lại nhà đầu tư như thế nào

Hình: Dòng chảy của tiền mặt

(1) Công ty bán chứng khoán để huy động vốn

(2) Tiền được chi tiêu để mua sắm các tài sản thực sử dụng cho hoạt động kinh doanh

(3) Nếu công ty kinh doanh hiệu quả thì các tài sản thực sẽ tạo nên dòng tiền gia tăng để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu

(4) Tiền hoặc được tái đầu tư trở lại (4a) hoặc được hoàn trả cho các nhà đầu tư, những người đã mua các chứng khoán mà công ty phát hành lúc ban đầu (4b)

Hình trên nhắc chúng ta quay trở lại ba quyết định căn bản đối với một giám đốc tài chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối

 Thứ nhất, những tài sản thực nào sẽ được công ty đầu tư? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất đó là quyết định đầu tư hay quyết định ngân sách vốn của công ty

(3)

(4b) (4a)

Thị trường tài chính (Các nhà đầu tư nắm giữ các tài sản tài chính)

Trang 9

 Thứ hai, công ty nên sử dụng nguồn tài trợ nào cho dự án đầu tư đã được lựa chọn đó? Trả lời cho câu hỏi thứ hai đó là quyết định tài trợ của công ty

 Thứ ba, kết hợp cả hai quyết định trên sẽ tạo thành chính sách phân phối Nghĩa là công ty sẽ đưa ra quyết định chính sách phân phối như thế nào Ngoài ra, sự kết hợp giữa các quyết định tài chính với nhau chứ không phải xem xét một cách riêng lẻ làm cho các giám đốc tài chính

“mệt” hơn nữa với việc phân tích và lập kế hoạch tài chính

Thị trường tài chính là nơi mà tại đó các công ty có thể gia tăng vốn, và cũng tương ứng như vậy các công ty quốc gia có thể gia tăng vốn trong phạm vi toàn cầu từ các thị trường tài chính quốc tế Các cổ đông của các công ty lớn phân bổ tản mát khắp toàn cầu Các cổ phần của các công ty này được giao dịch trao đổi mua bán trên khắp các múi giờ trên khắp các trung tâm tài chính quốc tế Các luồng vốn đầu tư bằng trái phiếu và các khoản vay nợ ngân hàng có thể được chuyển đồi và mua bán dễ dàng xuyên biên giới các quốc gia Một công ty cổ phần có nhu cầu huy động vốn thì không nhất thiết vay mượn từ ngân hàng địa phương của mình Ngày nay, việc quản trị tiền mặt đã trở thành một yêu cầu phức tạp đối với những công ty mà sản phẩm của nó được tiêu thụ tại nhiều quốc gia trên thế giới Do đó, các giám đốc tài chính cần phải nhìn thấy được các vấn đề ở tầm mức tài chính quốc tế, sự khác nhau trong các hệ thống tài chính và các vấn đề về đầu tư cũng như gia tăng vốn trong phạm vi quốc tế

1.3 Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý

1.3.1 Ích lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý

Trong các công ty lớn, sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là điều hết sức cần thiết Những công ty này có thể có hàng trăm hàng ngàn cổ đông, do vậy không có cách nào thỏa mãn việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý Việc phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý đã có những thuận lợi rõ ràng:

 Cho phép chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần góp vốn bằng nhau

và từ đó sự chuyển nhượng thay đổi quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 10

 Cho phép công ty thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành công ty theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu

1.3.2 Bất lợi của việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý

Tuy việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý mang lại những ích lợi nhất định nhưng bản than nó cũng có nhiều vấn đề phiền phức Vần đề này xuất phát từ hai nguyên nhân chính, đó là: khác biệt trong mục tiêu giữa người sở hữu và nhà quản lý;

và khác biệt trong thông tin khi hai đối tượng này có lượng thông tin khác nhau

Sự mâu thuẩn giữa mục tiêu của các cổ đông và các nhà quản lý đã tạo nên những vấn đề về người chủ - người đại diện Cổ đông là người chủ còn các nhà quản

lý chuyên nghiệp là ngừi đại diện cho họ Các cổ đông sẽ yêu cầu các nhà quản lý làm sao để gia tăng giá trị công ty nhưng các nhà quản lý có thể rút lui khỏi những công việc nặng nhọc này hoặc có thể thu vén cho cá nhân để làm giàu Các chi phí đại diện xuất hiện khi: (1) Các nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa giá trị công ty, (2) Các cổ đông sẽ gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của họ

Ngoài ra chi phí đại diện còn xuất hiện khi có sự mâu thuẩn giữa cổ đông và chủ nợ, hay giữa cổ đông bên trong và bên ngoài công ty…

Vấn đề người chủ - người đại diện có thể dễ dàng giải quyết nếu mọi người cùng nhận được những thông tin ngang bằng nhau Nhưng đây là điều hiếm có trong lĩnh vực tài chính Các nhà quản lý, các cổ đông và các chủ nợ có thể có những thông tin rất khác nhau về giá trị của các tài sản thực hoặc các tài sản tài chính của công ty

và điều này có thể tồn tại trong nhiều năm trước khi được phát hiện ra

2 Chi phí đại diện

2.1 Định nghĩa

Trang 11

Theo Jensen và Meckling, vấn đề nhà quản lý trốn tránh nhiệm vụ của mình sẽ được xem như một loại chi phí, các nhà quản lý không thể hiện năng lực lãnh đạo của

họ cũng xem như một loại chi phí Jensen và Meckling đã định nghĩa chi phí đại diện như là sự tổng hợp các chi phí của một hợp đồng có tổ chức Hợp đồng này gồm, một người (người chủ) thuê một người khác (người đại diện) làm nhiệm vụ thay thế cho mình (người chủ) Người chủ đưa ra quyết định ủy quyền cho người đại diện Các vấn

đề đại diện phát sinh do các thỏa thuận hợp đồng không thể hoàn hảo cho tất cả các hoạt động mà một đại diện thực hiện, những quyết định của người đại diện ảnh hưởng đến chính bản thân anh ta và cả người chủ Nảy sinh từ vấn đề này là làm sao thuyết phục người đại diện hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ Jensen và Meckling cho rằng các nhà quản lý gánh chịu toàn bộ chi phí cho không theo đuổi các mục tiêu riêng của họ nhưng họ chỉ dành được một tỷ lệ rất nhỏ về lợi ích Từ đó hai ông cho rằng tính không hiệu quả do mối quan hệ hợp đồng không hoàn hảo này được thu hẹp khi có các cơ chế động viên nhà quản trị tăng cường đưa ra các quyết định tối đa hóa giá trị Như bất kỳ chi phí nào khác, vấn đề đại diện sẽ bị các thị trường tài chính theo dõi và được phán ánh vào trong giá cổ phần của công ty

2.1.1 Chi phí giám sát

Là những chi phí mà người chủ phải bỏ ra để đánh giá, theo dõi và giám sát hành vi của người đại diện để bảo vệ lợi ích của người chủ sỡ hữu vốn, tránh hiện tượng bất cân xứng thông tin do có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo ra

Chi phí giám sát bao gồm cả chi phí kiểm toán, chi phí của các hợp đồng thù lao cho các nhà quản lý cấp cao và chi phí khuyến khích nhà quản trị Ban đầu những chi phí này là do người chủ chi trả, nhưng Fama và Jensen cho rằng cuối cùng thì các đại diện phải gánh chịu chi phí này vì thù lao của họ sẽ bị cắt giảm để trang trải cho các chi phí đó Việc giám sát hiệu quả sẽ hạn chế bớt một vài nhóm hoắc một số cá nhân hành động trái với lợi ích người chủ Những người đảm trách công việc giám sát này phải có chuyên môn cần thiết và có động cơ giám sát quản trị một cách đầy đủ đồng thời phải cung cấp các chỉ dẫn đáng tin cậy cho việc giám sát quản trị của công ty

Trang 12

2.1.2 Chi phí ràng buộc

Trên cơ sở cho rằng cuối cùng những người đại diện là người phải gánh chịu chi phí giám sát, nên họ sẽ điều khoản để cho thấy rằng họ đang hành động vì lợi ích tốt nhất của người chủ Chi phí cho việc thiết lập các điều khoản này được gọi là chi phí ràng buộc quyền lợi giữa người chủ và người đại diện Người đại diện gánh chịu chi phí để cam kết rằng bản thân họ không xâm phạm đến lợi ích của người chủ

Những chi phí này không phải luôn thuộc lĩnh vực tài chính Chúng có thể bao gồm cả chi phí phơi bày các thông tin cho người chủ, nhưng ban quản trị là người có lợi vì họ là người chuẩn bị những thông tin này Họ là những người nắm bắt được thông tin trước khi thông tin được công bố cho các cổ đông, người chủ của công ty Các đại diện sẽ thôi gánh chịu chi phí ràng buộc nếu sụt giảm biên tế trong chi phí giám sát bằng với gia tăng biên tế trong chi phí ràng buộc

2.1.3 Chi phí phụ trội

Mặc dù đã giám sát và ràng buộc hợp đồng, lợi ích của các nhà quản lý và của

cổ đông vẫn không thể được giàn xếp hoàn toàn Vì thế vẫn tồn tại các thiệt hại xuất phát từ mâu thuẫn về lợi ích Những thiệt hại này được gọi là mất mát phụ trội Mất mát phụ trội phát sinh vì chi phí của việc đòi hỏi một cách đầy đủ các giao kèo giữa người chủ và người đại diện dẫn đến chi phí quá lớn, vượt quá lợi ích của nó Vì không thể quan sát tiền nghiệm các hành động quản trị, cho nên để giao kèo đầy đủ tất

cả mọi tình huống là không thiết thực Kết quả là một mức tối ưu hoặc mất mát phụ trội có thể đại diện cho một sự đánh đổi giữa việc ràng buộc quản trị thái quá và việc

áp đặt cơ chế hợp đồng được thiết kế nhằm giảm các vấn đề đại diện

2.2 Các nhân tố tác động đến chi phí đại diện

2.2.1 Loại hình doanh nghiệp

- Công ty tư nhân: người chủ và người đại diện là một, không có mâu thuẫn

về lợi ích và do đó chi phí đại diện có thể sẽ không tồn tại trong loại hình doanh nghiệp này

- Công ty cổ phần: chủ sở hữu là các cổ đông của công ty Họ có quyền và trách nhiệm trực tiếp liên quan đến tài sản cá nhân Họ có động lực trong

Trang 13

việc theo dõi, kiểm soát việc sử dụng, sinh lời đồng tiền của mình khi giao cho người điều hành quản lý Nhưng do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý nên mâu thuẫn về lợi ích là điều không thể tránh khỏi Do

đó, sẽ tồn tại chi phí đại diện trong loại hình doanh nghiệp này

- Công ty nhà nước: thường là do nhà nước bổ nhiệm Do đó, tồn tại sự tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý, nên cũng sẽ không tránh khỏi mâu thuẫn về lợi ích và điều này sẽ dẫn đến chi phí đại diện

2.2.2 Tài sản

Những tài sản được mua về nhằm mục đích hoạt động có hiệu quả, phải đảm bảo tạo được một mức sinh lợi tương ứng Tuy nhiên, một số nhà quản lý đã mua về những tài sản cũ, không mang lại hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh…Chính những vấn đề này đã làm phát sinh chi phí đại diện

2.2.3 Tổng nợ

Việc vay nợ sẽ giúp cho doanh nghiệp hưởng được lợi từ tấm chắn thuế, nhưng

nợ quá nhiều sẽ dẫn đến nguy cơ kiệt quệ tài chính Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, hoặc là các cổ đông sẽ thực hiện các trò chơi nhằm chuyển rủi ro cho các chủ nợ, hoặc là các chủ nợ sẽ không còn đồng nhất mục tiêu với các cổ đông trong việc giúp công ty vượt qua khó khăn Chi phí cho những hành động này chính là chi phí đại diện

2.2.4 Dòng tiền

Một doanh nghiệp có dòng tiền dư thừa, thì chi phí đại diện thường phát sinh ở doanh nghiệp này Do người đại diện sẽ dễ dàng sử dụng dòng tiền này đầu tư vào những dự án không hiệu quả hay thực hiện những hành vi tư lợi cho bản thân

2.2.5 Các nhân tố khác

- Tiền lương: khi một nhà quản lý được trả với một mức phù hợp với khả

năng hay những gì mà doanh nghiệp kiếm được Điều này có thể làm giảm chi phí đại diện và ngược lại

Trang 14

- Vay nợ của các định chế tài chính: với việc làm này sẽ tăng cường sự

giám sát của các định chế tài chính đối với hoạt động của công ty

2.3 Chi phí đại diện trong công ty cổ phần

2.3.1 Các dạng mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty

cổ phần

2.3.1.1 2.3.1.1 Mâu thuẫn giữa cổ đông và người đại diện

Trong công ty cổ phần, đây được xem là loại mâu thuẫn cơ bản nhất do sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý trong mô hình doanh nghiệp hiện đại Chủ sở hữu của các công ty cổ phần ngày nay có xu hướng sẽ thuê một giám đốc đại diện cho mình điều hành công ty, người giám đốc điều hành này sẽ phải đáp ứng các yêu cầu mà các ông chủ đề ra như: được đào tạo một cách chuyên nghiệp, có năng lực điều hành công ty với mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các ông chủ, có đạo đức nghề nghiệp để không trục lợi cho bản thân,…

Ngược lại, hợp đồng đại diện này sẽ mang lại cho các giám đốc – người làm thuê những lợi ích không nhỏ, họ được quyền ra quyết định và thực hiện các hoạt động mà được cho là sẽ đem lại lợi ích cho các cổ đông, họ được hưởng lương và các khoản lợi tức khác từ công việc quản trị công ty, họ có cơ hội nâng cao uy tín quản trị của mình khi công ty hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao vị thế của mình trong thị trường lao động,… Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu – của công ty mong muốn mọi hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của công ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức Trong khi đó, người đại diện – người điều hành – của công ty lại

có những lợi ích cá nhân riêng biệt, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các

lý do khiến cho các ông chủ không thực hiện đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho ví riêng của họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền lực có được từ việc điều hành công ty, họ có thể giúp ví tiền của thân nhân họ nhiều thêm mà không cần quan tâm đến lợi nhuận hay những hậu quả mà công ty sẽ phải gánh chịu Những mâu thuẫn về lợi ích của 2 chủ thể này cho ta thấy rất rõ sự tồn tại của vấn đề đại diện trong công ty cổ phần

Trang 15

2.3.1.2 2.3.1.2 Mâu thuẫn giữa các cổ đông và chủ nợ

Bên cạnh mâu thuẫn đại diện giữa cổ đông và người quản lý, mâu thuẫn đại diện thứ hai liên quan đến công ty cổ phần là giữa chủ nợ và các cổ đông Lúc này, các cổ đông lại đóng vai trò người đại diện đối với các chủ nợ Những chủ nợ cho công ty vay với mục đích là để chủ sở hữu công ty (cổ đông) đại diện họ đầu tư và đem lại lợi ích cho cả hai Quyết định cho vay này dựa trên cơ sở đáp ứng được một

số yêu cầu từ phía công ty, đại diện là các cổ đông như: mức độ hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tỷ suất sinh lợi của dự án đầu tư, khả năng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong tương lai, khả năng trả nợ,… Ngược lại, các cổ đông vay tiền để có thể thực hiện đầu tư vào các dự án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho công ty mình Khi quyết định cho vay, các chủ nợ của công ty quan tâm đến phần thu nhập của họ dưới dạng lãi suất cho vay cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Trong khi đó, các cổ đông lại nắm quyền kiểm soát những quyết định điều hành ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của dòng tiền và những rủi ro liên quan (thông qua người điều hành doanh nghiệp) Các chủ nợ cho doanh nghiệp vay tiền với lãi suất cho vay phụ thuộc vào mức độ rủi ro của tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cũng như những kì vọng về những thay đổi trong mức độ rủi ro của 2 biến này Còn các

cổ đông, thông qua các nhà điều hành, mong muốn doanh nghiệp mình thực hiện các

dự án có độ rủi ro cao hơn nhằm đạt tỉ suất sinh lợi cao hơn Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi nhuận sẽ thuộc về các cổ đông của công ty, bởi vì lợi nhuận của người cho vay là cố định ở mức lãi suất tương ứng rủi ro thấp ban đầu Tuy nhiên, nếu dự án thất bại, các chủ nợ buộc phải chia sẻ những thiệt hại, bị trì hoãn việc chi trả nợ gốc và lãi suất, hoặc thậm chí mất cả số tiền đã cho vay

2.3.1.3 2.3.1.3 Sự tư lợi

Lý thuyết đại diện đề cập đến vấn đề nhạy cảm của các công ty – sự tư lợi Chính sự tư lợi là nguyên nhân của tình trạng những mục tiêu cá nhân của các nhà điều hành của một công ty mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hoá tài sản cổ đông của các ông chủ Khi các cổ đông uỷ quyền cho các nhà điều hành quản trị tài sản của công

Ngày đăng: 30/06/2017, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w