1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ ; Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính

49 737 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 678,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuật ngữ thông tin bất cân xứng được dùng để chỉ tình trạng mất cân đối trong khả năng tiếp cận thông tin giữa các bên trong một giao dịch. Thực tế đã cho thấy, khi hiện tượng thông tin bất cân xứng xảy ra sẽ ảnh hưởng không chỉ đến bên gặp bất lợi về thông tin mà ngay cả bên có ưu thế về thông tin cũng có thể bị thiệt hại (vi phạm pháp luật, rủi ro về tài chính....)

Trang 1

CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH

LỜI MỞ ĐẦU

Thuật ngữ thông tin bất cân xứng được dùng để chỉ tình trạng mất cân đối trongkhả năng tiếp cận thông tin giữa các bên trong một giao dịch Thực tế đã cho thấy, khihiện tượng thông tin bất cân xứng xảy ra sẽ ảnh hưởng không chỉ đến bên gặp bất lợi vềthông tin mà ngay cả bên có ưu thế về thông tin cũng có thể bị thiệt hại (vi phạm phápluật, rủi ro về tài chính )

Thông qua tìm hiểu khái niệm về cấu trúc tài chính doanh nghiệp và thông tin bấtđối xứng, ta sẽ hiểu rõ hơn tác động của các hình thức thông tin bất đối xứng (lựa chọnđối nghịch, rủi ro đạo đức) lên hoạt động của một doanh nghiệp hoặc thị trường tài chính.Qua đó, hình thành nhận thức rõ ràng hơn về hậu quả của tình trạng thông tin bất cânxứng mang lại cho nền kinh tế cũng như cho xã hội Từ đó, xem xét và đề xuất một sốgiải pháp (giải pháp của tư nhân và của chính phủ) nhằm hạn chế tối đa tình trạng thôngtin bất cân xứng trên thị trường

Trang 2

I CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI:

1 Cấu trúc tài chính và cơ cấu vốn doanh nghiệp:

1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp:

Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ giữa nguồn nợ (nợ ngắn hạn, nợdài hạn) và nguồn vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ, lợi nhuận) thường được dùng để tài trợcho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp

Về lý thuyết, cấu trúc tài chính hiện đại dựa trên những giả định lần đầu tiên đượcđưa ra bởi Modigliani và Miller (1958) Từ đó, một số lý thuyết về cấu trúc tài chính giảithích cho sự khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được pháttriển Có thể kể đến một số lý thuyết khác như: Lý thuyết tĩnh về đánh đổi (Static trade-off theory – DeAngelo và Masulis), lý thuyết về trật tự phân hạng (The pecking of ordertheory – Myers và Majluf), lý thuyết đại diện (Agency Theory), lý thuyết thông tin bấtcân xứng (The Asymmetric Information Theory)

Về thực nghiệm, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các nhân tố ảnhhưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp như: lợi nhuận, tăng trưởng của doanh nghiệp,rủi ro kinh doanh, quy mô doanh nghiệp Tuy nhiên, chiều hướng tác động của các nhân

tố này đến cấu trúc tài chính là không giống nhau

1.2 Các bộ phận cấu thành cấu trúc tài chính doanh nghiệp:

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ sử dụng vốn củabản thân doanh nghiệp mà còn sử dụng các nguồn vốn khác, trong đó nguồn vốn vayđóng một vai trò khá quan trọng Do đó, nguồn vốn trong doanh nghiệp được hình thành

từ hai nguồn sau:

a Nợ phải trả:

Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua

mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình Việc thanh toán các nghĩa

vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách như trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác,cung cấp dịch vụ , thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ nợphải trả thành vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn nợ phải trả được thực hiện dưới các phương thức sau:

Nợ trung và dài hạn:

Trang 3

- Tín dụng ngân hàng: Là các khoản mà doanh nghiệp vay của các ngân hàngthương mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác Tín dụng ngân hàng có nhiều dạng nhưtín dụng ứng trước, chiết khấu thương phiếu, tín dụng thuê mua

- Phát hành trái phiếu: Là hình thức huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu.Khi phát hành trái phiếu, công ty không những chịu lãi phải trả mỗi kỳ mà doanhnghiệp còn phải trả thêm chi phí phát hành trái phiếu

Nợ ngắn hạn:

- Tín dụng thương mại: Là các khoản doanh nghiệp chiếm dụng tạm thời từ cácnhà cung cấp vật tư hàng hoá cho doanh nghiệp thông qua phương thức thanh toán trảchậm; người mua trả tiền trước

- Các khoản nợ tạm thời khác: Như phải trả người lao động, thuế và các khoảnphải nộp Nhà nước, chi phí phải trả, các khoản chiếm dụng tạm thời của các đơn vị nộibộ

Sự khác nhau cơ bản của hai nguồn vốn vay nợ này thể hiện ở trách nhiệm pháp lýcủa doanh nghiệp khi sử dụng

b Nguồn vốn chủ sở hữu:

Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài sản củadoanh nghiệp, là giá trị vốn của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ cácnguồn sau:

Từ khoản đóng góp của chủ sở hữu:

- Nếu là doanh nghiệp Nhà nước: vốn do ngân sách cấp

- Nếu là doanh nghiệp tư nhân: vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra

- Nếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn tự có do các cổ đônghay thành viên trong công ty góp vốn

- Doanh nghiệp liên doanh: do các thành viên trong nước và nước ngoài thỏa thuậngóp vốn

- Hợp tác xã: do các xã viên đóng góp

Vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh gồm: Lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch do

đánh giá lại tài sản, quỹ doanh nghiệp

1.3 Các đặc điểm cơ bản của cấu trúc tài chính:

Trang 4

Cấu trúc tài chính có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Cổ phiếu không phải là nguồn tài trợ vốn quan trọng nhất cho doanh nghiệp

- Việc phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải là kênh chủ yếu

để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp

- Tài chính gián tiếp đóng vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp

- Các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại, là nguồn tài trợ vốnquan trọng nhất cho doanh nghiệp

- Hệ thống tài chính là lĩnh vực được điều tiết nhiều nhất trong nền kinh tế

- Chỉ những công ty lớn hoặc nổi tiếng mới dễ dàng tiếp cận được nguồn vốnthông qua thị trường chứng khoán

- Thế chấp tài sản là đặc điểm phổ biến của hợp đồng vay nợ đối với cá nhân cũngnhư doanh nghiệp

- Các hợp đồng nợ có đặc trưng gồm những điều khoản có tính pháp lý phức tạp

để điều chỉnh người vay

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính:

a Môi trường bên ngoài:

Những yếu tố về kinh tế vĩ mô như tỷ lệ tăng trưởng, lãi suất, lạm phát, xếp hạngtín nhiệm, hay những chính sách điều tiết của chính phủ như chính sách tiền tệ và chínhsách tài khóa (chính sách thuế, chi tiêu đầu tư công)

- Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế:

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đánh giá qua % thay đổi GDP Khi dự đoán tỷ lệ tăngtrưởng cao, người quản lý về tài chính sẽ tăng cường huy động vốn để đầu tư mở rộngcác dự án đầu tư và ngược lại

Trang 5

nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp tăng; xăng, điện, nước tăng giá cũng làm gia tăngđáng kể chi phí trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp đầu tư vào một dự án bằng vốn vay hay vốn cổ phần thì phảinhận biết được những khoản đầu tư này có thể bị ảnh hưởng bởi lạm phát trong tương lai.Những khoản chi phí gia tăng do lạm phát không phải là những khoản chi phí thực vượt

dự toán, vì thế khi đó doanh nghiệp cần tính toán đến các khoảng vay bổ sung Tuynhiên, trong gia đoạn thẩm định dự án, nếu doanh nghiệp không tính toán được nhữngkhả năng có thể phát sinh thì khi lạm phát xảy ra, doanh nghiệp sẽ dễ lâm vào tình trạngkhủng hoảng về tài chính, mất khả năng thanh toán hay trả nợ vay

Lạm phát cao còn lạm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào khủng hoảng

vì nguồn tiền gửi huy động trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp trong việc vay nợ và phát hành trái phiếu Khi lạm phát ở mức quá cao, vốnphát sinh từ khấu hao không đủ để thay thế tài sản cố định nên các doanh nghiệp nàythường giữ lại lợi nhuận để duy trì khả năng hoạt động Bên cạnh đó, doanh nghiệp cầnphải chi trả nhiều hơn cho các khoản phí giao dịch, duy trì luồn vốn luân chuyển

- Lãi suất:

Lãi suất luôn là vấn đề được các nhà đầu tư rất quan tâm, lãi suất cao hay thấp sẽảnh hưởng đến lợi nhuận và hoạt động đầu tư của họ cũng như ảnh hưởng đến hoạt độngcủa các doanh nghiệp Nợ vay thường nhỏ hơn vốn chủ sở hữu, lãi suất ngân hàng và lãisuất trái phiếu thấp hơn so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư Lãi suất thấp sẽ khuyếnkhích doanh nghiệp vay nợ nhiều hơn do giảm được chi phí, ngược lại khi lãi suất caolàm cho doanh nghiệp phải cân nhắc khi vay Tuy nhiên, các doanh nghiệp không thểtăng nợ lên mức quá cao so với vốn chủ sở hữu vì dễ dẫn đến tình trạng tài chính khônglành mạnh và những rủi ro khác Ngoài ra, khi một doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sởhữu nhưng quá nhiều vốn vay trong tình trạng lãi suất đang ở mức cao có thể sẽ tác độngkhông tích cực lên tâm lý của các nhà đầu tư, vì họ e ngại doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro vềtài chính

- Xếp hạng tín nhiệm:

Xếp hạng tín nhiệm là sử đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả

nợ (cả gốc và lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồntại của chứng khoán đó Đây là chỉ tiêu giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư đúngđắn và là nhân tố quan trọng trong việc đánh giá mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận thuđược Nhờ vào hệ thống xếp hạng tín nhiệm, nhà đầu tư có thể biết được mức độ rủi rocủa mỗi khoản đầu tư, từ đó có thể so sánh, đánh giá mối quan hệ giữa rủi ro - lợi nhuận

Trang 6

và đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả, đảm bảo sự an toàn của đồng vốn.

Đối với những nền kinh tế chưa phát triển thì việc xếp hạng tín nhiệm cho cácdoanh nghiệp còn nhiều bất cập và chưa thỏa mãn yêu cầu của các nhà đầu tư, điều đókhiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và huy động vốn đầu tư Cácdoanh nghiệp phải nỗ lực nhằm nâng cao tín nhiệm trong mắt các nhà đầu tư, tài trợthông qua khả năng thanh toán, tiềm năng lợi nhuận, đảm bảo các cam kết trong việchoàn trả các khoản vốn vay,

Xếp hạng tín nhiệm rất cần thiết cho các thành phần tham gia thị trường vốn nóichung và thị trường chứng khoán nói riêng.Nhưng để đảm bảo cho việc xếp hạng tínnhiệm đáng tin cậy và trách nhiệm pháp lý cao đối với việc cung cấp thông tin chính xác

và minh bạch, tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư thì tổ chức đánh giá, xếp hạng tínnhiệm phải đáng tin cậy và được thị trường công nhận rộng rãi

- Chính sách tiền tệ:

Một chính sách mở rộng cung tiền sẽ làm giảm lãi suất thị trường, kéo theo làm

giảm chi phí vay nợ Ngược lại, một chính sách thu hẹp cung tiền làm tăng lãi suất thịtrường, kéo theo làm tăng chi phí vay nợ Bất kỳ một sự thay đổi bào trong chính sáchtiền tệ của chính phủ cũng làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi mong đợi và do đó ảnhhưởng đến giá trị doanh nghiệp

b Môi trường bên trong:

- Hiệu quả kinh doanh:

Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như lợi nhuận trên tài sản (Return on Assets –

Trang 7

ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu) Theo lý thuyếttrật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá trị doanhnghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài Sự bất cân xứng về thông tin này sẽ dẫn đến chi phíhuy động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn Vì thế, nhà quản trị có xu hướng ưu tiên sử dụngcác nguồn vốn nội tại trước rồi mới đến các nguồn vốn vay mượn bên ngoài Các nghiêncứu thực nghiệm trên thế giới cho thấy hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỷ lệ nghịchvới tỷ suất nợ Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề bất cân xứng về thôngtin rất nghiêm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ lại lợi nhuận để tài trợ chotài sản của mình Ta có giả thiết: Cấu trúc tài chính tỷ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh.

- Sự tăng trưởng của doanh nghiệp:

Sự tăng trưởng của doanh nghiệp được đo lường thông qua tốc độ tăng tài sản haydoanh thu Khi doanh nghiệp tăng trưởng tốt, dẫn đến niềm tin từ các nhà đầu tư vàodoanh nghiệp càng cao, do đó khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài càng lớn,trong khi doanh nghiệp cần nguồn tài trợ cho tài sản của mình Ta có giả thiết thứ hai làcấu trúc tài chính tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của doanh nghiệp

- Quy mô doanh nghiệp:

Quy mô của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số lượng nhân viên, tổng tàisản, hay tổng doanh thu Ở Việt Nam, các doanh nghiệp niêm yết có quy mô lớn thường

là những doanh nghiệp do nhà nước nắm cổ phần chi phối, vì vậy những doanh nghiệpnày có nhiều cơ hội huy động vốn từ bên ngoài hơn, nhất là các tổ chức tín dụng thuộc sởhữu nhà nước Giả thiết thứ ba: Cấu trúc tài chính tỷ lệ thuận với quy mô doanh nghiệp

- Rủi ro kinh doanh:

Rủi ro kinh doanh thường đo lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận, lợinhuận trước thuế và lãi vay Khi rủi ro kinh doanh càng lớn, niềm tin của các nhà đầu tưvào doanh nghiệp càng giảm, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài thấp

Từ đó ta có giả thiết: Cấu trúc tài chính có quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro kinh doanh

- Cấu trúc tài sản:

Cấu trúc tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tàisản Trên lý thuyết, khi tỷ lệ tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, doanh nghiệp có cơ hộithế chấp các tài sản này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài Tuy nhiên, ở Việt Namhoặc một số quốc gia trên thế giới, nếu doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhữngnhà tài trợ vốn thì thực tế có thể vay nợ mà không cần cung cấp nhiều bằng chứng thếchấp Vì vậy, ta có giả thiết cấu trúc tài chính có quan hệ tỷ lệ nghịch với cấu trúc tài sản

Trang 8

2 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp:

2.1 Khái niệm về cơ cấu vốn:

Cơ cấu vốn chính là sự hỗn hợp giữa nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu và lợi nhuận,lệch với cấu trúc tài chính khoản mục nợ ngắn hạn nảy sinh trong quá trình kinh doanhnhư: các khoản lương, bảo hiểm xã hội , hoặc các khoản phải trả được hình thành trongchu kỳ hoán chuyển tiền Cơ cấu vốn chỉ tính đến các loại vốn trung và dài hạn, quyếtđịnh đến giá trị của doanh nghiệp

2.2 Cơ cấu vốn tối ưu:

Một doanh nghiệp nào đó có thể tài trợ cho dự án đầu tư theo hai cách: vay nợhoặc huy động cổ phần và tự tài trợ Nhưng vấn đề đựơc ở đây là phải xác định cơ cấuvốn doanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay nợ bao nhiêu để đảm bảochi phí sử dụng vốn bình quân là nhỏ nhất, rủi ro phải được tối thiểu hóa nhưng giá trịdoanh nghiệp phải được tối đa hóa (EPS) , đây là một bài toán khó được đặt ra cho doanhnghiệp Xác định được một cơ cấu vốn phù hợp là điều rất quan trọng đối với doanhnghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích từ các cá nhân, tổ chức liên quan đến doanhnghiệp mà nó còn tác động tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường

Cơ cấu vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanhnghiệp:

- Khi doanh nghiệp tài trợ dự án bằng vốn vay nợ:

Tài trợ bằng vốn vay nợ sẽ tạo ra lá chắn thuế (Tax shield) cho doanh nghiệp giúpdoanh nghiệp được trả thuế thu nhập thấp hơn so với số thuế doanh nghiệp phải trả nếu

sử dụng nguồn vốn nội tại của mình, đồng thời có thể làm giảm mức độ phân tán cácquyết định quản lý

Tác dụng của Lá chắn thuế (Tax shield):

Lá chắn thuế là một thuật ngữ kinh tế nói về việc giảm lượng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước bằng cách giảm thu nhập chịu thuế

Nói cách khác, trước khi có lá chắn thuế, tiền thuế thu nhập doanh nghiệp đượcthu từ doanh nghiệp là nhiều hơn so với khi doanh nghiệp có lá chắn thuế Lá chắn thuếlàm giảm khoản chi trả thuế cho nhà nước và làm gia tăng tài sản cho cổ đông và các chủnợ

Một doanh nghiệp đầu tư vào một dự án với tổng số vốn là 400 triệu đồng Thunhập trước thuế và lãi vay là 100 triệu đồng Với thuế suất Thu nhập doanh nghiệp là

Trang 9

25%, ta thấy có 2 trường hợp:

+ Trường hợp 1:

Doanh nghiệp không vay tiền để đầu tư mà chỉ sử dụng nguồn vốn nội tại củamình: Thu nhập chịu thuế là 100 triệu đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 25triệu đồng

+ Trường hợp 2:

Doanh nghiệp đi vay 400 triệu đồng để đầu tư, với lãi suất tiền vay là 10% Khi đólãi tiền vay phải trả là 40 triệu nên thu nhập chịu thuế chỉ còn lại 60 triệu đồng Thuế thunhập doanh nghiệp phải nộp bây giờ chỉ còn 25% x 60 triệu = 15 triệu đồng Lá chắn thuếtrong trường hợp này có giá trị là: 400 triệu x 10% x 25% = 10 triệu đồng

Tuy nhiên, gánh nặng về nợ vay cũng tạo áp lực lên doanh nghiệp, có thể có rủi rotiềm ẩn, làm ảnh hưởng đến quá trình vận hành, thậm chí có thể khiến doanh nghiệp phásản vì cơ cấu vốn có liên quan tới mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro Việc tăng sửdụng nợ sẽ làm gia tăng rủi ro đối với thu nhập và tài sản của người sở hữu, dẫn đến việc

cổ đông đòi hỏi lợi tức đền bù cao hơn, làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp giảmxuống Vì vậy, nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, cơ cấu vốn tối ưu cần đạtđược sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

- Khi doanh nghiệp tài trợ dự án bằng vốn cổ phần hoặc tự tài trợ:

Phương thức tài trợ này không tạo ra chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp Tuynhiên, các cổ đông có thể can thiệp sâu vào hoạt động điều hành doanh nghiệp, dẫn đếncác quyết định quản lý bị phân tán, thiếu chính xác, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Ngoài ra, kỳ vọng của các nhà đầu tư cũng gây sức ép khôngnhỏ cho việc ra quyết định của các nhà lãnh đạo, đặc biệt là những quyết định có tínhchiến lược cao, quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường

Tuy nhiên, doanh nghiệp có khi vẫn cần tăng vốn chủ sở hữu để tạo thế cân bằngvới nợ nhằm giữ công ty ở tình trạng tài chính lành mạnh Mặt khác, nếu thị trường địnhgiá cổ phiếu của doanh nghiệp cao hơn giá trị thực của nó thì doanh nghiệp vẫn có thểphát hành cổ phiếu để tạo lợi nhuận doanh nghiệp hoặc tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tưhiện hữu

Tóm lại, cơ cấu vốn của doanh nghiệp là không cố định, tùy vào mục đích, tìnhhình kinh doanh, mà doanh nghiệp phải xác định một cơ cấu vốn phù hợp, biến đổi hài

Trang 10

hòa để phù hợp với thực tế mà mình đang đối mặt Tuy nhiên, để có thể hoạt động tốt, cókhả năng đạt được thị giá tối đa, doanh nghiệp trước hết cần giữ tình trạng tài chính lànhmạnh, cân đối tỷ lệ nợ và vốn một cách hợp lý, nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra bất cứlúc nào.

Tuy vậy, một trong các ưu điểm lớn nhất của việc tài trợ dự án bằng vốn vay nợthay cho vốn chủ sở hữu chính là khai thác được tác dụng của Lá chắn thuế (Tax shield),lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế và khi ta thay thế vốn chủ sởhữu bằng nợ vay sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp Nhưng ở các nước mà doanhnghiệp phải trả thuế thu nhập càng cao, thì tác dụng của Lá chắn thuế sẽ càng bị giảm.Cần lưu ý là để giữ tình trạng tài chính lành mạnh, doanh nghiệp không nên tăng nợ lênmức quá cao so với vốn chủ sở hữu

Theo Modigliani và Miller, trong môi trường thị trường hoàn hảo, cơ cấu vốn (nợnhiều hay vốn nhiều) không có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết lập cơ cấu vốn tối ưu:

Khi thiết lập, cơ cấu vốn tối ưu thường chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau:

- Rủi ro doanh nghiệp và thuế thu nhập doanh nghiệp: Rủi ro phát sinh đối với tàisản của công ty ngay cả khi công ty không sử dụng nợ Công ty nào có rủi ro doanhnghiệp càng lớn thì càng hạ thấp tỷ lệ nợ tối ưu Do lãi vay là yếu tố chi phí trước thuếnên sử dụng nợ giúp công ty tiết kiệm thuế Tuy nhiên điều này sẽ không còn ý nghĩa nữađối với những công ty nào được ưu đãi hay vì lý do gì đó mà thuế thu nhập ở mức thấp

- Sự chủ động về tài chính: Sử dụng nợ nhiều làm giảm đi sự chủ động về tài chínhđồng thời làm xấu đi tình hình bảng cân đối tài sản khiến cho những nhà cung cấp vốnngần ngại cho vay hay đầu tư vốn vào công ty

- Các tiêu chuẩn ngành: Cơ cấu vốn giữa các ngành công nghiệp khác nhiều Cácnhà phân tích tài chính, các ngân hàng đầu tư, các cơ quan xếp hạng trái phiếu, các nhàđầu tư cổ phần thường và các ngân hàng thương mại thường so sánh rủi ro tài chính củadoanh nghiệp, đo lường bởi các tỷ số khả năng thanh toán lãi vay, khả năng thanh toánchi phí tài chính cố định và tỷ lệ đòn bẩy với các tiêu chuẩn hay định mức của ngành hoạtđộng Tóm lại các nghiên cứu về tác động của ngành hoạt động đối với cơ cấu vốnthường đi tới kết luận là có một cấu trúc tối ưu cho các doanh nghiệp cá thể

- Tác động của tín hiệu: Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiệnnày có thể coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tươnglại của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lại do các Giám đốc của doanh nghiệp

Trang 11

hoạch định Những tín hiệu do các thay đổi cơ cấu vốn cung cấp là đáng tin cậy vì nếucác dòng tiền tương lại không xảy ra, doanh nghiệp phải chịu số tiền phạt tức chi phí phásản có thể có Nói chung, các nghiên cứu về thay đổi cơ cấu vốn đều cho rằng các cungứng chứng khoán mới đưa tới các đáp ứng giá chứng khoán giảm.

Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn

từ cổ phần thường của doanh nghiệp Các hoạt động làm tăng đòn bẩy tài chính thườnggắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính gắn vớithu nhập cổ phần âm Vì vậy khi một doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi cơ cấuvốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có thể có về viễn cảnh thu nhập tươnglai và hiện tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giám đốc mà giao dịch đềxuất sẽ chuyển đến thị trường

- Tác động của ưu tiên quản trị: Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng có thể không

có một cơ cấu vốn mục tiêu riêng và hàm ý rằng các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộhơn Các giám đốc điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức để tránh việc bán cổ phần thường ra bênngoài trong khi tránh các thay đổi lớn trong số lượng cổ phần Nếu cần phải có tài trợ từbên ngoài, các chứng khoán an toàn nhất nên được phát hành trước Cụ thể nợ thường làchứng khoán đầu tiên được phát hành và vốn cổ phần bán ra bên ngoài la giải pháp cuốicùng Ưu tiên cho tài trợ nội bộ dựa trên ước muốn tránh các biện pháp kỷ luật và giámsát sẽ xảy ra khi bán chứng khoán mới ra công chúng

- Các hàm ý của lý thuyết cơ cấu vốn: Quyết định cơ cấu vốn là một trong nhữngquyết định trọng tâm quan trọng mà các giám đốc tài chính phải quan tâm Trước hết, hầunhư chắc chắn rằng các thay đổi trong cơ cấu vốn sẽ đưa đến các thay đổi giá trị thịtrường của doanh nghiệp Thứ hai, lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ đưa đến giá trị doanhnghiệp gia tăng, ít nhất là đến điểm mà chi phí đại lý và chi phí phá sản gia tăng làm bùtrừ lợi thế về thuế của nợ Thứ ba, cơ cấu vốn tối ưu chịu ảnh hưởng ảnh hưởng nặng nềbởi rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Thứ tư, các giám đốc thực hiện các thay đổi thểhiện trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, các hành động này sẽ chuyển các thông tin quantrọng đến các nhà đầu tư

- Các vấn đề đạo đức: Tác động của mua lại bằng vốn vay ( LBO) đối với cổ đông,mua lại bằng vốn vay đặt ra các vấn đề đạo đức quan trọng Các quyền lợi có tính cạnhtranh của cổ đông sẽ được giải quyết như thế nào trong các mua lại bằng vốn vay vàtrong các giao dịch tài chính quan trọng khác? Tuy nhiên, các câu hỏi này ít khi được câutrả lời đơn giản Một vài vấn đề cần xem xét khi thảo luận về tính đạo đức của các mualại bằng vốn vay:

Trang 12

+ Có phải việc duy trì số lượng nhân viên và các cơ sở hoạt động không hiệu quảlàm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với doanh nghiệp khác vì lợi ích lâu dàicủa nhân viên hay không?

+ Trong các giao dịch mua lại bằng vốn vay, các trái chủ có thực sự thiệt hại khitính đến các điều khoản bảo vệ trong hợp đồng ký kết lúc họ mua trái phiếu với mối liên

hệ giữa lợi tức trái phiếu và thoả hiệp bảo vệ không?

- Các đòi hỏi của nhà cho vay và các cơ quan xếp hạng trái phiếu: các đòi hỏi nàythường định các giới hạn cho việc chọn lựa cơ cấu vốn của doanh nghiệp như là một điềukiện để cung cấp tín dụng hay duy trì xếp hạng của trái phiếu và cổ phần ưu đãi

2.4 Các nguyên tắc xây dựng cơ cấu vốn cho doanh nghiệp:

- Nguyên tắc tương thích:

Nguyên tắc này cho rằng loại vốn sử dụng để đầu tư vào tài sản phải tương thíchđối với tính chất của tài sản đó Nhu vậy, theo nguyên tắc trên thì tài sản cố định, tài sảnlưu động thường xuyên nên được tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên dưới hình thức nợdài hạn hay vốn cổ phần thường và tài sản lưu động tạm thời nên được tài trợ từ nguồnvay nợ ngắn hạn

- Nguyên tắc cân bằng tài chính:

Nguồn tài trợ cho một tài sản cụ thể trong một thời gian không thấp hơn thời gianchuyển hóa của tài sản đó Dựa trên nguyên tắc này, doanh nghiệp xây dựng được công

cụ đo lường vốn luân chuyển:

Công thức tính: Vốn luân chuyển = (Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn) – Tài sản dàihạn

Từ công thức trên ta thấy: Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt, tính thanhkhoản cao thì vốn luân chuyển sẽ lớn hơn hoặc bằng không Điều đó cho thấy nguồn vốndài hạn lớn hơn hoặc bằng tài sản dài hạn

Ngược lại khi vốn luân chuyển âm cho thấy doanh nghiệp đang ở tình trạng tàichính không an toàn và đang có rủi ro mất khả năng thanh toán vì doanh nghiệp đã dùngnguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn

- Nguyên tắc giá trị thị trường của doanh nghiệp:

Việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm tăng rủi ro của doanh nghiệp, khi rủi ro tănglên vượt quá tỷ suất sinh lợi sẽ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về tài chính Để

Trang 13

bù đắp phần rủi ro gia tăng này đòi hỏi lợi nhuận thu được của doanh nghiệp phải caohơn Tuy nhiên, các nhà đầu tư có thể nhận ra điều này và họ sẽ phản ứng bằng cách ấnđịnh một tỷ số giá thu nhập P/E thấp và kết quả là giá cổ phần sẽ giảm dù EPS có tăngbao nhiêu đi nữa.

- Nguyên tắc sử dụng chính sách tài trợ linh hoạt:

Tăng khả năng tài trợ linh hoạt tức là khả năng điều chỉnh nguồn vốn tăng haygiảm theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp theo từng giai đoạn Doanh nghiệp phải luônxây dựng những phương án mở, linh hoạt khi nhu cầu vốn thay đổi do mở rộng đầu tư, đadạng hóa hoạt động đầu tư

- Nguyên tắc thời điểm thích hợp:

Nguyên tắc này dựa trên cơ sở tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, là nguyên tắc gắn

bó mật thiết với chu kỳ sống của doanh nghiệp Ở giai đoạn khởi đầu, do chưa đủ nguồnlực để tạo niềm tin nơi các nhà đầu tư hay các nhà cung cấp vốn nên nguồn vốn hoạtđộng chủ yếu của doanh nghiệp là vốn chủ sở hữu Đến giai đoạn tăng trưởng, nguồn vốnquan trọng là vốn cổ phần, thu nhập giữ lại và có thể sử dụng một phần tài trợ nợ Khi đãđạt được giai đoạn hưng thịnh, doanh nghiệp có thể sử dụng và khai thác tối đa lợi íchcủa đòn bẩy tài chính

3 Liên hệ cấu trúc tài chính doanh nghiệp Việt Nam và tổng quan tình hình tái cấu trúc các doanh nghiệp hiện nay:

3.1 Khái niệm cơ bản về tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp:

Đối với Việt Nam hiện nay, khi một doanh nghiệp gặp khó khăn, thường tiến hànhquá trình tái cấu trúc, triển khai toàn diện theo cả ba hướng:

+ Tái cấu trúc tài chính

+ Tái cấu trúc hoạt động

+ Tái cấu trúc chiến lược

Việc tiến hành tái cấu trúc nên tiến hành theo cả ba hướng vì:

- Giúp giảm bớt áp lực lên dòng tiền và lợi nhuận bằng việc trả bớt nợ vay

- Cung cấp những nguồn vốn mới cho quá trình tăng trưởng

- Mở đường cho sự hợp tác chiến lược thành công thông qua việc phát hành cổphiếu cũng như nợ vay cho các đối tác chiến lược

Trang 14

- Ổn định hóa nhóm nhà tài trợ, thúc đẩy sự tham gia và chia sẻ của nhóm nhà tàitrợ vào thành công của doanh nghiệp.

Phạm vi bài tiểu luận này chỉ đi sâu vào phân tích hướng tái cấu trúc tài chính vìđây là hướng tái cấu trúc đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy lùi tình trạng mất khảnăng thanh toán, thiết lập lại cấu trúc vốn vững mạnh cho doanh nghiệp, cung cấp đủ vốn

cổ phần và dòng tiền để tài trợ cho sự tăng trưởng trong tương lai Tái cấu trúc tài chínhthường là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của rất nhiều quá trình tái cấu trúc

Tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp giúp nhà quản lý nắm bắt được thông tin vềchính sách phát triển tài chính, mức độ an toàn, tính ổn định, hiệu quả, rủi ro tài chính củađơn vị Từ đó, nhà quản lý có thể điều chỉnh cấu trúc nguồn vốn cho hợp lý hơn

Việc nghiên cứu cấu trúc tài chính doanh nghiệp có chức năng xác định và tổ chứccác nguồn vốn, nhằm bảo đảm nhu cầu sử dụng vốn cho quá trình sản xuất; giám sát hoạtđộng sản xuất, kinh doanh và phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp Ngoài ra, việcnghiên cứu cấu trúc tài chính doanh nghiệp còn giúp các nhà quản trị đưa ra được chínhsách hợp lý trong việc tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp Có 4 nội dung tái cấu trúc tàichính cơ bản sau:

+ Thứ nhất là tái cơ cấu đầu tư:

Để đi đến quyết định đầu tư, vấn đề quan trọng là phải đánh giá được hiệu quả củađầu tư, được biểu hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được do đầu tư mang lại và chiphí bỏ ra để thực hiện đầu tư Khi xem xét một dự án đầu tư, phải xem xét vấn đề cơ bản

là những lợi ích trong tương lai thu được có tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra haykhông Để đánh giá được lợi ích của đầu tư phải xuất phát từ mục tiêu của đầu tư

Mỗi khoản đầu tư của doanh nghiệp có thể có nhiều dự án khác nhau Mỗi dự ánđầu tư lại bao gồm nhiều nội dung, thuộc các vấn đề về kỹ thuật, kinh tế, tài chính Vềphương diện tài chính, ở mỗi dự án đầu tư cần phải xác định: dự toán về vốn để thực hiện

dự án đầu tư; số lợi nhuận khi thực hiện đầu tư đưa lại, trên cơ sở đó mà lựa chọn dự ántối ưu nhất

Như vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc, xem xét nhiều mặt để lựa chọn dự án đầu tưtối ưu Trong đó, về tài chính, chủ yếu phải xem xét hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư

- Thứ hai là hoạch định các khoản mục kế toán: Theo đó, các khoản mục hạch toánchưa phù hợp phải được điều chỉnh lại

- Thứ ba là xây dựng phương án xử lý hàng tồn kho

Trang 15

- Thứ tư là gia tăng tài sản cố định:

Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sửdụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêuchuẩn là tài sản cố định Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định,đặc biệt là đối với nhà xưởng, thiết bị, công nghệ, là một trong những yếu tố quyết địnhđến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Để gia tăng tài sản cố định, các doanh nghiệp nên thực hiện từ nguồn hàng tồnkho tự có để thực hiện các dự án nội bộ; tiêu thụ một lượng hàng tồn kho khác để cólượng tiền mặt phục vụ dự án Như vậy, tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp giúp nhà quản

lý nắm bắt được thông tin về chính sách phát triển tài chính của doanh nghiệp, mức độ antoàn, tính ổn định tài chính và hiệu quả, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Từ đó, nhàquản trị có thể điều chỉnh cấu trúc nguồn vốn cho hợp lý hơn

Đối với các nhà đầu tư, ngân hàng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ, việcquan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các giác độ khác nhau Nguồnthông tin được cung cấp từ cấu trúc tài chính doanh nghiệp là cơ sở để nhà đầu tư xemxét và quyết định xem có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không, đầu tư như thế nào vàbao nhiêu là hợp lý Chính vì vậy, tái cấu trúc tài chính có vai trò rất quan trọng khôngchỉ với bên trong doanh nghiệp, mà cả với bên ngoài doanh nghiệp

3.2 Các giai đoạn của tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp:

Các giai đoạn cơ bản của tái cấu trúc tài chính như sau:

- Lượng tiền mới huy động sẽ có giá trị hơn các cam kết hiện hữu (ví dụ như lãisuất ưu đãi hơn, kỳ hạn dài hơn…)

- Nếu không muốn tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp thì khoản rút vốn củamột định chế tài chính chỉ có thể thực hiện với một sự giảm giá trị, tức là chủ nợ phảichịu một phần thiệt hại và không thu hồi được hoàn toàn khoản đầu tư ban đầu Mứcchiết khấu khoản nợ khi một định chế rút vốn sẽ phụ thuộc vào loại tài sản mà khoản vay

đó tài trợ và khoản chiết khấu này được để lại cho công ty

- Những định chế tín dụng tiếp tục cung cấp các khoản tài trợ cho công ty sẽ thamgia chia sẻ thành công của công ty và có cơ hội khôi phục lại một phần hoặc tất cả cáckhoản phải thu của họ

Theo truyền thống, tái cấu trúc tài chính bao gồm bốn giai đoạn được trình bày tại

sơ đồ 1 Mặc dù chúng ta thấy mô hình có vẻ đơn giản, tuy nhiên, nó thường đặt ra những

Trang 16

thách thức lớn cho các công ty Những lợi ích khác biệt của các bên liên quan đòi hỏi một

sự điều tiết và phối hợp, được thể hiện tại sơ đồ 2

Sơ đồ 1: Bốn giai đoạn của tái cấu trúc tài chính

Điều phối các lợi ích liên quan trong tái cấu trúc tài chính:

Việc điều phối thành công các lợi ích khác biệt và sử dụng những công cụ tàichính phù hợp là những khía cạnh then chốt cho thành công của tái cấu trúc tài chính.Phụ thuộc vào mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp về tái vốn hóa, các công cụ khác nhau sẽđược sử dụng Ví dụ như, kết hợp cắt giảm vốn đầu tư với sự gia tăng vốn bằng tiềnthông qua phát hành cổ phiếu, hoán đổi nợ thành vốn cổ phần, phát hành trái phiếuchuyển đổi….Điều này cho phép giảm một cách đáng kể các khoản nợ với bên thứ ba vàcác khoản lãi vay đồng thời cấp vốn cho quá trình tăng trưởng Hơn thế nữa, xếp hạng tínnhiệm của công ty sẽ được cải thiện đáng kể, giúp công ty có thể tăng cường sức mạnhthị trường và quay trở lại đà tăng trưởng sinh lợi Theo hãng tư vấn Roland Berger

Trang 17

Strategy Consultant, thường một công ty sẽ mất khoảng 10 tháng từ khi phác thảo kếhoạch cho đến khi thực hiện.

Sơ đồ 2: Điều tiết các lợi ích khác nhau trong tái vốn hóa

Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn hiện nay, cũng như vì những nguyênnhân nội tại, nhiều công ty lớn của Việt Nam đã kinh doanh thua lỗ, nợ nần chồng chất và

có dấu hiệu rõ ràng của tình trạng mất khả năng thanh toán Những ví dụ có thể kể đến đó

là, Công ty cổ phần Thuỷ sản Bình An (Bianfishco) hay Công ty cổ phần Tập đoàn TháiHoà Những công ty này có những khoản vay lớn ở nhiều ngân hàng khác nhau cũng nhưnhững khoản nợ chiếm dụng khác như nợ nhà cung cấp Đứng trước tình hình đó, haicông ty này đã có những bước đi khó khăn nhưng hợp lý trong việc điều phối giữa lợi íchcủa các bên liên quan như các ngân hàng hay nhà cung cấp nhằm từng bước cân đối tàichính

Trang 18

Bảng sau cho thấy biện pháp và công cụ sử dụng trong tái cấu trúc tài chính ở haicông ty nêu trên:

Công ty Thuỷ sản Bình An Công ty Thái Hoà

- Ưu tiên thanh toán tiền nợ gốc người nuôi

cá (có lẽ, họ mất khoản chi phí cơ hội là lãi

phát sinh quá hạn những khoản nợ này)

- Đàm phán với các ngân hàng giãn nợ,

hoãn nợ, bán bớt tài sản để trả nợ

- Đề xuất chuyển nợ thành vốn cổ phần

- Áp dụng cách tiếp cận thông qua mua bán

nợ với sự tham gia tái cấu trúc của DATC

- Bán dự án cho một số ngân hàng chủ nợ

- Dự định phát hành cổ phiếu cho đối tácchiến lược để huy động vốn (chưa thực hiệnđược)

- Đàm phán xử lý nợ với các ngân hàng chủnợ

- Hợp đồng với đối tác tháo gỡ khó khăn vềdòng tiền

Nói rộng hơn, tái cấu trúc tài chính dự kiến sẽ là một trong những nội dung rấtquan trọng trong đề án tái cấu trúc của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Với nhữngđơn vị tồn tại nhiều bất cập về tài chính, để tái cấu trúc tài chính đạt hiệu quả cao, cần có

sự đánh giá xác thực về tình hình tài chính, những nỗ lực điều phối các lợi ích liên quanthông qua các cuộc thương lượng cũng như sử dụng kết hợp nhiều biện pháp và công cụtài chính phù hợp trong tái cấu trúc tài chính

3.3 Tình hình tái cấu trúc tài chính ở Việt Nam hiện nay và một số biện pháp can thiệp của Chính phủ:

Việt Nam hiện tại đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn Can thiệp của Chính phủViệt Nam: Theo Hội nghị Trung Ương 3 Khóa XI nhấn mạnh tái cấu trúc kinh tế: Trong

5 năm tới cần tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất là:

- Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công

- Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàngthương mại và các tổ chức tài chính

- Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổngcông ty nhà nước

Trang 19

a Tái cấu trúc đầu tư công:

- Tình hình đầu tư công hiện nay ở Việt Nam:

Theo các số liệu thống kê, nợ xấu ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay chiếm tỷtrọng rất lớn trên tổng nợ xấu ở Việt Nam Trong đó, số doanh nghiệp hoàn toàn do nhànước sở hữu đang làm ăn thua lỗ cũng chiếm tỷ lệ rất cao Bên cạnh đó, tình hình tàichính thực sự của các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nặng cũng ít khi được công bố Ngoài

ra, việc giám sát các doanh nghiệp này lại bị phân tán, không có bộ phận nào chịu tráchnhiệm giám sát và quản lý chung cho toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.Tình hình đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả, kèm theo tình trạng tham nhũng ở mức độcao cũng làm lãng phí, thất thoát một lượng lớn ngân sách nhà nước gây bức xức và bất

ổn trong xã hội

- Một số giải pháp tái cấu trúc trong đầu tư công:

Thứ nhất, cần xem xét lại toàn bộ các quy hoạch đã được phê duyệt nhằm phục vụmục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2011-2020 mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra Dự

án nào đang triển khai mà không hiệu quả thì phải đem bán hoặc chuyển cho tư nhân làmtiếp Điều này một mặt giúp giảm tỷ lệ đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội;mặt khác nâng cao hiệu quả cũng như mức độ đóng góp của dự án vào mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội

Thứ hai, thay đổi vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, thay đổi cơchế phân cấp trong đầu tư cũng như trong thu chi ngân sách Cần xác định rõ, Nhà nướckhông kinh doanh kiếm lời, và nếu có kinh doanh thì công ty có vốn nhà nước cũng phảibình đẳng với các thành phần kinh tế khác Hiện nay có những việc cần phân cấp nhưng

ta lại tập trung, trong khi những việc cần tập trung thì lại được phân cấp Vì vậy, cần phải

rà soát lại toàn bộ các văn bản liên quan đến đầu tư để thay đổi cơ chế này

Thứ ba, cần thành lập ngay một tổ chức tập trung phụ trách vấn đề tái cấu trúc đầu

tư công, không để mạnh ai nấy làm Tổ chức này phải độc lập với các bộ, ban ngành, địaphương và phải trực thuộc Chính phủ đồng thời chịu sự giám sát chặt chẽ của Quốc hộinhằm tránh cơ chế “xin - cho” vốn đã kéo dài rất lâu và gây nhiều hệ lụy xấu Ngay cảviệc tái cấu trúc Vinashin còn có một ban do một Phó thủ tướng đứng đầu thì chuyệnthành lập một tổ chức chuyên trách về tái cấu trúc đầu tư công là điều cần phải có

Cuối cùng, đầu tư công phải xét đến tính hiệu quả và lan tỏa, nhưng trước giờ lạikhông được tuân thủ Trước mắt, khi mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phátđược ưu tiên hàng đầu thì đầu tư công nên tập trung vào các dự án trọng điểm ở các tỉnh

Trang 20

vùng ven để vừa tạo tiền đề phát triển cho địa phương, giải quyết việc làm, hạn chế didân đến các thành phố lớn, góp phần hạn chế tình trạng ùn tắc giao thông… vừa có thểgiúp cho các tỉnh phát triển một cách tương đối đồng đều.

b Tái cơ cấu thị trường tài chính:

Ở khu vực ngân hàng Việt Nam hiện nay đang đối mặt với các khó khăn sau:

- Về tính thanh khoản và khả năng thanh toán:

Thanh khoản hệ thống luôn bấp bênh, căng thẳng: Theo báo cáo của Ủy ban Giámsát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ cho vay/huy động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam nóichung luôn ở mức trên 90% Đặc biệt tỷ lệ cho vay/huy động ngoại tệ luôn ở mức trên100%, có khi đạt xấp xỉ 130% Bên cạnh đó, Cơ quan này còn nhận định: “Thanh khoản

hệ thống luôn bấp bênh, căng thẳng; chưa kể đến sự mất cân đối kỳ hạn giữa huy động vàcho vay và việc tiền gửi rút trước kỳ hạn gia tăng”

Thanh khoản hệ thống luôn căng thẳng, thị trường liên ngân hàng ách tắc, một sốTCTD rơi vào tình trạng mất thanh khoản liên tục (luôn rơi vào tình trạng mất cân đối kỳhạn, về huy động và cho vay…) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các Tổ chức tíndụng đang có chiều hướng sụt giảm nhanh chóng, nghiêm trọng

Một số nguyên nhân được xác định như sau:

+ Do mô hình tăng trưởng cũ và tham vọng tăng trưởng nhanh dựa vào tăng vốnđầu tư mà ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ yếu (cung ứng khoảng trên dưới 80% vốncho nền kinh tế, kể cả vốn trung và dài hạn) Đây là yếu tố luôn tiềm ẩn rủi ro trong hoạtđộng của hệ thống ngân hàng

+ Do những biến động về kinh tế - tài chính từ bên ngoài và nội tại nền kinh tếViệt Nam còn yếu kém, kinh tế vĩ mô bất ổn (lạm phát tăng cao, chính sách tài khoá vàtiền tệ thắt chặt làm thị trường chứng khoán trì trệ, thị trường bất động sản đóng băng…).Bên cạnh đó, do hoạt động điều hành, quản lý hệ thống Tổ chức tín dụng và điều hành,thực thi chính sách tiền tệ đi theo xu hướng hành chính hoá, xa rời các nguyên tắc cơ bảncủa kinh tế thị trường đã tạo nên một môi trường kinh doanh bất ổn, méo mó và thiếulành mạnh cho hoạt động tài chính- ngân hàng- tiền tệ

- Về tình hình nợ xấu và vốn ngân hàng:

Các ngân hàng hiện nay đang lâm vào tình trạng có chất lượng tài sản thấp, nợ xấucao, lợi nhuận thấp, trích lập dự phòng không đủ và thiếu vốn Ngoài ra, mức độ sở hữu

Trang 21

chéo cao giữa các ngân hàng với nhau hay giữa các ngân hàng và doanh nghiệp đã làmtăng mối lo ngại về các rủi ro có thể lây lan.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng lưu ý rằng tình hình nợ xấu đang có xuhướng tăng nhanh tại Việt Nam Cụ thể, tại thời điểm tháng 12/2010 tỷ lệ nợ xấu của toàn

hệ thống ngân hàng là 2,21%, tháng 12/2011 là 3,1% và đến cuối năm 2012, Ngân hàngnhà nước đã công bố tỷ lệ nợ xấu là 8,8% trên tổng dư nợ Trong đó, đáng chú ý là nợnhóm 2 (nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ)ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng dư nợ quá hạn của toàn ngành, chiếm70,39%

Và các số liệu đã phân tích nêu trên vẫn chưa phản ánh hết thực trạng nợ xấu củacác NH Việt Nam do chuẩn nợ xấu, cách thức phân loại nợ xấu còn chưa hoàn toàn theothông lệ và phù hợp với thực tế Theo ước tính của Fitch Ratings thì hiện tỷ lệ nợ xấu củacác ngân hàng thương mại Việt Nam vào khoảng 13% tổng dư nợ tín dụng

- Các giải pháp tái cơ cấu ngành ngân hàng:

+ Xử lý nợ xấu của ngân hàng và tái cấp vốn:

Quá trình này cần có chiến lược toàn diện và phải được vạch ra rõ ràng Song song

đó, cần có biện pháp kiểm toán tài chính đặc biệt đối với các ngân hàng lớn, có tầm quantrọng trong hệ thống ngân hàng hiện nay để qua đó xác định mức độ tái cấp vốn cần thiết

và tăng cường thanh tra, kiểm toán hoạt động của các ngân hàng thương mại

Các kế hoạch xử lý cần đảm bảo:

i Phân biệt giữa các ngân hàng mất thanh khoản và mất khả năng thanh toán

ii Buộc các cổ đông tư nhân hiện tại chịu lỗ trước khi được bơm vốn mới

iii Xử lý các tài sản xấu thông qua Công ty xử lý nợ quốc gia

iv Sắp xếp lại hoạt động của các ngân hàng mất khả năng thanh toán một cách trật

tự và tái cấp vốn ở mức tối thiểu

Ngoài ra, việc dùng ngân sách tài trợ cho chi phí tái cơ cấu ngân hàng phải đượcminh bạch, rõ ràng và xem xét các phương án tái cơ cấu một cách kỷcho chi phí tái cơcấu ngân hàng phải được minh bạch, rõ ràng và xem xét các phương án tái cơ cấu mộtcách kỹ lưỡng trước khi tiến hành cấp vốn

+ Giám sát hoạt động của các ngân hàng:

Trang 22

Tăng cường quản lý rủi ro và hoạt động cho vay của các ngân hàng để ngăn ngừanhững khoản nợ xấu phát sinh mới.

Cải thiện tính độc lập, thẩm quyền, năng lực kỹ thuật về khuôn khổ giám sát vàquản lý

- Hiệu quả của quá trình tái cơ cấu ngân hàng đạt được đến thời điểm hiện nay:

Tại Báo cáo tình hình triển khai Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyểnđổi mô hình tăng trưởng, phần về tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và thị trườngchứng khoán, Chính phủ cho biết các phương án cơ cấu đối với 9 ngân hàng TMCP đềuđược thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và đã phê duyệt được 8 phương án đối với 9ngân hàng yếu kém Theo đó, các thủ tục đã được hoàn tất cho việc hợp nhất 3 ngân hàngvới nhau (thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn), 1 ngân hàng hợp nhất với 1 tổ chức tín dụngkhác (Ngân hàng Phương Tây với PVFC), 1 ngân hàng sáp nhập với 1 ngân hàng khác(Habubank sáp nhập vào SHB), 3 ngân hàng khác đã được chấp thuận phương án tự cơcấu lại

Đến nay, các ngân hàng yếu kém đã được cơ cấu lại theo các phương án đượcduyệt đều hoạt động ổn định hơn trước Việc hợp nhất, sáp nhập và giải thể đã làm giảm

5 tổ chức tín dụng trong toàn hệ thống, gồm 3 ngân hàng TMCP, một công ty tài chínhtrong nước và một công ty cho thuê tài chính nước ngoài, đồng thời rút giấy phép ba chinhánh ngân hàng nước ngoài

Trong thời gian còn lại của năm 2013 sẽ hoàn thành thủ tục cho việc sáp nhập mộtngân hàng TMCP (Đại Á Bank với HD Bank), mua lại 2 công ty tài chính, đóng cửa 6 chinhánh ngân hàng nước ngoài thông qua chuyển giao tài sản, công nợ và thu hồi giấyphép, chuyển đổi 2 ngân hàng liên doanh sang ngân hàng thương mại 100% vốn nướcngoài

Theo đánh giá của Chính phủ, nếu như năm 2012, việc cơ cấu lại chủ yếu tậptrung vào một số ngân hàng TMCP yếu kém có nguy cơ đổ vỡ thì sang năm 2013, việc

cơ cấu các tổ chức tín dụng đã mang tính chủ động và tự nguyện từ phía các tổ chức tíndụng Xu hướng sáp nhập, hợp nhất diễn ra không chỉ ở tổ chức tín dụng yếu kém mà còngiữa các ngân hàng lành mạnh với nhau Điều này cho thấy tư duy quản trị của các tổchức tín dụng đã có sự thay đổi căn bản theo hướng thừa nhận sự tất yếu khách quan phảitái cơ cấu để vượt qua những hạn chế, yếu kém và nâng cao năng lực cạnh tranh

Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến cuối tháng 8-2013, tổng nợ xấu nộibảng của toàn hệ thống ngành ngân hàng là 142.270 tỉ đồng, chiếm 4,64% tổng dư nợ

Trang 23

Tốc độ tăng của nợ xấu trong 8 tháng đầu năm 2013 đã giảm đi đáng kể (bằng 1/3) so với

8 tháng đầu năm 2012 (tăng 59,2%)

Các tổ chức tín dụng đã chủ động cơ cấu lại nợ để kiềm chế sự gia tăng của nợxấu, giúp hàng ngàn khách hàng không phải chịu lãi suất phạt quá hạn và tiếp tục đượctiếp cận vay vốn bình thường ở các tổ chức tín dụng Đến cuối tháng 8-2013, tổng số dưcác khoản nợ được cơ cấu lại giữ nguyên nhóm nợ là 296.350 tỉ đồng Trong năm 2012

và 8 tháng đầu năm 2013, các tổ chức tín dụng đã chủ động xử lý được 95.100 tỉ đồngbằng dự phòng rủi ro

c Tái cơ cấu doanh nghiệp:

Các trụ cột doanh nghiệp nhà nước khá hoàn chỉnh với những chức năng hỗ trợnhau nhằm tiến tới tái cấu trúc và xây dựng một khu vực doanh nghiệp nhà nước kinhdoanh hiệu quả

Hiện nay, dựa theo chức năng, chúng ta có thể chia khu vực doanh nghiệp nhànước thành 4 loại công ty và đây cũng là bốn trụ cột quan trọng trong quá trình tái cấutrúc khu vực này, đó là: Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước SCIC, Công

ty Mua bán nợ và Tài sản DATC, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các định chế tàichính nhà nước

Các tập đoàn kinh tế nhà nước có tiềm lực tài chính nhưng đang gặp khó khăn thìchủ động tái cấu trúc để đưa về trạng thái phát triển cân bằng sau một thời gian phát triểnnóng dựa trên tín dụng nhưng thiếu hiệu quả Quá trình này được đặc trưng bởi ba xuhướng:

- Thứ nhất: Xu hướng sáp nhập và hợp nhất các tổng công ty nhà nước thành tậpđoàn có quy mô lớn: Thành lập Tập đoàn Sông Đà dựa trên sáp nhập 5 tổng công ty, Tậpđoàn Hud dựa trên sáp nhập 4 tổng công ty, hợp nhất ba tổng công ty thủy sản thànhTổng Công ty Thủy sản Việt Nam, sáp nhập tổng công ty muối vào tổng công ty lươngthực miền bắc…

- Thứ hai: Thực hiện cổ phần hóa các công ty thành viên, tiến tới cổ phần hóa

công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty Hiện nay về cơ bản, các tập đoàn kinh tế nhà nước đãhoàn thành việc cổ phần hóa các công ty thành viên Nhiệm vụ chủ đạo của giai đoạn

Trang 24

2012 – 2015 là tập trung vào cổ phần hóa công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty vàcác công ty thành viên có quy mô lớn.

- Thứ ba: Là thoái vốn và bán bớt vốn góp ở những mảng kinh doanh ngoài ngành

kinh doanh chính kém hiệu quả

Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước SCIC bán vốn ở những công

ty nhỏ và tập trung góp vốn vào các công ty lớn

SCIC đóng vai trò rất quan trọng trong tái cấu trúc tài chính tại nhiều doanhnghiệp nhà nước do Tổng Công ty này quản lý SCIC đóng vai trò nhà đầu tư định chếcủa Chính phủ, thực hiện việc bán vốn của những doanh nghiệp nhỏ, SCIC đang thu gọnđầu mối quản lý vốn để tập trung quản lý vốn tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn

đã được bàn giao về SCIC Trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, SCICđóng vai trò là một định chế đầu tư chuyên nghiệp, góp vốn cho các doanh nghiệp nhànước để tái cấu trúc tài chính, giúp các công ty gia tăng tiềm lực tài chính một cách kịpthời Bên cạnh đó, SCIC sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường quản trị công

ty và thúc đẩy sự minh bạch tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước

Tái cấu trúc các công ty nhà nước thông qua mua bán nợ của DATC trong trườnghợp các công ty bị thua lỗ nặng và không đủ điều kiện cổ phần hóa

Thay vì sử dụng cách tiếp cận thông qua thủ tục phá sản tại tòa án, Nhà nước đã sửdụng Công ty Mua bán nợ và Tài sản DATC là cách tiếp cận chủ đạo khi cần tái cấu trúccác công ty thua lỗ và không đủ điều kiện cổ phần hoá Bằng việc tái cấu trúc thông quamua bán nợ, DATC đã giúp vực dậy nhiều công ty nhà nước đứng trên bờ vực phá sản vàthu hồi được các khoản nợ xấu trước đây Với quyền hạn được trao và tiềm lực vốn chủ

sở hữu lớn, DATC đã và đang thể hiện được tính hiệu quả khi tham gia tái cấu trúc hàngloạt các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, do quy mô còn khiêm tốn so với khối lượng

nợ xấu của nền kinh tế cũng như những giới hạn về quy mô nguồn lực tài chính và nhân

sự, sẽ khó kỳ vọng vào việc DATC sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc tái cấu trúc khuvực doanh nghiệp nhà nước

Các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệpnhà nước trong quá trình tái cấu trúc và tập trung xử lý nợ qua việc bán các khoản nợ xấucho DATC hoặc công ty mua bán nợ trực thuộc

Các ngân hàng thương mại nhà nước, trước hết cũng có những tồn tại và phải chủđộng thực hiện tái cấu trúc Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vaitrò hỗ trợ tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc tại các doanh

Ngày đăng: 24/01/2015, 18:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng sau cho thấy biện pháp và công cụ sử dụng trong tái cấu trúc tài chính ở hai  công ty nêu trên: - Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ ; Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính
Bảng sau cho thấy biện pháp và công cụ sử dụng trong tái cấu trúc tài chính ở hai công ty nêu trên: (Trang 17)
Bảng sau cung cấp thông tin về tài sản có và tài sản nợ hàng đầu của những tổ  chức trung gian tài chính trên: - Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ ; Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính
Bảng sau cung cấp thông tin về tài sản có và tài sản nợ hàng đầu của những tổ chức trung gian tài chính trên: (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w