Tiểu luận lý thuyết tài chính tiền tệ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓAChính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô do nhà nước khởi thảo và thực thithông qua các công cụ để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn nhấtđịnh.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
- - HỌC PHẦN: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHUYÊN ĐỀ 4
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
GVHD: TS DIỆP GIA LUẬT NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA TỪNG CHÍNH SÁCH 1
1.1 Cơ sở lý luận chính sách tiền tệ 1
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 1
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 1
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ 1
1.1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ 3
1.1.5 Khó khăn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ 4
1.2 Cơ sở lý luận chính sách tài khóa 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Mục tiêu của Chính sách tài khóa 5
1.2.3 Công cụ 5
1.2.4 Các kênh truyền dẫn của Chính sách tài khóa 5
1.2.5 Khó khăn của CSTK 6
II CHU KÌ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN CỦA CHU KÌ 7
2.1 Chu kỳ kinh tế 7
2.2 Việc điều chỉnh của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế 9
2.2.1 Chính sách tiền tệ 9
2.2.2 Chính sách tài khóa 12
Trang 3III THỰC TRẠNG VIỆC ĐIỀU HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT
KINH TẾ VĨ MÔ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2008 - 2013 14
3.1 GIAI ĐOẠN 2008 - 2010 14
3.1.1 NĂM 2008 14
3.1.2 NĂM 2009 16
3.1.3 NĂM 2010 19
3.2 GIAI ĐOẠN 2011-2013 21
3.2.1 NĂM 2011 21
3.2.2 NĂM 2012 25
3.2.3 NĂM 2013 27
IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG TƯƠNG LAI 31
4.1 Hạn chế của việc thực hiện chính sách 31
4.2 Dự đoán về tình hình kinh tế trong tương lai 32
4.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm thực hiện chính sách hiệu quả hơn trong tương lai 33
Trang 4[AUTHOR NAME] 1
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA TỪNG CHÍNH SÁCH
1.1 Cơ sở lý luận chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô do nhà nước khởi thảo và thực thi thông qua các công cụ để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội trong giai đoạn nhất định
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Khái niệm: Là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt so với tiền gửi mà ngân hàng
trung ương yêu cầu các ngân hàng thương mại phải duy trì
Cơ chế tác động: Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì thông qua công thức k =
(c+1)/(c+d) làm cho k giảm Mặt khác khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của ngân hàng thương mại giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)
Đặc điểm: vì có tính chất bắt buộc nên mang nặng tính quản lý Nhà nước cũng
nhờ thế mà ngân hàng trung ương chủ động việc điều chỉnh cung tiền và có tác động rất mạnh Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
b) Nghiệp vụ thị trường mở
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán trái phiếu (chứng khoán) do ngân
hàng trung ương thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua
đó điều tiết lượng tiền cung ứng
Cơ chế tác động: Khi ngân hàng trung ương mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm
Trang 5[AUTHOR NAME] 2
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)
Đặc điểm: là công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác, ít tốn kém về chi phí,
dễ đảo ngược tình thế của chính sách tiền tệ
c) Lãi suất chiết khấu
Khái niệm: Là lãi suất ngân hàng trung ương tính cho các ngân hàng thương
mại khi họ vay phần dự trữ từ ngân hàng trung ương
Cơ chế tác động: Khi ngân hàng trung ương tăng (giảm) lãi suất chiết khấu sẽ
hạn chế (khuyến khích) ngân hàng thương mại vay tiền từ ngân hàng trung ương làm cho khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng)
Đặc điểm: Chính sách này giúp ngân hàng thương mại giải quyết khó khăn
trong thanh khoản, và kiểm soát được hoạt động tín dụng của ngân hàng thương
mại
d) Tỷ giá hối đoái
Khái niệm: là đại lượng biểu thị mối tương quan về giá trị giữa hai đồng tiền
Nói cách khác tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số lượng tiền tệ nước khác
Cơ chế tác động: Khi tỷ giá hối đoái tăng cao, ngân hàng trung ương bán ngoại
tệ, làm cho cung ngoại tệ tăng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, thì tỷ giá sẽ giảm Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, ngân hàng trung ương sẽ mua ngoại tệ, trong khi các yếu tố khác không đổi thì tỷ giá hối đoái tăng
e) Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại
Khái niệm: là việc ngân hàng trung ương quy định tổng mức dư nợ của ngân
Trang 6[AUTHOR NAME] 3
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
hàng thương mại không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (thường là một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền
Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với cung
tiền, có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của ngân hàng thương mại Thông qua việc xác lập hạn mức tín dụng cũng như tỷ lệ cho vay,
mà cụ thể đó là kiểm soát tỷ trọng cho vay với khu vực phi sản xuất (chứng khoán, bất động sản, tiêu dùng…) Ví dụ, trong suốt giai đoạn 2008-2012 thì tỷ lệ cho vay đối với khu vực phi sản xuất được Ngân hàng Nhà nước quy định không được quá 20% tổng dư nợ cho vay
Đặc điểm:
+ Ưu điểm: Giúp ngân hàng trung ương điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền
cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế
+ Nhược điểm: Triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại,
làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của ngân hàng trung ương và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên
1.1.4 Các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ
a) Khi nền kinh tế suy thoái: Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách
mở rộng tiền tệ thông qua các kênh
- Mua trái phiếu
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Giảm lãi suất chiết khấu
Kết quả: Cơ sở tiền (H) tăng, số nhân tiền tệ (k) tăng => Cung tiền tăng (M) =>
lãi suất giảm (r)
=> Đầu tư tăng (I), tiêu dùng tăng (C) => tổng cầu tăng (AD) => sản lượng tăng (Y),
thất nghiệp giảm (U)
Trang 7[AUTHOR NAME] 4
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
b) Khi nền kinh tế có lạm phát cao: Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính
sách tiền tệ thu hẹp thông qua các kênh
- Bán trái phiếu
- Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Tăng lãi suất chiết khấu
Kết quả: Cơ sở tiền (H) giảm, số nhân tiền tệ (k) giảm => Cung tiền giảm (M) =>
lãi suất tăng (r)
=> Đầu tư giảm (I), tiêu dùng giảm (C) => tổng cầu giảm (AD) => sản lượng giảm (y),
giá tăng (P), thất nghiệp tăng (U)
1.1.5 Khó khăn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
Thứ nhất, bẫy thanh khoản: Về bản chất, “bẫy thanh khoản” hay “bẫy tiền
mặt” xảy ra khi đường LM trong mô hình IS-LM trở nên thoải và song song với trục hoành Trong trường hợp này, bất kỳ biến động nào của lượng tiền cung ứng cũng không gây ảnh hưởng tới lãi suất hoặc ảnh hưởng rất nhỏ Kết quả là việc nới rộng chính sách tiền tệ không có tác dụng làm dịch chuyển vị trí đường LM; lãi suất không giảm và nhu cầu vay không tăng Tình trạng này xảy ra khi mặt bằng lãi suất danh nghĩa đã ở mức rất thấp, gần tới 0 khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái (trường hợp Nhật Bản thập kỷ 90) Chính sách mở rộng chi tiêu Chính phủ trong điều kiện này lại có tác động rất mạnh tới thu nhập mà ít bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng thoái lui đầu tư (do lãi suất tăng thấp hơn khi nhu cầu vốn của Chính phủ tăng)
Thứ hai, áp lực của bội chi ngân sách và hiệu ứng thoái lui đầu tư tư nhân:
Mặc dù trong điều kiện “bẫy thanh khoản”, đường LM không hoàn toàn nằm ngang, phản ánh một thực tế là nhu cầu đầu tư vẫn nhạy cảm với lãi suất Trong trường hợp chi tiêu Chính phủ mở rộng, lãi suất sẽ bị đẩy lên và triệt tiêu những cố gắng nới lỏng các điều kiện tiền tệ cho đầu tư của các doanh nghiệp
Thứ ba, áp lực của lạm phát và hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế Việc
chấp nhận mức lạm phát nhất định cho mục tiêu kích thích kinh tế là lựa chọn tất yếu Vấn đề là mức lạm phát phải được duy trì ở mức hợp lý căn cứ vào mức độ chịu
Trang 8[AUTHOR NAME] 5
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
đựng của nền kinh tế mà không phá huỷ thành quả kích cầu đã đạt được Điều này phụ thuộc vào mục tiêu của việc sử dụng các khoản vốn kích cầu và mức độ hấp thụ vốn của các đối tượng sử dụng không chỉ trong ngắn hạn mà cả trung và dài hạn
1.2 Cơ sở lý luận chính sách tài khóa
1.2.1 Khái niệm
Chính sách tài khóa là chính sách của chính phủ nhằm tác động nên định hướng của nền kinh tế thông qua chi tiêu ngân sách và thuế khóa
1.2.2 Mục tiêu của Chính sách tài khóa
- Ổn định nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng Y=Yp
- Duy trì nền kinh tế ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
- Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế ở mức vừa phải
1.2.3 Công cụ
Để đạt được những mục tiêu của chính sách tài khóa Chính phủ sử dụng hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu công và hệ thống thuế
- Chi tiêu công (G): là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương, chính
quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý Việc thay đổi chi tiêu chính phủ một mặt làm ảnh hưởng đến tổng chi tiêu của xã hội, mặt khác cũng làm thay đổi thu nhập của dân cư thông qua các khoản trợ cấp Thu nhập dân cư thay đổi lại làm thay đổi chi tiêu hộ gia đình từ đó ảnh hưởng đến sản lượng, giá cả, công ăn việc làm
- Hệ thống thuế (T): là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có
nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
1.2.4 Các kênh truyền dẫn của Chính sách tài khóa
Khi nền kinh tế suy thoái
Đó là khi Y < Yp và cầu lao động thấp, Chính phủ sử dụng CSTK mở rộng : tăng G, giảm T => AD tăng -> Y tăng , U giảm
Tăng G: tức là tăng chi mua hàng hóa và dịch vụ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu; G
Trang 9[AUTHOR NAME] 6
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
tăng => AD tăng => Y tăng
Giảm T: sẽ làm tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình Thu nhập khả dụng tăng sẽ
kích thích tiêu dùng tăng theo Tiêu dùng tăng lại làm tổng cầu tăng; T giảm => Ydtăng => C tăng => Y tăng
Khi nền kinh tế lạm phát cao
Đó là khi Y > Yp và cầu lao động cao, Chính phủ sử dụng CSTK thu hẹp : giảm G, tăng
T => AD giảm -> Ygiảm P giảm, U tăng
Giảm G: tức là giảm chi mua hàng hóa dịch vụ, sẽ trực tiếp làm giảm tổng cầu AD
giảm=> Y giảm
Tăng T: sẽ làm giảm thu nhập khả dụng của hộ gia đình Thu nhập khả dụng giảm sẽ
hạn chế tiêu dùng Tiêu dùng giảm thì làm tổng cầu giảm; T tăng => Yd giảm => C giảm=> Y giảm
- Ngoài ra còn có CSTK cân bằng: là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu
của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác
mà không phải vay nợ
1.2.5 Khó khăn của CSTK
Mặc dù là công cụ của chính phủ để thực hiện các mục tiêu của mình, ổn định nền kinh tế vĩ mô nhưng chính sách tài khóa vẫn có một số khó khăn khi thực hiện sau
đây:
Thứ nhất: xem xét AD và Y trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, tuy
nhiên thị trường thì linh hoạt và có thể tự điều chỉnh, do đó hiệu quả chính sách có thể suy giảm
Thứ hai: chính sách này đòi hỏi phải dự báo đúng biên độ và thời gian kéo dài
thích hợp của chu kỳ kinh tế thì mới đưa ra liều lượng thích hợp cho chính sách Tuy nhiên trong thực tế việc dự báo đúng thì hoàn toàn không thể
Thứ ba: chính sách này có độ trễ nhất định: đó là khoảng cách thời gian mà từ
khi đề nghị thay đổi đến khi thực hiện chính sách Độ trễ này phụ thuộc nhiều vào tính chất của chính sách Ví dụ chính sách tiền tệ có độ trễ thực hiện rất ngắn, trong
Trang 10[AUTHOR NAME] 7
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
khi chính sách tài khóa lại có độ trễ dài hơn vì phải có thời gian chuẩn bị Ngoài ra,
độ trễ của chính sác còn phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của hệ thống hành chính và vai trò của người lãnh đạo kinh tế của một nước hay một ngành
Thứ tư: Định lượng hợp lý mức thay đổi của thu và chi ngân sách trong toàn
xã hội và cho từng ngành để vừa đảm bảo mục tiêu điều tiết kinh tế vừa đảm bảo phúc lợi xã hội
Thứ năm: hiệt hại có thể xảy khi thực thi chính sách, do đó việc điều tiết cũng
không nên diễn ra thường xuyên, liên tục dễ ảnh hưởng xấu đến xã hội
Khi kinh tế suy thoái: ngân sách thường ở trạng thái thâm hụt, nếu muốn chống
suy thoái (tăng chi giảm thu), ngân sách sẽ đối mặt với tình trạng thâm hụt nặng nề hơn, đòi hỏi ngân sách phải chủ động nguồn trang trải và có hướng giải quyết khi gánh nặng nợ nần ngày càng lớn
Khi kinh tế lạm phát: khi Nhà nước thực hiện chính sách thu hẹp tài khóa (giảm chi
tăng thu) điều này có thể làm cho đời sống dân chúng khó khăn hơn, nếu không khéo léo kết hợp hay chính sách kéo dài sẽ làm tăng sự bất mãn trong dân chúng có thể dẫn đến bất ổn chính trị
II CHU KÌ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG TỪNG GIAI ĐOẠN CỦA CHU KÌ
2.1 Chu kỳ kinh tế
a Định nghĩa: Chu kỳ kinh tế hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động
của GDP thực tế dao động xoay quanh sản lượng tiềm năng, theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh
Trang 11[AUTHOR NAME] 8
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
b Đặc điểm của chu kỳ kinh tế
+ Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi thấp hơn mức sản lượng tiềm năng + Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái
Điểm ngoặt giữa hai pha trên là đáy của chu kỳ kinh tế
+ Hưng thịnh là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước
+ Cú sốc cầu là một biến cố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa và dịch vụ trong nền
kinh tế Ví dụ về những cú sốc cầu như: việc giảm thuế suất, tăng cung tiền, tăng chi tiêu chính phủ, hay tăng cầu hàng xuất khẩu của nước ngoài
Đặc điểm của các cú sốc cầu là tổng sản lượng dịch chuyển theo cùng chiều
với lãi suất và lạm phát Ví dụ, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ sẽ có xu hướng kích
Trang 12[AUTHOR NAME] 9
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
cầu nền kinh tế và làm tăng GDP Điều đó cũng có thể làm tăng lãi suất thông qua tăng cầu vốn vay của chính phủ cũng như thông qua những doanh nghiệp mong muốn vay mượn để tài trợ các dự án mới Cuối cùng, điều đó cũng có thể làm tăng tỷ
lệ lạm phát nếu cầu hàng hóa và dịch vụ tăng lên ngang bằng hay cao hơn tổng công suất sản xuất của nền kinh tế
+ Cú sốc cung là một biến cố ảnh hưởng đến công suất và chi phí sản xuất Ví
dụ về các cú sốc cung là sự thay đổi giá dầu nhập khẩu; băng tuyết, lũ lụt, hay hạn hán có thể tàn phá sản lượng hoa màu lớn; thay đổi trình độ giáo dục của lực lượng lao động trong nền kinh tế; hay thay đổi mức lương mà lực lượng lao động sẵn lòng làm việc để nhận được
Đặc điểm của các cú sốc cung thường là sự dịch chuyển của tổng sản lượng
theo chiều ngược lại với lạm phát và lãi suất Ví dụ, sự tăng mạnh giá dầu nhập khẩu
sẽ có tính chất gây lạm phát vì chi phí sản xuất sẽ tăng, cuối cùng sẽ dẫn đến tăng giá các hàng hóa sau cùng Trong bối cảnh này, tổng sản lượng sẽ giảm Với nguyên vật liệu đắt đỏ hơn, công suất sản xuất của nền kinh tế sẽ giảm, cũng như khả năng mua sắm hàng hóa hiện đã tăng giá của các cá nhân và GDP cũng giảm
2.2 Việc điều chỉnh của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế
2.2.1 Chính sách tiền tệ
* Giai đoạn suy thoái ( Y < Yp)
NHTW thường dùng chính sách tiền tệ mở rộng khi suy thoái kinh tế để làm tăng cung tiền, do đó lãi suất cân bằng giảm, cụ thể:
+ Giảm mức lãi suất cho vay để kích thích các nhà đầu tư vay vốn
+ Ấn định trước khối lượng tín dụng tăng phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và tìm đường để đưa nó vào trong nền kinh tế
+NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
+ Nghiệp vụ thị trường mở: làm gia tăng lượng tiền cung ứng trên thị trường
Kết quả: tăng cung tiền, giảm lãi suất → đầu tư tăng và tổng cầu tăng, mức giá chung
Trang 13[AUTHOR NAME] 10
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
tăng và giảm tỷ lệ thất nghiệp
*Giai đoạn Phục hồi
Trong giai đoạn này thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế do đó cần tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng để nâng cao sức cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế Đồng thời sử dụng các công cụ quản lý để ổn định nền kinh tế vĩ mô
Kết quả: lượng cung tiền tăng, lãi suất giảm → sản lượng tăng, mức giá chung tăng
và tỷ lệ thất nghiệp giảm
* Giai đoạn Hưng thịnh
Thực hiện CSTT thắt chặt nhằm làm giảm lượng cung tiền như:
- Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: để hạn chế khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại
- Nâng lãi suất tái chiết khấu, thắt chặt thực hiện các nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay đối với các tổ chức tín dụng… Mục đích là rút bớt tiền trong lưu thông Tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút lượng tiền mặt của dân cư và doanh nghiệp vào ngân hàng
- Bán ra các giấy tờ có giá
Kết quả: lượng cung tiền giảm, lãi suất tăng dẫn đến đầu tư giảm, tổng cầu giảm Khi
tổng cầu giảm sẽ làm sản lượng giảm, mức giá chung giảm và tỷ lệ thất nghiệp tăng
lên
Chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ là kiềm chế khi kinh tế tăng trưởng nóng
và thúc đẩy tăng trưởng khi kinh tế suy giảm trong bối cảnh suy thoái và lạm phát
cao Và ngược lại, chính sách tiền tệ thuận chu kỳ có tác động thúc đẩy khi nền kinh tế tăng trưởng
Đối với các thị trường mới nổi, chính sách tiền tệ xem ra có tính thuận chu kỳ (nghĩa là các mức lãi suất chính sách giảm thấp hơn vào những thời kỳ thuận lợi và tăng vào những thời kỳ khó khăn) Trên phương diện chính sách tiền tệ, các nước
đang phát triển thường thắt chặt các ràng buộc tiền tệ vào những lúc khó khăn
Chính sách lãi suất thuận chu kỳ là chính sách giúp tăng cường xu hướng chu
Trang 14Đối với tỉ lệ tăng trưởng tín dụng nội địa của ngân hàng trung ương trong bất
kỳ cơ chế tỷ giá hối đoái nào, một chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ sẽ có ý nghĩa làm giảm tỉ lệ tăng trưởng tín dụng nội địa trong thời kỳ thuận lợi và ngược lại (nghĩa là
tương quan âm giữa tỉ lệ tăng trưởng tín dụng nội địa và chu kỳ kinh tế)
Một chính sách tiền tệ thuận chu kỳ sẽ có ý nghĩa làm tăng tỉ lệ tăng trưởng tín dụng nội địa trong những thời kỳ thuận lợi và ngược lại Một chính sách không theo chu kỳ sẽ không làm thay đổi tỉ lệ tăng trưởng tín dụng một cách hệ thống theo chu
kỳ kinh tế Dĩ nhiên, sự thay đổi tăng trưởng tín dụng nội địa có thể được xem là đối ứng với sự thay đổi lãi suất ngắn hạn, với một sự giảm đi (tăng lên) của tăng trưởng
tín dụng nội địa dẫn đến một sự tăng lên (giảm đi) của lãi suất ngắn hạn
Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, những nỗ lực giảm lãi suất sẽ có xu hướng củng cố áp lực mất giá nội tệ và dẫn đến dòng vốn ra thêm nữa Ảnh hưởng mất giá nội tệ đối với giá cả trong nước bây giờ có tác dụng như một cú sốc cung bất lợi và có thể dẫn đến việc cơ quan quản lý tiền tệ chọn mục tiêu lạm phát nhằm gia tăng thay
vì cắt giảm lãi suất, vì thế sẽ làm tăng tình trạng suy thoái
Trên nguyên tắc, việc quan sát mối tương quan giữa lãi suất ngắn hạn được kiểm soát bằng chính sách và chu kỳ kinh tế sẽ giúp ta xác định liệu chính sách tiền
tệ có tính nghịch chu kỳ (lãi suất tăng vào những thời kỳ thuận lợi và giảm vào những thời kỳ khó khăn, hàm ý mối tương quan dương hay đồng biến), thuận chu kỳ (lãi suất giảm vào những thời kỳ thuận lợi và tăng vào những thời kỳ khó khăn, hàm
ý mối tương quan âm hay nghịch biến), hay không theo chukỳ (lãi suất không được
sử dụng một cách có hệ thống trong chu kỳ kinh tế, thể hiện không có tương quan), như được trình bày trong bảng sau
Trang 15[AUTHOR NAME] 12
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
2.2.2 Chính sách tài khóa
Ở pha suy đoạn suy thoái của ( Y < Yp)
Khi nền kinh tế đang lâm vào suy thoái, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, điều đó làm giảm sút tổng cầu Để nâng cao tổng cầu chính phủ cần sử dụng chính sách tài khóa mở rộng
Việc vận dụng chính sách tài khoá ở pha này được thể hiện như sau: khi
ta sử dụng chính sách tài khóa mở rộng nghĩa là tăng G, giảm T thông qua công thức AD= (Co - Cm.To + Io + Go + Xo - Mo) +[Cm(1-Tm) + Im - Mm] thì tổng cầu gia tăng làm cho sản lượng Y tăng, tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp Điều này góp phần cho nền kinh tế vượt qua pha suy thoái của nền kinh tế Tuy nhiên cần thận trọng hai điều sau: khi kích cầu thì phải giảm thuế làm cho thâm hụt ngân sách, giảm chi tiêu chính phủ Khi chính phủ tăng chi tiêu thì có thể gây ra lạm phát và tăng gánh nặng
nợ cho ngân sách
Ở pha phục hồi của chu kỳ kinh tế
Nền kinh tế lúc này có sản lượng đang có chiều hướng tăng, giá cả tăng và thất nghiệp giảm so với giai đoạn trước, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cơ bản được đảm bảo Trong giai đoạn này cần tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá mở rộng để kích thích nền kinh tế
Việc vận dụng chính sách tài khoá ở pha này được thể hiện như sau: khi
ta sử dụng chính sách tài khóa mở rộng nghĩa là tăng G, giảm T thông qua công thức AD= (Co - Cm.To + Io + Go + Xo - Mo) +[Cm(1-Tm) + Im - Mm] thì tổng cầu gia tăng làm cho sản lượng Y tăng, tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp Điều này góp phần cho nền kinh tế vượt lên khỏi pha phục hồi của nền kinh tế bước vào pha hưng thịnh của chu kỳ kinh tế
Tuy nhiên nếu thực hiện quá đà sẽ gây nên lạm phát và thâm hụt ngân sách,
do đó cần chú trọng các giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
Ở pha hưng thịnh của chu kỳ kinh tế
Nền kinh tế đang đạt mức sản lượng tiềm năng, tổng cầu gia tăng, nền kinh tế
Trang 16[AUTHOR NAME] 13
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
tăng trưởng nóng kèm theo lạm phát do đó thực hiện CSTK thu hẹp
Việc vận dụng chính sách tài khoá ở pha này được thể hiện như sau: khi
ta sử dụng chính sách tài khóa thu hẹp nghĩa là giảm G, tăng T thông qua công thức AD= (Co - Cm.To + Io + Go + Xo - Mo) +[Cm(1-Tm) + Im - Mm] thì tổng cầu giảm làm cho sản lượng giảm, kiềm chế được nguy cơ lạm phát nhưng có thể làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
Chính sách tài khoá thuận chu kỳ: Nếu mục tiêu của Chính phủ là luôn đạt
được ngân sách cân bằng dù sản lượng có thể thay đổi thế nào cũng được, thì chính sách đó gọi là chính sách tài khoá thuận chu kỳ Lúc đó nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, ngân sách sẽ thâm hụt, để ngân sách cân bằng lúc này Chính phủ cần phải giảm chi tiêu hoặc tăng thuế hoặc sử dụng cả hai biện pháp Đổi lại chi tiêu của Chính phủ giảm làm cho sản lượng giảm, do đó suy thoái lại càng suy thoái
Chính sách tài khoá ngược chu kỳ: Nếu mục tiêu của Chính phủ là giữ cho
nền kinh tế luôn ở mức sản lượng tiềm năng với mức việc làm đầy đủ, thì Chính phủ phải thực hiện chính sách tài khoá ngược chiều với chu kỳ kinh tế Lúc đó khi nền kinh tế suy thoái, để tăng sản lượng, để sản lượng lại gần với sản lượng tiềm năng thì Chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, hoặc cả hai biện đó Như vậy thì ngân sách đã thâm hụt lại càng thâm hụt
Việc Chính phủ sử dụng chính sách tài khoá cùng chiều hay ngược chiều với chu kỳ kinh doanh phụ thuộc vào tình huống kinh tế cụ thể của mỗi nước, mỗi giai đoạn khác nhau
Trang 17[AUTHOR NAME] 14
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
III THỰC TRẠNG VIỆC ĐIỀU HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT
KINH TẾ VĨ MÔ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2008 - 2013 3.1 GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
3.1.1 NĂM 2008
a Tình hình kinh tế vĩ mô
- 6 tháng đầu năm 2008: Nước ta phải phải đối mặt với sự gia tăng đột biến của
lạm phát, chủ yếu là do:
+ Chi phí đẩy: đợt khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng năm 2007-2008, giá
dầu tăng đột biến làm ảnh hưởng đến giá xi măng, thép, lương thực tăng theo
+ Cầu kéo: nhu cầu tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng khá cao
+ Yếu tố tâm lý: cơn sốt gạo - giá gạo tăng do ảnh hưởng dây chuyển chi phí
đẩy + nhu cầu thế giới tăng - mặc dù nước ta là nước xuất khẩu gạo
+ Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa mở rộng giai đoạn 2001-2006
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khi Việt Nam gia nhập WTO, luồng vốn nước ngoài tràn vào Việt Nam làm tăng giá đồng nội tệ Để ổn định tỷ giá, nhà nước tung tiền mặt mua USD -> lượng tiền nội tệ lưu thông lớn -> gây áp lực lạm phát Mặt khác
do nguồn vốn dồi dào cùng sự dễ dãi trong tín dụng, các doanh nghiệp không còn chú trọng vào hoạt động cốt lõi như sản xuất kinh doanh nữa mà chuyển sang đầu cơ tài sản (cổ phiếu và bất động sản hiện giá rất cao
- 6 tháng cuối năm 2008: Lạm phát giảm quá nhanh, doanh nghiệp sản xuất, xuất
khẩu gặp khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm, nguy cơ khủng hoảng toàn cầu
b Thực trạng điều hành và thực hiện kinh tế vĩ mô 2008
Giai đoạn 1: 6 tháng đầu năm 2008
Trang 18[AUTHOR NAME] 15
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
Trong nửa đầu 2008, Chính phủ chủ trương thắt chặt chi tiêu, thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên, sử dụng ngân sách các cấp và nguồng tăng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 cho các chính sách an sinh xã hội Riêng số vốn từ các
dự án, công trình đầu tư bị đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện gần 6.000 tỷ đồng, tập trung bố trí cho các dự án có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2008 Bên cạnh đó Chính phủ cũng giảm 25% kế hoạch vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ cho các công trình giao thông, thủy lợi và nâng cấp bệnh viện tuyến huyện so với mức Quốc hội phê duyệt, riêng trái phiếu giáo dục điều chỉnh giảm 5.6% so với mức Quốc hội phê duyệt
Giai đoạn 2: Từ tháng 7/2008 nền kinh tế chuyển từ lạm phát sang giảm phát
=> Từ chính sách tiền tệ thắt chặt chuyển sang chính sách tiền tệ nới lỏng, phối hợp với chính sách tài khóa mở rộng Cụ thể
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm đối phó với suy thoái kinh tế trong nước và khủng hoảng kinh tế thế giới, ngân hàng Nhà nước đã triển khai gói kích cầu của Chính phủ thông qua thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đi kèm với các biện pháp kiểm tra, giám sát nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình cấp và sử dụng tín dụng, đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và thúc đẩy kinh
tế phát triển
Chính sách tiền tệ được nới lỏng thông qua một loạt các hoạt động điều hành
của Ngân hàng Nhà nước như hạ lãi suất cơ bản từ 14% xuống 8.5% và lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn lần lượt là 7.5% và 9.5%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền đồng giảm xuống còn 5%, thực hiện thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu ngân hàng Nhà nước Mặt khác NHNN còn thực hiện linh hoạt các biện pháp hỗ trợ vốn cho các nhu cầu sản xuất – kinh doanh đồng thời kiểm soát chặt chẽ quy mô chất lượng tín dụng, chỉ đạo các TCTD ưu tiên cho vay đối với các đối tượng sản xuất kinh doanh, XNK các mặt hàng thiết yếu và nông nghiệp
Trang 19[AUTHOR NAME] 16
NHÓM 1_QTKD NGÀY 2_K23
c Nhận xét hiệu quả của việc vận dụng chính sách
- Trong 6 tháng đầu năm khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì mặt hạn
chế đó là định hướng của việc thực hiện các chính sách là đúng nhưng liều lượng chưa hợp lí Liều lượng quá nhiều, dẫn đến căng thẳng cùng lúc trong điều kiện các ngân hàng có mức thanh khoản thấp vì cho vay dễ dãi từ các năm trước cho BDS và chứng khoán Cộng với việc các NHTM phải mua trái phiếu chính phủ, tạo ra áp lực rất lớn cho các NHTM dẫn đến lãi suất tiển gửi tăng mạnh, đỉnh cao là nâng lãi suất
cơ bản lên 14%/năm
Ngoài ra, sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chưa thật
sự nhịp nhàng, chính sách tài khóa chưa thật thắt chặt trong thời kì lạm phát cao (nửa đầu 2008) Trong quá trình điều hành chính sách, các cơ quan chức năng chưa tính được độ trễ để xác định thời điểm, liều lượng và mức độ tác động một cách hợp
lí để tránh tình trạng tác động quá liều nhằm đạt kết quả trong ngắn hạn nhưng lại tác động tiêu cực trong tương lai
- Trong 6 tháng cuối năm: Sau hơn 5 tháng thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt, CPI tăng âm ở quý 3/2008 Chính phủ phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, kích cầu đầu tư Đối với chính sách tiền tệ, NHNN giảm lãi suất, mở rộng tín dụng để hỗ trợ các TCTD có điều kiện giảm lãi suất cho vay Mặt khác NHNN còn thực hiện linh hoạt các biện pháp hỗ trợ vốn cho các nhu cầu sản xuất –kinh doanh đồng thời kiểm soát chặt chẽ quy mô chất lượng tín dụng, chỉ đạo các TCTD ưu tiên cho vay đối với các đối tượng sản xuất kinh doanh, XNK các mặt hàng thiết yếu và nông nghiệp Kết quả là, nhờ thực hiện đồng bộ cả 2 chính sách điều tiết vĩ mô nên suy giảm kinh tế đã được ngăn chặn kịp thời
3.1.2 NĂM 2009
a Tình hình kinh tế vĩ mô
Năm 2009, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái đặc biệt là Mỹ, Đức, Anh, các nước thay nhau tung ra các gói nới lỏng định lượng, dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân sách, nợ công và các cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra liên tiếp ở các quốc gia