Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
Trang 1Thực tập phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
(D&3H) Đây là phương pháp mà các nhà sư phạm quan
tâm hơn cả vì nó được coi là tổ hợp các PP tích cực có giá trị đức – trí dục to lớn Dạy học nêu và giải quyết vấn đề du nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 được gọi tắt là PPDH nêu vấn đề: là PPDH mà người GV đưa ra trước HS một hoặc hệ thống các vấn đề học tập chứa đựng mâu thuẫn, đưa HS vào tình huống có vấn đề làm nảy sinh nhu cầu nhận thức, hướng dẫn HS đề xuất giả thuyết, lập kế hoạch và tự giải quyết vấn đề
Như vậy HS không những nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy, biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề, hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu Phương pháp này đã tạo điều kiện cho HS tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tích cực nhất
a.Tình huống có vấn đề
Giáo viên phải biết phát hiện vấn đề Vấn đề ở đây là những điều mà GV đã biết câu trả lời nhưng hư cấu thành chưa biết để lôi cuốn HS vào giải quyết
Tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ, một câu hỏi cần tìm câu trả lời…
ôCác bước xây dựng tình huống có vấn đề
Trang 2Bước 1: Tái hiện tri thức đã có liên quan đến tình huống sắp giải quyết (bằng cách kiểm tra bài cũ, ôn tập kiến thức cũ, đưa ra bài tập hoặc đưa ra hiện tượng thực tế…) Bước 2: Nêu ra hiện tượng mâu thuẵn với tri thức đã có (mâu thuẫn này là sự không phù hợp giữa điều đã biết với điều chưa biết, giữa lý luận với thực tiễn…)
ôCác cách xây dựng tình huống có vấn đề
+ Tình huống nghịch lý: là một vấn đề mà mới thoạt nhìn dường như vô lý không phù hợp với những nguyên lý đã được công nhận, tức là không thể chấp nhận được
Ví dụ: Al, Fe là những kim loại hoạt động nhưng lại không tan trong HNO3 đặc, nguội
+ Tình huống lựa chọn: mâu thuẫn có thể xuát hiện khi ta đứng trước một sự lựa chọn hết sức khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết Phương án nào cũng có vẻ hợp lý nhưng đồng thời lại chứa đựng một nhược điểm riêng cơ bản nào đó Chủ thể lại chỉ được phép lựa chọn một giải pháp duy nhất mà thôi
Ví dụ: Amoniac trong công nghiệp được điều chế từ khí nitơ và khí hiđro theo phản ứng:
N2(k) + 3H2(k) –> 2NH3 + Q
Hãy lựa chọn điều kiện thích hợp để hiệu suất tổng hợp NH3 là cao nhất? Giải thích
sự lựa chọn đó?
Cách 1: Hạ nhiệt độ
Cách 2: Tăng áp suất
Cách 3: Thực hiện phản ứng tổng hợp ở nhiệt độ 450 – 5000C, ở áp suất khoảng 200 – 300 atm, tỉ lệ N2và H2 là 1:3 và có xúc tác
+ Tình huống vận dụng:
Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng trong đời sống hoặc sản xuất
Ví dụ: Giải thích câu nói : “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Vận dụng kiến thức để giải bài tập
Trang 3+ Tình huống nhân quả: Xuất hiện trong quá trình đi tìm kiếm nguyên nhân của một kết quả, nguồn gốc của một hiện tượng, tìm lời giải cho câu hỏi tại sao Tình huống này có thể chứa đựng cả ba loại tình huống trên
Ví dụ: Vì sao nitơ có độ âm điện lớn hơn photpho nhưng ở điều kiện thường photpho lại hoạt động hoá học mạnh hơn nitơ?
b Các bước của dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Bước 1: Đặt vấn đề
- Tạo tình huống có vấn đề (xây dựng bài toán nhận thức)
- Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Trong đó khâu quan trọng nhất là tạo tình huống có vấn đề Phải nêu ra được những điều chưa biết là yếu tố trung tâm trong tình huống có vấn đề và gây ra được sự hứng thú nhận thức, kích thích tư duy của HS
Bước 2: Giải quyết vấn đề
- Đề xuất cách giải quyết (xây dựng giả thuyết khoa học)
- Lập kế hoạch giải quyết
- Thực hiện kế hoạch giải quyết
Trong bước này thực chất là chứng minh giả thuyết Để chứng minh HS phải biết cách phân tích tài liệu giáo khoa, từ đó tách ra các yếu tố cốt lõi và các yếu tố thứ yếu, so sánh chúng, tổng hợp khái quát rồi rút ra kết luận Giáo viên cung cấp thêm cho HS những dữ liệu cần thiết, hướng HS vào phân tích, so sánh để rút ra kết luận đúng đắn
Bước 3: Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Trang 4ô Khi dạy học nêu và giải quyết vấn đề cần chú ý lựa chọn mức độ cho phù hợp với trình độ nhận thức của HS và nội dung cụ thể của mỗi bài học Các mức độ đó là: + Giáo viên nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
+ Giáo viên nêu vấn đề và tổ chức cho HS tham gia giải quyết vấn đề
+ Giáo viên cung cấp thông tin cho HS tạo tình huống có vấn đề để HS phát hiện vấn
đề và giải quyết vấn đề
+ Học sinh tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết vấn đề và tự đánh giá
Ví dụ: Khi nghiên cứu phản ứng của dung dịch muối với NH3, tiến hành các thí
nghiệm nêu vấn đề sau:
1, Thí nghiệm 1: Dung dịch NH3 tác dụng với dung dịch AlCl3
Hiện tượng: Tạo kết tủa trắng, cho tiếp NH3 kết tủa không tan
Học sinh phát biểu: Al(OH)3 là chất lưỡng tính có thể tác dụng với dung dịch bazơ nhưng tính bazơ của dung dịch NH3 yếu nên Al(OH)3 không tan trong dung dịch NH3
2, Thí nghiệm 2: Dung dịch NH3 tác dụng với dung dịch CuCl2
Hiện tượng: Tạo kết tủa trắng xanh, cho tiếp NH3 vào kết tủa tan ra
Nêu vấn đề: Cu(OH)2 không phải chất lưỡng tính nhưng lại có khả năng tan trong dung dịch NH3
Giải quyết vấn đề: Khả năng tan trong dung dịch NH3 của một số hiđroxit kim loại không tan không được giải thích theo tính lưỡng tính
Cho học sinh viết cấu hình electron của ion Cu2+, viết công thức phân tử NH3 Nhận thấy ion Cu2+ có các obitan trống, phân tử NH3 còn cặp điện tử chưa dùng Giữa Cu2+
và NH3 tạo liên kết phối trí (tạo phức)
Kết luận: Khả năng tan của một số hiđroxit kim loại như: Cu(OH)2, Zn(OH)2, AgOH
…trong dung dich NH3 là do tạo thành các ion phức [Cu(NH3)4]2+, [Ag(NH3)2]+ …
Tổng hợp và sưu tầm