LỜI CẢM ƠNLà một sinh viên, nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi đã nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành đề tài này bằng nỗ lực của bản
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Là một sinh viên, nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi đã nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành đề tài này bằng nỗ lực của bản thân cộng với sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè và các em học sinh.
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo Mai Văn Quyết, người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên, khích lệ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin cảm ơn cảm
ơn cô giáo Võ Thị Vinh và các thầy giáo, cô giáo trong tổ phương pháp dạy học, các thầy cô giáo trong khoa Địa lý trường Đại học Vinh đã giúp
đỡ, ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi cũng cảm ơn tập thể học sinh và giáo viên trường THPT Nguyễn Du – Nghi Xuân – Hà Tĩnh, trường THPT chuyên Đại học Vinh, nơi tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tập thể lớp K47A - Địa lý đã luôn luôn ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn tới gia đình cùng bè bạn đã quan tâm giúp đỡ tôi, động viên tôi hoàn thành khóa luận này.
Là một sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tôi không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2010
Sinh viên: Phạm Thị Ngọc Mai
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Kết quảnghiên cứu trong đề tài chưa được ai công bố trong bất kì công trìnhnghiên cứu nào
Trang 3BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
N - GQVĐ : Nêu và giải quyết vấn đềGQVĐ : Giải quyết vấn đề
THCVĐ : Tình huống có vấn đềTHHT : Tình huống học tậpSGK : Sách giáo khoa
Nxb : Nhà xuất bản
BCB : Ban cơ bản
THPT : Trung học phổ thôngTHCS : Trung học cơ sở
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Quan điểm nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 4
9 Giả thiết khoa học 5
10 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
11 Kế hoạch thực hiện đề tài 9
12 Bố cục của đề tài 9
B Nội dung 10
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp N - GQVĐ trong dạy học địa lý lớp 10 - BCB 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học 10
1.1.2 Phương pháp dạy học N - GQVĐ 11
1.1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ 12
1.1.4 Những nét đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học N - GQVĐ 13
1.1.5 Các bước tiến hành (cấu trúc) một bài học dạy theo phương pháp dạy học N - GQVĐ 18
1.1.6 Các mức độ của phương pháp dạy học N - GQVĐ 21
1.1.7 Vai trò của phương pháp dạy học N - GQVĐ 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Tình hình sử dụng các phương pháp mới trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông 25
1.2.2 Hiện trạng của việc vận dụng phương pháp N - GQVĐ môn Địa lý lớp 10 – BCB ở các trường phổ thông 27
Trang 51.2.3 Một số yêu cầu đối với việc vận dụng 38
Chương 2: Vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ vào dạy học Địa lý lớp 10 – BCB 40
2.1 Đặc điểm chương trình Địa lý 10- BCB 40
2.1.1 Mục tiêu của chương trình 41
2.1.2 Cấu trúc chung 43
2.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa Địa lý 10 và khả năng vận dụng phương pháp N - GQVĐ trong dạy học Địa lý 10 – BCB 43
2.2 Phương pháp tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong dạy học Địa lý 10 – BCB 46
2.2.1 Quy trình của việc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học Địa lý 11 – BCB 46
2.2.2 Cách sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học Địa lý 10 – BCB 51
2.2.3 Một số tình huống có vấn đề được sử dụng trong dạy học Địa lý 10 – BCB 55
2.2.4 Kết hợp linh hoạt phương pháp dạy học N - GQVĐ với các phương pháp dạy học khác 65
2.2.5 Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong học tập Địa lý 10 – BCB 72 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 75
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm 75
3.1.1 Mục đích 75
3.1.2 Nhiệm vụ 75
3.2 Tổ chức thực nghiệm 76
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 76
3.2.2 Cách tổ chức thực nghiệm 76
3.2.3 Nội dung thực nghiệm 76
C Kết luận 97
1 Kết quả đạt được 97
2 Hạn chế 97
3 Một số ý kiến đề xuất 98
Tài liệu tham khảo 99
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước là đào tạo thế
hệ trẻ trở thành con người phát triển toàn diện có nhân cách, phẩm chất đạođức, tư tưởng tốt, thông minh, sáng tạo làm chủ khoa học nhằm đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Mục tiêu đó đã chi phốiviệc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
Đối với môn Địa lý mang đặc trưng riêng là tổng thể các sự vật, hiệntượng, quá trình diễn ra cùng sự sống của con người Do đó việc hìnhthành biểu tượng và khái niệm, các mối liên hệ nhân quả, các quy luật địa
lý đòi hỏi người giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, cóhiệu quả
Hiện nay, theo xu hướng chung của thế giới là đổi mới phương phápdạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủđộng của học sinh Bên cạnh những phương pháp dạy học truyền thống,còn có những phương pháp dạy học tích cực: Đàm thoại, thảo luận, đóngvai, dự án Trong đó có phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề(GQVĐ), đây là phương pháp dạy học tích cực trong những phương pháptích cực, là một phương pháp mang lại hiệu quả cao trong dạy học địa lý.Trong quá trình tiếp cận lý luận và bất đầu vận dụng phương pháp này vàogiảng dạy, cá nhân tôi nhận thấy phương pháp N - GQVĐ là một phươngpháp học sinh làm việc là chủ yếu, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổchức, đưa các em vào tình huống, gây cho các em một sự khó khăn, mâuthuẫn để các em phải thật sự làm việc Đi theo phương pháp này ta vừatrang bị kiến thức cho học sinh, vừa rèn luyện cho học sinh một phươngpháp học tập mới, mang tính hiệu quả cao Kiến thức của học sinh là sảnphẩm mà chính các em tự làm ra chứ không phải là cái mà giáo viên truyềnđạt theo hình thức “đọc – chép”
Mặt khác, chương trình Địa lý lớp 10 là những kiến thức Địa lý đạicương, gồm các khái niệm dưới dạng các vấn đề, chứa đựng các mối liên
Trang 7hệ Địa lý, đặc biệt là mối liên hệ nhân quả Nếu chỉ sử dụng các phươngpháp dùng lời thầy nói, trò chép thì hiệu quả mang lại chưa cao và cũngchưa kích thích hứng thú học tập cho học sinh Phương pháp N - GQVĐ làmột con đường, biện pháp, một cách thức để đưa các em đi sâu vào tìmhiểu, khám phá và giải quyết các THCVĐ mà giáo viên đưa ra.
Tuy nhiên trong thực tế giáo dục, nhiều giáo viên chưa nắm vững cơ
sở lý luận của cũng như các biện pháp kỹ thuật sử dụng phương pháp.Nhận thức được thực trạng cũng như hiệu quả của việc vận dụng phương
pháp N - GQVĐ ở chương trình Địa lý lớp 10 hiện nay Vì vậy “Vận dụng phương pháp “N - GQVĐ” để nâng cao hiệu quả dạy học Địa lý lớp 10 - BCB” là đề tài mà tôi tâm đắc nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và việc vận dụng phương pháp N - GQVĐtrong dạy học địa lý lớp 10 – BCB nhằm góp phần phát huy tính tích cực,chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả của quá trìnhdạy – học bộ môn Địa lý ở trường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài phải hoàn thành nhữngnhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc "Vận dụng phương pháp
N - GQVĐ trong dạy học môn địa lý lớp 10 - BCB”
- Xác định những THCVĐ trong chương trình địa lý lớp 10 - BCB vàxây dựng một số giáo án theo phương pháp N - GQVĐ
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả nghiên cứu
- Đề xuất những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Địa lýTHPT phù hợp với yêu cầu giai đoạn hiện nay
4 Quan điểm nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ đã đưa ra ở trên, đề tài cần vận dụng nhữngquan điểm nghiên cứu sau:
4.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Trang 8Quá trình dạy học là quá trình tạo thành từ nhiều yếu tố có mối liên hệhữu cơ, chặt chẽ với nhau, trong đó mục đích quyết định đến nội dung ; nộidung quyết định đến phương pháp, phương tiện và đến lượt mình, phươngpháp, phương tiện dạy học có tác dụng tích cực đến việc thực hiện mụcđích và nội dung dạy học Toàn bộ hệ thống này lại được đặt trong môitrường khoa học kĩ thuật và môi trường giáo dục, chính vì vậy, trong quátrình nghiên cứu, chúng tôi dưạ vào quan điểm này để nhìn nhận một cáchsâu sắc, toàn diện khách quan về đối tượng cần nghiên cứu.
4.2 Quan điểm logic – lịch sử
Quan điểm logic – lịch sử yêu cầu cần phải xem xét từng vấn đề củaquá trình dạy học trong từng không gian, thời gian cụ thể, trong mối quan
hệ chặt chẽ của những yếu tố tác động Vì vậy trong đề tài chúng tôi đã chú
ý đến đặc điểm tâm sinh lý trong từng thời kì phát triển của học sinh, mốiquan hệ logic trong hệ thống kiến thức Địa lý để có sự vận dụng phù hợp
và hiệu quả
4.3 Quan điểm khách quan và thực tiễn giáo dục
Xuất phát từ yêu cầu giải quyết các vấn đề do thực tế giáo dục của cảnước, của từng địa phương, từng nhà trường đặt ra, từ đó tìm kiếm các giảipháp phù hợp Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu quán triệt các nguyêntắc khách quan, chúng tôi xem xét đánh giá đối tượng dựa trên cơ sở thựctiễn mà chúng tôi đã tiến hành điều tra
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã lựa chọnphối hợp nhiều phương pháp trong đó có hai nhóm phương pháp chủ yếu:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm: Thu thập tài liệu, đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu và xử lýcác số liệu cần thiết
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Điều tra thực tế
- Điều tra tìm hiểu quan sát quá trình dạy học địa lý trên lớp
Trang 9- Tiếp xúc trao đổi với các giáo viên và học sinh phổ thông để xem xéttình hình vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ trong hoạt động dạyhọc của giáo viên và học sinh.
- Dự giờ một số giáo viên ở cả ba khối 10, 11, 12 tập trung nhiều nhất ởlớp 10
5.2.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Để đảm bảo tính khoa học cho đề tài và kiểm tra tính khả thi của đềtài Sau khi xây dựng xong một số giáo án mẫu, tiến hành giảng dạy một sốtiết với sự tăng cường vận dụng phương pháp N - GQVĐ, trong đó có sựkết hợp linh hoạt với các phương pháp khác phù hợp với nội dung bàigiảng Sau đó đưa kết quả cho tổ thực nghiệm đối chứng và rút ra kết luận
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp N - GQVĐ và sự vận dụngphương pháp dạy học N - GQVĐ trong dạy học Địa lý lớp 10
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động học tập môn Địa lý của học sinhlớp 10 - BCB trường THPT Nguyễn Du – Nghi Xuân – Hà Tĩnh và một sốtrường khác
7 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ vào một số nội dung, ởmột số bài tiêu biểu trong chương trình Địa lý lớp 10 - BCB
8 Điểm mới của đề tài
- Đề tài đã xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vậndụng phương pháp N - GQVĐ trong dạy học Địa lý 10 – BCB là phù hợp
- Đưa ra quy trình xây dựng THCVĐ, xây dựng được một số THCVĐ
và cách tổ chức, hướng dẫn học sinh GQVĐ nhằm nâng cao chất lượngdạy học bộ môn
- Đề tài đã kiểm nghiệm được tính khả thi, hiệu quả của việc vận dụngphương pháp N - GQVĐ trong dạy học Địa lý 10 – BCB qua việc thựcnghiệm sư phạm Phương pháp dạy học này thực sự đã kích thích được sựsay mê sáng tạo trong học tập của học sinh và khẳng định được vai trò chỉđạo, cố vấn của thầy trong việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tích cực hoạt
Trang 10động GQVĐ đặt ra trong bài học cũng như trong những tình huống thựctiễn.
Trang 119 Giả thiết khoa học
Nếu đề tài này được nghiên cứu thành công sẽ cho thấy được hiệu quảcủa việc vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ trong dạy học mônĐịa lý lớp 10 - BCB Đồng thời sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập,nghiên cứu và khả năng vận dụng kiến thức cho học sinh cũng như mởđường thành công hơn cho giáo viên trong quá trình đi tìm những phươngpháp dạy học hiệu quả
10 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học N - GQVĐ thực chất là hình thức cải tiến củaphương pháp diễn giảng truyền thống trước đây Để khắc phục việc truyềnthụ tri thức bằng cách đọc giáo trình một cách lan man và tẻ nhạt ở cáctrường đại học, các nhà giáo dục Ba Lan lần đầu tiên đã nêu ra yêu cầu đòihỏi các giáo sư khi giảng bài cần làm cho sinh viên biết trước để họ tiệntheo dõi Đó là nguồn gốc ban đầu của phương pháp dạy học N - GQVĐ.Việc cải tiến này đã đem lại kết quả tốt ở trường đại học và phổ biếnxuống các trường phổ thông
Từ những năm 1960 trong ngành giáo dục nước ta đã làm quen vớithuật ngữ dạy học “nêu vấn đề”; tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa được vậndụng thành thạo và phổ biến trong nhà trường (nói chung) và môn Địa lý(nói riêng) Mặt khác, do chưa khái quát được nội hàm của thuật ngữ và cóphần hiểu chưa đầy đủ nên có ý kiến cho rằng thuật ngữ nêu vấn đề chưathành công Sở dĩ dùng thuật ngữ này có thể gây hiểu lầm là giáo viên nêu
ra vấn đề, học sinh tham gia giải quyết vấn đề Ngày nay, ở nhiều nướctiên tiến trên thế giới người ta có xu hướng dùng thuật ngữ “Dạy học giảiquyết vấn đề” Dù có dùng thuật ngữ nào đi nữa thì bản chất của phươngpháp dạy học trên vẫn có những cơ sở lí luận nhất định làm nền tảng, cómức độ khác nhau từ thấp tới cao, nhằm mục đích phát huy tính tích cựccủa người học Vì vậy nên có thể đưa ra cách gọi chung nhất là “phươngpháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề’’
Hiện nay phương pháp dạy học N - GQVĐ là phương pháp dạy họcđược vận dụng phổ biến không chỉ đối với môn Địa lý mà còn được ápdụng nhiều ở các môn học khác Đây được coi là một phương pháp tổngquát theo hướng tìm tòi, sáng tạo có thể thoả mãn cho nhu cầu nhận thức,
Trang 12đem lại hứng thú học tập cho học sinh Vì thế phương pháp dạy học N GQVĐ đã được các tác giả trong và ngoài nước ở các lĩnh vực khác nhauquan tâm.
là toàn bộ các hành động tổ chức các THCVĐ, biểu đạt (nêu ra) các vấn đề(tập cho học sinh quen dần để tự làm lấy công việc này), chú ý giúp đỡ họcsinh những điều kiện cần thiết để GQVĐ, kiểm tra các cách giải quyết đó
và cuối cùng chỉ đạo quá trình hệ thống hoá và củng cố các kiến thức tiếpthu được
- A.M Machiuskin với “Các tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học” đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề cốt lõi của dạy học N -
GQVĐ đó là các tình huống có vấn đề Ông đã trình bày một hệ thống kháiniệm cơ bản liên quan đến THCVĐ và đưa ra một số quy tắc chung củaviệc xây dựng các THCVĐ trong dạy học Lý thuyết của ông về THCVĐtrong tư duy và trong dạy học là những cơ sở lý thuyết của dạy học N -GQVĐ
- I.Ialecne với “Dạy học nêu vấn đề” cũng đặc biệt quan tâm tới
THCVĐ Ông cho rằng THCVĐ là một khâu quan trọng của dạy học N GQVĐ, không có THCVĐ thì không có dạy học nêu vấn đề Ông đã vạch
-ra các dạng dạy học N - GQVĐ trong toàn bộ hệ thống dạy học, định -racác chức năng và các tiêu chuẩn đánh giá của dạy học N - GQVĐ Ôngcũng nêu ra những nhiệm vụ cơ bản và vai trò của giáo viên đối với việcdạy học N - GQVĐ
Ngoài ra phải kể đến các tác giả: A.V Bruslinski với “Tâm lí học tư duy và dạy học nêu vấn đề”; T.V Cudriaxev với “Tâm lý học tư duy kỹ
Trang 13thuật”; T.A Kharlamov với “Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh như thế nào”
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đều xác định nhữngtiêu đề lý thuyết, những cơ sở tâm lý chung của phương pháp N - GQVĐvào thực tiễn dạy học ở các cấp học, góp phần đổi mới phương pháp dạyhọc
Địa lý là môn có nhiều khả năng sử dụng phương pháp dạy học N GQVĐ nên từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu Trong những năm gầnđây phương pháp dạy học N - GQVĐ đang được rất nhiều tác giả quantâm Đó là đóng góp của các tác giả Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc
-trong giáo trình "Lý luận dạy học địa lý" (Nxb ĐHQG Hà Nội, 1993), các
tác giả Đặng Văn Đức - Nguyễn Thu Hằng với cuốn "Phương pháp dạyhọc địa lý theo hướng tích cực", (Nxb ĐHSP, 2003), các tác giả Nguyễn
Đức Vũ - Phạm Thị Sen với tài liệu "Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT" (Nxb Giáo dục, 2004) Và gần đây nhất là giáo trình “Một
số vấn đề trong dạy học địa lý ở trường phổ thông” của tác giả Nguyễn
Trọng Phúc, (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004) Ngoài ra, phương pháp dạy học
N - GQVĐ còn được đặc biệt chú trọng nghiên cứu trong hệ thống cácphương pháp giảng dạy Địa lý KT- XH lớp 11 và được đề cập trong cuốnsách giáo viên Địa lý lớp 11 (Nxb Giáo dục 2006)
Tất cả các tài liệu đó đều đề cập đến vai trò, tác dụng của phươngpháp dạy học N - GQVĐ như một phương pháp có hiệu quả quan trọngkhông thể thiếu trong việc phát triển tư duy, kích thích học sinh suy nghĩ,tìm tòi, phát triển các mối quan hệ nhân quả, biết cách lựa chọn những biệnpháp tối ưu để giải quyết một vấn đề
Trang 14Bên cạnh đó, gần đây đã có một số khoá luận tốt nghiệp đại học đềcập đến việc vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học N - GQVĐ kết hợpcác phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Địa lý KT- XH như đề tài
"Hướng dẫn học sinh hợp tác theo nhóm trong dạy học Địa lý 11 - CCGD" của tác giả Trần Thị Tú Ngọc, "Hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lý lớp 11 - CB" của tác giả Nguyễn Thị Ngân Lan, và đặc biệt tác giả Phùng Thị Hằng với cuốn khoá luận tốt nghiệp đại học đề tài “Vận dụng phương pháp GQVĐ trong dạy học Địa lý lớp 12 – CCGD” đã
nghiên cứu việc vận dụng phương pháp GQVĐ trong dạy học Địa lý lớp
12 – CCGD và đề tài “Vận dụng phương pháp N - GQVĐ để nâng cao hiệu quả dạy học Địa lý lớp 11 – BCB” của tác giả Thái Thị Lý.
Nhìn chung các giáo trình, các tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứukhoa học và khoá luận tốt nghiệp Đại học đã đề cập đến những nét đặctrưng cơ bản, các mức độ của phương pháp dạy học N - GQVĐ và nêu lêncấu trúc của một bài dạy theo phương pháp N - GQVĐ, vai trò, tác dụng, ýnghĩa của phương pháp dạy học N - GQVĐ nhưng chưa có đề tài nào đisâu vào việc vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ cho chương trìnhlớp 10 BCB để khai thác tốt hơn phương pháp dạy học hiệu quả này
Nội dung môn Địa lý lớp 10 là những kiến thức cơ bản về Địa lý tựnhiên và Địa lý KT – XH đại cương, nắm được những kiến thức này sẽ có
ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề để đi sâu tìm hiểu các vấn đề ở lớp trên,các vấn đề diễn ra trên thực tế Vì thế, yêu cầu đòi hỏi phải sử dụng nhữngphương pháp dạy học có hiệu quả trong việc phát triển tư duy sáng tạo, chủđộng, tích cực, tự giác để bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên cho học sinh Dạy học theo phương pháp N - GQVĐ làmột trong những phương pháp phát huy tích cực cho học sinh được đánhgiá cao Nhưng việc nghiên cứu vận dụng cụ thể phương pháp dạy học N -GQVĐ trong dạy học Địa lý lớp 10 BCB đến nay chưa thực được các tácgiả quan tâm Bởi vậy, trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu để vận dụngphương pháp dạy học N - GQVĐ vào dạy học Địa lý 10 - BCB nhằm vànâng cao hiệu quả dạy học Địa lý lớp 10
Trang 1511 Kế hoạch thực hiện đề tài
Bao gồm các bước tiến hành:
* Giai đoạn 1: - Tháng 9 năm 2009:
+ Chọn và nhận đề tài
* Giai đoạn 2: - Tháng 9 đến tháng 12 năm 2009:
+ Sưu tầm, thu thập tài liệu và đọc các tài liệu có liên quan
* Giai đoạn 3: - Tháng 1 năm 2010:
+ Xây dựng đề cương nghiên cứu
* Giai đoạn 4: - Tháng 2 đến tháng 4 năm 2010:
+ Tìm hiểu tình hình vận dụng phương pháp dạy học N
- GQVĐ trong dạy học Địa lý ở các trường phổ thông
+ Soạn giáo án và tiến hành TN sư phạm
* Giai đoạn 5: - Tháng 4 đến tháng 5 năm 2010:
+ Viết khoá luận và bảo vệ đề tài
Trang 161.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1.1 Quan điểm dạy học
Quan điểm dạy học (QĐDH): là những định hướng tổng thể cho cáchành động phương pháp, trong đó sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học
là nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học, những điều kiệndạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của giáo viên vàhọc sinh trong quá trình dạy học QĐDH là những định hướng mang tínhchiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học
1.1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trongNghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1 – 1993), Nghị quyết trung ương 2khoá VIII (12 – 1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (2005), được
cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số
14 (4 – 1999)
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triểnnăng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm côngdân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Chương trình giáo dục phổ thôngban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5/5/2006của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưngmôn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồidưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ
Trang 17năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
1.1.1.3 Một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
- Phương pháp dạy học N - GQVĐ,
- Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ,
- Phương pháp đàm thoại,
- Phương pháp thảo luận,
- Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ,
Vậy "vấn đề" là gì?
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm "vấn đề" Theo ngônngữ thông thường hiểu nôm na "vấn" là "hỏi", "đề" là "đặt ra" Vấn đề làcâu hỏi đặt ra bao hàm cả nghĩa cần giải quyết
Từ điển tiếng Việt đã giải thích: Vấn đề được hiểu như một mâuthuẫn nào đó mà tư duy hay nhận thức cần xem xét, nghiên cứu và giảiquyết
Trong cuốn lý luận dạy học ở trường phổ thông (Tài liệu dịch, NxbGiáo dục, 1980) tác giả M.A Đanilốp và M.N XCatkin có viết: "Vấn đề làbài làm, mà cách thức hoàn thành hay kết quả của nó chưa được học sinhbiết trước, nhưng học sinh đã nắm được những kiến thức và kỹ năng xuấtphát, để từ đó thực hiện sự tìm tòi kết quả hay cách thức hoàn thành bài
Trang 18làm Nói cách khác, đó là câu hỏi mà học sinh chưa biết cách trả lời, nhưng
có thể bắt tay vào tìm kiếm lời đáp"
Tác giả Lê Nguyễn Long trong cuốn "Thử đi tìm những phương phápdạy học hiệu quả" đã nói đến khái niệm "vấn đề" hay câu hỏi (bài toán)hiểu như một mâu thuẫn mà tư duy (nhận thức) phải giải quyết "Ở đâukhông có vấn đề thì ở đó không có tư duy" Tư duy chỉ xuất hiện khi cótình huống vấn đề cần giải quyết Tuy nhiên một vấn đề nào đó có đượccon người tư duy, ý thức hay không thì còn phụ thuộc vào nhiều điều nhưđặc điểm tâm lý và xã hội của con người
Như vậy, các cách tiếp cận trên rất khác nhau nhưng tựu trung lại thìkhái niệm vấn đề được hiểu như một mâu thuẫn nhận thức và cần thiết phảivượt qua, hay nói cách khác vấn đề xuất hiện khi con người đã ý thức được
sự cấp bách của việc khắc phục mâu thuẫn trong sự vật khách quan để thúcđẩy sự phát triển của sự vật
1.1.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học N - GQVĐ
Phương pháp dạy học N - GQVĐ (prolem posing and solving) haydạy học GQVĐ (problem solving method), hoặc dạy học nêu vấn đề(problem based learning), là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra trướchọc sinh một vấn đề hay một hệ thống những vấn đề nhận thức có chứađựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinhvào THCVĐ, kích thích các em tự giác, có nhu cầu mong muốn GQVĐ tức
là làm cho các em tự giác trong việc dành lấy kiến thức một cách độc lập.Như vậy điểm mấu chốt ở phương pháp dạy học N - GQVĐ là ở chỗlàm thế nào để xuất hiện THCVĐ, tức là làm thế nào để tạo ra một trạngthái tâm lí mà trong đó học sinh tiếp nhận mâu thuẫn khách quan, khó khăngặp phải trên bước đường nhận thức như là mâu thuẫn nội tại của bản thân,
bị day dứt bởi mâu thuẫn đó và có ham muốn giải quyết
1.1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ
Phương pháp dạy học N - GQVĐ là phương pháp dựa trên những quyluật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, cónhững nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Cách tốt nhất để hiểu là làm.Chính vì thế, dạy học theo phương pháp tìm tòi không có gì tốt hơn đưa
Trang 19chính học sinh vào cuộc tìm tòi có hiệu quả của nhà khoa học, tức làchuyển hoá sự tìm tòi thành phong cách cá thể của học sinh theo conđường tựa như con đường mà loài người đã theo để khám phá, kiếm tìm và
đã vật chất hoá thành các phát minh, phát kiến
Bản chất của phương pháp dạy học N - GQVĐ tạo nên một chuỗinhững “tình huống có vấn đề”, “tình huống học tập” và điều khiển học sinhgiải quyết các vấn đề nhận thức Sau đó đi đến những kết luận cần thiếttrong nội dung học tập
Vì thế, dạy học theo phương pháp dạy học N - GQVĐ đặc trưng ở sựhiện diện ở hai yếu tố: THCVĐ và định hướng để GQVĐ Nhờ vậy, nóđảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học, phát triểnnăng lực tư duy sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học
1.1.4 Những nét đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học N GQVĐ
-1.1.4.1 Đặc trưng cơ bản của dạy học N - GQVĐ
- Tình huống có vấn đề (THCVĐ)
Theo các nhà tâm lí học, con người chỉ bắt đầu tư duy khi tích cực nảysinh tư duy tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắcphục, một THCVĐ
C.L.Robinstein đã nhấn mạnh rằng tư duy chỉ bắt đầu nơi xuất hiệnTHCVĐ Nói cách khác, ở đâu không có vấn đề là ở đó không có tư duy
Tư duy sáng tạo luôn bắt đầu bằng THCVĐ THCVĐ luôn luôn chứa đựngmột nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắccần tháo gỡ Do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết THCVĐ
sẽ là tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới với chủthể
Đặc trưng cơ bản của THCVĐ là lúng túng về lí thuyết và thực hành
để giải quyết vấn đề đó Tức là vào thời điểm đó và vào tình huống đó thìnhững kiến thức và kĩ năng vốn có chưa đủ để tìm ra lời giải THCVĐ xuấthiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của học sinh và tất nhiên việc GQVĐkhông đòi hỏi quá cao đối với trình độ hiện có của học sinh THCVĐ làmột hiện tượng chủ quan, một dạng đặc biệt của sự tác động qua lại của
Trang 20chủ thể và khách thể, được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lí xuất hiện ởchủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện khi giải một bài toán mà việcGQVĐ đó lại cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới chưa hề biếttrước đó.
M.A Machiuskin đưa ra 3 yếu tố cấu thành THCVĐ:
+ Nhu cầu nhận thức hành động của học sinh
Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của đời sống, tự nhiên và xã hội màcon người cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển thì nhận thức là mộtquá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thức vào trong tư duy, quátrình con người nhận ra, biết được và hiểu được thế giới quan hoặc kết quảcủa quá trình đó Còn hoạt động chính là việc làm cụ thể của con ngườinhằm một mục đích nhất định Vì thế, nhu cầu nhận thức hoặc hành động
là sự đòi hỏi tất yếu của học sinh nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết về tưduy, tự nhiên, xã hội để không ngừng vươn lên chiếm lĩnh những tầm caotri thức mới Tuy nhiên, không phải lúc nào ở học sinh cũng xuất hiện nhucầu nhận thức và hành động, tức là phải gợi ý và tạo ra hứng thú thì họcsinh mới có nhu cầu nhận thức và khám phá thế giới quan
+ Sự tìm kiếm tri thức và phương thức hành động chưa biết
Nhu cầu và tìm kiếm là hai khái niệm có liên quan mật thiết với nhau.Muốn gợi ý cho học sinh có nhu cầu học tập địa lí và giải quyết các vấn đềđặt ra phải có tri thức địa lí Lúc nào học sinh cảm thấy thiếu tri thức thìmới có nhu cầu tìm kiếm tri thức và tìm ra những phương thức hành độngmới chưa hề biết trước đó
+ Khả năng trí tuệ của chủ thể được thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực
Khi tạo các THCVĐ giáo viên cần căn cứ vào khả năng trí tuệ củahọc sinh, tức là đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh
Khả năng trí tuệ của học sinh được thể hiện ở kinh nghiệm GQVĐ,năng lực GQVĐ và các thao tác trong công việc GQVĐ
- Tình huống học tập (THHT)
Trang 21Hoạt động học tập được tiến hành trong những tình huống giáo dụchoặc học tập Hoạt động học tập cần được kế hoạch hoá trong chươngtrình, trong đơn vị giảng dạy ứng với một mục tiêu xác định.
THHT gồm 5 bộ phận như sau:
+ Nội dung của môn học hoặc bài học, chủ đề
+ Tình huống khởi đầu
+ Hoạt động trí lực của học sinh khi trả lời câu hỏi
+ Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động
+ Đánh giá kết quả
Trong chương trình giảng dạy ở chỗ nào chưa bao gồm các hoạt độnghọc tập cụ thể thì trong tài liệu hướng dẫn dùng cho giáo viên cần được bổsung Giáo viên cũng có thể tự xây dựng các THCVĐ tạo ra một không khíbất ngờ và ngạc nhiên cho cả tập thể học sinh
1.1.4.2 Quá trình thực hiện phương pháp N - GQVĐ được chia thành những giai đoạn, những bước có tính mục đích chuyên biệt
Có nhiều cách chia bước, chia giai đoạn để GQVĐ:
- Kudriasev chia 4 bước để GQVĐ:
+ Bước 1: Sự xuất hiện của chính vấn đề và những kích thích đầutiên thúc đẩy chủ thể GQVĐ
+ Bước 2: Chủ thể nhận thức sâu sắc và chấp nhận vấn đề cần giảiquyết
+ Bước 3: Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn đề đã được chấp nhận,giải quyết, chứng minh và kiểm tra
+ Bước 4: Tìm được kết quả cuối cùng và đánh giá toàn diện các kếtquả tìm được
- GS.Meier đưa ra 8 bước để GQVĐ:
+ Bước 1: Giải thích các thuật ngữ và đặt vấn đề
+ Bước 2: Thu thập vấn đề thành phần
Trang 22Các thành viên trong nhóm cùng nhau thu thập các vấn đề thành phầnnằm trong tình huống đã biết theo nhận thức của nhóm Tập hợp các vấn
đề được ghi chép lại Nhóm thử xác định rõ hơn tình trạng của vấn đềthuộc tình huống đã nêu Sau khi đã có sự thống nhất về việc xác định vấn
đề sẽ đi các bước tiếp theo
+ Bước 3: Tập hợp các giả thuyết và ý tưởng
Tập hợp các kiến thức sơ bộ, những dự đoán và ý tưởng của nhómthông qua các thẻ ghi chép, bảng lược đồ (suy nghĩ) Lúc này chưa có đánhgiá các ý tưởng đưa ra
+ Bước 4: Sắp xếp hệ thống hoá các giả thuyết và ý tưởng
Nhóm sắp xếp các nội dung và các ý tưởng đã được đề xuất theonguyên tắc tự chọn Từ đó sẽ chọn ra những phương diện có ý nghĩa đốivới vấn đề
+ Bước 5: Xác định mục đích học tập cần đạt được
Xác định nội dung nào đã biết, những nội dung nào cần hiểu Cácnhóm cùng nhau xác định rõ những mục tiêu học tập nhằm mở rộng trithức đã có
+ Bước 6: Nghiên cứu nội dung học tập theo từng cá nhân hay nhómtheo kế hoạch thoả thuận
+ Bước 7: Tập hợp và thảo luận các nội dung đã nghiên cứu
+ Bước 8: Nhận xét rút kinh nghiệm về quá trình nghiên cứu nộidung, tiến trình phương pháp làm việc, quá trình làm việc theo nhóm
- John Dewey đề nghị chia 5 bước để GQVĐ Đây là cách chia được vận dụng rộng rãi, phổ biến.
+ Bước 1: Tìm hiểu vấn đề (thông qua bài soạn, học sinh)
+ Bước 2: Xác định vấn đề (cụ thể hoá hơn so với bước tìm hiểuvấn đề, chọn xem bài nào, mục nào có vấn đề để tạo tình huống)
+ Bước 3: Đưa ra các giả thuyết để giải quyết
+ Bước 5: Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất
Trang 23Như vậy học theo phương pháp GQVĐ là hình thức dạy học ở đógiáo viên tổ chức được THCVĐ, giúp học sinh nhận thức nó, chấp nhậngiải quyết và tìm kiếm lời giải trong quá trình “hoạt động hợp tác” giữathầy và trò, phát huy tối đa tính độc lập của học sinh kết hợp với sự hướngdẫn của giáo viên Đặc trưng độc đáo của phương pháp dạy học GQVĐ là
sự tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo
1.1.4.3 Cách tổ chức đa dạng
Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách thức tổ chức đa dạnglôi cuốn người học tham gia cùng tập thể, động não tranh luận dưới sự dẫndắt, gợi mở, cố vấn của giáo viên
- Làm việc theo nhóm nhỏ: Sau khi tạo THCVĐ giáo viên chia lớpthành nhiều nhóm nhỏ, các nhóm trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi
- Thực hiện những kĩ thuật hỗ trợ tranh luận: Ngồi vòng tròn, chianhóm theo các ý kiến cùng loại
- Tấn công não (Brain storming): Đây thường là bước thứ nhất trong
sự tìm tòi GQVĐ Yêu cầu người học suy nghĩ sâu, đưa ra giải pháp tối ưu
- Xếp hạng (Ranking): là một cách kích thích suy nghĩ sâu hơn chonhững tình huống, chi tiết ưu tiên
- Sắm vai (Role play): Luyện tập cho người học tăng thêm khả năngnghĩ ra những hướng khác, và phát triển kĩ năng GQVĐ và giải quyếtnhững xung đột
- Mô phỏng (simulation): Mở rộng hình thức sắm vai, thu hút cả lớpđồng tham gia trên cơ sở học sinh đã hiểu rõ những gay cấn gốc, nhằm giảiquyết những vấn đề phức tạp liên quan đến những con người, những nhómngười có quan tâm đa dạng
- Những chiến lược đưa ra quyết định (decision making strategies):Nhằm tạo ra những kĩ năng cần thiết cho sự tham gia dân chủ trong tươnglai
- Báo cáo và trình bày: Thực hiện nhiều cách làm bằng ngôn ngữ (viếthoặc nói) từ cá nhân trước nhóm nhỏ đến báo cáo của nhóm trước lớp
Trang 241.1.5 Các bước tiến hành (cấu trúc) một bài học dạy theo phương pháp dạy học N - GQVĐ
Để phát huy đầy đủ vai trò của giáo viên trong sự định hướng hànhđộng tìm tòi, xây xựng tri thức của học sinh, cũng như phát huy vai tròtương tác của tập thể học sinh đối với quá trình nhận thức khoa học củamỗi cá nhân học sinh, cấu trúc một bài dạy theo phương pháp dạy học N -GQVĐ thường là như sau:
1.1.5.1 Đặt vấn đề (Xây dựng bài toán nhận thức)
Giai đoạn này gồm các bước:
- Tạo THCVĐ
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Đây là giai đoạn chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hoá tri thức Mụcđích của giai đoạn này là làm xuất hiện trước học sinh mâu thuẫn nhậnthức, giúp học sinh xác định rõ nhiệm vụ nhận thức và tiếp nhận nó, tức làtạo ra nhu cầu nhận thức ở học sinh
Đặt vấn đề trong phần lớn trường hợp là đặt trước học sinh một câuhỏi Tuy nhiên đó không phải là câu hỏi thông thường như trong đàmthoại, mà phải là câu hỏi có tính chất nêu vấn đề Nghĩa là câu hỏi phảichứa đựng:
+ Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, giữa cái đãbiết và cái chưa biết cần phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thứckhoa học đã có và vốn kiến thức thực tiễn đa dạng
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là nghịch lí, một sự kiện bất ngờ, mộtđiều gì không bình thường so với cách hiểu của học sinh và đôi khi thoạtđầu có vẻ như vô lí làm cho học sinh ngạc nhiên
+ Vấn đề đặt ra có thể là một sự kiện, một hiện tượng mới mà họcsinh không thể dùng những hiểu biết của mình, vốn kiến thức cũ để giảithích được
+ Vấn đề đặt ra cũng có thể là mối quan hệ nhân quả cần phải giảiquyết
Trang 25+ Vấn đề còn được đặt ra trong trường hợp học sinh đứng trước sựlựa chọn một phương án giải quyết trong số nhiều phương án, mà xemphương án nào cũng hợp lý.
Tạo THCVĐ có thể có nhiều phương pháp khác nhau, thông thườnggiáo viên dựa vào vốn kiến thức của các em đã học ở bài trước, phần trước,dựa vào kinh nghiệm thực tế và tri thức đã tích luỹ được trong hoạt độngthực tiễn và cuộc sống của các em, dựa vào các tài liệu thực tế để từ đó kếthợp với các kiến thức mới tạo ra các nghịch lí, sự bế tắc hay lựa chọn.Phương pháp tạo THCVĐ như vậy phụ thuộc vào nội dung kiến thức bàigiảng và phương pháp trình bày của bài viết SGK, về hình thức, phần lớncác THCVĐ thường xuất hiện trong các câu hỏi kích thích: Tại sao? Thếnào? Vì đâu? Nguyên nhân nào quan trọng nhất? Vì sao? Các câu hỏi đótất nhiên phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, đồng thời phải chứa đựngphương hướng GQVĐ và thu hẹp phạm vi tìm kiếm câu trả lời, phải phảnánh được tâm trạng ngạc nhiên, xúc cảm mạnh của học sinh khi nhận ramâu thuẫn nhận thức
Để vấn đề trở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đềphải đạt 3 điều kiện sau:
+ Trong nội dung câu hỏi phải có phần học sinh đã biết, phần kiếnthức cũ và có phần học sinh chưa biết, phần kiến thức mới Hai phần nàyphải có mối quan hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phầnchính của câu hỏi, học sinh phải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá
+ Nội dung câu hỏi phải thật sự kích thích, gây hứng thú nhận thứcđối với học sinh Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đềthực tế gần gũi thường lôi cuốn hứng thú học sinh nhiều hơn
+ Câu hỏi phải vừa sức học sinh Các em có thể giải quyết đượchoặc hiểu được cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn cócủa mình bằng hoạt động tư duy Trong các câu hỏi nên hàm chứa phươnghướng GQVĐ, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tìm ra con đườnggiải quyết đúng
THCVĐ có thể được tạo ra vào lúc bắt đầu bài mới, bắt đầu một mụccủa bài, hay lúc đề cập đến một nội dung cụ thể của bài, một khái niệm,một mối quan hệ nhân quả
Trang 26Đặt và tạo THCVĐ có thể bằng cách dùng lời nói, suy luận logic, mô
tả, kể chuyện, đọc một đoạn trích, dùng bản đồ, sơ đồ, tranh vẽ, hình ảnh,băng hình video
1.1.5.2 Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất các giả thuyết để giải quyết vấn đề
- Lập kế hoạch để giải quyết vấn đề
- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
Mục đích của giai đoạn này là đưa học sinh vào con đường tìm kiếmkiến thức thông qua các hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giảiquyết vấn đề Trên cơ sở đó làm quen với các phương pháp nghiên cứukhoa học
Học sinh chỉ có thể rèn luyện được năng lực nhận thức một cách tự lực
và sáng tạo khi các em biết cách nghiên cứu GQVĐ
Giả thuyết khoa học là một hình thức độc đáo của tư duy, khôngnhững bao gồm một số khái niệm, phán đoán, suy lý, giả định mà còn làchính bản thân quá trình đề xuất, chứng minh, phát triển những điều giảđịnh Vì vậy mà những giả thuyết có một vai trò quan trọng trong việc rènluyện tư duy khoa học
Để hướng dẫn học sinh xây dựng giả thuyết, GQVĐ vấn đề đặt ra, đòihỏi phải rèn luyện cho họ kĩ năng quan sát một cách có mục đích các sựvật và hiện tượng trong khuôn khổ của THCVĐ Vận dụng các tri thức đã
có để xây dựng các giả thuyết dựa trên cơ sở quan sát đó ở đây có sự kếthợp linh hoạt giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Trước một THCVĐ học sinh có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau.Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm chứng những giả thuyết đó, cách chọnlọc tốt nhất là suy từ các giả thuyết ra các hệ quả khác nhau để họ giảiquyết đúng đắn
1.1.5.3 Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu
Trang 27- Phát biểu kết luận.
- Đề xuất vấn đề mới
Giai đoạn này học sinh ghi nhận tri thức mới và vận dụng một cáchsáng tạo tri thức đã thu nhận được, có nghĩa là vận dụng để giải quyếtnhững tình huống mới khác với tình huống đã có sẵn, đã gặp phải trongquá trình thu nhận kiến thức
Vì vận dụng vào những hoàn cảnh mới nên kiến thức được củng cốvững chắc và mang lại cho học sinh một mức độ hiểu biết mới về tri thức
đã học, có thể lại dẫn đến việc tìm ra tri thức mới nữa Điều đó góp phầnquan trọng trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh và các em cònđược tập dượt tìm tòi GQVĐ mới
1.1.6 Các mức độ của phương pháp dạy học N - GQVĐ
Muốn phương pháp này đạt hiệu quả cao giáo viên cần lưu ý đến khảnăng nhận thức của học sinh, khả năng tự lập giải quyết các vấn đề và đặcđiểm tâm sinh lý của học sinh, để từ đó có cách thức xây dựng các tìnhhuống thích hợp
Dạy học N - GQVĐ có nhiều mức độ khác nhau, tương ứng với tỉtrọng sự tham gia trực tiếp của giáo viên và học sinh vào các công việc:Đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, GQVĐ và kết luận
Sau đây là các mức độ cụ thể của phương pháp dạy học N - GQVĐ:
- Mức 1:
+ Giáo viên đặt vấn đề, phát biểu vấn đề, nêu cách GQVĐ
+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ theo hướng dẫn của giáo viên.+ Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức độ này học sinh hầu như không động não Có chăng chỉ có vài bahọc sinh khá trong lớp Số còn lại làm gì giáo viên không thể kiểm soátđược Yêu cầu đối với phương pháp dạy học không thể chỉ dừng lại ở đây.Tuy rằng giáo viên đã có ý thức sử dụng phương pháp mới để phát huytính tích cực hoạt động cho học sinh nhưng hiệu quả chưa cao
Trang 28- Mức 2 :
+ Giáo viên đặt vấn đề gợi ý học sinh tìm ra cách GQVĐ
+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ
+ Giáo viên cùng học sinh đánh giá
Mức độ này học sinh đã được hoạt động nhiều hơn, giáo viên thực sự
là người dẫn dắt để học sinh giải quyết các vấn đề Sự giúp đỡ của giáoviên chỉ dừng lại ở mức hướng dẫn
Giáo viên thường sử dụng mức độ 2 khi vốn kinh nghiệm, vốn tri thứccủa học sinh chưa nhiều Trong nhiều trường hợp, mức độ 2 thể hiện đượcquan niệm dạy học hiện đại: học sinh tự mình tìm kiếm tri thức mới.Chẳng hạn trong trình bày bài, hình thành kiến thức mới
- Mức 3:
+ Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống
+ Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh tự lực đề xuất cácgiả thiết và lựa chọn giải pháp
+ Học sinh thực hiện cách GQVĐ với sự giúp đỡ của giáo viên khicần
+ Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Giáo viên chỉ là người nêu tình huống, nhận xét, tổng kết, đánh giá kếtquả, biện pháp giải quyết của học sinh, còn toàn bộ quá trình GQVĐ đều
do học sinh tự suy nghĩ, tìm ra cách GQVĐ thích hợp nhất
Khi sử dụng phương pháp N - GQVĐ đạt đến mức độ 3 thì khả năngsáng tạo, khả năng tự lập và tính tích cực hoạt động của học sinh đã tươngđối hoàn chỉnh Giờ học thực sự là giờ hoạt động của học sinh, học sinh tựlàm việc để tìm ra tri thức mới Học sinh là chủ thể của giờ học Nhưng nóivậy không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của giáo viên mà yêu cầu đốivới trình độ của giáo viên còn phải cao hơn Giáo viên phải tạo được các tìnhhuống kích thích suy nghĩ của học sinh, giáo viên phải biết thiết kế giờ học đểlàm sao không chỉ học sinh khá giỏi mà học sinh yếu kém cũng có hứng thúGQVĐ đó
Trang 29tự giác tích cực Mà ở đây là tự giác khám phá ra các tri thức mới từ cuộcsống Giáo viên phải thường xuyên lưu ý đến việc tổ chức cho học sinhgiải quyết các tình huống ở mức 1, 2 và 3 Từ việc giải quyết các tìnhhuống có sự giúp đỡ của giáo viên học sinh sẽ làm quen dần và hình thànhđược kĩ năng, năng lực GQVĐ, mà cao hơn là đưa ra được các vấn đề và tựGQVĐ vấn đề đó.
Có thể tóm tắt các mức độ của phương pháp dạy học N - GQVĐ theo
b ng sau:ảng sau:
Các mức Đặt vấn đề Nêu giả
thuyết
Lập kế hoạch
Giải quyết vấn đề Kết luận
Trang 30Tóm lại, trong dạy học N - GQVĐ giáo viên đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề rồi giúp học sinh tự lực GQVĐ đặt ra Bằng cách đó, họcsinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp đi tới tri thức
đó, lại vừa phát triển tư duy tích cực sáng tạo và có khả năng vận dụng trithức vào giải quyết tình huống mới
1.1.7 Vai trò của phương pháp dạy học N - GQVĐ
- Học theo cách định hướng GQVĐ giúp cho việc liên hệ và sử dụngnhững tri thức đã có của người học trong việc tiếp thu tri thức mới cũngnhư tạo ra được mối liên hệ giữa tri thức khác nhau mà trước đó thườngđược nghiên cứu độc lập
- Thông qua định hướng GQVĐ người học có thể thường xuyên hơngiải thích được các sự sai khác giữa lý thuyết và thực tiễn, những mâuthuẫn nhận thức được tìm thấy
Trang 31- Sự tham gia tích cực của người học trong quá trình dạy học làmtăng cường niềm vui cũng như khả năng cá thể hoá đối với nội dung họctập do đó làm tăng cường động cơ học tập.
- Dạy học định hướng GQVĐ hỗ trợ việc phát triển năng lực giaotiếp xã hội
- Việc liên hệ với các tình huống thực tiễn trong dạy học N - GQVĐdựa trên cơ sở tâm lí học nhận thức, khả năng vận dụng được tri thức đãhọc càng cao nếu tri thức đó được học qua việc giải quyết các tình huống
và lại được tái hiện sử dụng trong các tình huống thực tiễn
số trường, thậm chí còn xảy ra tình trạng môn Địa lý do các giáo viên Văn,
Sử, Sinh phụ trách giảng dạy Và đối với học sinh thì đây chỉ là một mônphụ, môn học thuộc với hàng loạt số liệu, sự kiện khô khan Để khơi dậyhứng thú của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy – học môn Địa lý, chúng taphải tích cực hơn nữa trong việc áp dụng các phương pháp mới vào dạyhọc, biết cách “thổi hồn vào bài giảng” Vận dụng phương pháp dạy họclấy học sinh làm trung tâm trong đó có phương pháp N - GQVĐ sẽ kíchthích sự sáng tạo, chủ động ở học sinh Như thế hiệu quả học tập sẽ caohơn cũng như sẽ tăng thêm vị thế của môn Địa lý trong nhà trường
Qua tìm hiểu thực tế dạy học Địa lý ở một số trường phổ thông trênđịa bàn 3 tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá chúng tôi nhận thấy các giáoviên đều đã có nhiều đầu tư trong việc đổi mới phương pháp dạy học Địa
lý so với nhiều môn học khác ở trường phổ thông Thông tin từ những sinhviên khoa Địa lý trường Đại học Vinh về thực tập sư phạm trên địa bàn 3tỉnh này cho thấy phần lớn các giờ dạy đều đã sử dụng phương pháp mới,nhưng mức độ sử dụng lại khác nhau Hầu như không còn những giờ Địa
Trang 32lý diễn ra theo cảnh thầy đọc - trò chép hoặc giáo viên giảng giải, thuyếttrình hết mọi vấn đề trong SGK Mức độ tham gia chủ động của học sinhvào quá trình lĩnh hội tri thức ngày càng tăng lên Số liệu dự giờ của 11nhóm sinh viên thực tập với tổng số là 227 tiết học tại các trường phổthông cho thấy như sau:
- Giáo viên giảng bài
- Giáo viên giảng + Đặt câu hỏi
- Giáo viên hướng dẫn
Nguồn: Nhóm sinh viên thực tập lớp 47A – Địa lý - Đại học Vinh
Từ kết quả điều tra cho thấy, hiện nay số lượng tiết học theo kiểu “đọc– chép” với sự chỉ đạo hoàn toàn của GV chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tiết học
có sự tham gia tích cực của HS Chỉ có khoảng 6,6% số tiết học được điềutra sử dụng phương pháp thuyết trình, phần lớn đây là những tiết học cónhiều khái niệm mới và khó nên GV buộc phải cung cấp tri thức cho HSthông qua phương pháp giảng giải Trong khi đó, có đến 63,9% số tiết học
có sự tham gia tích cực của người học Trong những tiết học này, giáo viênkhông trình bày hết toàn bộ kiến thức mà hướng dẫn và gợi mở cho họcsinh đi tìm kiếm kiến thức thông qua việc tư duy và trả lời câu hỏi của GV.Đáng chú ý là có tới 29,5% số tiết học giáo viên sử dụng các phương phápdạy học mới Ở các tiết học này, chúng tôi thấy GV hướng dẫn, nêu lên cáctình huống còn học sinh chủ động làm việc để chiếm lĩnh tri thức mới Các
em tỏ ra rất hứng thú và nhiệt tình khi được học Địa lý theo cách này Kếtquả kiểm tra cũng cho thấy sự tiến bộ và trong tiếp thu kiến thức và rènluyện kĩ năng ở học sinh cao hơn
Từ thực tế đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, chúng
ta thấy đặt ra một số vấn đề cần phải suy nghĩ:
Trang 33+ Vẫn còn tồn tại những giờ Địa lý mà học sinh chưa có sự đóng góptích cực vào quá trình học tập Hứng thú học tập cũng như kết quả học tậpĐịa lý ở các em chưa cao.
+ Đổi mới phương pháp dạy học Địa lý ở trường phổ thông đã nhậnđược sự quan tâm đúng mức Tuy nhiên việc triển khai trong thực tế còngặp nhiều khó khăn; việc đổi mới chỉ có thể được tiến hành ở một số bài,một số chương hay một số phần của tiết học mà giáo viên có khả năng đầu
tư Bộ phận còn lại vẫn phải sử dụng các phương pháp mà giáo viên đóngvai trò chủ yếu
+ Cần phải tăng cường hơn nữa việc phát huy vai trò tích cực của họcsinh trong các giờ học Địa lý; ứng dụng những phương pháp dạy họchướng vào trung tâm là người học theo hướng “người dạy thiết kế, ngườihọc thi công”
1.2.2 Hiện trạng của việc vận dụng phương pháp N - GQVĐ môn Địa lý lớp 10 – BCB ở các trường phổ thông
Phương pháp dạy học N - GQVĐ đã có từ lâu, không phải là vấn đềhoàn toàn mới, nhưng lại là một phương pháp khó, từ trước đến nay chưađược sử dụng nhiều trong dạy học Địa lý ở các trường THPT
Qua quá trình điều tra thực tế tại các trường phổ thông về nhận thứccũng như tình hình vận dụng, chúng tôi đã thu được kết quả sau:
1.2.2.1 Về nhận thức
- Đối với giáo viên trong hoạt động giảng dạy
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực tiễn giảng dạy ở các trườngphổ thông như THPT Nguyễn Du – Hà Tĩnh, THPT chuyên Đại Học Vinh– Nghệ An, THPT Thiệu Hoá - Thanh Hoá, với sự cộng tác của các giáoviên và giáo sinh thực tập môn Địa lý Chúng tôi thấy đa số các ý kiếnđược hỏi đều nhận thức được việc vận dụng phương pháp N - GQVĐ trongdạy học Địa lý là cần thiết và có ý nghĩa, đặc biệt là Địa lý lớp 10 – BCB.Chương trình Địa lý lớp 10 là chương trình có nội dung kiến thức đạicương về tự nhiên và KT - XH Trong mỗi bài học đều có một hoặc nhiềucác khái niệm dưới dạng các vấn đề, bên cạnh đó chương trình Địa lý lớp
10 hầu như bài nào cũng chứa đựng các mối liên hệ nhân quả, mà ta thấy
Trang 34việc sử dụng phương pháp N - GQVĐ để hình thành các mối liên hệ nhânquả cho học sinh sẽ mang lại hiệu quả cao Các giáo viên đã nhận thứcđúng đắn việc vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ trong dạy họcmôn Địa lý 10 như một phương pháp trội có hiệu quả trong việc phát triển
tư duy logic, suy nghĩ, tìm tòi, so sánh, phân tích, phát hiện các mối liên hệnhân quả, biết cách lựa chọn những biện pháp tối ưu Tuy nhiên, tỉ lệ nàymới chỉ chiếm 60,5% số ý kiến được hỏi Vẫn còn một tỉ lệ khá lớn 23,2%
số ý kiến được hỏi cho rằng việc vận dụng phương pháp N - GQVĐ trongdạy học Địa lý có nhiều khó khăn, hạn chế nên rất ít vận dụng Nhữngnguyên nhân chính:
+ Nội dung các bài trong SGK Địa lý ít có sẵn các vấn đề nhận thứcnên đòi hỏi giáo viên phải chú ý tìm tòi, phát hiện một số vấn đề ở từng nộidung cụ thể
+ Giáo viên có thể mất nhiều thời gian trong các khâu từ xác địnhnội dung có vấn đề cho đến tạo tình huống, đưa ra giả thuyết và kết luận
+ Một số học sinh vẫn chưa tự giác, chủ động, độc lập, sáng tạotrong quá trình tham gia lĩnh hội tri thức Địa lý thông qua phương phápdạy học N - GQVĐ
Thậm chí trong thực tế giáo dục, một số giáo viên cho rằng phươngpháp dạy học N - GQVĐ có đặc điểm tương tự như phương pháp đàmthoại gợi mở, cũng bắt đầu một nội dung, một câu hỏi gợi mở Sau đó giáoviên cũng tổ chức cho học sinh tìm kiếm câu trả lời rồi chuyển sang mộtnội dung khác Vì thế, đàm thoại gợi mở trở thành tên phương pháp dạyhọc N - GQVĐ trong hoạt động dạy học của một số giáo viên, tỉ lệ nàychiếm 16,3%
Nhưng, phần lớn các giáo viên THPT đều nhất trí cho rằng môn Địa
lý có nhiều khả năng sử dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ bởi vì bảnthân kiến thức Địa lý đã có thể tạo ra những THCVĐ Song việc chú ý tìmtòi phát hiện và xây dựng những THCVĐ cho nội dung kiến thức cụ thể ởcác bài đang còn hạn chế và là một khâu yếu trong hoạt động dạy học củacác giáo viên Vì thế quá trình vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐtrong dạy học Địa lý vẫn chưa thực sự đem lại kết quả cao
- Đối với học sinh trong quá trình học tập
Trang 35Đặc điểm học sinh lớp 10 ở lứa tuổi từ 15 – 16 tuổi, đây là giai đoạnchuyển tiếp giữa lứa tuổi thiếu niên và thanh niên, các em phát triển khámạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Đây cũng là lứa tuổi các em thíchđộc lập và cũng rất dễ bị kích động trước một hiện tượng nào đó Mặtkhác, học sinh lớp 10 tỏ ra có năng lực nhạy bén và có khả năng phân tích,tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá Các em không thích chấpnhận một cách đơn giản những áp đặt của giáo viên Các em thường không
có hứng thú, mệt mỏi, chán nản trong những tiết học mà chỉ ngồi nghe giáoviên giảng bài và ghi chép Các em thích tự mình tìm tòi suy nghĩ, bày tỏnhững ý kiến riêng biệt của cá nhân về những vấn đề lý thuyết và đặc biệt
là những vấn đề liên quan đến thực tiễn đời sống Vì vậy, nếu chúng takích thích các em phát huy được khả năng của mình trong các giờ học Địa
lý ở chương trình lớp 10 – BCB thì hiệu quả dạy học mang lại sẽ cao Qua việc trao đổi với học sinh về phương pháp dạy học Địa lý Chúngtôi thấy hầu hết các em đều cho rằng: Trong bài nếu giáo viên vận dụngphương pháp dạy học N - GQVĐ để tạo những tình huống gợi cho họcsinh suy nghĩ tìm lời giải đáp, hướng dẫn các em tham gia vào việc N -GQVĐ đặt ra thì các em sẽ có điều kiện không những nắm vững kiến thức
mà còn phát triển tư duy, kích thích các em suy nghĩ, tìm tòi, liên hệ vớithực tế, bên cạnh đó sau khi các em GQVĐ dưới sự hướng dẫn của giáoviên, các em thấy dường như việc tìm ra tri thức ấy có phần đóng gópkhông nhỏ của mình, từ đó sẽ tạo cho học sinh sự vui sướng thích thú saumỗi bài học Sau đó, học sinh có thể kết luận đưa ra những chính kiến, biệnpháp của bản thân để giải quyết một vấn đề, hình thành thái độ và xuhướng hành vi đúng đắn đối với những vấn đề của tự nhiên và KT – XHhiện nay trên thế giới và ở Việt Nam
Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp này vào dạy học ở trường phổthông cũng có nhiều khó khăn do khả năng nhận thức của các em còn hạnchế, chưa quen với phương pháp dạy học mới và khó này nên việc pháthuy tích cực cho các em chủ yếu là qua sự dẫn dắt của giáo viên, giáo viênphải chủ động giải đáp các vấn đề đưa ra Cũng có khi giáo viên không giảiquyết hết mọi vấn đề mà nêu thành câu hỏi để học sinh giải đáp Nếukhông chú ý mức độ tham gia của học sinh, phương pháp dạy học N -GQVĐ lúc đó sẽ trở thành phương pháp đàm thoại gợi mở Một điều đáng
Trang 36chú ý rằng hiện nay rất nhiều giáo viên còn nhầm lẫn giữa phương phápdạy học N - GQVĐ và phương pháp đàm thoại gợi mở Vì vậy trong quátrình học tập thông qua việc sử dụng phương pháp N - GQVĐ trong dạyhọc Địa lý cho các em vẫn còn rất nhiều hạn chế.
1.2.2.2 Về tình hình vận dụng
Chúng tôi đã tiến hành điều tra với 12 giáo viên để nắm tình hình vậndụng phương pháp N - GQVĐ với một số câu hỏi Kết quả điều tra đượcthể hiện như sau:
Câu hỏi 1: Nh ng phững phương pháp nào sau đây được lựa chọn chủ ương pháp nào sau đây được lựa chọn chủng pháp n o sau ây ào sau đây được lựa chọn chủ đây được lựa chọn chủ đây được lựa chọn chủược lựa chọn chủ ựa chọn chủc l a ch n chọn chủ ủ
y u ếu để giảng dạy môn Địa lý lớp 10? đây được lựa chọn chủể giảng dạy môn Địa lý lớp 10? ảng sau: gi ng d y môn ạy môn Địa lý lớp 10? Địa lý lớp 10?a lý l p 10?ớp 10?
Hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ 7 16,6
Thông qua kết quả điều tra ở trên ta thấy rằng hầu hết các giáo viênđược trao đổi đã tiến hành vận dụng phương pháp N - GQVĐ trong quátrình dạy học Địa lý lớp 10 Có tới 23,8% số ý kiến được hỏi lựa chọn dạyhọc N - GQVĐ là phương pháp chính nhằm phát huy tính tích cực, pháttriển tư duy của học sinh Tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ giáo viên lựa chọn cácphương pháp dạy học khác (các phương pháp dạy học khác chỉ chiếm tỉ lệ
từ 2,4% - 21,4%) Điều đó chứng tỏ N - GQVĐ là phương pháp trội đượcvận dụng nhiều nhất trong dạy học Địa lý lớp 10
Câu hỏi 2: Mức độ vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ trong
dạy học môn Địa lý lớp 10 như thế nào?
Mức độ vận dụng phương pháp N
Trang 37Bài nào cũng vận dụng 2 16,6
Như vậy đa số giáo viên được hỏi đều đã vận dụng phương pháp N GQVĐ vào dạy học ở các mức độ khác nhau Phần lớn số ý kiến cho rằngkhông phải bài nào cũng có thể vận dụng dễ dàng mà phải tuỳ thuộc vàonội dung, khả năng tạo được THCVĐ một cách thuận lợi và hiệu quả Cótới 50,0% số ý kiến dựa trên sự chọn lọc nội dung bài học để vận dụngphương pháp dạy học N - GQVĐ, trong khi đó số ý kiến cho rằng bài nàocũng vận dụng chỉ chiếm 16,6% còn ý kiến khi nào tạo được THCVĐ thìvận dụng chiếm 25,0% Đáng chú ý là vẫn có 8,3% ít khi mới áp dụng
-Câu hỏi 3: Thầy (cô) đã vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ
trong dạy học môn Địa lý ở lớp 10 dựa trên cơ sở nào để tạo THCVĐ phùhợp với khả năng nhận thức của học sinh?
Cơ sở vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ Số ý kiến Tỉ lệ
(%)
Đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh 4 28,5
Để vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ vào dạy học, có 14,3%
ý kiến cho rằng căn cứ vào mục tiêu; tức là chỉ áp dụng phương pháp ởnhững phần nào cần chú trọng, cần hướng tới việc yêu cầu hình thành các
kĩ năng tìm tòi, suy nghĩ, phân tích, tổng hợp Có 28,5% số ý kiến vậndụng phương pháp dựa vào đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh, điềunày cũng rất quan trọng trong việc mang lại hiệu quả cao khi vận dụngphương pháp dạy học N - GQVĐ 14,3% chú ý đến thời gian; 7,1% là các
ý kiến khác Đặc biệt có tới 35,7 số ý kiến đã chú ý về tất cả các yếu tố
Trang 38trên, tức là mang lại hiệu quả dạy học thì cần có sự phối hợp tất cả các yếu
tố trên
Câu hỏi 4: Thầy (cô) thường gặp thuận lợi gì trong việc vận dụng
phương pháp N - GQVĐ trong dạy học môn Địa lý lớp 10?
Chương trình Địa lý 10 chứa đựng những khái
Vấn đề đưa ra thu hút được nhiều học sinh tham
Câu hỏi 5: Thầy (cô) thường gặp khó khăn gì khi vận dụng phương
pháp N - GQVĐ trong dạy học môn Địa lý lớp 10?
Nội dung SGK Địa lý 10 ít có sẵn các vấn đề
Một số bài, nội dung phải thay đổi lại cấu trúc
Khả năng GQVĐ của học sinh còn hạn chế 8 21,0Thường phải kết hợp với các phương pháp khác 7 18,4
Về những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng phương pháp GQVĐvào dạy học Địa lý lớp 10, qua điều tra chúng tôi thấy rằng các giáo viênđược hỏi hầu hết đều bày tỏ sự quan tâm đến nội dung chương trình cũngnhư khả năng nhận thức của học sinh Thuận lợi nhiều nhưng khó khăncũng rất lớn Bởi vậy việc vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐtrong dạy học Địa lý lớp 10 như thế nào để có hiệu quả cao thì vẫn đang là
Trang 39một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa, đặc biệt là cần có sự nỗ lực
và tâm huyết của giáo viên
Câu hỏi 6: Khi vận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ cho môn
a lý l p 10 th y (cô) th y thái v k t qu h c t p c a h c sinhĐịa lý lớp 10? ớp 10? ầy (cô) thấy thái độ và kết quả học tập của học sinh ấy thái độ và kết quả học tập của học sinh đây được lựa chọn chủộ và kết quả học tập của học sinh ào sau đây được lựa chọn chủ ếu để giảng dạy môn Địa lý lớp 10? ảng sau: ọn chủ ập của học sinh ủ ọn chủ
nh th n o?ư ếu để giảng dạy môn Địa lý lớp 10? ào sau đây được lựa chọn chủ
Thái độ và kết quả học tập của học sinh Số ý kiến Tỉ lệ %
Học sinh rất hào hứng sôi nổi với những tình
huống do giáo viên đưa ra và giải quyết được vấn
đề thông qua sự hướng dẫn của giáo viên
Thông qua điều tra thực trạng sử dụng phương pháp N - GQVĐ vàodạy học Địa lý - BCB, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề như sau:
- Tại các trường THPT, giáo viên và học sinh đều quan tâm đến việcvận dụng phương pháp dạy học N - GQVĐ để tăng cường hoạt động tíchcực của học sinh trong giờ học Địa lý Mức độ vận dụng tuỳ thuộc vào khảnăng đầu tư của giáo viên, đặc điểm của học sinh và đặc điểm của chươngtrình
- Phương pháp N - GQVĐ là phương pháp dạy học có nhiều ưu điểmtrong việc dạy học Địa lý 10 - BCB Tuy nhiên để vận dụng phương phápnày có hiệu quả còn đòi hỏi sự khắc phục những khó khăn về đặc điểmchương trình, mức độ tham gia của học sinh v.v
Trang 40- Cần phải có những nghiên cứu sâu hơn để tìm ra các hình thức tối ưunhằm vận dụng hiệu quả phương pháp dạy học N - GQVĐ vào dạy học Địa lý.
1.2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên
- Nguyên nhân chủ quan:
Về phía giáo viên: Chất lượng của đội ngũ giáo viên, bên cạnh nhữnggiáo viên dạy giỏi, nhiều kinh nghiệm thì vẫn còn không ít giáo viên chưasay mê nghề nghiệp Việc bồi dưỡng giáo viên về đổi mới các phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh đã được tiếnhành từ nhiều năm nay nhưng nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp
cũ, ngại đổi mới (do tốn nhiều thời gian và công sức) Một số giáo viêntrình độ chuyên môn và khả năng sư phạm còn hạn chế, chưa chuẩn bị kỹbài nên khó đưa ra THCVĐ hay Theo ý kiến của một số giáo viên đưa ra
lý do vì ngoài công việc các cô còn phải lo toan với cuộc sống gia đình nênnhiều khi chưa thật có sự đầu tư dạy học với các phương pháp mới
Về phía học sinh: Phần lớn học sinh chưa thật sự yêu thích môn Địa
lý Tư duy của học sinh chỉ hoạt động tích cực khi được kích thích Màphương pháp của giáo viên không đặt ra cho các em nhu cầu, khát vọngkhám phá cái mới, không tạo ra tình huống học tập cho các em, do đó họcsinh khó có lòng say mê đối với bộ môn Hiện nay tình hình học đối phó làphổ biến
- Nguyên nhân khách quan: Do một số khó khăn về mặt quản lý giáodục, về điều kiện vật chất, phương tiện dạy học Địa lý, hạn chế về mặt thờigian
Cụ thể:
+ Về mặt quản lý giáo dục: Ta thấy đổi mới phương pháp dạy họcđang là một tất yếu và ngày càng cấp bách Nhưng kết quả đạt được lạikhông được như mong muốn Nguyên nhân đầu tiên thuộc về các nhà quản
lý giáo dục, họ đã chưa thực hiện một cách chưa triệt để trong việc lên kếhoạch, đường lối, chủ trương, quan điểm chỉ đạo cũng như cách thức tiếnhành (thông qua việc kiểm tra, đôn đốc giáo viên) Bên cạnh đó các nhàquản lý chưa có cơ chế để hỗ trợ, khuyến khích giáo viên đổi mới phươngpháp