1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài Lịch sử THCS (1)

37 358 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Khoa Học Bước Đầu Thử Nghiệm Việc Đổi Mới Phương Pháp Giờ Thảo Luận Ở Các Học Phần Lịch Sử Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Lan A
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI KHOA HỌCBƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIỜ THẢO LUẬN Ở CÁC HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM CHƯƠNG TRÌNH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS Tác giả đề tài: Bùi Thị Lan

Trang 1

ĐỀ TÀI KHOA HỌC

BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

GIỜ THẢO LUẬN Ở CÁC HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM

CHƯƠNG TRÌNH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS

Tác giả đề tài: Bùi Thị Lan

Đối với môn lịch sử nói chung và các học phần lịch sử Việt nam nói riêng, học sinhcần nắm rõ những giai đoạn kế tiếp nhau Qua đó, nêu được nội dung chủ yếu vàmối quan hệ giữa các giai đoạn Không có cái nhìn bao quát chung sẽ không hiểuđược bối cảnh lịch sử, tiền đề, điều kiện, mối quan hệ nhân quả của các sự kiệnđang học mà chỉ nắm sự kiện một cách rời rạc

Vì vậy, muốn học sinh nắm chắc kiến thức lịch sử người giáo viên phải giúp họcsinh hệ thống được chương trình

Lý luận dạy học nói chung:

Phương pháp dạy học lịch sử là một khoa học Nó nghiên cứu và phát triển quy luật

Trang 2

của quá trình dạy học lịch sử Từ thực tiễn của việc dạy học lịch sử hiện nay vànhững thành tựu của lý luận dạy học hiện đại, việc phát hiện những quy luật củaquá trình dạy học lịch sử dựa trên cở sở khách quan của những mối quan hệ giữaviệc giáo dưỡng – giáo dục và phát triển tư duy của học sinh Cốt lõi của quá trìnhdạy học là việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo những nguyên tắckhoa học giáo dục.

Đối với sinh viên Cao đẳng sư phạm, ngoài giờ học trên lớp quá trình nhận thứccòn được tiếp tục ở những giờ tự học Vì vậy, giáo viên cần có sự hướng dẫn đểhoạt động nhận thức trong giờ tự học có hiệu quả hơn

Những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước:

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt nam (1986) đã coiGiáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu.Đại hội cũng đềcập đến vấn đề cải tiến chất lượng dạy học, bồi dưỡng nguồn lực con người

Nghị quyết T.Ư 2 của Đảng (1998) cũng đã dành riêng chủ đề về Giáo dục –Đaòtạo

Từ đó vấn đề dạy học ngày càng được sự quan tâm của các cấp, các ngành Các bộmôn khoa học xã hội trước đây bị xem nhẹ, dần dần được đề cao để tránh sự họclệch của học sinh.Càng ngày vấn đề giáo dục càng được yêu cầu đào tạo toàn diện.Năm 1996 Hội giáo dục lịch sử-Khoa sử Đại học quốc gia Hà nội-Trung tâm nộidung phương pháp thuộc Viện khoa học giáo dục cũng đã tổ chức hội thảo về “Đổimới dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”.Thực hiện việc đổi mới phươngpháp dạy học lịch sử là chúng ta đã góp phần vào việc thực hiện đường lối củaĐảng trong chiến lược phát triển đất nước lấy con người làm trung tâm

b Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn dạy học lịch sử trong những năm gần đây:

Trong hơn 15 năm công tác trong ngành giáo dục,tại trường chuyên nghiệp,tôi đãchứng kiến nhiều hội nghị,nhiều biện pháp được đưa ra để nhằm nâng cao chất

Trang 3

lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh Như Hội thảo khoa học,Hộinghị nghiên cứu khoa học,các phong trào thao giảng,dự giờ,thi giáo viên giỏi, khenthưởng giáo viên và học sinh xuất sắc…

Những việc làm đó giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn,tạo cho học sinh

có ý thức phấn đấu, nhưng thực tế nhà trường chưa có hội nghị khoa học bàn vềviệc đổi mới phương pháp dạy học.Đặc biệt là vấn đề tự học, tự nghiên cứu của họcsinh sinh viên Trong xu thế giáo dục hiện nay,nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dụccho rằng nên sử dụng phương pháp “học sinh nói nhiều giáo viên nói ít” Theo tôi

để thực hiện phương châm đó, cần có biện pháp để các em tự nghiên cứu nhiềuhơn

Về phân phối chương trình:

Một thực tế nữa là bộ môn lịch sử Việt nam ở chương trình đào tạo giáo viênT.H.C.S trình độ C.Đ.S.P là một môn chuyên ngành nhưng thời gian dành cho nórất ít Ví dụ: Năm thứ nhất, học kì I, lớp sử- giáo dục công dân có 28 đơn vị họctrình nhưng chỉ có 2 học trình phần lịch sử thế giới (không có lịch sử Việt nam).Học kì II, có 27 đơn vị học trình thì chỉ có 2 đơn vị học trình lịch sử Việt nam và 2đơn vị học trình lịch sử thế giới Trong khi đó,các môn đại cương,không chuyênđều chiếm từ 4 đến 5 đơn vị học trình / một môn Sang năm thứ II, (học kì III vàIV) số đơn vị học trình lịch sử Việt nam và thế giới có tăng nhưng không đáng kể Chính điều này cũng được các sinh viên phản ánh là “môn chuyên ngành chúng emđược học ít thời gian quá”

Vì vậy, giáo viên muốn nói nhiều cũng không có thời gian để nói

Thực tế học tập của học sinh, sinh viên trường CĐSP Đắc Lắc

Thường thường mỗi giáo viên khi lên lớp tiết đầu của một học phần đều giới thiệucho học sinh về tài tiệu tham khảo Trong đó, phần cơ bản là giáo trình Ngoài racòn có nhiều tài liệu tham khảo khác Nhưng thực tế các em chỉ tiếp cận được vớimột cuốn giáo trình, vì nhiều lí do:

Trang 4

-Sinh viên không có tiền mua sách

-Sách thư viện cho mượn hạn chế

-Thời gian đọc sách ở thư viện ít, vừa do các em cókhi bận những công việc khácnhưng cũng có phần do các em chưa ý thức được sự quan trọng của vấn đề tự học,

Có thêm vốn kiến thức để sau này ra trường các em giảng dạy đỡ vất vả hơn

Trong quá trình thực hiện, do khả năng và thời gian hạn chế, chắc chắn sẽ khôngtránh khỏi thiếu sót, sai lầm, rất mong được sự góp ý chân thành của các đồngnghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn

Cụ thể là học phầnViệt Nam III

Trang 5

nhiều tư liệu sử dụng cho việc giảng dạy.

4 Phương pháp nghiên cứu

Qua nhiều năm giảng dạy phần lịch sử Việt Nam, tôi đã cố gắng nghiên cứu kỹchương trình phân phối của Bộ GD-ĐT, sau đó tôi tiến hành sưu tầm nhiều tài liệu

để bổ sung vào bài dạy Trong quá trình dạy học, tôi thường kiểm tra lại kiến thứccủa học sinh Mặc dù đã giới thiệu tài liệu, yêu cầu các em tham khảo trước nhưngcác em vẫn nắm kiến thức rất mơ hồ Vì vậy, tôi đã suy nghĩ chọn ra biện phápkhắc phục tình trạng trên Khi hình thành ý tưởng về việc đổi mới giờ thảo luận, tôi

đã chọn lựa kiến thức sưu tầm được, chọn ra một số câu hỏi

Sau khi giảng xong một giai đoạn, tôi yêu cầu các em chuẩn bị câu hỏi thêm ở nhà,đến giờ thảo luận cho các em tiến hành theo phương pháp mới (tôi bắt đầu thựchiện phương pháp này ở đầu năm học 2001-2002)

Sau buổi thảo luận, tôi có tham khảo ý kiến của học sinh về hai phương pháp thảoluận (cũ và mới), sau đó, tôi tập hợp các tư liệu, chọn tên đề tài vào đầu năm học2001-2002

Phần đề cương được hoàn thành vào tháng 1/2002 Sau khi hoàn thành đề cương,tôi tiến hành nghiên cứu và biên soạn đề tài này Dự định hoàn thành bản chính vàotháng4/2002 Trong quá trình thông qua đề cương tôi đã nhận được dự góp ý rấtchân tình của các đồng nghiêph, đặc biệt là ý kiến của các đồng chí: Lê Xuân Diệu– tổ trưởng chuyên môn-thạc sĩ, Nguyễn Trung Hòa – chủ nhiệm khoa-thạc sĩ, LêXuân Mợi – phó chủ nhiệm khoa, và đồng nghiệp- thạc sĩ Lê Hải Thanh Rất mongđược các đồng chí tiếp tục đóng góp ý kiến cho đề tài của cá nhân tôi Tôi xin chânthành cảm ơn các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

B PHẦN NỘI DUNG I.Về việc thực hiện phương pháp cũ

1 Cách tiến hành

Theo “chương trình đào tạo giáo viên THCS trình độ CĐSP”, ban hành theo quy

Trang 6

định số 3086 GD-ĐT ngày 27/7/1996, và quy định số 3637 / GD-ĐT ngày 30 / 8 /

1996 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT (áp dụng từ năm học 1996-1997), thì sau mỗihọc phần lịch sử Việt Nam thường có các tiết thực hành gồm nội dung tham quan

di tích lịch sử địa phương và các tiết Xêmina Ví dụ:

+Học phần lịch sử Việt Nam I: có 4 tiết Xêmina, trong chương trình của bộ yêu cầuthảo luận chủ đề sau:“những chiến thắng tiêu biểu của nhân dân ta trong hơn nghìnnăm đấu tranh chống Bắc thuộc”

+Học phần lịch sử Việt Nam II: có 8 tiết Xêmina, trong chương trình của bộ yêucầu thảo luận hai chủ đề sau:

Chủ đề 1: Sự hình thành, phát triển, suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam (4tiết)

Chủ đề 2: Những thắng lợi tiêu biểu của nhân dân ta trong dựng nước và giữ nước

ở các thế kỷ X-XVIII (4 tiết)

+Học phần lịch sử Việt NamIII: có 12 tiết Xêmina, chương trình của Bộ yêu cầuthảo luận những chủ đề sau:

Chủ đề 1: Chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa của thực dân Pháp ở Việt Nam

và tác động của chúng đến tình hình kinh tế xã hội nước ta (3 tiết)

Chủ đề 2: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt nam đầuthế kỉ XX:xu hướng bạo động của Phan Bội Châu – xu hướng cải lương của PhanChu Trinh (3 tiết)

Chủ đề 3: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam Nguyễn AiQuốc với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 (3 tiết)

Chủ đề 4: Cách mạng Tháng Tám (chuẩn bị, thời cơ…) và sự ra đời của nước ViệtNam Dân chủ cộng hòa1945 (3 tiết)

+Học phần lịch sử Việt Nam IV: có 9 tiết Xêmina, chương trình của bộ yêu cầuthảo luận 3 chủ đề sau:

Chủ đề 1: Hậu phương kháng chiến chống Pháp1945-1954 (3 tiết)

Trang 7

Chủ đề 2: Vai trò của hậu phương kháng chiến chống Pháp và hậu phương miềnBắc đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc (3 tiết)

Chủ đề 3: Những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của 30 năm chiến tranh giảiphóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc 1945-1975 (3 tiết)

+Học phần lịch sử Việt Nam V: có 4 tiết Xêmina, chương trình của Bộ yêu cầuthảo luận chủ đề sau: “về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo địnhhướng Xã hội chủ nghĩa từ 1975 đến nay

Với những nội dung trên, giáo viên thường tiến hành bằng cách: sau mỗi học phầnhoặc giữa học phần, khi giáo viên đã giảng được một khối kiến thức nhất định, giáoviên thường yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị một nội dung trên để các tiết sau thảoluận tại lớp Sau khi nhận được đề tài thảo luận, các em phải tìm tài liệu tham khảo,soạn thành một bài viết khoảng từ 3 đến 4 trang Đến tiết thảo luận, có thể là giáoviên hoặc một học sinh chủ trì buổi thảo luận Sau khi người chủ trì nêu tên đề tài,các học sinh phát biểu ý kiến của mình dựa theo phần đã chuẩn bị Do nhận thứckhác nhau nên ý kiến của các em có thể không giống nhau Nhiều vấn đề được đưa

ra tranh cãi và cũng có những vấn đề không đi đến thống nhất được Khi buổi thảoluận kết thúc, giáo viên là người có vai trò kết luận, giải thích để củng cố lại mộtlần nữa kiến thức đã học, đồng thời thống nhất lại quan điểm mà các học sinh nêu

ra để đi đến kết luận cuối cùng về một vấn đề Sau đó, giáo viên đánh giá chấtlượng giờ thảo luận, góp ý, phê bình những điều cần thiết mà giáo viên phát hiệnqua buổi thảo luận

2 Ưu điểm và hạn chế

a Ưu điểm

Trước hết, với sự chuẩn bị ở nhàhọc sinh có điều kiện tiếp xúc tài liệu, tìm hiểu

nghiên cứu sâu hơn một vấn đề

Với thời gian 3 đến 4 tiết để xoay quanh một vấn đề, các học sinh được đưa ra ýkiến theo cách suy nghĩ của mình Nếu chưa thỏa đáng thì được sự giải quyết của

Trang 8

bạn bè và thầy, cô giáo Vấn đề đó sẽ được sáng tỏ.

Như vậy, với cách làm trên học sinh sẽ có điều kiện tham khảo tài liệu nghiên cưúthêm và qua buổi thảo luận sẽ hiểu sâu hơn một vấn đề trong khối kiến thức đãđược học Từ đó, giúp các em đánh gía nhân vật, sự kiện một cách chính xác hơn

Cả lớp soạn chung một đề nên có thể bổ sung cho những thiếu sót mà người này,người khác không nhận ra Những sinh viên có ý thức học tập tốt thường cố gắngsưu tầm tư liệu làm sáng tỏ vấn đề mà giáo viên yêu cầu thảo luận, trăn trở vớinhững nội dung, thắc mắc chưa giải quyết được

b Hạn chế

Nếu nghiên cứu nội dung các chương trong các học phần, chúng ta sẽ thấy các đềtài thảo luận chưa bao quát hết chương trình

Ví dụ 1: ở phần lịch sử Việt Nam I có 3 chương

Chương I: thời kì nguyên thủy

Chương II: thời kì bắt đầu dựng nước

Chương III: thời kì đấu tranh giành độc lập, chống Bắc thuộc (từ 179 TCN đến938)

Với đề tài thảo luận đã nêu ở trên (phần I.1) thì nội dung thảo luận chỉ nằm ởchương III

Ví dụ 2: Ơ phần lịch sử Việt Nam III, là học phần có nhiều đề tài thảo luận nhất.Chương trình lịch sử Việt Nam III được chia thành 5 chương

Chương I: Việt Nam từ cuộc nổi dậy của nhân dân chống thực dân Pháp xâm lượcđến khi nhà nước phong kiến đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp (1858-1884)

Chương II: Việt Nam từ cuộc nổi dậy của phái chủ chiến ở kinh thành Huế đến khikết thúc phong trào Cần vương chống Pháp (1885-1896)

Chương III: Việt Nam từ sau phong trào Cần vương đến khi kết thúc chiến tranhthế giới thứ nhất (1897-1918)

Chương IV: Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi một Đảng cách

Trang 9

mạng của giai cấp vô sản ra đời (1919-1930)

Chương V: Việt Nam trong cuộc vận động giải phóng dân tộc giành chính quyền(1930-1945)

Như vậy, với 4 chủ đề trên (phần I.1), nội dung thảo luận chỉ xoay quanh chươngIII,IV,V Còn chương I và II không có đề tài nào để thảo luận

Ví dụ 3: Cũng tương tự như trên, học phần lịch sử Việt Nam IV có 3 đề tài thảoluận với nội dung 7 chương

Chương I: Bước đầu công cuộc xây dựng chính quyền, đấu tranh chống ngoại xâm,nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)

Chương II: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp 1950)

(1946-Chương III: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp(1950-1953)

Chương IV: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc 1954)

(1953-Chương V: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ – ngụy ở miềnNam (1954-1965)

Chương VI: Nhân dân 2 miền Nam – Bắc trực tiếp đương đầu với đế quốc Mĩ xâmlược (1965-1973)

Chương VII: Cả nước dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành toàn vẹnlãnh thổ Tổ quốc (1973-1975)

Ba đề tài thảo luận của phần lịch sử Việt Nam IV (phần I.1) thì hai đề tài xoayquanh phần hậu phương kháng chiến Đề tài còn lại mạng tính bao quát nhưng chỉthể hiện được những chiến thắng có ý nghĩa chiến lược của ta Còn âm mưu thủđoạn của Pháp, của Mĩ rất nham hiểm, thâm độc Đặc biệt là đối với đế quốc Mĩtrong quá trình leo thang chiến tranh ở Việt Nam thì không có thời gian cho họcsinh thảo luận đề tìm hiểu sâu hơn Vì theo tôi, muốn thấy được chiến thắng của ta

Trang 10

là to lớn thì trước hết phải hiểu được âm mưu của kẻ thù như thế nào Vì kẻ thùcàng mạnh thì chúng ta càng khó khăn, mà càng khó khăn thì chiến thắng của tacàng oanh liệt.

Như vậy, hạn chế thứ nhất của cách làm cũ là không bao quát được chương trình.

Trong các đề tài thảo luận, chỉ có đề tàiở phần lịch sử Việt Nam II là có thể hoàntoàn thực hiện theo phương pháp này Vì 2 đề tài đó đã bao quát được toàn bộchương trình

Ở cách làm này, như trên đã nói, một số học sinh có ý thức học tập tốt thường cốgắng sưu tầm tư liệu làm rõ vấn đề, trăn trở với những nội dung chưa giải quyếtđược Nhưng không phải sinh viên nào cũng có ý thức học tập tốt Một số em vì lí

do này hay lí do khác mà không chịu tìm đọc tài liệu, soạn bài ở nhà Giáo viên vàban cán sự lớp cũng không giám sát được việc này Nếu giáo viên yêu cầu phải cóbài chuẩn bị ở nhà nộp lên để lấy điểm học trình thì các em đối phó bằng cách chépbài của bạn Vả lại, những em đó cũng thường nghĩ nếu mình không có ý kiến trong

giờ thảo luận cũng không sao Do đó, hạn chế thứ hai của cách làm này là chưa

phát huy hết tính tích cực của học sinh, sinh viên, tạo điều kiện cho một số em châylười, ỷ lại Nếu những em có ý thức kém chiếm số đông thì giờ thảo luận sẽ khôngsôi nổi, không khí tẻ nhạt Vì không qua tìm tòi nghiên cứu nên bản thân học sinh

đó không cảm thấy vấn đề được sáng tỏ như những bạn khác và giờ thảo luận đốivới những em đó trở nên vô vị

Cũng chính vì những lẽ trên nên đến giờ thảo luận do cảm thấy không bổ ích, các

em đã tự ý hoặc xin phép nghỉ học Do đó, hạn chế thứ ba của cách làm này là

không thu hút được đông đảo học sinh tham gia

Với cách làm này, chúng ta chỉ cho các em thảo luận một số chủ đề gợi ý của Bộnhư đã trình bày ở trên Vì vậy, nó chỉ đi sâu vào một vấn đề chứ không tìm hiểuđược nhiều nội dung khác

Vì những hạn chế trên, bản thân đã cố gắng suy nghĩ tìm cách thay đổi phương

Trang 11

pháp Xêmina cho có chất lượng Vì theo tôi, những giờ giảng của giáo viên chỉgiúp các em nắm được nội dung, kiến thức cơ bản (do giờ lý thuyết của mônchuyên ngành rất hạn chế-như đã trình bày ở trên) Những kiến thức trong tài liệutham khảo, hoặc vấn đề đánh giá, nhận xét một sự kiện, một nhân vật ít có thời gianhướng dẫn cho các em Vì vậy, chỉ có giờ Xêmina mới giúp các em hiểu sâu hơn vềkiến thức lịch sử đã học, biết đánh giá, nhận xét, rút ra quy luật lịch sử.

Vì những trăn trở đó, tôi mạnh dạn thử nghiệm việc đổi mới phương pháp giờ thảoluận ở chương trình lịch sử Việt Nam

II Phương pháp mới

1 Nhận thức về vấn đề đổi mới

Khi nói về vấn đề đổi mới của bộ môn lịch sử, có thể một số người cho rằngchỉ cần đổi mới về nội dung kiến thức, vì nó liên quan tới quan điểm chính trị.Nhưng cần phải hiểu rằng nội dung cũng liên quan đến phương pháp Phương phápdạy học lịch sử cũng mang tính chính trị, tính thờiđại nhất định Nói về đổi mớicũng không có nghĩa là phải thay đổi tất cả cái cũ bằng cái mới Vì như vậy, nóchưa thể hiện được mối quan hệ giữa đổi mới với kế thừa và phát triển Vì nhậnthức đó, nên ở phạm vi đề tài này tôi chỉ mới thử nghiệm việc đổi mới Trong cácgiờ thảo luận ở các lớp, chưa phải hòan toàn đoạn tuyệt hẳn với phương pháp cũ,những ưu điểm vẫn được giữ lại và phát huy

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng trong giảng dạy nên sửdụng phương pháp giáo viên nói ít, học sinh nói nhiều Theo sự nhận thức của tôi,thì đổi mới phương pháp dạyhọc lịch sử là phải lấy học sinh làm trung tâm Vì vậy,chúng ta cần có biện pháp phát huy tính tích cực của các em, tạo cho các em có thóiquen tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn Đến các giờ lên lớp, phải để cho các em thểhiện nhiều hơn quan điểm, nhận xét, đánh giá của mình về các sự kiện và nhân vậtlịch sử Cho nên việc đổi mới này cũng giúp các em đạt được điều đó

Theo Các-mác, “lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng bắt đầu từ

Trang 12

đó” (Các-mác, Ang-ghen – tuyển tập - tập một Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội1962) Vì vậy, hiểu theo một nghĩa rộng việc giáo dục có từ lâu Ngày nay, lịch sử

đã được thừa nhận ý nghĩa, tác dụng của nó đối với giáo dục thế hệ trẻ Càng đi vàotương lai, con người càng phải nắm vững kiến thức lịch sử dân tộc và lịch sử thếgiới để gíup họ trở thành người chủ có kiến thức trên hành tinh chúng ta Khi hiểuđược lịch sử, họ sẽ hiểu sống và lao động để làm gì Đặc biệt đối với lịch sử dân tộc

ta, một dân tộc có lịch sử từ lâu đời, có nhiều truyền thống quý báu Những bài họclịch sử sẽ giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp Từ trước đến nay,lịch sử vẫn bị coi là một môn phụ Vì vậy, người giáo viên cần nhận thức đúng, sâusắc ý nghĩa, vị trí của bộ môn lịch sử trong chương trình giáo dục

Nhận thức là một quá trình từ không biết đến biết, từ hiểu sơ lược đến hiểusâu sắc Quá trình dạy học là quá trình nhận thức, nó không chỉ có nội dung mà còn

có phương pháp Việc đổi mới nội dung phải gắn liền với đổi mới phương pháp Vìvậy giáo viên cần giúp học sinh để cho biết, biết để “ tường” tức là hiểu cặn kẽ,chính xác về lịch sử, từ đó hình thành tư duy lịch sử Như Bác Hồ đã nói:

“ Dân ta phải biết sử ta

Cho tương gốc tích nước nhà Việt Nam”

Trang 13

thuẫn giữa vốn hiểu biết của mình, những kiến thức đã học với cái chưa biết vàkiến thức mới để buộc các em có sự suy nghĩ tìm tòi lĩnh hội kiến thức mới.

Ở khâu này, giáo viên có thể giới thiệu tài liệu cho các em tham khảo Ví dụ:học phần lịch sử Việt nam III tài liệu tham khảo gồm:

-Đại cương lịch sử Việt Nam - tập 2 - Lê Mậu Hãn - NXB giáo dục-1997-Almanach những nền văn minh thế giới - NXB văn hóa thông tin, Hànội1997

-Thời thanh niên của Bác Hồ - Hồng Hà- NXB thanh niên 2000

-Thành Thái người điên đầu thế kỉ - Thái Vũ - NXB văn học- 1996

-Từ điển nhân vật lịch sử Việt nam - Nguyễn Quang Thắng - NXB văn hóa1997

-Phan Bội Châu - thân thế và sự nghiệp -Thế Nguyên - NXB văn hóa thôngtin 1997

-Việt sử giai thoại - Nguyễn Khắc Thuần - NXB giáo dục 1997

-Danh tướng Việt Nam - Nguyễn Khắc Thuần - NXB giáo dục 2000

-Sức mạnh giữ nước vĩ đại của dân tộc-NXB sự thật 1999

-Những mẩu chuyện lịch sử-Trần Quốc Vượng-NXB giáo dục 1976

-Nguyễn Trường Tộ-Thanh Đạm-NXB văn nghệ 1998

-Tìm hiểu về tổ tiên ta đánh giặc-NXB quân đội 1972

-Những vì sao đất nước-Quỳnh Cư-NXB thanh niên 1985

-Kể chuyện 4000 năm giữ nước-Nguyễn Nhã, Huy Cần-NXB quân đội 1977

Để giờ thảo luận thành công và nhằm nâng cao chất lượng học tập của họcsinh, ở khâu này giáo viên cũng chuẩn bị một số câu hỏi và đáp án

Ví dụ: Học phần lịch sử Việt Nam III (1858-1945) có thể hỏi những câu sau:Câu hỏi 1: Vì sao thực dân Pháp chọn Đà Nẵng làm nơi tấn công đầu tiên?Đáp án: -Liên quan đến hiệp ước Véc-xây (năm 1787 Nguyễn Anh và thựcdân Pháp đã kí với nhau hiệp ướcVéc-xai Nội dung chủ yếu là Pháp giúp Nguyễn

Trang 14

Anh đánh Tây Sơn, Nguyễn Anh nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng)

-Đà Nẵng là cổ họng kinh thành Huế (cách 100 km)

-Là vị trí quan trọng về quân sự và thương mại

-Có hậu phương trù phú là Nam-Ngãi

-Có đường bộ thông sang vương quốc Lào và Campuchia

-Cửa cảng rộng, tàu bè lớn vào dễ dàng

-Thực hiện kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh

Câu hỏi 2: Sau thất bại ở Đà Nẵng, vì sao Pháp chon Gia Định?

Đáp án: -Sài Gòn có triển vọng trở thành trung tâm của một nền thương mạirộng lớn

-Giàu sản vật

-Chiếm Gia Định sẽ gây sức ép với triều đình Huế bằng cách cắt đường vậnchuyển lương thực

-Có thể bành trướng sang Cao Miên (Campuchia)

Câu hỏi 3:Lí do nào đưa nhà Nguyễn đến việc kí kết các điều ước với Pháp(1858-1884)?

Đáp án: -Thực trạng nước ta lúc đó: có hai trận tuyến đấu tranh vũ trang làchiến tranh nông dân chống phong kiến và chiến tranh chống áp bức dân tộc

-Thái độ của nhà Nguyễn: sợ dân hơn sợ giặc nên đã từ bỏ trận tuyếnđấu tranh dân tộc để giải quyết chiến tranh nông dân

-Kiên quyết cự tuyệt những đòi hỏi Duy Tân xứ sởCâu hỏi 4:Tại sao nói việc nước ta rơi vào tay thực dân Pháp thuộc tráchnhiệm của nhà Nguyễn?

Đáp án: -Khách quan: Pháp mạnh nhưng cũng có lúc yếu (năm 1860 điềugần hết quân sang Trung Quốc, năm 1871 công xã Pa-ri bùng nổ)

-Chủ quan: +trước khi Pháp xâm lược, các chính sách của nhàNguyễn đã làm cho nền kinh tế nước ta suy yếu

Trang 15

+từ 1858 đến 1884, nhân dân ta ở Bắc và Nam Kì luônluôn nổi dậy chống Pháp.

+triều Nguyễn không đứng cùng mặt trận với nhân dân,thực hiện chính sách cố thủ thủ để hòa chủ hòa đầu hàng Pháp

Câu hỏi 5: Điểm tiến bộ trong cải cách của Nguyễn Trường Tộ ?

Đáp án: -Đưa ra hàng loạt sáng kiến Duy tân đất nước gồm nhiều lĩnh vực:kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục

+Về kinh tế: liên quan đến nhiều mặt: công nghiệp, nông nghiệp, thươngnghiệp, tài chính, thuế khóa, đê điều, xây dựng thành phố, giao dịch kinh tế, kí hợpđồng với nước ngoài Tận dụng tiềm năng trong nước để phát triển công nghiệp,nông nghiệp, mở rộng quan hệ với nước ngoài “ Phải tận dụng cái trí tuệ đã cócủadân tộc để phát kiến những cái bí tàng ở trên trời cũng như ở dưới đất”

+Về chính trị: phê phán ý thức hệ nho giáo, lên án chủ trương dẫm chân tạichỗ của triều đình Tự Đức

+Về văn hóa: đề nghị lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ chính Ong là người làngười đầu tiên đưa ra sáng kiến dùng tiếng Việt Nam trong trường học Việt Nam,trong báo chí Việt Nam và trong khoa học Việt Nam

Đề cao việc học tiếng nước ngoài để đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh tế vàngoại giao

+Về ngoại giao-quân sự: Chủ trương giữ nước, giữ nhà

Cương quyết trong việc tự cường, tự lập để nuôi thực lực (lương thực, thựcphẩm, tiền, khí giới, thành trì)

Tự lập về ngoại giao Sử dụng cái thế cạnh tranh và mâu thuẫn giữa các nướcphương Tây để tìm cách chống “ ngoại địch” chứ không nên chỉ bó hẹp ngoại giaomột cách không bình đẳng với Pháp

Câu hỏi 6: So sánh, tìm ra điểm khác nhau giữa hai phong trào đấu tranh tiêubiểu chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX?

Trang 16

Đáp án: -Về mục đích: phong trào Cần Vương nổ ra nhằm mục đích giúp vuacòn phong trào Yên Thế nổ ra để tự vệ.

-Về thành phần lãnh đạo: ở phong trào Cần Vương là các văn thân sĩphu còn phong trào Yên Thế là nông dân

-Về quy mô: phong trào Cần Vương gồm nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra

lẻ tẻ khắp cả nước còn phong trào nông dân Yên Thế chỉ là một cuộc khởi nghĩalớn nổ ra ở một vùng

Câu hỏi 7: Điểm khác nhau cơ bản giữa phong trào đấu tranh chống Phápcuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX?

Đáp án: -về hệ tư tưởng: phong trào cuối thế kỉ XIX mang tư tưởng phongkiến còn đầu thế kỉ XX mang tư tưởng dân chủ tư sản

Câu hỏi 8: Cùng vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sảnnhưng Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có khác nhau về chính kiến.đó là nhữngnội cung gì?

Đáp án:- về xu hướng: Phan Bội Châu chủ trương bạo động còn Phan ChuTrinh chủ trương cải lương

-về phương pháp: Phan Bội Châu muốn đánh đuổi ngay giặc Pháp, đợi khi nướcnhà độc lập rồi sẽ mưu tính việc khác, còn Phan Chu Trinh muốn trước hết đánh đổngay phong kiến để làm cơ sở xây dựng dân quyền Như vậy, Phan Bội Châu muốnlợi dụng quân chủ còn Phan Chu Trinh muốn đánh đổ quân chủ, đề cao quyền dân.Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật đánh đổ Pháp mà phục lại Việt còn Phan ChuTrinh muốn dựa vào Pháp để đánh đổ vua mà cải cách cho dân Việt

Như vậy, giữa hai cu, Phan Chu Trinh là người đến với tư tưởng dân chủ tưsản sớm hơn

Câu hỏi 9: So với hệ tư tưởng phong kiến thì tư tưởng dân chủ tư sản xuấthiện đầu thế kỉ XX là một tư tưởng tiến bộ Tại sao những hoạt động theo tư tưởng

đó lại thất bại?

Trang 17

Đáp án: -Hệ tư tưởng đó không còn phù hợp nữa (ở Việt Nam giai cấp tư sản

ra đời sau giai cấp công nhân, vừa ra đời lại bị Pháp chèn ép nên yếu ớt cả về kinh

tế lẫn chính trị, vì vậy không thể lấy hệ tư tưởng tư sản làm đại diện)

-Những lãnh tụ của phong trào này (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh)

đã không nhìn nhận đúng kẻ thù, chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của cáctầng lớp nhân dân lao động…

Câu hỏi 10:Những công lao của Nguyễn Aí Quốc đối với cách mạng ViệtNam từ 1911 đến 1945? Công lao nào là quan trọng nhất? Tại sao?

Đáp án: -Công lao thứ nhất: tìm ra cho cách mạng Việt Nam con đường cứunước đúng đắn (1911-1920)

-Công lao thứ hai: truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam(1921-1929)

-Công lao thứ ba: thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, vạch ra đườnglối cho cách mạng Việt Nam (1930)

-Công lao thứ tư: giải phóng dân tộc Việt Nam (1941-1945)Trong các công lao trên, công lao thứ nhất là quan trọng nhất, vì:

Muốn truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam thì trước hết phải thấmnhuần tư tưởng đó Muốn thành lập Đảng cộng sản cũng phải truyền bá tư tưởngchủ nghĩa Mác vào Việt Nam Muốn giải phóng dân tộc phải có đường lối đúngđắn Tất cả những công lao về sau đều được bắt đầu từ việc tìm ra con đường cứunước đúng đắn

Câu hỏi 11: Con đường tìm chân lý của Nguyễn Ai Quốc có gì khác so vớicác vị tiền bối?

Đáp án: -Khác nhau về tư cách trước khi ra đi: Phan Bội Châu ra đi với tưcách người yêu nước chứ không có tư cách người lao động còn Nguyễn Ai Quốc có

cả hai

-Khác nhau về hướng đi: Phan Bội Châu đi sang phương Đông còn

Trang 18

Nguyễn Ai Quốc đi sang phương Tây.

-Khác nhau về mục đích: Phan Bội Châu sang Nhật để cầu viện cònNguyễn Ai Quốc sang phương Tây để tìm hiểu

-Khác nhau về xác định kẻ thù: Phan Bội Châu coi đế quốc Nhật làbạn, đế quốc Pháp là thù Phan Chu Trinh coi đế quốc Pháp là bạn, phong kiến làthù Nguyễn Ai Quốc nói “ nhân dân lao động tất cả các nước đều là bạn, chủ nghĩa

đế quốc ở đâu cũng là thù”

-Khác nhau về đường lối: Phan Bội Châu tìm cách giải phóng dân tộcchứ không đề cập đến giải phóng giai cấp Nguyễn Ai Quốc đề cập cả hai vấn đềtrên

-Khác nhau về lực lượng: các vị tiền bối chỉ đề cập đến tầng lớp trêncủa xã hội còn Nguyễn Ai Quốc xác định công nhân, nông dân là động lực chínhcủa cách mạng

-Về vị trí của cách mạng Việt Nam: các vị tiền bối chưa đề cập đến vấn đề liên kếtvới cách mạng thế giới, Nguyễn Ai Quốc xác định cách mạng Việt Nam là một bộphận của cách mạng thế giới

-Về phương pháp cách mạng: các vị tiền bối chủ trương bạo động ám sát cá nhânhoặc cải lương còn Nguyễn Ai Quốc chủ trương đấu tranh bằng bạo lực cách mạngcủa quần chúng theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin

-Về hệ tư tưởng: các vị tiền bối vận động cứu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản,còn Nguyễn Ai Quốc tuyên truyền cứu nước theo tư tưởng cách mạng vô sản

Câu hỏi 12: Tại sao nói Đảng Cộng sản Việt nam ra đời là bước ngoặt quantrọng của cách mạng và giai cấp công nhân Việt Nam?

Đáp án: -Đảng ra đời đã vạch ra đường lối đúng đắn, từ đó cách mạng ViệtNam chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối

-Đảng ra đời xây dựng được lực lượng mới cho cách mạng mà chủyếu là liên minh công nông

Ngày đăng: 28/08/2013, 19:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Phương pháp giảng dạy lịch sử - Phan Ngọc Liên-NXB giáo dục -1998 2.Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy “ học sinh là trung tâm” - hội giáo dục lịch sư - NXB Đại học quốc gia Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: học sinh là trung tâm
Nhà XB: NXB giáo dục -19982.Đổi mới việc dạy
3.Đại cương lịch sử Việt Nam - Đinh Xuân Lâm - NXB giáo dục 1999 Khác
4.Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884 - Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn - NXB thành phố Hồ Chí Minh 2000 Khác
5.Lịch sử Việt Nam quyển 3 tập 1,2,3 - Hoàng Văn Lân, Nguyễn Văn Kiêm, Hồ Song - NXB giáo dục 1979 Khác
6.Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Gíap - NXB chính trị quốc gia 2000 Khác
7.Almanach - những nền văn minh thế giơi - nhiều tác gia - NXB văn hóa thông tin 2997 Khác
8.Lịch sử 12, tập 2-Đinh Xuân Lâm chủ biên-NXB giáo dục 2000 Khác
9.Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam - Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn BáThế - NXB văn hóa 1997 Khác
10.Lịh sử Đảng cộng sản Việt Nam - Ban nghiên cứu lịch sử Đảng TW -NXB sự thật 1981Và nhiều sách báo, tạp chí khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w