1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kịch về đề tài lịch sử qua “nợ non sông” của phạm quang long

87 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 759,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu và tiếp cận được với những vở kịch lịch sử trong Nợ non sông của tác giả Phạm Quang Long sẽ giúp cho giáo viên và học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về thể loại kịch cũng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

DƯƠNG THỊ HUYỀN

KỊCH VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ QUA “NỢ NON SÔNG”

CỦA PHẠM QUANG LONG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ THỊ THANH NGA

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Luận văn tốt nghiệp Kịch về đề tài lịch sử qua “Nợ non sông” của Phạm Quang Long là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của

Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Nga

Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 30 tháng 03năm 2018

Tác giả luận văn

Dương Thị Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Nga, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này!

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Phạm Quang Long, người đã giúp

đỡ, cung cấp cho tôi những văn bản kịch

Tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học xã hội, Khoa Văn học và các thầy giáo, cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu!

Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2018

Tác giả luận văn

Dương Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KỊCH VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ 1986 ĐẾN NAY 6

1.1 Những quan niệm mới trong sáng tác về đề tài lịch sử của Văn

học Việt Nam từ năm 1986 đến nay 6 1.2 Thân thế và sự nghiệp sáng tác của Phạm Quang Long 14

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG VÀ XUNG ĐỘT CƠ BẢN TRONG

TẬP KỊCH LỊCH SỬ “NỢ NON SÔNG” CỦA PHẠM QUANG

LONG 23

2.1 Cảm hứng cơ bản trong tập kịch lịch sử “Nợ non sông” 23 2.2 Xung đột cơ bản trong tập kịch lịch sử “Nợ non sông” 39

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT VÀ GIÁ

TRỊ THANH LỌC TRONG TẬP KỊCH LỊCH SỬ “NỢ NON

SÔNG” CỦA PHẠM QUANG LONG 53

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tập kịch sử “Nợ non sông”

của Phạm Quang Long 53 3.2 Giá trị thanh lọc trong tập kịch lịch sử “Nợ non sông” của Phạm

Quang Long 68

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đời sống văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung ở nước ta những năm đầu thế kỉ XXI chứng kiến sự phát triển nở rộ về đề tài lịch sử Nguyên nhân là đầu thế kỉ XXI, dân tộc đã trải qua nhiều mốc thời gian, sự kiện lịch

sử quan trọng, đồng thời quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng khiến vấn

đề bản sắc dân tộc đứng trước những thách thức cần khẳng định Mặt khác, những năm đầu thế kỉ XXI vận mệnh dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ trước nguy cơ lớn mạnh của các cường quốc bên ngoài thường xuyên gây sức ép điều đó đã làm trỗi lên ý thức dân tộc và cao hơn là chủ nghĩa dân tộc trong văn học Sự trở lại đề tài lịch sử với những sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân… đã tạo nên những dấu ấn đổi mới về đề tài, thi pháp và thể loại riêng của tiểu thuyết lịch

sử Sáng tác kịch về đề tài lịch sử trong thế kỷ XXI dường như khá hiếm hoi, với một vài vở đã dàn dựng trên sân khấu của Nguyễn Quang Lập, Doãn Hoàng Giang do xu thế truyền hình, điện ảnh đang lấn sân và thay thế dần sân khấu – một thể loại vàng son của thế kỷ trước Điều đáng nói là kịch bản

đã được in ấn, xuất bản và dàn dựng trên sân khấu trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, ta chỉ thấy có kịch bản của nhà viết kịch, nhà văn hóa Phạm

Quang Long Tập kịch Nợ non sông của ông được xuất bản năm 2014 và ra mắt trong hội thảo: “Kịch Nợ non sông và những bi kịch lịch sử” tại Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV) vào ngày 17/6/2014 Buổi hội thảo này đã thu hút nhiều nghệ sĩ, nhà phê bình, nhà nghiên cứu sân khấu, văn học tới tham dự và đánh giá Tập kịch bản dày dặn cho thấy một tâm huyết nung nấu nhiều năm và sức sáng tạo của người cầm bút đã ở độ tuổi xế chiều và kinh qua nhiều thăng trầm của lịch sử đất nước

PGS.TS Phạm Quang Long từng nhiều năm tham gia quản lí trong nhiều cương vị khác nhau: giảng viên môn Lý luận văn học, chủ nhiệm khoa

Trang 6

Ngữ văn, Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV(1996- 2001), Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà

Nội (2005-2013) Việc ông xuất bản tập kịch Nợ non sông khiến nhiều người

không khỏi bất ngờ và cảm thấy ngạc nhiên Những kinh nghiệm từ nghề nghiệp, cuộc sống mà ông trải nghiệm và tích lũy từ vai trò nhà giáo, nhà lí luận, nhà quản lí, nhà văn hóa… đó là những chất liệu để ông viết những vở kịch của mình Dù là nhà viết kịch không chuyên, nhưng cùng lúc, ông cho ra đời một tập kịch bản dày dặn, trong số đó lại có những vở đã được dàn dựng thành công trên sân khấu, được đánh giá cao bởi giới chuyên môn Trong số các vở kịch in trong tập sách, có bốn vở viết về đề tài lịch sử Sáng tác về đề tài lịch sử luôn là một vấn đề khó khăn, thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch, nhà làm phim, không chỉ riêng ở nước ta, mà còn ở nhiều nơi trên thế giới Bởi thế, trong nhiều năm qua, ở nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật,

từ văn chương, sân khấu đến điện ảnh người đọc đều có phản hồi là sức phản ánh quá yếu kém, không tương xứng với hiện thực lịch sử Vậy khó khăn trong việc này là nằm ở đâu? Phải chăng là nó nằm ngay trong suy nghĩ của

người trong cuộc, suy nghĩ của chính những nhà văn Đến với Nợ non sông

của tác giả Phạm Quang Long có thể khai mở cho chúng ta đôi điều suy nghĩ

về sự đột phá trong tư duy người cầm bút

Nợ non sông là tập kịch gồm bảy vở: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ,

Nợ non sông, Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Người trở về, Quỷ mặt người, Quan thanh tra Trong số bảy vở kịch trên như đã nói có bốn vở viết

về đề tài lịch sử là: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nợ non sông và

Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh Những kịch bản này không chỉ đơn giản

là sự tiếp nối một đề tài truyền thống mà còn cho thấy những quan điểm mới

về phương pháp sáng tác, góc nhìn mới về những sự kiện, nhân vật quen thuộc từ điểm nhìn văn hóa thế kỷ XXI

Thực tế bấy lâu nay, lịch sử luôn bị coi là quá cứng nhắc, khô khan theo

Trang 7

các định hướng của chính trị Gần đây, môn Lịch sử trong trường phổ thông không được học trò quan tâm, ưa thích, thậm chí Bộ giáo dục đã tìm cách tích hợp môn lịch sử vào các bộ môn khác Do chỉ quan niệm có một lịch sử duy nhất trong sách giáo khoa, vì thế mà nó “bất di bất dịch” Người ta quên rằng, vẫn tồn tại một dòng chảy lịch sử trong cuộc sống bình dị hàng ngày, trong nhân dân, là “dã sử” nhưng vẫn chân thực và gần gũi Đó là lịch sử sống trong những hình tượng văn học Bốn vở kịch lịch sử của tác giả Phạm Quang Long là minh chứng cho kiểu lịch sử ấy Những vở kịch mang đến cho người đọc một cái nhìn mới về các nhân vật, cách tư duy mới về các sự kiện liên quan đến các nhân vật lịch sử

Hơn nữa, hiện nay ở trường THPT những nhân vật lịch sử như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Hồ Chí Minh, Phan Thanh Giản đang được xem xét với tư cách vừa là nhân vật lịch sử vừa là nhân vật hư cấu văn học Việc

nghiên cứu và tiếp cận được với những vở kịch lịch sử trong Nợ non sông

của tác giả Phạm Quang Long sẽ giúp cho giáo viên và học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về thể loại kịch cũng như về các nhân vật lịch sử trong con mắt người đương đại

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, người viết luận văn mong muốn có

được một công trình nghiên cứu khoa học về tập kịch Nợ non sông của nhà

viết kịch Phạm Quang Long để đánh giá đúng những giá trị nghệ thuật của tác phẩm, sự đóng góp của tác giả với một thể tài có sức sống mãnh liệt trong lòng văn học dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tập kịch Nợ non sông của Phạm Quang Long được xuất bản tháng 6

năm 2014 Đến nay hầu hết các vở này đã được trình diễn trên sân khấu và đã mang đến thành công cho tác giả Sức hấp dẫn của tập kịch đã lôi cuốn các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích, mổ xẻ, đánh giá

Ngày 17/6/2014 tại buổi lễ ra mắt Trung tâm nghiên cứu và Ứng dụng

Trang 8

Văn hóa Nghệ thuật của Trường ĐHKHXH&NV, Trung tâm đã tổ chức hội

thảo “Kịch Nợ non sông và Những bi kịch lịch sử” đã giới thiệu tập kịch bản

văn học và thảo luận xung quanh nội dung cuốn sách, phong cách tác giả cũng như nhiều vấn đề về thể tài bi kịch lịch sử

Tháng 6/2014 trên trang Thông tin điện tử (UNV) Trường

ĐHKHXH&NV, nhà giáo Trần Hinh có bài nghiên cứu “Nợ non sông – một

sự phá cách về thể tài kịch lịch sử của Phạm Quang Long” Trong bài nghiên cứu này, nhà giáo Trần Hinh đã bày tỏ có những quan điểm của mình về cách viết kịch lịch sử, cách nhìn mới về các nhân vật và các sự kiện lịch sử của tác giả Phạm Quang Long

Tuy nhiên, đó chỉ là những bài phê bình ngắn trên báo chí, chưa khai thác hết giá trị tác phẩm từ góc độ lí luận thi pháp cũng như thực tiễn của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nhà viết kịch Phạm Quang Long đang là người tiếp nối đề tài lịch sử trong một thể loại văn học rất khó đó là thể kịch với một góc nhìn đương đại về quá khứ

Nghiên cứu kịch về đề tài lịch sử qua Nợ non sông của Phạm Quang Long

sẽ giúp cho người đọc thấy rõ hơn về đặc điểm kịch lịch sử và sự tiếp nối đề tài này trong thế kỉ XXI, cũng như những đổi mới tư duy nghệ thuật viết kịch Đồng thời, nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ những đóng góp của nhà văn về phương diện nghệ thuật cho thể loại kịch Việt Nam hiện đại Hơn nữa, với đề tài này, người nghiên cứu mong muốn đưa đến một hướng tiếp cận tác phẩm văn học kịch mới khoa học, phù hợp với trình độ của học sinh THPT

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kịch là một loại hình văn học (bên cạnh loại hình tự sự và trữ tình) nhưng kịch lại gắn liền với sân khấu Bởi kịch chỉ thực sự được khai thác một cách trọn vẹn khi được trình diễn trên sân khấu Tuy nhiên không phải bất cứ một kịch bản nào cũng được dàn dựng trên sân khấu Là một thể loại văn học

có đầy đủ những đặc trưng riêng trong cấu trúc hình tượng, trong phương thức

Trang 9

biểu hiện, trong ngôn ngữ nghệ thuật, người ta vẫn có thể tìm hiểu tác phẩm kịch bằng cách đọc kịch bản văn học Vì thế, mỗi tác phẩm kịch được xem xét với hai tư cách, vừa là một thể loại văn học vừa có tư cách là loại hình nghệ thuật độc lập – sân khấu Với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chủ

yếu tìm hiểu, đánh giá về kịch lịch sử qua Nợ non sông của Phạm Quang Long

với tư cách là kịch bản văn học trong sự đối sánh với kịch kịch sử giai đoạn trước đó

Trong nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 4 vở kịch

lịch sử trong tập Nợ non sông đó là: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nợ

non sông và Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp và linh hoạt những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học

- Phương pháp phân tích cấu trúc thể loại

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với khuôn khổ, yêu cầu của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi hi vọng sẽ có một số những đóng góp trong việc tìm hiểu kịch về đề tài lịch sử qua chùm

kịch Nợ non sông của Phạm Quang Long Từ đó, luận văn đánh giá những

đóng góp của tác giả trong việc tiếp nối đề tài lịch sử trong văn học thế kỉ XXI, qua đây để thấy được cái nhìn đương đại về quá khứ

Đồng thời, luận văn sẽ góp phần giúp giáo viên và học sinh trong Trường THPT có hướng tiếp cận mới về thể loại kịch theo đặc trưng thể loại

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được chia thành 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Kịch về đề tài lịch sử từ năm 1986 đến nay

Chương 2: Cảm hứng và xung đột cơ bản trong tập kịch lịch sử “Nợ non sông”

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật và giá trị thanh lọc trong tập kịch

lịch sử “Nợ non sông”

Trang 11

Chương 1 KỊCH VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

1.1 Những quan niệm mới trong sáng tác về đề tài lịch sử của văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay

1.1.1 Bối cảnh thời đại và nhu cầu đổi mới của văn học sau năm 1986

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến chống đế quốc Mĩ đã kết thúc thắng lợi Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới – thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước Tuy nhiên, từ năm 1975 đến năm 1985, đất nước ta lại gặp những thử thách, khó khăn mới, nhất là khó khăn về kinh tế chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới Nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ

VI (năm 1986) đã chỉ rõ “đổi mới là nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với phương Tây.Trước đây, do chiến tranh và giới hạn của hệ tư tưởng nên sự giao lưu văn hóa còn hạn chế, chủ yếu là giao lưu với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa Ngày nay trong xu thế toàn cầu và sự bùng nổ của công nghệ thông tin sự giao lưu và những ảnh hưởng của văn hóa, văn học thế giới đến đời sống văn hóa, văn học của nước

ta Đất nước bước vào công cuộc đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học

Công cuộc đổi mới của văn học đã đi qua nhiều chặng đường Từ năm

1975 đến năm 1986 là giai đoạn “nhận đường” đầy trăn trở và còn nhiều lúng túng Nhưng từ năm 1986 về sau với chủ trương đổi mới chung, việc đổi mới văn học đã trở thành ý thức của đông đảo những hoạt động văn học Có thể

Trang 12

nói, một trào lưu văn học đổi mới đã hình thành, mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận giữa cái cũ và cái mới Chính trong thời gian này, không chỉ trong văn học mà cả trong sân khấu, điện ảnh đã xuất hiện một số cây bút nổi tiếng mới

mẻ như Trần Văn Thủy, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Quang Thân…Sự xuất hiện của các nhà văn với những tác phẩm mới chứng tỏ các văn nghệ sĩ nước

ta luôn tiềm ẩn sự nhạy cảm với cái mới, họ luôn ý thức được trách nhiệm của

cá nhân người cầm bút đối với nhân dân, đất nước và đã góp phần không nhỏ của mình vào chủ trương đổi mới của văn học nước nhà Từ đây, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, cập nhật hơn những vấn đề của

đời sống hằng ngày “Chưa bao giờ chỉ trong một thời gian ngắn, ta lại thấy

xuất hiện nhiều tác phẩm được dư luận chú ý nhiều như vậy” [18; 110] Thời

kì mới đặt ra nhiều vấn đề cần phân tích, lí giải là mảnh đất màu mỡ cho tiểu thuyết Những tên tuổi quen thuộc từ trước như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Tô Hoài…vẫn tiếp tục sáng tác, có nhiều đóng góp mới Thế hệ những nhà văn kế tiếp như Thái Bá Lợi, Nguyễn Quang Lập,

Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Trần Thùy Mai…tỏ ra năng nổ hơn

Thơ ca cũng có một sự khởi sắc trong các sáng tác của Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Dư Thị Hoàn, Phùng Khắc Bắc…Nếu thơ ca thời kì chiến tranh ca ngợi sức mạnh cộng đồng, giàu tính chiến đấu thì thơ ca thời kì đổi mới có khuynh hướng hướng nội, trở về tiếng nói nội tâm của mỗi cá thể Cái riêng tư trở thành đối tượng miêu tả có nghĩa xã hội với giá trị nhân bản Nghiên cứu và phê bình văn học cũng có nhiều đóng góp Tuy có những cách đánh giá khác nhau xoay quanh một vấn đề, một tác phẩm văn học, nhưng không còn tình trạng áp đặt và quy chụp về quan điểm văn học Với một số tác phẩm thời trước cách mạng tháng Tám, tác giả được đánh giá lại, giải tỏa những ám ảnh nặng nề trong quá khứ Tự lực văn đoàn, Phong trào Thơ mới…đều được khôi phục vị trí trong lịch sử văn học Các tác giả như

Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính được tôn vinh và xóa bỏ những

Trang 13

nhận thức lệch lạc về họ với những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Lê Đình Kị, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Đăng Điệp, Trương Đăng Dung, Bích Thu…Điều đặc biệt là ở giai đoạn này xuất hiện xu thế “hai trong một”, người sáng tác đồng thời viết lí luận phê bình

Kịch cũng có sự phát triển mạnh mẽ, có chỗ đứng trong lòng công

chúng: Nhân danh công lí của Doãn Hoàng Giang, Hồn Trương Ba, da

hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nguồn sáng trong đời…của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình…Công chúng thời hậu chiến, đặc biệt là sau

năm 1986, có sự phân hóa, cũng như trong sáng tạo Do sự phát triển của một

số ngành giải trí quá nhanh nên nền kịch có phần bị áp đảo và dần dần thất thế Sự phân hóa của công chúng theo thị hiếu thẩm mĩ cũng đưa đến việc những vở kịch có chất lượng nghệ thuật cao, giá trị nội dung sâu sắc ít đươc quan tâm so với kịch thị trường Một mặt, công chúng vẫn tiếp nhận những vở diễn cũ, mặt khác, đòi hỏi vở diễn phải bắt kịp những thay đổi của đời sống,

đi vào những vấn đề thế sự Giữa lúc cơn khát của độc giả cũng như khán giả

về những vở kịch như thế thì sự xuất hiện của Phạm Quang Long đầu thế kỉ XXI với một loạt tác phẩm kịch có giá trị, đặc biệt là những vở về đề tài lịch

sử đã đem lại cho người đọc, người xem một hứng thú mới cũng như đáp ứng được nhu cầu đổi mới của văn học sau 1986

1.1.2 Quan niệm mới về đề tài lịch sử trong văn học

Khái niệm Kịch trong văn học Việt Nam chỉ thể loại văn học sân khấu

tiếp nhận từ phương Tây đầu thế kỉ XX để phân biệt với loại hình văn học sân

khấu dân gian với tên gọi Tuồng, Tích trò Nền kịch Việt Nam được coi là

hình thành từ những năm 1920, là sản phẩm của sự giao lưu văn hóa Đông

Tây trên nền thuộc địa, vẫn quen gọi bằng khái niệm “kịch nói”

Mặc dù ra đời muộn hơn so với các nước khác, song kịch nói ở Việt Nam hình thành trên cơ sở tiếp thu được những tinh hoa thể loại từ những quốc gia có nền kịch truyền thống như Pháp, Đức Vì vậy, từ sớm kịch nói

Trang 14

đã có những thành tựu, đặc biệt là kịch nói về đề tài lịch sử Với tính xung đột

và tính hành động, thể loại kịch có thể làm “sống” lại lịch sử, đem đến cho người xem một hứng thú đặc biệt

Về khái niệm lịch sử, cho đến hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Lịch sử là quá trình ra đời, phát triển đã qua

hay cho đến tiêu vong” [46; 1017] Như vậy, lịch sử là quá trình phát sinh,

phát triển đã qua của một hiện tượng, sự vật nào đó diễn ra theo trình tự thời gian Lịch sử luôn luôn được nhận biết dưới hai dạng thức, đó là dòng lịch sử khách quan và dòng lịch sử trong nhận thức - chủ quan - của con người

Kịch về đề tài lịch sử theo Từ điển Thuật ngữ văn học là một thể loại

văn học lịch sử Đó là thể loại sáng tác về các sự kiện và nhân vật có thật trong lịch sử, do đó mà có tên gọi là “lịch sử” Đồng thời, đó là kịch chứ không phải kí sự lịch sử, vì thế, nó không chỉ kể lại sự kiện và nhân vật, mà

nó còn tái hiện lại cuộc sống con người với cả không khí thời đại, các chi tiết

về tâm hồn, cá tính, trang phục, nhà ở, đồ dùng, lời ăn, tiếng nói…, và đặc biệt miêu tả đời sống cụ thể sinh động của nhân vật lịch sử, một trải nghiệm của con người có tính cách, cá tính trong dòng chảy của lịch sử, khiến cho người đọc không chỉ đọc được một câu chuyện , mà còn như được sống, được trải nghiệm với thời đại ấy nữa Mặc dù, có dung lượng ngắn và có sự dồn nén cao, nhưng kịch lịch sử cũng đã cung cấp cho người đọc, người xem một bức tranh tương đối rộng về hoàn cảnh mà nhân vật sống Các tài liệu sử học

mà nhà văn dựa vào thường chỉ nêu các sự kiện và nhân vật chính Bản thân

sự kiện và nhân vật trong sách sử cũng rất giản đơn, sơ lược, thiếu chi tiết, vì thế, khi viết buộc nhà viết kịch phải tưởng tượng, hư cấu Đồng thời, cùng với

sự tưởng tượng, người viết kịch lịch sử còn phải đưa những sự kiện của quá khứ trở về thời hiện tại của nó, cho người đọc sống lại với bối cảnh thời đại Chính vì thế, kịch lịch sử chỉ thu hút độc giả khi hiện thực lịch sử mà nó lựa chọn, phản ánh, đề cập, gợi mở đến những vấn đề đang được con người và xã

Trang 15

hội quan tâm Người sáng tạo phải bằng cảm quan nhạy bén của mình phát hiện, lựa chọn được những vấn đề có thể đối thoại được với cuộc sống đương thời Hiện thực lịch sử ấy phải được lí giải bằng quan điểm tiến bộ, khoa học, nhân văn vừa trung thành với tinh thần của lịch sử, vừa kết nối một cách tinh

tế với hiện thực đương đại Tác phẩm thường mượn chuyện xưa nói chuyện nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua

Với đề tài lịch sử, các nhà nghiên cứu thường đánh giá luôn là một khó khăn, thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch không chỉ riêng ở nước

ta Tuy nhiên, trong dòng chảy của văn học Việt Nam, kịch lịch sử vẫn luôn

âm ỉ và đến đầu thế kỉ XX bắt đầu phát triển khá mạnh Các tác giả bắt đầu chú ý hơn và khai thác sâu hơn đề tài lịch sử: từ nhân vật, sự kiện đến những biến cố trong lịch sử dân tộc Hơn bao giờ hết, lịch sử trở thành nguồn đề tài phong phú và hấp dẫn đối với các tác giả Số lượng các tác phẩm kịch lịch sử nhiều hơn, nhưng theo các nhà nghiên cứu số lượng các tác phẩm thực sự có

giá trị thì không nhiều Một trong những vở kịch lịch sử có giá trị là Vũ Như

Tô của Nguyễn Huy Tưởng Theo thời gian và cũng là tiếp nối sự thành công

từ Vũ Như Tô về đề tài lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng có vở Bắc Sơn, Những

người ở lại…Cùng với Nguyễn Huy Tưởng là các nhà viết kịch Trúc Đường,

Tào Mạt, Nguyễn Đình Thi cũng đi vào khai thác vấn đề kịch lịch sử Tác giả

Trúc Đường với vở Quang Trung, Tào Mạt nổi tiếng với những tác phẩm kịch chèo như Bài ca giữ nước, Nguyễn Đình Thi với các vở kịch lịch sử có giá trị lớn như: Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng Trúc…Rồi sau đó, không

thể nhắc đến tên tuổi nổi tiếng như Lưu Quang Vũ với rất nhiều vở làm chấn động sân khấu kịch trường những năm 80 của thế kỉ XX, trong đó có các vở

kịch lịch sử như: Ông vua hóa hổ, Ngọc Hân công chúa…

Với phương châm chung của văn học thời kì sau đổi mới “nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng, nói rõ sự thật” đã có những thay đổi mạnh mẽ trong tư

Trang 16

duy của những người hoạt động Sân khấu Tinh thần đối thoại với cuộc sống

đã được bộc lộ rất rõ trong mỗi vở kịch Sân khấu đã trở thành diễn đàn để diễn viên – thay mặt người dân bày tỏ những cảm xúc, những suy nghĩ của mình về cuộc sống Với những vở kịch chính luận ở thời kì này, người ta không chỉ nhìn thấy những vấn đề thời sự được đặt ra một cách nghiêm túc,

mà còn thấy được phản ứng tích cực, mạnh mẽ của người dân về những hiện tượng tiêu cực trong xã hội thông qua mỗi vở kịch Kịch đã nói lên tiếng nói của mọi tầng lớp trong xã hội Đó là những điểm mới, là bước phát triển của kịch cả trong tư duy, nhận thức của tác giả kịch, cũng như trong nghệ thuật biểu diễn

Cũng như các thể loại khác, thời kì này kịch quan tâm nhiều hơn đến vấn đề thế sự, kịch đã chuyển sự quan tâm từ mối quan hệ cá nhân với cộng đồng sang mối quan hệ cá nhân với cá nhân và cá nhân với sự biến động thời đại Xung đột kịch được xây dựng xuất phát từ cuộc đấu tranh nhằm hoàn thiện nhân cách con người Vì những đổi mới như thế nên có người gọi Sân khấu thời kì này là Sân khấu tâm lí – xã hội

Với mỗi tác phẩm (văn học, sân khấu, điện ảnh…) có chủ đề lịch sử, với nhân vật lịch sử có thật, để tạo được các hiệu ứng tích cực đối với công chúng, việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái nhìn chủ quan của cá nhân tác giả trong sáng tạo và giá trị lịch sử đã được giới nghiên cứu cũng như xã hội quan tâm và có nhiều quan niệm khác nhau Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trong cuộc trò chuyện cuối tuần trên báo Thể thao và Văn hóa năm 2014 đã

chia sẻ: “Tôi thích nhất câu nói của một nhà sử học “lịch sử là một phòng

tranh, trong đó nguyên bản chỉ có một còn phiên bản thì có nhiều” Có nghĩa

là một hiện tượng lịch sử, một sự kiện lịch sử, một nhân vật lịch sử thì có thật, chỉ xảy ra một lần duy nhất nhưng khi con người tìm cách mô tả, thể hiện, đánh giá thì nó biến thiên Ngay đối với một hiện tượng, sự kiện, nhân vật lịch sử thì chính các sử gia cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau Nếu sử

Trang 17

học là mô tả, đánh giá các nhân vật lịch sử thì văn học là sự ức đoán về họ” Với quan niệm trước đây, khi viết văn về đề tài lịch sử các nhà văn cũng thường hay đóng khung các sự kiện, các nhân vật lịch sử họ thường hay ca tụng, tôn vinh Những kịch bản loại này thường in đậm cảm hứng sử thi, có nội dung gần với chính sử

Kể từ thời kì đổi mới đến thập niên 90, Kịch Lưu Quang Vũ gần như chiếm lĩnh sân khấu, cùng với một số vở của các tác giả kể trên, nhưng sau đó Sân khấu có dấu hiệu chững lại Đề tài thời sự chính trị tạo nên tính hấp dẫn cho Sân khấu thời kì này đã nhường chỗ cho các vở kịch về đề tài lịch sử,

nhất là ở thể loại kịch hát Sân khấu bắt đầu dựng lại những vở cũ như Vũ

Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Rừng trúc (Nguyễn Đình Thi) Việc dựng lại

Vũ Như Tô đánh dấu một sự đổi mới trong nhận thức của các nghệ sĩ cũng

như giới nghiên cứu và cả người tiếp nhận Vở diễn ra đời vào thời điểm này cũng gây ra nhiều tranh luận, tuy nhiên điều quan trọng là tất cả đã nhận thấy giá trị chân chính, đích thực của tác phẩm Xu hướng “nhận thức lại” khá phổ biến trong văn học nghệ thuật thời kì này

Trong sự phát triển chung của kịch, kịch về đề tài lịch sử có ưu thế hơn Lịch sử là quá khứ Kịch về đề tài lịch sử là lấy cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử đã được ghi chép trong sử sách và các nguồn sử liệu làm đối tượng, chất liệu để khai thác, miêu tả Với đặc trưng cơ bản là tính xung đột và tính hành động, nhà văn có thể dựng lại lịch sử sống động đem đến cho người đọc, người xem một hứng thú đặc biệt Trải qua hơn một thế kỉ hình thành và phát triển của thể loại, kịch về đề tài lịch sử đã gặt hái được nhiều thành tựu và ngày càng khám phá được nhiều góc độ phong phú với những cảm hứng dồi dào Khi vết kịch về đề tài lịch sử, người viết kịch thường hướng đến hai xu hướng: Xu hướng tái hiện lịch sử và xu hướng

“nhân cách hóa lịch sử”

Quan niệm truyền thống của lí luận văn học thường xem tác phẩm phải

Trang 18

phản ánh hiện thực, và giá trị của tác phẩm văn học là phải chân thật, nói đúng sự thật đang diễn ra hoặc đã từng xảy ra trong đời sống, nói như Balzac, nhà văn là “người thư kí trung thành của thời đại”, văn học như tấm gương soi chiếu đời sống Và dĩ nhiên, tác phẩm về đề tài lịch sử đều nhằm mục đích tái hiện lịch sử, đánh giá lịch sử Tuy vậy, vấn đề được nhấn mạnh ở đây là xu hướng tái hiện lịch sử một cách đơn giản, chân phương như nó vốn có Những kịch bản kiểu dạng này chủ yếu xuất hiện trong giai đoạn đầu từ khi kịch lịch

sử xuất hiện và phát triển về sau này Đến đầu thế kỉ XX quan niệm về văn học phải phản ánh chân thật những lịch sử khách quan có sự thay đổi, đặc biệt

là vào những năm đầu của thế kỉ XXI, như ý kiến của PGS.TS Trương Đăng Dung “tiêu chí để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật không phụ thuộc vào sự

so sánh, đối chiếu tác phẩm với hiện thực khách quan để xem hiện thực đã

“ngang tầm” với hiện thực bên ngoài chưa, mà chủ yếu là tác phẩm có giúp ta nhận thức về hiện thực, có tạo được tư tưởng gì mới mẻ để ta cải tạo hiện thực hay không?” [4; 150] Và như vậy, lịch sử không đơn thuần là sự xâu chuỗi sự kiện mà là sự kết nối, đan cài của những niềm vui những nỗi buồn, những khổ đau hạnh phúc riêng tư của từng con người cá thể Các tác phẩm văn chương viết về quá khứ, về lịch sử là tái tạo lịch sử, đánh giá lịch sử trong con mắt thời đại mới Lịch sử chỉ có một nhưng lại có nhiều cách đánh giá Và sự đánh giá nào xuyên tạc, đi ngược lại quan điểm của nhân dân, xa sự thật đều không tồn tại được lâu bền Kịch lịch sử không chỉ được chuyển dịch mà còn cải biến theo tâm lí thời đại Các tác giả không chỉ phản ánh thời kì đã qua mà còn muốn lấy cái xưa để nói cái nay Vì thế mà các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử trong các tác phẩm kịch đều được sáng tạo lại

Có thể nói, việc tìm hiểu những quan niệm mới của kịch về đề tài lịch sử

là một trong những vấn đề cần thiết Nếu trước đây, sự sáng tạo chỉ dừng lại ở việc tô đậm, khắc họa một vài sự kiện trong chính sử hoặc hình tượng hóa nó lên cho sinh động thì sau này, trong không khí cách tân, những học hỏi giao

Trang 19

lưu văn chương thế giới và tầm tư duy dân chủ mới mà xã hội mang lại đã khiến các tác giả tiến một bước dài cả về cách nhìn nhận lịch sử lẫn tư duy nghệ thuật Nhu cầu gửi gắm những thông điệp mang tinh thần mới của thời đại đã kéo theo những thủ pháp xây dựng hình tượng, cũng như việc sử dụng ngôn ngữ cách tân theo những quy chuẩn mới Vì thế, tác phẩm nghệ thuật nói chung, kịch về đề tài lịch sử nói riêng nếu thực sự là kết quả của những sáng tạo nghiêm túc, chân chính phải vươn tới được tầm nhìn lịch sử, không tách bạch sự kiện lịch sử của một thời với sự vận động liên tục của cả tiến trình lịch sử Kịch bản lịch sử không chỉ chuyển dịch con số và những dữ kiện chính xác được liệt kê trong sách sử sang ngôn ngữ hình ảnh, sang hình tượng nhân vật mà còn là hành trình tiếp tục chặng đường mà các sử gia dừng lại để

có thể tìm tòi và phát hiện ra sự thật khác không ghi trong sách sử, đó là sự thật theo lòng người, theo lẽ đời ở mỗi thời đại khác nhau

Như vậy, bằng điểm nhìn khoa học và cũng từ tâm thế của thời đại hôm nay những nhà viết kịch lịch sử muốn nhận thức, đánh giá lại sự kiện lịch sử, mang lại cho sự kiện ấy ý nghĩa mới và tiếp cận gần nhất đến sự thật lịch sử Đồng thời, cũng trên quan điểm đó, tác giả kịch lịch sử có thể đánh giá lại nhân vật lịch sử, tiếp thêm sức sống và thậm chí, có thể trả lại sự công bằng cho nhân vật lịch sử

1.2 Thân thế và sự nghiệp sáng tác của Phạm Quang Long

1.2.1 Thân thế của Phạm Quang Long

Tác giả Phạm Quang Long sinh năm 1952 trong một gia đình cách mạng (là con liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng), quê quán Thái Bình.Tốt nghiệp Đại học tại khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1975, được giữ lại trường làm giảng viên bộ môn Lí luận văn học Sau đó ông được cử sang Nga làm nghiên cứu sinh và nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Văn học tại Trường Đại học Tổng hợp Leningrad năm 1984 Trở về nước năm 1984, đến năm 1987, ông giữ chức Phó trưởng phòng Khoa học Ông được công nhận chức danh Phó Giáo

Trang 20

sư năm 1996 và được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng và Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH & NV (1996 – 2001), Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (2001 – 2005), Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Hà Nội (2005 – 2013) Dù ở cương vị nào, với cái tâm chân thành và sự trung thực, ông luôn miệt mài trong mọi công việc được giao Không chỉ là một nhà quản lí tài năng, ông còn là một nhà giáo, nhà nghiên cứu, một cây bút viết sáng tạo

PGS TS Phạm Quang Long đến với văn chương muộn nhưng rất bén duyên nghề chữ và luôn viết bằng một nguyên tắc sống của người thầy giáo, một nhà quản lí đầy tâm huyết Sự trải nghiệm trong nhiều cương vị quản lí, nhất là thời gian làm quản lí văn hóa ở Hà Nội, Phạm Quang Long đã “mài sắc” ngòi bút bằng vốn sống của mình Ông viết báo nhiều và làm khá nhiều thơ, thơ của ông đậm chất trữ tình và suy ngẫm nhưng thơ là viết cho chính mình, chưa xuất bản Sau này, ông đã dấn thân vào sân khấu Những năm qua, hàng chục kịch bản đủ loại đề tài, nhiều vở của ông đã được công diễn Một số vở được dư luận đánh giá cao, được các giải thưởng lớn của ngành sân khấu Những vở kịch của Phạm Quang Long đúng là “mạch ngầm” của một người đọc nhiều, quan sát rộng, nghĩ sâu sắc, bởi nó chứa đựng nhiều tâm sự về nhân tình thế thái trong cả

những vấn đề về lịch sử lẫn hiện tại Đó là các vở Cao Bá Quát, Nguyễn Công

Trứ, Nợ non sông, Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Sắm vai, Người trở về, Quỷ mặt người, Quan thanh tra…đều là những đề tài “gai góc” Dường như,

sân khấu mới là lĩnh vực mà ông thích thú và phóng tâm hồn mình Nó giống như chạm tới và khơi được nguồn, một sự bùng phát không thể kiềm chế, buông rời con người công chức đôi khi buộc phải máy móc

Phạm Quang Long là một trí thức đã kinh qua nhiều công việc và những vị trí khác nhau trong cuộc đời Hiện nay, mặc dù đã nghỉ hưu, nhưng mối quan tâm của ông về các vấn đề văn hóa vẫn luôn đau đáu Ông là người luôn mang

“một cái nhìn thẳng” vào từng câu chuyện, sòng phẳng và công bằng với chính mình, với đời…Nói như nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Trong mỗi con người

Trang 21

đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kì diệu, đến nỗi cả một đời người ta vẫn không kịp khám phá ra” Phạm Quang Long là một con người như thế

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Phạm Quang Long

Phạm Quang Long hiện vẫn đang tiếp tục sáng tác và ông đã có những tác phẩm có chất lượng, có giá trị về nội dung, phong phú về thể loại

Lạc giữa cõi người là tác phẩm văn xuôi đầu tay ra mắt bạn đọc lần đầu

vào năm 2016 Đây là tác phẩm viết về chuyện tử tế, người tử tế đang trở nên rất hiếm hoi trong đời sống xô bồ hiện nay Đọc xong cuốn sách này, dẫu có đau xót về nhân tình thế thái đây đó, nhưng điều đọng lại trong mỗi người là tấm lòng người viết, một cái nhìn tỉnh táo, sắc bén, thẳng thắn nhưng ân tình,

độ lượng và vị tha Điều quan trọng hơn cả là trong cuộc sống hiện nay, tác giả, qua các trang văn của mình như muốn gửi tới người đọc niềm tin mãnh liệt vào những người tử tế, những việc tử tế sẽ chiến thắng Cuốn sách đã chạm đến những vấn đề gai góc đương đại, trong một không gian, thời gian rất gần đến nỗi người nào đọc cũng thấy thấp thoáng con người mình, câu chuyện mình đã từng gặp, từng đọc ở đâu đó Như tác giả Phạm Quang Long tâm sự: Nhân vật chính được miêu tả trong sách của tôi, và có cả nhiều người trong đó, với 99,9% là sự thật, kể cả những mẩu đối thoại Tôi muốn lên án những người dùng quyền lực để hành hạ người khác, cái hèn, cái kém của cả

“chúa” lẫn “bề tôi” mà tôi sắm cả hai vai

Lạc giữa cõi người của Phạm Quang Long là tiểu thuyết mang tính tự

truyện Tác phẩm có quá nhiều day dứt, ám ảnh rằng tại sao con người cứ

phải vật vã đau đớn Lạc giữa cõi người như thế? Phải chăng cái vật vã, đau

đớn đó chính là nhân cách, là chất “người” trong mỗi người, hay cũng là của chính tác giả GS Nguyễn Kim Đính trong bài phát biểu của mình tại Tọa đàm

giới thiệu sách Lạc giữa cõi người sau khi dẫn ba “bông tuyết đầu mùa” của

khoa Ngữ văn Trường ĐHKHXH – NV là GS Trần Đức Thảo, GS Nguyễn Mạnh Tường và GS Phan Ngọc với những bài viết bất hủ và bị “kìm hãm” suốt

Trang 22

30 năm, nói về Lạc giữa cõi người, ông cho rằng: Tâm thế “lạc” mà Phạm

Quang Long nói đến trong tác phẩm là một tâm thế hồn nhiên, trong sáng Đứng trước cuộc sống xô bồ hiện nay, trước cả những vô cảm, vô học thậm chí

là vô văn hóa, nhà văn dường như rất phẫn nộ Ông coi những con người danh cao hơn thực là một bi kịch chứ không phải là hài kịch như người đời vẫn nghĩ,

và bi kịch hơn là ở chỗ họ đã không nhận ra đó là bi kịch Ông cũng đau khổ, nhức nhối, mâu thuẫn, xung đột giữa “đạo làm người” và “đạo làm quan”, nhiều khi ông như lạc vào một sân khấu đời loạn diễn Ở đó, người đọc như đang được ngắm, nhìn, chiêm ngưỡng một bức tranh xã hội được vẽ nên với những điều đang mục ruỗng, thối nát

Triết lí đau đời ở Lạc giữa cõi người chính là một con người bỗng trở

nên xa lạ trong chính cộng đồng của mình Đó là bi kịch của một trí thức liêm chính trở nên lạc loài, lạc ở chỗ khi anh không thể chấp nhận sự tha hóa của thế giới xung quanh Để từ bi kịch đó, người đọc băn khoăn và như đang nhận

ra tính chất phê phán toát ra từ tác phẩm chăng?

Vào dịp kỉ niệm lần thứ 63 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2017), Nhà xuất bản Lao Động cho ra mắt bạn đọc cuốn

tiểu thuyết Bạn bè một thuở của Phạm Quang Long Cuốn tiểu thuyết là một lời

tri ân với những người bạn bộ đội của ông, bạn thuở thiếu thời chăn trâu cắt cỏ, bạn thời đại học “xếp bút nghiên lên đường đánh Mĩ” Nhân vật chính là Thắng, một trinh sát Cùng với Thắng là Thành (cán bộ chỉ huy), Bảo, Hậu, Sổng, Hiếu…những đồng đội cùng vào sống ra chết trong chiến đấu Và sau này cùng sát cánh với Thắng trong “trận chiến” thời bình và một cuộc sống tốt đẹp hơn Phạm Quang Long đã có những chương kể chuyện đời lính, những cuộc chiến đấu của họ khá thuần thục và hấp dẫn Câu chuyện bắt đầu với sự hy sinh của Hậu, một bạn chiến đấu mà Thắng rất quý Hậu chỉ còn một mẹ già Sau ngày đất nước thống nhất, Thắng không về quê cũ sinh sống mà về quê Hậu, xin làm con và phụng dưỡng mẹ Hậu cho đến khi bà qua đời Và cũng từ

Trang 23

đấy, người lính Cụ Hồ tiếp tục cuộc chiến đấu mới: làm kinh tế, khẳng định chỗ đứng của mình trong hoàn cảnh mới Quá khứ (những cuộc chiến đấu) và hiện tại đan xen trong cuộc sống của Thắng Đặc biệt, khi anh phải đối phó với ý đồ muốn chiếm đoạt trang trại đang ăn nên làm ra của mình, vốn là một vùng đầm ao chiêm trũng, phải mất bao công sức mới cải tạo được Kẻ chủ mưu trong vụ này là Ý, Chủ tịch xã cùng với vài kẻ tay chân như Đáng…

Bạn bè một thuở là một xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay thu nhỏ

với những người nông dân chân chất muốn làm giầu chính đáng cho gia đình, cho quê hương, với những con “mọt dân” thời nay chỉ muốn “ngồi mát ăn bát vàng” thi nhau đục khoét của công, chèn ép dân lành

1.2.3 Tập kịch “Nợ non sông” và dấu ấn trong văn học đương đại

Tập kịch có 7 vở: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nợ non sông,

Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Người trở về, Qủy mặt người, Quan thanh tra Phần lớn các kịch bản này đã được sống trong ánh đèn sân khấu

với các vai diễn và tạo được sự tác động trong đời sống xã hội

Từ tác phẩm Quan thanh tra của Gogol ông chuyển thành vở Quan lớn

về làng Vở kịch này đã được Nhà hát chèo Hà Nội và đạo diễn Doãn Hoàng

Giang dàn dựng và đưa lên sân khấu Không chỉ chuyển thể mà cả tác giả và đạo diễn đã thổi vào đó một sức sống mới, một luồng sinh khí mới Câu chuyện sinh động, hấp dẫn của vở làm người ta cười đấy nhưng cũng đau lắm, đau khi nhìn thấy cái hèn hạ, bẩn thỉu của con người, khi ở đâu đó, con người

ta đang sống bất chấp, đang âm mưu vì cái lợi, cái danh của chính mình Nhà viết kịch Phạm Quang Long đã khơi lại một đề tài vô cùng quan trọng trong lĩnh vực sân khấu và thổi nóng nó lên đó là đề tài lịch sử Bởi lẽ, đề tài lịch sử luôn là một khó khăn, thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch, nhà làm phim, không chỉ riêng ở nước ta, mà còn ở nhiều nơi trên thế giới Với mỗi tác phẩm (văn học, sân khấu, điện ảnh…) có chủ đề lịch sử, với nhân vật lịch sử có thật, để tạo được các hiệu ứng tích cực đối với công chúng, việc giải quyết mâu

Trang 24

thuẫn giữa cái nhìn chủ quan của cá nhân tác giả trong sáng tạo và giá trị lịch sử

đã được cộng đồng ghi nhận là những vấn đề rất khó khăn

Tập kịch bản cũng như những vở diễn đều là tiếng nói của tác giả đối với đời sống hôm nay Mỗi kịch bản đều thể hiện rõ chỗ đứng nhìn của người viết, người viết nói gì, nói thế nào Trong dòng tư duy viết về đề tài lịch sử, Phạm Quang Long từng chia sẻ: “Tôi viết về họ như những con người sống trước chúng ta thôi Họ đã nổi tiếng qua nhiều chuyện có thực và không có Tôi tìm hiểu về họ (chính thống và không chính thống) chỉ có thể cung cấp cho tôi những kết quả của công việc họ đã làm, những lí do họ được tôn vinh hay phê phán Tôi tìm hiểu những cách thức họ đi đến đó và bất lực vì không đâu chỉ ra cho tôi những việc cụ thể này Tôi đành viết về họ qua những gì mình hình dung Cho nên nhân vật của tôi là nhân vật hư cấu, là sản phẩm của tôi, giống như nhân vật tiểu thuyết, không có gì lấy từ tiểu sử của họ cả” [30; 490] Trong tập kịch này, phần lớn các nhân vật mà Phạm Quang Long chọn đều là những nhân vật

lịch sử có thân thế sự nghiệp, ai cũng có những dấu ấn đặc biệt Vở Nguyễn

Công Trứ và Cao Bá Quát bám khá sát với cuộc đời thực của hai vị quan tài

năng này Nguyễn Công Trứ lận đận với thi cử, với thăng, giáng chức Nhất là khi ông bênh nhân dân nghèo khổ trong cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Thái Nguyên, triều đình đã bắt tội khi ông thả một thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa và

đày ông đi biên ải Cao Bá Quát – người đã dám tuyên ngôn: Nhất sinh đê thủ

bái mai hoa thì trong trường đời vốn thật giả lẫn lộn đã khiến nhân vật trở thành

kẻ đối nghịch với nhà vua và triều đình Nhưng dẫu có thế nào đi chăng nũa, dẫu cuộc đời có nhiều lắt léo và ẩn tình thì Cao Bá Quát vẫn luôn là người khẳng khái, cương trực vì thế mà ông đã rước họa vào thân

Theo cách nhìn và cách chọn đề tài của Phạm Quang Long, thấy rõ khuynh hướng tư tưởng và thẩm mĩ của tác giả Ông đối chất với cái xấu, cái thấp hèn, soi rọi và nâng niu những phẩm chất ẩn kín trong số phận của nhân vật Nhất là khi ông chọn Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ và tiếp đến là nhân vật

Trang 25

Phan Thượng thư mà nhiều người đã nghĩ tới Phan Thanh Giản – nhân vật lịch

sử mà cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận Vị quan họ Phan này thừa nhận sai lầm của mình cho dù bản thân ông bị lừa gạt Người trong nhà còn quở trách ông Ông biết mình mắc nợ với dân với nước nên đã tự xử mình tội chết Vở kịch cho thấy vẻ đẹp của lòng tự trọng của một nhân sĩ phong kiến Việt Nam

Những vở này của ông vừa là chính kịch vừa có yếu tố bi hài kịch Cả

ba nhân vật đều là người đỗ đạt, làm quan nhưng lại không chịu yên vị với chỗ đứng và bổng lộc của triều đình Các nhân vật đó đều là những cá tính mạnh mẽ, tuy có lúc dùng dằng giữa tư tưởng trung quân và tư tưởng vì dân, nhưng là những trí thức phong kiến thực sự đứng trước cái đúng, trước lẽ phải, thấy có lợi cho dân, cho nước là họ làm

Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh lại là một kịch bản lạ Tác giả chọn

năm thời điểm để vẽ lên năm bức chân dung về Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong mỗi bức tranh, nhà văn không chỉ dừng lại ở việc phác họa lại chân dung vị Chủ tịch mà đã thể hiện cảm nhận bằng một cái tâm chân thành, trong sáng Bác Hồ hiện lên giản dị nhưng cũng thật uy nghiêm trong mỗi khoảnh khắc:

từ cuộc gặp mặt trực tiếp của Bác Hồ với các doanh nhân để đối thoại về con đường cách mạng của Việt Minh, hay khoảnh khắc Bác trở thành một người con ngoan ngoãn trong ngày giỗ mẹ đến việc Bác thật khiêm tốn và kiên định trong bàn việc nước với cụ Huỳnh Thúc Kháng, trước khi Bác đi Pháp…

Trong tập kịch bản này có 3 vở viết về đề tài hiện thực: Quỷ mặt người,

Sắm vai và Người trở về Vẫn bằng đôi mắt quan sát sắc sảo, tác giả đưa người

đọc đến những tình huống dở khóc dở cười của một gia đình cán bộ đã bị đồng tiền xê dịch đẫn đến những thảm họa Sự giả dối trong gia đình “danh gia vọng tộc” nhưng mọi thứ đều mang tính hai mặt Người ta nói một cách nhưng lại làm theo cách khác Tất cả đeo mặt nạ để sống, để diễn các vai mình muốn Nhưng đến một lúc nào đó, mặt nạ rơi xuống, sự thật phơi bày dẫn đến những thảm họa, sám hối thì đã muộn Những con người sống với nhau giả dối Sự lưu manh của

Trang 26

những kẻ có học xem ra nhầy nhụa và lạnh lẽo đến ghê người Những yếu đuối

về tâm lí, những thói vô trách nhiệm hoặc sự hèn nhát cũng là đồng lõa với tội

ác Nhưng, trong vở Người trở về thì lại khác Vở kịch là bài ca đẹp về tinh thần,

sự cao cả, đức hi sinh vì người khác của con người Sống vì người khác, đem lại hạnh phúc cho người khác như là điều tất yếu trong trái tim sâu thẳm của con người Nhận về mình những thua thiệt như là việc phải làm, như đòi hỏi của lẽ phải thông thường trong cuộc sống Sự chân thành và chung thủy là cốt lõi của văn hóa Việt Nam, là cái mà đất nước ta đang xây dựng để góp phần đưa nước ta

đi lên Vở kịch này viết về khung cảnh làng quê Thái Bình, cũng là quê hương của tác giả, một miền quê nổi tiếng thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người Phẩm chất con người trong Lượng và Thảo là hình ảnh chung của nông thôn Việt Nam trong những năm chống Mĩ

Kết luận chương 1

Sau năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới về mọi mặt trên bình diện của xã hội Hiện thực đời sống thay đổi cùng sự chuyển biến về nhu cầu của bạn đọc khiến văn học tất yếu phải đổi mới Hạt nhân quan trọng trong công cuộc đổi mới của văn học chính là sự thay đổi quan niệm về hiện thực: từ hiện thực chiến trận sang hiện thực thế sự, cá nhân Đây là tư tưởng chủ đạo chi phối sự thay đổi về quan niệm con người, quan niệm nghệ thuật Sự xuất hiện của nhà viết kịch Phạm Quang Long vào đầu thế kỉ XXI với chùm kịch lịch sử

Nợ non sông như tiếp thêm sức mạnh trong dòng chảy của Văn học Việt Nam

hiện đại nói chung và văn học kịch về đề tài lịch sử nói riêng

Theo các nhà nghiên cứu, phê bình, tập kịch Nợ non sông đặc biệt là

những vở về đề tài lịch sử không chỉ có ý nghĩa về mặt thời sự, mà còn có ý nghĩa về phương diện khoa học, bởi tập kịch này còn như khơi mở và giải đáp những phức tạp về bản chất của thể loại bi kịch, những đặc trưng thi pháp và thể tài của kịch lịch sử…

Trang 27

Chương 2 CẢM HỨNG VÀ XUNG ĐỘT CƠ BẢN TRONG TẬP KỊCH LỊCH SỬ

“NỢ NON SÔNG” CỦA PHẠM QUANG LONG

2.1 Cảm hứng trong tập kịch lịch sử “Nợ non sông”

Cảm hứng thường được gọi là: “trạng thái tâm lí đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo, hoạt động có hiệu quả” [33; 119] Đây chính là điều kiện, là hứng thú sáng tạo không thể thiếu trong sáng tạo văn học Nguyễn Quýnh đã khẳng định vai trò quan trọng của cảm hứng trong sáng tác văn chương như sau: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên bởi bút nghiên giấy mực Gió không bám vào chỗ nào nhất định, hứng cành biến động, không ở yên…” [30; 54] Khi cảm hứng trở thành trạng thái cảm xúc mãnh liệt xuyên suốt tác phẩm, chi phối tư tưởng của toàn bộ tác phẩm sẽ trở thành cảm hứng chủ đạo, một bộ phận, một yếu tố thuộc về tư tưởng tác phẩm nên có khi nó còn được gọi là cảm hứng tư tưởng

Cảm hứng tư tưởng, theo Từ điển thuật ngữ văn học là: “trạng thái

tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một

tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [10; 45] Cảm hứng tư tưởng, theo Trần Đình Sử, là một phương diện quan trọng về nội dung tư tưởng tác phẩm Vì thế, nó gắn liền với tình cảm, với niềm say mê, nguồn cảm xúc riêng của tác giả với hiện thực Hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú đã chi phối nhà văn trong quá trình sáng tác và mỗi nhà văn lại có một thế giới quan, nhân

Trang 28

sinh quan cũng như phong cách sáng tác riêng Bởi vậy, xuất hiện nhiều cảm hứng khác nhau Nói về điều này, Trần Đình Sử cho rằng: “trước hết là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với những nhân vật chính diện,

là sự phê phán, tố cáo, các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường” [39; 48] Chính vì vậy, cảm hứng chủ đạo là một phương diện quan trọng để xâm nhập và nắm bắt tác phẩm, “cảm hứng chủ đạo của tác phẩm…chi phối sự thống nhất cảm xúc của hình tượng, chi phối hệ thống nghệ thuật biểu cảm của tác phẩm [30; 50]

Một tác phẩm văn học có thể có nhiều cảm hứng khác nhau, vì thế việc xác định được cảm hứng chủ đạo của tác phẩm chính là phương thức, là con đường để tìm hiểu nội dung tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện trong tác phẩm Điều đó giúp chúng ta định hình được phong cách cũng như cá tính

sáng tạo của nhà văn Khi khảo sát 4 vở kịch lịch sử trong chùm kịch Nợ non

sông, chúng tôi, nhận thấy có nhiều cảm hứng được thể hiện trong chùm kịch

lịch sử này như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng dân tộc, cảm hứng phê phán, cảm hứng về cái đẹp…Tuy nhiên, với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ nên chúng tôi tập trung nghiên cứu về cảm hứng chủ đạo thể hiện trong suốt chiều dài 4 vở kịch trên là cảm hứng bi kịch và cảm hứng phê phán

2.1.1 Cảm hứng bi kịch

Theo Aristote: “Bi kịch là sự mô phỏng một hành động quan trọng và trọn vẹn có một quy mô nhất định…; bằng hành động, chứ không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch gợi ra sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó” [1; 31] Như vậy, từ góc độ ý nghĩa của bi kịch, Aristote đã xem bi kịch là phương tiện để thanh lọc cảm xúc, tâm hồn con người, do sự đồng cảm với những nỗi khổ đau, lỗi lầm của nhân vật

Bi kịch có những đặc điểm riêng biệt mang đậm dấu ấn thể loại như: lỗi lầm bi kịch, sự nhận biết, sự trả giá và sự thanh lọc…Nếu một vở kịch đạt

Trang 29

được tất cả hoặc hầu hết các yếu tố trên thì đó là một bi kịch thực sự, còn một

vở kịch chỉ đạt được một hoặc một số ít các yếu tố trên thì không phải là bi kịch mà trong trường hợp này người ta gọi đó là vở kịch có yếu tố bi kịch

Là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, văn học cùng với các hình thái ý thức xã hôi khác như triết học, mĩ học đều quan tâm đến con người và cuộc đời Tuy nhiên, văn học thường xoáy sâu vào bi kịch của những con người có khát vọng, có hoài bão và lí tưởng chân chính, vì thế sự mất mát trong bi kịch thường là sự mất mát của lí tưởng, của cái cao cả, cái đẹp: “Trong bi kịch, các nhân vật hoàn tất quá trình phá sản của mình do tính chất đặc biệt về ý chí kiên định của họ, về tính cách mạnh mẽ của họ, hoặc họ phải cam chịu chấp nhận những gì mà họ chống lại một cách căn bản” [9; 210] Nhân vật bi kịch, đặc điểm đầu tiên là con người cao cả, được hiểu đó

là người tốt, có tư tưởng tiến bộ Bản chất của nhân vật bi kịch là con người

ấy phải hành động cho cái tiên tiến, cái chân lí, sự thật của thời đại Đặc điểm quan trọng của nhân vật bi kịch là khuynh hướng ý chí Theo Aristote, đó là điều nhân vật có ý định thực hiện và trên thực tế anh ta đã hành động quyết liệt để thực hiện nó Sau này, Hegel gọi hành động quyết liệt mang tính khuynh hướng ý chí của nhân vật bi kịch là mục đích tối cao, chính mục đích tối cao này thôi thúc tạo nên một dục vọng vô cùng mãnh liệt nơi người anh hùng bi kịch, dẫn đến những hành động kinh thiên động địa, làm vướng mắt hoặc tức tối, căm hận những kẻ xấu, kẻ ác xung quanh khiến chúng chống lại quyết liệt Cho nên, người anh hùng bi kịch có cái dục vọng lớn lao ấy, có cái hành động quả quyết ấy thì mới trở thành người tiên phong chấp nhận hi sinh đối nghịch hóa các giá trị Vì thế, cảm hứng bi kịch là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác kịch Bởi: “Khi ở trong tình huống bi kịch, người ta trải nghiệm

sự căng thẳng và lo âu sắc sảo trong tâm hồn, khiến người ta phải chịu đau khổ thường rất nặng nề…Tính chất bi kịch của các tình huống và cảm tác chủ yếu bao hàm ở những mâu thuẫn và đấu tranh bên trong nảy sinh từ trong ý

Trang 30

thức, trong tâm hồn của con người” [34; 162]

Trong khi khảo sát chùm kịch lịch sử của Phạm Quang Long, chúng tôi nhận thấy ở chùm kịch này, cảm hứng bi kịch được thể hiện rõ ở nhân vật người anh hùng trong quan hệ với lịch sử đất nước và người anh hùng trong sinh hoạt đời thường Đó là kiểu nhân vật người trí thức Nho giáo: có tài năng, có nhân cách, muốn cứu đời, giúp đời mà không có cơ hội, muốn giữ mình trong sạch mà cũng không xong, muốn lo cho gia đình có cuộc sống tốt hơn mà lại không làm được… Nhân vật đến cuối đời lại rơi tiếp vào bi kịch

vỡ mộng và nhận ra là mình đã có tội với nhân dân, đất nước

Ở vở kịch Cao Bá Quát và đồng thời cũng là tên nhân vật chính -

người anh hùng Cao Bá Quát là người tài cao, chí lớn, luôn mang trong mình ước mơ thi thố tài năng để trị nước, an dân, bình định xã tắc Cơ hội ấy đã đến với Cao Bá Quát khi ông được gọi vào Kinh làm trong Ban khảo hạch – chấm thi – chọn “nhân tài” cho đất nước Dấn thân vào chốn quan trường mong tìm được cơ hội để thỏa chí tang bồng Nhưng, âm mưu của triều đình tưởng bằng một chức quan nhỏ mọn như thế có thể bắt con người phóng túng như Cao Bá Quát kia phải sống theo khuôn khổ kỉ cương của họ Nhưng đâu có đơn giản! Cao Bá Quát có bản lĩnh, dễ gì tử bỏ cá tính của mình Thời gian làm trong Ban khảo hạch, ông được cử làm sơ khảo trường thi ở Thừa Thiên, ông thấy một số bài thi hay mà phạm húy,suốt đêm ông không ngủ, hai tay chống cằm, ánh mắt nhìn như vô định vào đống bài:

Biết làm thế nào với đống bài vở này đây? Liệu có cứu vãn được không? Đúng là sai một li, đi một dặm Nặng thì tội chết, nhẹ thì bị cấm thi, bắt đi lao dịch, uổng phí cả một đời [19; 69]

Là một người xuất thân trong một gia đình Nho học, được đào tạo theo tinh thần Nho giáo, nhưng có lẽ với Cao Bá Quát những giáo điều nghiêm khắc của Nho giáo chưa thỏa mãn được ông Ông đã có cách nhìn, cách đánh giá của riêng mình về cuộc sống, về số phận của những người muốn theo đuổi

Trang 31

công danh Bi kịch của Cao Bá Quát bắt đầu từ đó:

Cứu người thoát tội nhưng mình thì mắc tội với triều đình, mắc tội với người thân [19; 70]

Là thần tử, Cao Bá Quát đã mắc tội khi quân khi dám làm trái lệnh vua

Là một người chồng, một người cha hết hết lòng yêu thương vợ con, ông cũng

có tội khi không làm được gì để lo cho cuộc sống của gia đình, và chính ông cũng đã rất thấm thía cái đói, cái nghèo Ông từng tâm sự với người vợ của

mình rằng: “Có lúc tôi cũng tự vấn rằng; tôi chữ nghĩa đầy mình, mình tôi

chấp cả thiên hạ vậy mà chưa giúp gì được cho mình, chưa giúp gì được cho đời Nhà cửa vẫn xác xơ, con cái vẫn nheo nhóc, mình vẫn cứ khổ như ngày tôi còn là một khóa sinh Có lúc tôi muốn gào thật to cho thấu cả trời xanh: sao lại thế này, trời có mắt không, có còn đạo lí gì không” [19; 18]

Cao Bá Quát, một người được học chữ thánh hiền, chỉ muốn mang chí lớn ra giúp đời mà bất lực Bản thân ông tự thấy mình không phải là kẻ bất tài, giá áo túi cơm, ông cũng thấu lòng người trong cái xã hội mà dường như

chỉ có ganh đua, đố kị này: “ai cũng bảo tôi giỏi nhưng có ai chịu dùng tôi

đâu Người ta nuôi tôi như chó giữ nhà, như nuôi chim cảnh Vì thế mà tôi buồn, buồn cho mình thì ít, mà buồn cho nhân tình thế thái thì nhiều”.Sống

trong một xã hội: “kẻ ngu chống lại người tài vì chúng ngu” [19; 19] Người

khác chống lại người tài vì ghen ghét Kẻ cầm quyền chống lại người tài vì sợ” [19; 28] Ông rơi vào tình huống vô cùng khó xử khi đứng trước những

bài thi của các sĩ tử một đời muốn phụng sự quốc gia: Nhưng như thế là có tội

sao? Làm điều tốt mà lại coi là có tội? Bỏ mặc một con người phải chịu oan khuất vì những điều nhỏ mọn là kẻ vô tình hay là có tội? Bỏ mất một người tài lại con mang tội lớn hơn Nhìn thấy kẻ khác sắp lâm nạn mà cố tình quay đi

để giữ thân có phải là kẻ có nhân? Nếu có phải chết, sẽ có người chiêu tuyết cho ta Rồi đất nước này, dân này sẽ nói ta có công hay có tội [19; 70]

Thái độ ngay thẳng, luôn tin vào mình, chính mình phải hành động và

Trang 32

hành động ngay, ông bước tới bàn, rút tập bài ra, lấy bút chữa vào hết bài này đến bài khác, trong một tư thế đường hoàng, thái độ thanh thản mà quyết liệt Không những vậy, chữa bài thi xong, tâm trạng ông vui vẻ, rạng rỡ Nhưng cuộc đời đâu có như những gì ta mong ước Sự việc bại lộ, Cao Bá Quát bị hạ ngục, bị tra tấn Triều đình kết tội ông bị xử chém

Là người tài cao, chí lớn, Cao Bá Quát thấy ngột ngạt, tù túng trước cuộc sống ô trọc ở mọi tầng lớp xã hội thời mình sống Ông cảm nhận sâu sắc

bi kịch của giới trí thức có nhân phẩm, muốn cứu đời, giúp đời mà không có

cơ hội, muốn giữ mình trong sạch mà cũng không xong Bi kịch của những anh hùng không có đất dụng võ Dấn thân vào chốn quan trường, những tưởng mình có cơ hội để thực hiện lí tưởng nhưng rồi lại gặp bi kịch khác Niềm tin bị sụp đổ, con người đó chẳng biết mình có tội hay mình là kẻ vô tội? Giờ đây, người trí thức ấy chỉ có con đường tin vào nhân dân, chính sau này nhân dân sẽ là người quyết định cho những gì ông từng trăn trở

Nhân vật lịch sử Nguyễn Công Trứ hiện lên dưới ngòi bút của Phạm Quang Long lại là một con người mà cuộc đời luôn say mê hoạt động Lúc nào trong tâm khảm cũng cho rằng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất phải có danh gì với núi sông” Nhập cuộc, làm quan trong triều đình, Nguyễn Công Trứ lao vào công việc một cách hăng say, không hề quản ngại gian lao,vất vả.Trong cuộc đời làm quan của mình, Nguyễn Công Trứ đã ghi công với triều đình ở việc khai hoang và “dẹp giặc” Về “dẹp giặc”, người ta thấy ông

có mặt trong những lần trấn áp khởi nghĩa nông dân của Phan Bá Vành ở Nam Định Nguyễn Công Trứ không hề ý thức mình làm một việc phản bội quyền lợi của nhân dân, để bảo vệ một chính quyền độc tài, chuyên chế Trong quan niệm cứng nhắc của một người theo giáo lí đạo Nho thì xã hội bao giờ cũng phải có tôn ti trật tự trên dưới Trên hết là vua, rồi đến triều đình, quan lại, dưới cùng là dân, và dân có nghĩa vụ phải tuyệt đối phục tùng Chống lại vua, chống lại triều đình là “loạn”, phải “trị” để “cứu chúa an dân”

Trang 33

Hiển nhiên hậu quả của việc làm ấy tạo điều kiện cho chính quyền nhà Nguyễn tăng cường đàn áp, bóc lột nhân dân khốc liệt hơn Nhập cuộc, Nguyễn Công Trứ mới hiểu ra những lỗi lầm của mình: dân không làm phản

mà quan mới là kẻ bức dân làm phản Mình thi hành phép nước nhưng lại chống lại nhân dân thì cần phải xem xét cái lí hành xử của mình

Cuối đời, Nguyễn Công Trứ lại ngộ ra một chân lí nữa: mình đã nhầm lẫn ghê gớm khi cúc cung tận tụy cho những cái ảo tưởng, những điều được cho là cao cả nhưng bản chất rất thấp hèn Ông rơi vào bi kịch vỡ mộng nhưng lại hiểu thêm một khía cạnh khác của cuộc sống: có tội với dân, để chuộc lại lỗi lầm, phải làm gì có lợi cho dân để chuộc sai lầm

Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ của giới trí thức có tài năng, có nhân phẩm muốn cứu đời, giúp đời mà không được, đây phải chăng là “bi kịch sinh bất phùng thời”, bi kịch của những anh hùng không có đất dụng võ, bi kịch của những người muốn sống là chính mình mà không được Cao Bá Quát đã

từ một nhận thức Nho giáo “trung quân báo quốc” chuyển sang “vị dân báo quốc” Nguyễn Công Trứ đã rơi vào bi kịch vỡ mộng nhưng lại hiểu thêm một khía cạnh khác của cuộc sống: mình đã có tội với dân, để chuộc lại lỗi lầm, phải làm gì có lợi cho dân để chuộc sai lầm Ông sống tự nhiên, nhi nhiên vượt ra ngoài mọi ràng buộc của cuộc đời

Cùng với cảm hứng bi kịch về phương diện người trí thức phong kiến,

trong tập kịch bản này có vở Nợ non sông, đây là vở được lấy làm nhan đề cho

cả tập kịch bởi giá trị cũng như hướng tiếp cận lịch sử mới của Phạm Quang

Long Nói về Nợ non sông GS Hà Minh Đức trong buổi Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách Nợ non sông với những vấn đề của bi kịch lịch sử diễn ra tại Hà Nội ngày 17/6/2014 đã phát biểu: Nợ non sông chứa đựng tư duy mới,

suy nghĩ mới Ông nói: ưu điểm lớn nhất của tập kịch bản này là ở tư duy mới, suy nghĩ mới Cách nghĩ là điều rất quan trọng và chúng ta tìm ra cách nghĩ mới là điều rất khó Phạm Quang Long luôn thể hiện suy nghĩ mới mẻ, khả

Trang 34

năng hư cấu và tưởng tượng giỏi trong các tác phẩm của mình Tôi trân trọng tài năng của Phạm Quang Long Vậy đây quả là một đột biến “sáng giá”

Nợ non sông được xem là vở bi kịch lịch sử Trong vở kịch này, tác

giả chọn nhân vật Phan Thượng thư, mà nhiều người cho rằng đó là nhân vật Phan Thanh Giản – một trí thức Nho giáo sống ở giai đoạn mà lịch sử xã hội

có nhiều biến động, đất nước có giặc ngoại xâm, trong khi triều đình không quyết đoán Người trí thức Nho giáo phải làm gì, phải ứng xử như thế nào trong rất nhiều mối quan hệ với đất nước, với nhân dân, với vua, với gia đình

và đặc biệt là với chính bản bân mình

Trong tác phẩm này, Phạm Quang Long đã đặt nhân vật Phan Thượng thư vào một tình huống rất khốc liệt buộc phải lựa chọn: nghĩa vụ, danh dự, tính mạng, lòng trung quân, nghĩa đồng bào, đạo quân thần, lương tâm làm người, đạo lí làm con…Các tình huống lựa chọn đối lập nhau gay gắt, căng thẳng,và đương nhiên nhân vật chỉ có thể được chọn một Với tư cách là thần

tử ông chỉ có thể làm theo lệnh vua mà không theo thì ông liệu có đường sống, có giữ được mạng của mình, đồng thời làm theo lệnh vua thì lại đi ngược với lương tâm với đạo lí làm người …trong ông Dù ở vị trí nào, chọn cách nào thì Phan Thượng thư cũng sẽ rơi vào kết cục bi thảm

Nhân vật Phan Thượng thư là một nhân vật bi kịch Trong triều đình, ông là vốn là người thuộc phe chủ chiến với Pháp chứ không chủ hòa Ngay khi mở đầu tình huống lựa chọn kí hay không kí hòa ước với Pháp đã cho thấy định mệnh bi thảm của Phan Thượng thư, nếu không kí Phan có thể bị giết nhưng sẽ không đau đớn bằng việc người trí thức Nho giáo có tâm huyết

và hết lòng vì nhân dân, đất nước, một con người luôn trọng danh dự của đồng bào…lại bị kết tội bán nước

Vốn dĩ Phan Thượng thư thuộc phe chủ chiến với Pháp chứ không chủ hòa Nhưng, khi triều đình sai ông đi sứ, ông đã rơi vào bẫy của những kẻ cơ hội Ông bị lừa và phải cắt đất để kí hòa ước với Pháp Từ nước ngoài vừa đặt

Trang 35

chân về quê hương, ông đã bị triều đình bắt giam Người ta kết tội ông là kẻ mãi quốc, kẻ phản bội đất nước, kẻ “làm nhục mệnh vua” Khí tiết của một nhà Nho, một trí thức lớn của thời phong kiến Việt Nam đã khiến ông không yên, mặc dù ngay từ đầu ông đã lờ mờ hiểu chỉ có điều chưa rõ ràng Ông từng nói với vợ về một tờ giấy mà mọi người hiểu đó là mật dụ của nhà vua:

“Chánh sứ phải đòi lại được bảo vật của tiên đế Nếu cần, có thể nhượng xứ

Hà Xuyên cho ngoại bang để đổi lấy bảo vật và giữ tình giao hảo Viện Cơ mật phụng thảo Xong việc, đốt ngay” [19; 152] Tuy nhiên, sự thực là Phan

Thượng thư đã kí hòa ước với thực dân, nên ông đã cắn rứt lương tâm, ông đau khổ tột đỉnh, ông không thể đổ lỗi cho ai, cho hoàn cảnh nào Vị quan họ Phan này đã thừa nhận sai lầm của mình cho dù bản thân ông bị lừa gạt Người trong nhà quở trách ông, nhân dân hận ông Hãy nghe Phan lão (mẹ

quan Thượng thư) nói: “Ta nghe con kí hòa ước mà không dám tin Dân vùng

Hà Xuyên kéo nhau bỏ chạy vì không chịu đội trời chung với giặc Tiếng kêu dậy đất Ai cũng nghiến răng trợn mắt hận con Họ thề không chịu làm dân vong quốc Ta cố sống chết về đây cũng là để kính cáo với tổ tiên là ta có tội

vì đã sinh ra một kẻ làm bại hoại tổ tiên” [19; 197] Lời nói của người mẹ

như bản án nghiêm minh dành cho Phan Thượng thư, liệu ông có thể thanh minh? Bi kịch của nhân vật là bi kịch của một cá nhân có đạo đức tốt, nhưng lại thụ động về tư tưởng nên khi Pháp đánh Việt Nam dần dần trở thành bị động trong hành động thực tiễn rồi sau cùng tiến tới chỗ phản động về ứng xử chính trị Phải chăng, đây còn là bi kịch của sự thất bại về tri thức? Tri thức của một thế giới cũ, một thế giới già cỗi đang rúng động và từng bước giải thể trong quá trình tiếp xúc với cái thế giới mới sung sức, năng động và tàn nhẫn hơn tới từ phương Tây Đây còn là bi kịch của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ XIX nói chung và nhà Nguyễn nói riêng, vì với một chính quyền thì sự bất lực trước nhiệm vụ thực tiễn luôn gắn liền với sự suy thoái về đạo đức chính trị.Trước cái nhục mất thành, mất đất đai của nhà Nguyễn, Phan

Trang 36

Thượng thư đã tự mình gánh chịu Nhưng nỗi khổ làm dân vong quốc của nhân sĩ Lục tỉnh thì ông không sao gánh được, ông biết mình mắc nợ với dân với nước và đã tự xử mình tội chết

Phan lão: Con chết, không phải để chạy trốn cho riêng mình đấy chứ? Phan: Thưa mẹ: Thưa mẹ, không Con chọn cái chết để rung lên hồi

chuông báo động Nước của ông cha, nước của tổ tiên từ ngàn đời, con cháu phải chung tay gìn giữ Ai có tà tâm, trời đất không dung, người người oán hận

Phan lão: Con đã làm ta cất được gánh nặng bấy nay…Ta tin rằng cái

chết của con sẽ thức tỉnh những tâm hồn đang lầm đường lạc lối…hậu thế sẽ chiêu tuyết cho con.…

Phan lão: Mẹ tha tội cho con Con chọn cái chết để mói với đời rằng,

con vô tình mà mang tội với non sông nên đành chọn cái chết để đền nợ đời…Cả nhà ta tất cả mọi người đều phải trả món nợ non sông của mình, món nợ không ai trả thay cho mình được Con đi, thanh thản [19; 201]

Một kết thúc bi thảm, một nỗi đau của sự bất lực và thất bại!

Ở kịch bản này, Phạm Quang Long muốn truy phong sự sám hối của một tâm hồn trong sáng, một lòng tự trọng tuyệt vời của một danh sĩ thời xưa trước vận mệnh đất nước Chọn Phan Thượng thư – Phan Thanh Giản làm đề tài để đưa lên sân khấu là một cách nhìn lạ Ở đây phải chăng tác giả muốn nhấn mạnh và đề cao danh dự của một nhà nho trí thức thời trước, cũng là đặt câu hỏi thầm trước công chúng, giới trí thức ngày nay Sự phân hóa của giới trí thức phản ánh trạng thái tinh thần của xã hội mà sự lựa chọn duy nhất đúng

là đứng về phía nhân dân, về lợi ích quốc gia, dân tộc Phan và gia đình rơi vào vòng xoáy của tình huống và sự khốc liệt được nhân lên bởi những âm mưu, toan tính của nhiều người khác Cái chết của Phan, sự tan nát của một gia đình, những bi kịch của nhiều nhân vật là những “chuyện đời thường” dễ

bị che lấp bởi những sự kiện lớn

Trang 37

Những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm nhân vật, những đau khổ tột cùng của người trí thức trong Phan Thượng thư và kết thúc bi thảm của nhân

vật đã chứng tỏ Nợ non sông là một vở bi kịch thực sự trong dòng kịch sử

của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Về nhân vật Hồ Chí Minh trong vở Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh

được tác giả khai thác theo một cách khác: thông qua 5 khoảnh khắc rất đời thường trong cuộc đời của Bác để đi đến một cái nhìn khái quát về Người Hồ Chí Minh vốn đã là một nhân vật quá nổi tiếng về vẻ đẹp của nhân cách Thậm chí ngay cả kẻ thù, dù có ghét ông bao nhiêu cũng không dám xúc phạm ông Tuy vậy, khi nghiên cứu kịch bản này, chúng tôi nhận thấy trong tác phẩm này cũng có cảm hứng bi kịch Đó là bi kịch của một người suốt đời

lo cho nhân dân, đất nước mà đã không lo được cho bản thân, ngay đến ngày giỗ mẹ Bác cũng không làm được một mâm cơm tươm tất để cúng mẹ

Cũng có mối liên hệ với các sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Công Trứ, Cao

Bá Quát, Hồ Chí Minh với quan điểm sống độc lập, họ đều có lập trường, có khí phách, cốt cách thanh cao, họ luôn mang trong mình một hoài bão lớn và coi đó là một nghĩa vụ cao cả, là trách nhiệm, là món nợ mà họ phải có nghĩa

vụ trả nợ Xét về thời đại sống, tất cả dưới ngòi bút của Phạm Quang Long dường như ai cũng bị đặt vào tình huống phải lựa chọn, lựa chọn giữa sống và chết, giữa danh dự và trách nhiệm, bổn phận…Với những tình huống, những mâu thuẫn trong tác phẩm, họ đều rơi vào bi kịch cuộc đời – bi kịch của mỗi

cá nhân Còn bi kịch của nhân vật Phan Thượng thư trong Nợ non sông lại là

bi kịch thời đại, bi kịch lịch sử

2.1.2 Cảm hứng phê phán

Cảm hứng phê phán là một trong những cảm hứng quan trọng của kịch lịch sử Cảm hứng phê phán là sự phủ định, lên án mạnh mẽ và gay gắt đối với những phương diện nào đó trong đời sống xã hội Trong tác phẩm văn học, cảm hứng phê phán thường là thái độ quan tâm của nhà văn tới xung đột

Trang 38

trong xã hội và trong nội tâm con người Khi nào và ở bất kì đâu còn tồn tại những mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác…thì cảm hứng phê phán sẽ có điều kiện để hình thành và phát triển

Nói về cảm hứng phê phán, Lê Ngọc Trà cho rằng: “Sự miêu tả thành công cái xấu, cái ác và rộng hơn là cái dị dạng, cái buồn cười trong tác phẩm nghệ thuật đánh dấu một bước trưởng thành của văn học, chứng tỏ năng lực bao quát cuộc sống, sự truyền tải và trình độ sâu sắc của nhà văn” [45; 21]

Một trong những chức năng tuyệt vời của văn học là hướng con người đến cách sống nhân bản hơn, cao đẹp hơn, có ý nghĩa hơn Trong mỗi giai đoạn lịch sử, tình hình kinh tế xã hội luôn biến động, văn học cũng luôn biến động hòa vào dòng chảy hối hả của xã hội Nó phản ánh một cách sâu sắc và tường tận mọi ngõ ngách sinh động của cuộc sống Lịch sử dẫu có đổi thay lúc thăng, lúc trầm thì xã hội vẫn luôn tồn tại song hành hai thái cực trái ngược đó là tốt – xấu, chính – tà, ánh sáng – bóng tối Cách mỗi nhà văn nhìn nhận đánh giá và phản ánh về hai thái cực ấy trong mỗi giai đoạn văn học lại

có những biểu hiện khác nhau Văn học Việt Nam dành nhiều trang viết để tiếp cận những mảng khuất của cuộc sống, những dòng chảy tâm lí bên trong, những nỗi đau âm ỉ dai dẳng đã và đang diễn ra trong cuộc sống thường nhật

Cảm hứng phê phán trong văn học đã có từ lâu Trong văn học trung đại các nhà văn thường quan niệm “văn dĩ tải đạo”, dùng nhân vật minh họa cho những lí thuyết về số kiếp, về quả báo của nhà Phật hay cho những nguyên tắc của luân lí Nho giáo…

Cảm hứng phê phán trong văn học xuất hiện mạnh mẽ nhất trong văn học Việt Nam thời kì 1930-1945, dựa trên những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội lúc bấy giờ Cảm hứng chung của văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945 là vạch trần bộ mặt xấu xa của xã hội thực dân phong kiến thối nát, phê phán một cách gay gắt các thế lực thống trị

Trang 39

xã hội trên cơ sở cảm thông, yêu thương trân trọng con người đặc biệt là những con người bị vùi dập, chà đạp Ở giai đoạn này, kịch nói có nhiều chuyển biến quan trọng và mang một màu sắc mới đó là mâu thuẫn giữa thực tại cuộc sống với những ước mơ và mộng tưởng

Từ những năm 1940 trở đi, cũng như các thể loại khác, kịch cũng hình thành hai khuynh hướng chính là khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực Riêng ở mảng khuynh hướng hiện thực, kịch hướng đến việc phản ánh và khai thác xung đột về quyền lợi giữa các giai cấp

Cảm hứng hiện thực được thể hiện trong kịch giai đoạn 1954 -1975 là luôn đề cao cộng đồng và yếu tố tinh thần; chức năng giáo dục và nhận thức lấn át chức năng thẩm mĩ Giai đoạn đầu nhân vật được xây dựng theo hai tuyến đối lập rõ ràng: ta tốt – địch xấu, ta anh hùng – địch hèn nhát, ta có lí tưởng – địch không có lí tưởng… từ đó ta luôn thắng – địch luôn thua Quan niệm này khiến cho kịch rơi vào tình trạng đơn điệu, tẻ nhạt Về sau, với cái nhìn hiện thực khách quan, mở rộng hơn, xung đột kịch không chỉ dừng lại ở mâu thuẫn địch – ta, mà một số vở đã khai thác xung đột ngay trong nội bộ

nhân dân, hoặc ngay trong chính một con người như vở Đại đội trưởng của

tôi của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh

Văn học kịch giai đoạn 1975- 2000 có thể coi là giai đoạn hậu chiến và đổi mới Với thực trạng xã hội sau năm 1975, kịch không tránh khỏi những lung túng, bỡ ngỡ ban đầu Nếu như trong chiến tranh, kịch chỉ tập trung vào

đề tài chiến đấu chống Mĩ, mô tả phẩm chất người chiến sĩ trên chiến trường, thì trong hòa bình, phạm vi đề tài cũng như đối tượng cần mô tả là con người – nhân vật phải có sự đổi mới Vào thời điểm này, kịch đã có sự phân hóa, mở rộng nhiều phương diện Hai nguồn mạch chính thu hút sự quan tâm, chú ý của kịch đó là đề tài kháng chiến, trong đó tập trung vào đề tài chống Mĩ cứu nước, và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngoài ra đề tài lịch sử, đề tài thiếu nhi, đề tài đấu tranh cách mạng từ ngày có Đảng… cũng là những vấn đề

Trang 40

quan tâm chung của kịch giai đoạn này Bên cạnh việc ca ngợi cái đẹp, cái anh hùng, đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Chúng ta cần khuyến khích sự phê phán và có nhiệm vụ phê phán những cái xấu, cái không đúng còn tồn tại trong xã hội ta, để loại trừ nó, để phá bỏ nó” [34; 47]

Văn học kịch giai đoạn sau năm 2000, đặc biệt là đầu thế kỉ XXI đã vượt qua văn học hiện thực phê phán ở nhiệm vụ lịch sử mới của nó là khẳng định

xu thế phát triển theo chiều hướng tiến bộ và chiến thắng của hiện thực mới – hiện thực tốt đẹp trong thời kì mở cửa, Kịch giai đoạn này đang có xu thế đấu tranh cho những tư tưởng nhân văn của con người khi nó đồng thời làm tốt hai nhiệm vụ là phê phán và khẳng định như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là phải “phò chính trừ tà” Nhiều tác giả văn học kịch thời hiện đại đã ngày đêm trăn trở, viết nhiều vở kịch đặc biệt là kịch lịch sử để phản ánh chân thực sự phức tạp, bề bộn của cuộc sống Bên cạnh những nhà viết kịch như Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Duy Hạnh, Võ Thị Hảo…thì Phạm Quang Long cũng là tác giả tiêu biểu của kịch lịch sử giai đoạn đầu thế kỉ XXI khi ông cho xuất bản liên tiếp 4 vở kịch lịch sử Mỗi vở sẽ phản ánh một nhân vật, một sự kiện khác nhau nhưng ở đó người đọc đều sẽ cảm nhận được nỗi đau nhân thế khi phải chứng kiến sự thực cay nghiệt của cuộc sống, thói tư duy giáo điều máy móc, sự tôn thờ chủ nghĩa vật chất, sự coi trọng quyền lực, con người sa đọa, độc ác, giả dối…Muôn vàn những nhức nhối của cuộc sống được phản ánh trong sáng tác về đề tài lịch sử của Phạm Quang Long Hơn nữa Phạm Quang Long viết kịch về đề tài lịch sử không phải chỉ đơn thuần là dựng lại lịch sử, cũng không nhằm phủ định hay phê phán thuần túy, phủ định sạch trơn những mặt tiêu cực còn tồn tại trong xã hội, viết nhiều về cái xấu, cái ác nhưng ông vẫn luôn đặt niềm tin vào con người và cuộc sống Từ quá khứ mà con người biết thanh lọc bản thân để khát khao hướng thiện và xây dựng một cuộc sống tươi đẹp trong tâm hồn mỗi con người chân chính Mỗi tác phẩm kịch lịch sử được xây dựng đều nhằm mục đích qua những gì thuộc về lịch sử, con người hiện đại rút ra được bài học về cuộc sống hôm nay

Ngày đăng: 05/06/2018, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (2003), Hoàng Cầm tác phẩm, NXB Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Cầm tác phẩm
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
3. Phạm Vĩnh Cư (2004), Sáng tạo và giao lưu, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo và giao lưu
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2004
4. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
5. Đặng Anh Đào (chủ biên) (1998), Văn học phương Tây, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
8. Hà Minh Đức (2012) (chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Hegel, G.W.F. (1954), (Bản dịch của Viện Khoa học xã hội), Mỹ học – Những văn bản chọn lọc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học – Những văn bản chọn lọc
Tác giả: Hegel, G.W.F
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1954
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
12. Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện văn chuyện đời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
15. Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện văn chuyện đời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
16. Hoàng Ngọc Hiến (1998), Năm bài giảng về thể loại văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Phan Kế Hoành, Vũ Quang Vính (1982), Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nới Việt Nam (1054-1975), NXB Văn hóa,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nới Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Hoành, Vũ Quang Vính
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1982
18. Nguyễn Lộc (1997), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX), NXB Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX)
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục)
Năm: 1997
19. Phạm Quang Long (2014), Nợ non sông, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ non sông
Tác giả: Phạm Quang Long
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2014
20. Phạm Quang Long (2016), Lạc giữa cõi người, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạc giữa cõi người
Tác giả: Phạm Quang Long
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w