1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng văn hóa nhà trường trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp

120 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 --- NGUYỄN THỊ HỢP XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ KHÍ NÔN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

-

NGUYỄN THỊ HỢP

XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRONG

BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

-

NGUYỄN THỊ HỢP

XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TRONG

BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VŨ BÍCH HIỀN

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tế cho thấy, sự thành công nào cũng gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người xung quanh cho dù sự giúp đỡ đó là ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường ĐHSP Hà Nội II, khoa quản lý giáo dục và 5 tháng làm luận văn nghiên cứu về đề tài: “Xây dựng văn hóa nhà trường trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp” em đã nhận được sự quan tâm chỉ bảo giúp đỡ của thầy

cô, gia đình và bạn bè xung quanh

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ của các thầy cô giảng viên, cán bộ, phòng ban chức năng của trường đại học Sư phạm Hà Nội II đã giúp

đỡ em hoàn thành bài luận văn này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Vũ Bích Hiền - người đã tận tâm chỉ bảo hướng dẫn em qua từng buổi học, buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài nghiên cứu Nhờ có những lời hướng dẫn, chỉ bảo của cô em mới hoàn thành bài luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và các em HS-SV trường CĐ CKNN cùng với gia đình đã luôn động viên khích lệ tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện để em có thể hoàn thành bài luận văn một cách tốt nhất

Với sự nỗ lực hết sức của bản thân em đã cố gắng hoàn thành luận văn với nội dung đầy đủ, có hướng mở Tuy nhiên do điều kiện thời gian và vốn kiến thức còn hạn chế của mình, luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để em học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm, nâng cao kiến thức của bản thân phục vụ tốt cho quá trình công tác của em sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hợp

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 26 tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hợp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3 4 Giả thuyết khoa học 3 5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4 7 Phương pháp nghiên cứu 4 8 Cấu trúc luận văn 4 NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Nghiên cứu văn hóa nhà trường 5

1.1.2 Nghiên cứu quản lý văn hóa nhà trường 7

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 9

1.2.2 Văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường 13

1.3 Một số vấn đề lý luận về văn hóa nhà trường 16

1.3.1 Vai trò của văn hóa nhà trường 16

1.3.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường 19

Trang 6

1.3.3 Biểu hiện của văn hóa nhà trường 20

1.4 Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và ảnh hưởng của nó tới văn hóa nhà trường 22

1.4.1 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 22

1.4.2 Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới văn hoá nhà trường và quản lý văn hoá nhà trường 23

1.5 Xây dựng văn hóa nhà trường cao đẳng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 26

1.5.1 Vai trò của hiệu trưởng trong việc xây dựng văn hóa nhà trường 26

1.5.2 Nội dung xây dựng văn hóa nhà trường cao đẳng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 28

Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP 37

2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 37

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 37

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 38

2.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo 44

2.1.4 Quy mô và chất lượng giáo dục 45

2.2 Giới thiệu khảo sát 47

2.2.1 Mục đích khảo sát 47

2.2.2 Nội dung khảo sát 47

2.2.3 Phương pháp khảo sát 47

2.2.4 Đối tượng khảo sát 48

2.3 Kết quả khảo sát 49

2.3.1 Thực trạng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 49

2.3.2 Thực trạng xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 62

Trang 7

2.4 Đánh giá thực trạng 64

2.4.1 Ưu điểm 64

2.4.2 Hạn chế 65

2.4.3 Nguyên nhân 66

Kết luận chương 2 66

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ KHÍ NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 68

3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 68

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu dạy học, tính tư tưởng của công tác giáo dục 68

3.1.2 Đảm bảo tính khoa học, hệ thống 68

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 69

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 69

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 69

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính xây dựng và phát triển 70

3.2 Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 70

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84

3.4 Tổ chức khảo nghiệm 84

3.4.1 Mục tiêu khảo nghiệm 84

3.4.2 Nội dung và cách thức khảo nghiệm 84

3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 85

Kết luận chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 99

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Chữ viết tắt

PTQHDN Phát triển quan hệ doanh nghiệp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ sở hạ tầng của nhà trường 44

Bảng 2.2: Thiết bị phục vụ đào tạo 45

Bảng 2.3: Kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ giảng viên 46

Bảng 2.4: Kết quả đánh giá xếp loại học tập và rèn luyện của học sinh 47

Bảng 2.5: Vai trò của VHNT đối với chất lượng giáo dục 49

Bảng 2.6: Đánh giá các yếu tố bề nổi của văn hoá nhà trường 54

Bảng 2.7: So sánh kết quả đánh giá yếu tố bề nổi của VHNT ở trường CĐ CKNN 55

Bảng 2.8: Đánh giá các yếu tố bề sâu của văn hoá nhà trường 58

Bảng 2.9: So sánh đánh giá các yếu tố bề sâu của VHNT ở trường Cao đẳng CKNN 59

Bảng 2.10: Thực trạng xây dựng VHNT trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 62

Bảng 3.1: Kiểm chứng tính cần thiết của các biện pháp xây dựng VHNT của HT 85

Bảng 3.2: Kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp xây dựng VHNT của HT 88

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp 41 Biểu đồ 2.1 Nhận thức về vai trò của văn hóa nhà trường 50 Biểu đồ 2.2: So sánh đánh giá các yếu tố bề nổi của VHNT ở trường CĐ

CKNN 56 Biểu đồ 2.3: Đánh giá các yếu tố bề sâu của VHNT ở trường Cao đẳng CKNN 59 Biểu đồ 2.4: So sánh đánh giá các yếu tố bề sâu của VHNT ở trường CĐ

CKNN 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mỗi nhà trường, văn hóa tồn tại một cách tự nhiên và khách quan Do vậy, nhà trường nào cũng có văn hóa của riêng mình Để tạo lập và phát triển bản sắc văn hóa riêng, mỗi nhà trường cần nhận thức rõ bản chất văn hóa của trường mình; đồng thời, quá trình xây dựng và phát triển văn hóa ở một nhà trường phải là việc làm lâu dài, có chủ đích rõ ràng và tiếp nối của các chủ thể quản lý nhà trường cùng với sự thống nhất, đồng thuận của tập thể sư phạm

Các nhà giáo dục trên thế giới cho rằng: để một trường học phát triển bền vững thì nhà trường đó cần có một môi trường văn hóa khuyến khích tất cả mọi người làm việc và học tập, cống hiến trí tuệ và sức lực của bản thân cho nhà trường Khi có được một nền văn hóa như vậy thì nhà trường sẽ dễ dàng đạt được viễn cảnh, sứ mạng và các mục tiêu đã đặt ra

Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn bản lề của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng công nghiệp 4.0) với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật kết nối vạn vật, rôbôt, công nghệ nanô, công nghệ sinh học… đang làm thay đổi cuộc sống của con người Điều đó mở ra không ít những triển vọng phát triển giáo dục cho các quốc gia và cho các nhà trường, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với việc giữ gìn bản sắc, phát triển văn hóa nói chung và văn hóa nhà trường nói riêng

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của văn hoá, con người; phải thực hiện có kết quả mục tiêu xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” và một trong những hạn chế trong xây dựng, phát triển văn hóa, con người ở nước ta trong 5 năm 2011 - 2015 là: “Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục”, “đạo đức, lối sống có

Trang 12

mặt xuống cấp đáng lo ngại”, văn kiện cũng chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, trong đó có nguyên nhân “nhiều cấp ủy, chính quyền nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt” Đồng thời, văn kiện cũng nêu ra phương hướng, nhiệm vụ về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong những năm tới là: “xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, đạo đức, lối sống”, “phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh”

Ở Việt Nam, trong những năm qua, văn hóa nhà trường đã chịu những tác động rất lớn từ môi trường văn hoá - xã hội theo xu thế phát triển của kinh tế thị trường và toàn cầu hoá Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 phát triển văn hóa tổ chức của nhà trường cần được định hướng để thực sự phát huy ảnh hưởng tích cực của nó đến mọi thành viên trong tổ chức nhà trường - đặc biệt là thế

hệ trẻ đang trưởng thành

Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp là trường Cao đẳng thuộc xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Trong những năm qua được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các sở ban ngành đóng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; của UBND huyện Bình Xuyên; UBND xã Tam Hợp, xã Hương Sơn và các doanh nghiệp trong và ngoài Tỉnh nên cơ sở vật chất của nhà trường từng bước được ổn định, tháng 11 năm 2017 nhà trường vinh dự được nhận huân chương lao động hạng nhì của Đảng và Nhà Nước vì có thành tích suất sắc trong sự nghiệp giáo dục

Văn hóa nhà trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp để đáp ứng được với sự phát triển chung đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì cần phải có những thay đổi, bổ sung, rút kinh nghiệm kịp thời để đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi phát triển của kinh tế, văn hoá, giáo dục Vai trò của Hiệu trưởng đối với việc quản lý văn hóa nhà trường là hết sức cần thiết và cấp bách để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trong nhà trường Vì vậy đổi mới quản lý văn hóa nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục luôn là vấn đề cần được quan tâm

Trang 13

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng văn hóa nhà trường trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp xây dựng VHNT mang tính khả thi, phù hợp với thực

tế quản lý giáo dục ở Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà trường và chất lượng giáo dục toàn diện nhân cách người học trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý văn hóa nhà trường ở Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp lần thứ 4

4 Giả thuyết khoa học

Nếu có các biện pháp xây dựng VHNT phù hợp với lý luận của khoa học quản lý giáo dục, quản lý văn hóa, những thay đổi của bối cảnh và điều kiện thực tế của Trường CĐ CKNN, khi được áp dụng sẽ tạo nên một môi trường giáo dục tích cực cho cán bộ, giáo viên và học sinh, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của Trường CĐ CKNN trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng VHNT bậc CĐ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng VHNT và thực trạng xây dựng VHNT ở Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp

5.3 Đề xuất các biện pháp xây dựng VHNT ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Trang 14

6 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Tập trung vào các biện pháp xây dựng văn hóa của

HT nhà trường

- Địa bàn khảo sát: Trường Cao đẳng CKNN

- Khách thể khảo sát, điều tra:

+ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Trưởng khoa, Phó trưởng khoa: 56 người + Giáo viên Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp: 99 người

+ SV của Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp: 179 người

+ HS của Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp: 175 người

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm các PP phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu về lý luận có liên quan đến công tác xây dựng VHNT để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- PP điều tra bằng phiếu hỏi, quan sát, phỏng vấn: Để đánh giá thực trạng xây dựng VHNT ở Trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp

- PP tổng kết kinh nghiệm: để tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế của công tác xây dựng VHNT từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm

7.3 Các phương pháp khác

- PP thống kê toán học: sử dụng toán thống kê để tổng hợp kết quả điều tra

và xử lý dữ liệu

8 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng văn hoá nhà trường ở trường Cao đẳng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Chương 2: Thực xây dụng văn hoá nhà trường ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp

Chương 3: Biện pháp xây dựng văn hoá nhà trường ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Trang 15

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG

CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu văn hóa nhà trường

Nhiều nghiên cứu về văn hoá ở nước ngoài cho thấy văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa thường được đề cập đến như là “một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (UNESCO, 2002) [1]

Nhiều nhà nghiên cứu như Eldrige và Crombie, Louis, Tunstall đã bàn về khái niệm văn hóa tổ chức (Organization Culture) Tích hợp từ hai khái niệm "văn hóa" và "tổ chức" có thể hình thành khái niệm "văn hóa tổ chức", ví dụ các định nghĩa như sau:

Theo Eldrige và Crombie, (1974): Khi nói đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc

Theo Louis (1980): Văn hóa tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức Những quan niệm này phần lớn được các thành viên ngầm định trong nhận thức, hành vi ứng xử và chỉ thích hợp cho tổ chức riêng của họ Các quan niệm này được truyền cho các thành viên mới

Theo Tunstall (1983): Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách thức hoạt động riêng của từng tổ chức Các mặt đó quy định mô hình hoạt động của

tổ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức đó

Trang 16

Nghiên cứu của các tác giả nêu trên cho chúng ta quan niệm chung nhất về văn hóa tổ chức, đó là: Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hóa được chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng có của một tổ chức

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng quan tâm tìm hiểu đặc trưng của tổ chức giáo dục/nhà trường và và đặc trưng của văn hoá nhà trường Văn hoá tổ chức của một nhà trường được hiểu là là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm [5]

G.C Urben, L.W.Hugies, C.J Noris, 2004 đã nhấn mạnh đặc trưng và vai

trò của văn hoá nhà trường khi cho rằng: “Một nhà trường tốt có chuẩn chất lượng cao, có kỳ vọng cao đối với học sinh, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có văn hóa nhà trường tốt” [4]

Ở Việt Nam, văn hoá nhà trường (VHNT) đã được các nhà nghiên cứu giáo dục đề cập từ lâu và coi đây là yếu tố cơ bản để phát triển đối với từng nhà trường nói riêng cũng như toàn hệ thống các trường học nói chung, nó được coi là một yếu

tố làm nền tảng và định hướng cho sự phát triển và tiến bộ của nhà trường Gần đây

có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như Phạm Quang Huân: “Văn hóa

tổ chức - hình thái cốt lõi của văn hoá nhà trường” [5], Nguyễn Thị Kim Ngân:

“Văn hóa giao tiếp trong nhà trường”; Lê Thị Ngọc Thuý với tác phẩm “Xây dựng văn hoá nhà trường phổ thông – Lý thuyết và thực hành” Theo Phạm Quang Huân

“xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính - sư phạm Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều, một nền văn

hoá nhất định” [5]

Trang 17

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã xây dựng lý luận về văn hoá nhà trường, quản lý văn hoá nhà trường dựa trên nền tảng lý luận của các nhà nghiên cứu về văn hoá trên thế giới và đã bổ sung làm rõ những đặc trưng văn hoá của con người Việt Nam, nhà trường phổ thông Việt Nam Tuy nhiên các tác giả trên chưa khảo cứu chuyên sâu về VHNT cao đẳng, đặc biệt là chưa đề cập đến công tác xây dựng VHNT ở các trường CĐ trong bối cảnh xã hội ngày càng thay đổi, vạn vật đều kết nối intenet

1.1.2 Nghiên cứu quản lý văn hóa nhà trường

Quản lý VHNT là một nội dung quan trọng của quản lý và lãnh đạo nhà trường Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước nghiên cứu vấn đề này VHNT với tính trọn vẹn như văn hóa của một tổ chức đã được đề cập đến trong các nghiên cứu gần đây về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường Chẳng hạn:

Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý giáo dục, Nhà

xuất bản ĐHSP Trong đó, tác giả nghiên cứu theo hướng áp dụng các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức vào giáo dục và quản lý giáo dục Tác giả chỉ ra bộ ba cấu thành nên văn hóa tổ chức đó là nhận thức - hành vi - thái độ và được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tổ bên trong và với môi trường bên ngoài của tổ chức [20]

Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Quản lí VHNT, Tài liệu bài giảng chương trình

đào tạo thạc sĩ QLGD, trường ĐHGD, ĐHQG Hà Nội Trong tài liệu này, tác giả đã

hệ thống lại các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức cũng như VHNT, từ đó đưa ra những gợi ý và những hướng vận dụng trong xây dựng VHNT đối với các nhà trường

ở Việt Nam [2]

Phạm Quang Huân (2007), “Văn hóa tổ chức - hình thái cốt lõi của VHNT”,

Kỷ yếu Hội thảo văn hóa học đường, Viện nghiên cứu sư phạm, Trường ĐHSP Hà

Nội Trong đó tác giả cũng tiếp tục khẳng định, VHNT là văn hóa của một tổ chức Tác giả phân tích 7 biểu hiện trong hình thái và cấp độ biểu hiện của VHNT đồng thời đưa ra 5 lí do để khẳng định tầm quan trọng của VHNT đối với chất lượng giáo dục: Văn hóa là tài sản lớn của bất kì một tổ chức nào, VHNT tạo động lực làm

Trang 18

việc, VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát, VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường [5]

Tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt và Nguyễn Xuân Thanh thì đi nghiên cứu về văn hoá tổ chức, vận dụng vào phân tích văn hoá nhà trường và chỉ ra tính đặc trưng của người lãnh đạo văn hoá nhà trường thế kỷ 21 Các tác giả cho rằng “trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, trước những tác động to lớn của sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, nhà trường Việt Nam hiện nay cần có sự thay đổi phù hợp Hiệu trưởng trong thế kỷ 21 không chỉ có chỉ

số thông minh cao mà quan trọng hơn là chỉ số cảm xúc cao; không phải là người hùng biện mà là người biết lắng nghe; không phải là người độc đoán mà là người trợ giúp, không phải chỉ là người quản lý mà còn phải là nhà lãnh đạo [4]

Một số công trình nghiên cứu về xây dựng văn hoá nhà trường dưới góc độ

của khoa học quản lý ở trình độ thạc sĩ ví dụ như Nguyễn Thị Minh Nguyệt với

nghiên cứu “Biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục của Hiệu trưởng các trường tiểu học thành phố Hà Nội” (2011) Hà Quang Trung – “Biện pháp xây dựng văn hoá nhà trường ở trường Cao đẳng Dược, Phú Thọ” (2011); Nguyễn Thị Diễm – “Biện pháp xây dựng văn hoá nhà trường của Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm Tây Ninh” (2014); Phạm Thành Luân với đề

tài “Xây dựng văn hóa nhà trường tạo động lực làm việc cho giáo viên ở các trường THPT của huyện Điện Biên trong bối cảnh hiện nay” (2014) Các công trình nghiên cứu này đều nghiên cứu đánh giá thực trạng xây dựng văn hoá nhà trường ở địa bàn mà họ lựa chọn từ đó đề xuất các biện pháp của Hiệu trưởng nhằm xây

dựng văn hoá nhà trường lành mạnh, hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục

Nhìn chung, các nghiên cứu nói trên tập trung vào hai hướng cơ bản: thứ nhất, các vấn đề lí thuyết của VHNT (sự hình thành và phát triển của VHNT, cấu trúc, các cấp độ và biểu hiện của VHNT, vai trò của VHNT, vai trò của Hiệu trưởng trong xây dựng VHNT ); thứ hai, nghiên cứu và xây dựng các công cụ, đưa ra các hướng dẫn để vận dụng vào thực tiễn nhằm đánh giá VHNT, định hình VHNT theo hướng tích cực; thực hiện những nghiên cứu cụ thể về đánh giá VHNT hay xây

Trang 19

dựng các giá trị của trường học văn hóa như những gợi ý hay hướng dẫn để các nhà trường có thể áp dụng vào điều kiện thực tế của trường mình

Tuy nhiên, do đặc thù của trường CĐ và điều kiện của từng địa phương cũng như sự quan tâm của các nhà quản lý với công tác xây dựng và phát triển VHNT, trong những năm qua, xây dựng văn hóa ở trường Cao đẳng Cơ khí nông nghiệp (CĐ CKNN) cũng được quan tâm để đáp ứng được với sự phát triển chung Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì VHNT Cao đẳng CKNN cần phải có những thay đổi, bổ sung, rút kinh nghiệm kịp thời để đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi phát triển của kinh tế, văn hoá, giáo dục Trong đó, vai trò của HT đối với việc xây dựng văn hóa nhà trường là hết sức cần thiết và cấp bách để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trong nhà trường

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý là khái niệm rất chung, tổng quát dùng cho cả quá trình quản lý xã hội (xí nghiệp, trường học, đoàn thể…), quản lý giới vô sinh (hầm mỏ, máy móc…) cũng như quản lý giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng…) Riêng về quản lý xã hội người ta lại chia ra 3 lĩnh vực quản lý cơ bản tương ứng với 3 loại hình hoạt động chủ yếu của con người: quản lý sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý xã hội chính trị và quản lý đời sống tinh thần

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý:

Quản lý - theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô, 1977 – là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [8]

Theo Theo James Stoner và Stephen Robbin cho rằng: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong

tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [18]

Trang 20

Ở Việt Nam tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [9, tr 32]

Theo Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của

tổ chức” Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là

quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [2]

Như vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ, phương tiện quản lý; cách thức quản lý và môi trường quản lý Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội, vĩnh hằng thì cũng có thể nói như thế

về quản lý giáo dục Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ trước cho thế hệ sau có trách nghiệm kế thừa và phát triển nó một cách sáng tạo giúp con người và xã hội phát triển không ngừng Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên và cũng như quản lý xã hội nói chung thì quản lý giáo dục

là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Nhà quản lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội… bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực

Về thuật ngữ “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau:

Theo tác giả Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng hiệu quả và mục

Trang 21

tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội [8, tr 14]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản

lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [3, tr 61]

Theo tác giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động [7, tr 10]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [13, tr 31]

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo.Hiểu một cách cụ thể là quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh

Tóm lại, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho

sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục, là một thiết chế đặc biệt của xã hội thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục

Trang 22

cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó

là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục và là cấp độ quản

lý giáo dục vi mô

Trong nghiên cứu khoa học trên bình diện vi mô, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận dẫn đến sự phong phú về quan niệm:

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vào vận hành theo nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” Ông cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý đội ngũ GV, quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ GV, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục đích giáo dục” [3]

Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất

cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế

và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên [21]

Có thể thấy, quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (HT, các bộ phận chức năng, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp trên) đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường Trong nhà trường, giáo viện và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý Với tư cách là đối tượng quản lý họ chịu tác động của chủ thể quản

lý (HT) Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào

Trang 23

hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản Vì vậy, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người hiệu trưởng mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường trong đó HT là người phụ trách cao nhất và chịu trách nhiệm cao nhất về các hoạt động và quản lý xây dựng mọi hoạt động của nhà trường

1.2.2 Văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường

1.2.2.1 Văn hóa

Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người và bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh phi vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa

Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, văn hóa học, xã hội học và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Danh nhân Văn hóa Thế giới đã nêu lên định nghĩa về văn hóa như sau: “vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở, và các phưng thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [10]

Theo UNESCO (2001): “Văn hóa theo nghĩa rộng là một tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm, khắc họa lên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những truyền thống tín ngưỡng” [1]

Hiểu theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc

Trang 24

thù riêng” [1] Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, có đạo đức hay vô đạo đức, đúng hay sai ) theo cộng đồng ấy Hay nói một cách vắn tắt thì văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc kia

Có thể nói, văn hóa là một khái niệm hết sức phong phú, phức tạp song đều

có các đặc trưng sau: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội văn hóa tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa đồng thời được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

1.2.2.2 Văn hóa tổ chức

Tổ chức là một đơn vị xã hội được hình thành nhằm điều phối một cách có ý thức, có phạm vi, lĩnh vực và có chức năng hoạt động rõ ràng nhằm đạt một hoặc

nhiều mục tiêu đề ra

Đề cập đến khái niệm "văn hoá tổ chức", các nhà nghiên cứa đã đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau Trước khi hai khái niệm "văn hoá" và "tổ chức" được ghép lại với nhau thì nghĩa của chúng đã được khu biệt, hẹp lại rất nhiều nhưng cụm từ

"văn hoá tổ chức" vẫn có rất nhiều định nghĩa khác nhau như:

Theo Shwartz và Davis, “văn hóa tổ chức là lối tư duy và lối làm việc đã thành thói quen và truyền thống, nó được chia sẻ ở mức độ nhiều hay ít giữa tất cả các thành viên; những điều đó các thành viên mới phải học và ít nhất phải chấp nhận một phần để hòa đồng với các thành viên và tổ chức” văn hóa tổ chức được hình thành khi các thành viên trong nhóm “học được cách thức giải quyết những vấn đề của thích ứng với môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong - những giả định cơ bản đã vận hành tốt và được xem là có giá trị và vì vậy được dạy cho

Trang 25

những thành viên mới như những cách thức đúng để nhận thức, suy nghĩ và cảm giác trong khi xem xét các vấn đề” [9]

Khái niệm văn hoá của một tổ chức được Greert Hofstede định nghĩa: “đó là

một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử của một tổ chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tổ chức này với các thành viên của tổ chức khác” [16]

Văn hóa tổ chức là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong tổ chức; thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau trong tổ chức và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dài; phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong cùng lĩnh vực [11]

Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian [10]

Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng dù phát biểu theo những cách khác nhau về văn hóa tổ chức nhưng nói chung các tác giả đều chủ yếu nhấn mạnh

về hình thức tín ngưỡng, giá trị và thói quen được phát triển trong suốt quá trình lịch sử của tổ chức đó Những điều này được thể hiện trong cách điều hành và hành

vi ứng xử cửa các thành viên trong một tổ chức, tạo nên nét riêng biệt của tổ chức

đó so với các tổ chức khác Văn hóa tổ chức chỉ tồn tại trong một tổ chức chứ không phải trong một cá nhân Vì vậy, các cá nhân có những nền tảng văn hóa, lối sống, nhận thức khác nhau, ở những vị trí làm việc khác nhau trong một tổ chức sẽ

có khuynh hướng hiển thị văn hóa tổ chức đó theo cùng một cách và có liên quan đến cách nhận thức, lối hành xử của các thành viên đối với bên trong và bên ngoài

tổ chức đó

1.2.2.3 Văn hóa nhà trường

Nhà trường xét về bản chất là một tổ chức hành chính – sư phạm, mỗi nhà trường đều có nền văn hóa của nó Trong một tổ chức nói chung cũng như một Nhà trường, văn hóa luôn tồn tại trong mọi hoạt động tổ chức đó Vấn đề là con người

Trang 26

có ý thức được sự tồn tại của nó để quản lý và sử dụng sức mạnh của nó hay không Bản thân văn hóa rất đa dạng và phức tạp Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về văn hóa, nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu đều có một nghĩa chung căn bản: văn hóa là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn

Văn hoá nhà trường có đầy đủ đặc tính của văn hoá tổ chức song nó có những đặc trưng riêng Và hơn bất cứ tổ chức nào hết trong xã hội, nhà trường phải

là tổ chức có “hàm lượng” văn hóa cao nhất; là nơi hội tụ, kết tinh văn hóa để đào

tạo ra những chuẩn mực văn hóa cho xã hội Theo Kent D Peterson và Terrence E Deal định nghĩa “VHNT là một dòng chảy ngầm của những chuẩn mực, giá trị, niềm tin, truyền thống và nghi lễ được hình thành theo thời gian do con người làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề và đối mặt với các thách thức định hình suy nghĩ, cảm xúc và hành động của con người trong nhà trường tạo cho nhà trường

sự khác biệt” [6]

Văn hóa nhà nhà trường gắn liền với chất lượng giáo dục, “Một nhà trường

tốt có chuẩn chất lượng cao, có kỳ vọng cao đối với học sinh, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có văn hóa nhà trường tốt” (G.C Urben,

L.W.Hugies, C.J Noris, 2004) [4]

Với các cách tiếp cận cơ bản như trên, tác giả xin được đưa ra khái niệm văn hóa nhà trường như sau: Văn hóa nhà trường là một tập hợp các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong Nhà trường cùng chia sẻ và

tạo nên bản sắc của nhà trường đó

1.3 Một số vấn đề lý luận về văn hóa nhà trường

1.3.1 Vai trò của văn hóa nhà trường

Văn hóa nhà trường có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mọi mặt, mọi hoạt động trong nhà trường Nếu quản lý tốt thì văn hóa sẽ mang lại sự hiệu quả, tích cực

và chất lượng, ngược lại nếu quản lý không tốt sẽ không phát huy được hết những vai trò này, làm giảm động lực, giảm uy tín cũng như chất lượng giáo dục của nhà trường

Trang 27

Đối với người học, văn hóa nhà trường được coi là chương trình đào tạo ẩn Nhà trường bên cạnh nhiệm vụ dạy chữ còn có trách nhiệm dạy văn hóa, truyền thụ các giá trị văn hóa Bản thân người thầy và bất kể một yếu tố nào trong nhà trường đều có tác động đến người học Như cách ứng xử của giáo viên với nhau, của các giáo viên với học sinh sẽ góp phần tạo dựng nên cách ứng xử trong học sinh Cảnh quan nhà trường sạch đẹp có tác dụng ý thức bảo vệ môi trường Hay sự nhiệt tình tâm huyết, trách nhiệm với công việc của cán bộ công nhân viên nhà trường sẽ góp phần bồi đắp thêm tinh thần, trách nhiệm, yêu lao động của người học Tất cả những yếu tố đó thuộc về văn hóa nhà trường

Văn hóa nhà trường giúp người học không những hình thành được những hành vi, chuẩn mực mà quan trọng hơn là ẩn chứa trong tiềm thức các em là niềm tin nội tâm sâu sắc vào những điều tốt đẹp, từ đó khao khát cuộc sống hướng thiện

và sống có lý tưởng, có mục tiêu Đồng thời văn hóa nhà trường còn giúp các em về khả năng thích nghi với xã hội, một con người có văn hóa thì trong con người đó luôn hội tụ đầy đủ những giá trị đạo đức căn bản như đức tính khiêm tốn, yêu thương, lễ độ, sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội do vậy khi gặp những tình huống phát sinh trang xã hội kể cả những tình huống mà các em chưa gặp bao giờ nhưng nhờ vận dụng năng lực văn hóa để điều tiết hành vi một cách hài hòa, các

em có thể tự điều chỉnh mình phù hợp với hoàn cảnh

Đối với giáo viên, nhân viên trong nhà trường, văn hóa nhà trường sẽ triệt tiêu hoặc tạo nên động lực làm việc Văn hóa tiêu cực sẽ triệt tiêu động lực và nhà trường sẽ rơi vào bế tắc, thất bại Ngược lại, nhà trường có văn hóa lành mạnh thì mọi người sẽ có động lực làm việc: giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, ý nghĩa và bản chất công việc mình làm; văn hóa tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các giáo viên, nhân viên, học sinh, sinh viên trong nhà trường; Văn hóa tạo ra môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh thúc đẩy sự sáng tạo, khuyến khích giáo viên, học sinh - sinh viên nỗ lưc phấn đấu để đạt được thành tích mong đợi Khi nhà trường phải đối mặt với vấn đề phức tạp thì chính văn hóa nhà trường là điểm tựa tinh thần giúp các nhà quản lý và đội ngũ giáo viên hợp tác, phát huy để có những quyết định và chọn lựa đúng đắn

Trang 28

Đối với nhà quản lý, văn hóa là công cụ giúp hạn chế tiêu cực và xung đột

Nó thể hiện ở hệ thống các chuẩn mực, quy tắc, luật lệ trong tổ chức giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vần đề, lựa chọn, định hướng và hành động và khi ai đó không thực hiện thì sẽ bị đánh giá nhắc nhở thông qua dư luận tập thể Văn hóa hạn chế tiêu cực và xung đột và khi xung đột là không thể tránh khỏi thì văn hóa nhà trường tạo ra hành lang, pháp lý, đạo lý phù hợp để góp phần khắc phục giải quyết xung đột trên nguyên tắc không thể phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức nhà trường

Văn hóa nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường Bất kể một giáo viên hay sinh viên nào cũng muốn được làm việc và học tập tại một nhà trường có nền văn hóa tích cực, bởi điều đó tạo ra bầu không khí dạy học tích cực, thúc đẩy học sinh luôn cố gắng học tập và giáo viên luôn quan tâm đến chất lượng hiệu quả giảng dạy Văn hóa tích cực tạo ra môi trường thân thiện cho học sinh, khuyến khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên với nhau vì mục

tiêu chung Và hơn ai hết, chính nhân cách nhà giáo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhân

cách học trò Vì vậy, chúng ta rất cần những nhà giáo ngoài kiến thức chuyên môn, phải hiểu biết rộng về cuộc sống, có kiến thức sâu sắc về văn hóa xã hội

Văn hóa sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của nhà trường, nhà trường có một nền văn hóa mạnh mẽ, tích cực thì sẽ đem đến cho các thành viên trong nhà trường đó niềm đam mê, gắn bó công việc, đoàn kết với nhau Khi đó mọi người sẽ nỗ lực phấn đấu hơn, mang lại hiệu quả cao hơn cho nhà trường Đồng thời nếu có một nền văn hóa mạnh mẽ, tích cực, sẽ góp nhần xây dựng và khẳng định được thương hiệu của nhà trường, tạo đà cho các bước phát triển tốt hơn

Tóm lại, về góc độ tổ chức VHNT được coi như một mẫu thức cơ bản, tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong Một tổ chức có nền văn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội Văn hoá nhà trường sẽ giúp cho nhà trường thực

sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nên sản phẩm giáo dục toàn diện

Trang 29

1.3.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường

Theo quan điểm cấu trúc của nhà lý thuyết gia nổi tiếng bậc nhất về văn hóa

tổ chức Edgar H Schein thì có ba yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường tạo thành một chỉnh thể có khả năng quy định hành vi của mối thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng và có thể thay đổi theo thời gian đó là: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values) và những quan niệm chung (Basic underlying assumption) [20]

1.3.2.1 Những quá trình và cấu trúc hữu hình

Đó là những cái có thể nhìn thấy, dễ cảm nhận khi tiếp xúc, là những biểu hiện bên ngoài của văn hóa tổ chức như: cơ sở hạ tầng, kiến trúc xây dựng, trang thiết bị, logo, cơ cấu tổ chức bộ máy, những thực thể vô hình (triết lý, nguyên tắc, phương pháp, phương châm giải quyết vấn đề, quy định, thủ tục ), các chuẩn mực hành vi (cách thức tổ chức các hội nghị, các hoạt động sinh hoạt tập thể, ngày lễ, các hoạt động văn nghệ, thể thao ), các hình thức sử dụng ngôn ngữ (xưng hô, giao tiếp, câu chuyện ), cách ăn mặc, chức danh, các hình thức giao tiếp và ứng xử với bên ngoài

1.3.2.2 Hệ thống giá trị được tuyên bố

Hệ thống giá trị được tuyên bố là nền tảng và kim chỉ nam cho hoạt động của một tổ chức được công bố rộng rãi, thực hiện chức năng hướng dẫn định hướng và

là tài liệu đầu tiên diễn tả về một tổ chức Những giá trị này có tính hữu hình vì người ta có thể dễ dàng nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác Nó bao gồm: các chiến lược, mục tiêu, các cam kết, quy định, các giá trị cốt lõi, các bộ quy tắc ứng xử thành văn

1.3.2.3 Những quan niệm chung

Bao gồm: những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, những quy ước bất thành văn, những ngầm định nền tảng ăn sâu vào tiềm thức mỗi

cá nhân và tạo thành nét chung trong tập thể tổ chức

Shein cho rằng, bản chất của văn hóa một tổ chức là nằm ở những quan niệm chung của chúng Nếu nhận biết văn hóa của một tổ chức ở cấp độ một và hai (Arifacts và Espoused values) chúng ta mới tiếp cận nó ở bề nổi, tức là có khả năng

Trang 30

suy đoán các thành viên của tổ chức đó "nói gì" trong một tình huống nào đó Chỉ khi nào nắm được lớp văn hóa thứ ba (Basic underlying assumptions) thì chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ "làm gì" khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn

1.3.3 Biểu hiện của văn hóa nhà trường

1.3.3.1 Biểu hiện của văn hoá

Khi bàn về biểu hiện của văn hóa nhà trường, quan điểm của Frank Gonzales đưa ra năm 1978 được nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam viện dẫn, đó là mô hình tảng băng, có phần nổi và phần chìm, ở mỗi phần lại bao gồm những biểu hiện cụ thể

Phần nổi (Visible Web) của tảng băng văn hóa là những thành tố dễ quan sát được và dễ thay đổi, dễ nhìn thấy thông qua hình ảnh, dữ liệu, con số Các biểu hiện bao gồm:

- Tầm nhìn, chính sách, mục tiêu, mục đích

- Khung cảnh, cách bài trí lớp học

- Logo, khẩu hiệu, bảng biểu, biểu tượng

- Đồng phục, các ghi thức, ghi lễ, lễ kỷ niệm

- Các hoạt động văn hóa, học tập của nhà trường

Phần chìm (Deep Web) của tảng băng rộng hơn phần nổi bao gồm 3 phần: phần nằm sát mặt nước là bối cảnh, phần nằm sâu hơn một chút là các mối liên kết

và phần sâu thẳm cuối cùng đại diện cho các giá trị, niềm tin và các ý nghĩ của con người mà chúng ta khó quan sát được hoặc khó thay đổi như nhu cầu, cảm xúc, mong muốn cá nhân, các giả định ngầm

Mô hình tảng băng của Frank Gonzales, 1978

Trang 31

1.3.3.2 Biểu hiện của văn hóa nhà trường cao đẳng

Cao đẳng là bậc học sau phổ thông, gắn với đào tạo nghề nghiệp, chuẩn bị nhân lực lao động cho xã hội Môi trường văn hoá trong trường cao đẳng đặc trưng bởi chính người học, người dạy và chương trình học tập Người học là người đã trưởng thành (18 tuổi trở lên) có đầy đủ trách nhiệm công dân Người dạy là những chuyên gia làm việc trong môi trường có sự tự chủ về chuyên môn thông thường cao hơn ở phổ thông Chương trình học tập gắn với vị trí việc làm cụ thể ở đầu ra và bám sát nhu cầu xã hội Trường cao đẳng có thể có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp địa phương, các cơ sở sử dụng lao động trong hoạt động đào tạo của nhà trường

Văn hóa nhà trường cao đẳng liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của nhà trường đó Khi bước vào một nhà trường nói chung, trường cao đẳng nói riêng, người ta cảm nhận được bầu không khí đặc trưng của nhà trường qua hàng loạt các dấu hiệu, hình ảnh, biểu hiện dễ thấy hoặc ngầm định khó thấy Những hình ảnh đó được tạo nên bởi người dạy, người học, người quản lý nhà trường, được chuyển tải và phản ánh bởi đồng nghiệp trong địa phương, phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội xung quanh, bởi cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm giáo dục Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý thể hiện thành hệ thống các giá trị, niềm tin, các chuẩn mực, quy tắc ứng xử được xem là tốt đẹp và được mỗi thành viên trong nhà trường chấp nhận

Tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Peterson K.D., Deal T.E., Gonzales F., Jerald C., Richardson J về các biểu hiện của VHNT, có thể thấy VHNT cao đẳng được biểu hiện cụ thể thành hai tầng bậc (các yếu tố bề nổi và các yếu tố bề sâu) như sau:

* Các yếu tố bề nổi của VHNT là những yếu tố có thể quan sát được, bao gồm:

- Các yếu tố ngoại cảnh của nhà trường, như: cảnh quan trang trí trong lớp học và cảnh quan chung của trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cách

bố trí không gian trường sở, nơi làm việc của giảng viên, sinh viên, nhân viên,

Trang 32

- Sứ mệnh, tầm nhìn của nhà trường

- Logo, phù hiệu, biểu trưng, bài hát truyền thống của nhà trường

- Các nghi lễ, nghi thức truyền thống của nhà trường

- Không khí lớp học

- Kỷ luật, nề nếp của nhà trường

- Hoạt động của GV trong nhà trường

- Hoạt động tập thể của GV, SV nhà trường

- Những giao tiếp không chính thức giữa các nhóm người trong nhà trường

- Thái độ, hành động liên quan đến quyền lợi cá nhân của cán bộ GV

- Thái độ, hành động liên quan đến trách nhiệm của cán bộ, GV

* Các yếu tố bề sâu của VHNT - là những yếu tố không trực tiếp quan sát được mà phải trực tiếp trải nghiệm ở trong nhà trường Các yếu tố bề sâu của VHNT bao gồm:

- Mong muốn cá nhân của các thành viên nhà trường

- Nhu cầu cá nhân của các thành viên trong nhà trường

- Cảm xúc các thành viên khi đến trường

- Sự phân bổ quyền lực trong nhà trường

- Các giá trị được coi trọng của NT: sự sáng tạo, đổi mới, sự hợp tác

- Các giá trị trong mối quan hệ giữa các thành viên trong NT: sự chân thật,

sự cởi mở, sự tôn trọng, tin tưởng

1.4 Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và ảnh hưởng của nó tới văn hóa nhà trường

1.4.1 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Nếu như cuộc cách mạng lần 1 là cơ khí hóa với máy chạy bằng thủy lực

và hơi nước Lần thứ 2 là động cơ điện và dây truyền sản xuất hàng loạt Lần thứ

3 là kỷ nguyên máy tính và tự động hóa thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

4 đang diễn ra hiện nay được nảy nở từ cuộc các mạng lần thứ 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ danh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học đó chính là kỷ nguyên vạn vật được kết nối bởi internet, ước tính đến năm 2020 sẽ

Trang 33

có khoảng 50 tỉ vật thể được kết nối internet trên toàn cầu Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 còn chứng kiến sự phát triển của các xu hướng như xe ôtô tự hành, công nghệ in 3D, trí tuệ nhân tạo

Thế giới đang ở đỉnh của nền công nghiệp lần thứ 4, chưa bao giờ con người lại đứng trước cùng lúc nhiều cơ hội lẫn rủi do như vậy Gọi xe taxi, đặt

vé máy bay, đặt phòng khách sạn hay là thanh toán trực tuyến, những tiện ích của internet ngày hôm nay sau 10 năm tới có thể lạc hậu, Uber là công ty taxi lớn nhất thế giới cho dù không có một chiếc xe nào, Epiepi là công ty khách sạn lớn nhất thế giới dù không có nổi một phòng khách sạn Tất cả mới chỉ là biểu hiện đầu tiên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Có lẽ tất cả nhiều người trong chúng ta không thể hình dung trong 10 năm tới: 10% dân số sẽ mặc quần

áo kết nối internet, điện thoại thông minh sẽ trở thành vật bất ly thân, tất cả các dịch vụ nếu không gắn với điện thoại thì đều bị loại bỏ, nhà giáo có thể làm việc mọi nơi, mọi lúc với máy tính sách tay có kết nối internet, máy ảnh số, máy quay video kỹ thuật số còn người học thì cũng học mọi nơi, mọi lúc bằng điện thoại thông minh của mình Khi một nhà giáo giảng bài trên truyền hình thì hệ thống của họ tự động lấy trong cơ sở dữ liệu của những phát biểu trước đó của chính những người này để người học có thể thấy được sự mâu thuẫn trong các bài giảng của họ Tất cả đều là những biểu hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

1.4.2 Ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới văn hoá nhà trường và quản lý văn hoá nhà trường

1.4.2.1 Văn hoá mạng internet

Văn hóa mạng internet là văn hóa sử dụng mạng máy tính và internet để giao tiếp, làm việc và giải trí giữa các cá nhân, các cộng đồng online, những người sử dụng email và các nhóm trò chơi dưới các hình thức tham gia như: thành viên tổ chức mạng (Facebook, Twitter), thể hiện sự sáng tạo qua các ấn phẩm nghệ thuật hay phim ảnh tự tạo trên mạng (Youtube, Myspace), hợp tác giải quyết vấn đề (forum, chat), trao đổi và phổ biến thông tin (Bulletin Board ) Văn hóa mạng phụ

Trang 34

thuộc vào năng lực sử dụng công cụ và hoàn toàn mang tính ảo nhưng những tác động của nó lại rất thực và vô cùng to lớn Văn hóa mạng cho phép lan truyền rộng rãi, kết nối nhiều người, trên nhiều vùng địa lý với nhau trong một thời gian ngắn và góp phần hình thành nên những công dân toàn cầu Đó là những công dân có khả năng tham gia các các trò chơi mang tính tập thể; tìm kiếm, xử lý thông tin, phát tán thông tin; hợp tác, phát triển trí tuệ tập thể, sáng tạo; thiết lập networking để tổng hợp, trao đổi, truyền bá thông tin; thương thuyết, làm việc trong một cộng đồng đa văn hoá

Văn hóa mạng có ảnh hưởng rất lớn đến NT Bên cạnh việc học tập ở nhà trường, người học còn ra nhập vào một nền văn hóa khác có những tác động rất lớn

Họ có thể tìm thấy sự an ủi, sự tin tưởng, niềm vui và học hỏi được khối lượng tri thức khổng lồ từ nền văn hóa ấy Mặt khác, người học cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ những yếu tố không lành mạnh như tình trạng bạo lực học đường, gian lận trong thi cử, thương mại hóa giáo dục, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đánh cắp công nghệ, tài sản trí tuệ

Trong bối cảnh hiện nay, tùy vào cách tiếp cận của từng cá nhân trong nhà trường và đặc biệt là cách tiếp cận của người đứng đầu trong mỗi nhà trường sẽ đem lại cho nhà trường một môi trường văn hóa đặc trưng trên cở sở niềm tin, sự tôn trọng và lựa chọn những giá trị văn hóa phù hợp với đặc điểm vùng miền cũng như chuẩn mực của xã hội

1.4.2.2 Văn hoá công nghệ

Thường thì sự tiến triển của văn minh nhân loại luôn có một ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của mọi quốc gia và trong sự tiến triển chung đấy thì những thành tựu từ những cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin với những bước tiến nhảy vọt sẽ đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức Nhân tố con người dần trở thành trung tâm của sự phát triển và tiến bộ xã hội luôn giữ một vị trí cực kỳ quan trọng Tuy nhiên, nếu tư duy của con người không nhịp nhàng tương thích thì máy móc có hiện đại tối tân đến mấy cũng vô ích Công nghệ cao có thể một sớm một chiều làm thay

Trang 35

đổi cả nền kinh tế, nhưng ở phương diện văn hóa thì điều ấy chưa chắc đặc biệt là ở lĩnh vực giáo dục vì vậy người dạy học phải nhận thức rõ công nghệ là thành tố hỗ trợ việc đào tạo và học tập, nhằm giúp các thầy cô giáo tạo ra những kế hoạch học tập tối ưu cho học sinh của họ Công nghệ có thể là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp giáo viên mang lại chiến lược học tập mang tính cá nhân cho học sinh, sinh viên nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ học sinh, sinh viên đạt được hiệu quả học tập cao hơn

Hiện nay, trong môi trường học tập được hiện đại hóa, các PP giảng dạy vẫn còn khá mơ hồ, chưa thực tế và sinh viên khi gia nhập lực lượng lao động hiện đại vẫn thiếu hụt kỹ năng công nghệ, khoa học máy tính, đặc biệt là trong các khối học STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) Những rủi ro cao về việc thiếu

kỹ năng sẽ tạo ra tình trạng thất nghiệp kéo dài hoặc đi làm mà thiếu kỹ năng, nên

sẽ lựa chọn các công việc ở mức thấp, với mức lương không đủ sống Vì vậy, nếu

áp dụng công nghệ trong quá trình dạy học và sử dụng một cách có hiệu quả thì công nghệ có thể giúp mở rộng trải nghiệm học tập nhờ xóa bỏ các bức tường lớp học và cho phép tương tác và kết nối rộng rãi để có môi trường học tập phong phú hơn Đây cũng chính là phương thức để nâng cao chất lượng đào tạo và cải tiến chất lượng học của từng cá nhân

“Với sinh viên, chất lượng đào tạo là quan trọng để thu nhận kiến thức kỹ thuật số và các kỹ năng cần thiết cho thế kỷ XXI, ví dụ như truyền thông, hợp tác, suy nghĩ sáng tạo và các kỹ năng xử lý tình huống Chất lượng đào tạo không chỉ được tạo nên từ thương hiệu trường hoặc hạ tầng của các trường học mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng hoặc giá trị của phương thức học được tiếp cận bởi từng học sinh, sinh viên” Ông Don Carlson - Giám đốc khối Giáo dục, Microsoft châu Á - Thái Bình Dương chia sẻ

1.4.2.3 Nhà trường kết nối

Trường học kết nối là hệ thống hỗ trợ tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo qua mạng thông tin trực tuyến , trong một nhà trường, thì trường học kết nối chủ yếu là mô hình dạy học trực tuyến trên mạng internet Mô hình này có nhiều ưu điểm, vừa góp phần thực hiện được

Trang 36

mục tiêu giáo dục - đào tạo những con người tích cực, năng động, vừa thực hiện được chủ trương giảm tải, tránh được sự trùng lặp gây nhàm chán cho người học, giúp học sinh có khả năng tổng hợp lượng kiến thức đã học, đảm bảo được thời gian

tổ chức dạy học của giáo viên Mỗi thành viên tham gia vào hệ thống đều phải tuân thủ các quy định chung và được quản lí một cách chặt chẽ theo đơn vị công tác

Tại “trường học kết nối” mỗi học sinh được cấp một tài khoản để tham gia các hoạt động học tập do giáo viên xây dựng, tổ chức và quản lý trên mạng Học sinh có thể lựa chọn các bài học cũng như lựa chọn giáo viên trong phạm vi toàn quốc để học trên mạng; được đăng ký học cá nhân hoặc theo nhóm; được trao đổi, thảo luận với nhau và trao đổi với giáo viên để thực hiện các nhiệm vụ học tập; nộp kết quả học tập qua mạng để được giáo viên nhận xét, đánh giá

Với GV, "trường học kết nối" giúp cho việc đổi mới hình thức tổ chức và quản lý các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng giáo viên và hoạt động sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong nhà trường Mỗi giáo viên được nhận một tài khoản trên mạng, kê khai đầy đủ thông tin cá nhân và được quản lý theo đơn vị công tác Đây

là cách để góp phần rèn cho học sinh khả năng tự học, có được những năng lực khái quát, hệ thống, tổng hợp kiến thức và đây cũng là cách để giáo viên rèn thói quen tiếp cận những phương pháp, những mô hình dạy học mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện trong giáo dục

1.5 Xây dựng văn hóa nhà trường cao đẳng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

1.5.1 Vai trò của hiệu trưởng trong việc xây dựng văn hóa nhà trường

Văn hoá nhà trường là sản phẩm được tạo nên bởi tập thể CB, GV, nhân viên,

SV – những thành viên của tổ chức nhà trường chứ không phải là sản phẩm mang tính cá nhân Tuy nhiên, trong việc xây dựng và phát triển VHNT bao giờ cũng có ảnh hưởng quyết định của người đứng đầu nhà trường – người HT Hiệu trưởng giữ vai trò lãnh đạo phát triển VHNT, quyết định/chi phối sự phát triển VHNT

Người hiệu trưởng trong nhà trường giữ vai trò của một người lãnh đạo, giống như một thủ lĩnh trong NT Vai trò của người lãnh đạo được thể hiện rõ nhất khi tổ

Trang 37

chức có sự thay đổi theo hướng phát triển hoặc khi tổ chức phải đối đầu với những

bất ổn, thách thức, trở ngại cần phải vượt qua Lãnh đạo theo John C Maxwell là

khả năng thu phục lòng người, thu phục nhân tâm Lãnh đạo là khả năng lôi cuốn những người đi theo mình, khả năng tác động đến con người và gây ảnh hưởng đến con người

Cụ thể, trong một tổ chức, người lãnh đạo là người xác định tầm nhìn cho toàn

tổ chức, dẫn dắt tổ chức để thực hiện tầm nhìn đó Là người tổ chức lập kế hoạch chiến lược cho tổ chức Người lãnh đạo phải là người có uy tín – được tạo nên bởi phong cách lãnh đạo, bởi việc tạo được ảnh hưởng và việc truyền đạt tầm nhìn đến mọi người Người lãnh đạo cũng phải là người thực sự quan tâm đến việc xây dựng văn hoá của tổ chức, tạo cho tổ chức mình có được văn hoá riêng

Như vậy, để xây dựng VHNT, người HT vừa thực hiện vai trò của một nhà quản lí, vừa thực hiện vai trò của một người lãnh đạo Trong đó, vai trò của người lãnh đạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc định hình VHNT Thực hiện vai trò lãnh đạo nhà trường, HT cần tác động vào suy nghĩ, hành vi của CB, GV,

HS để họ hoạt động theo những mục tiêu chung của nhà trường Với vai trò lãnh đạo nhà trường, HT chính là người định hướng VHNT, là tâm điểm thống nhất các giá trị trong nhà trường

Người HT có thể ảnh hưởng của đến VHNT theo những cách:

Người HT phải là người lãnh đạo gương mẫu luôn là tấm gương cho giáo viên, nhân viên, học sinh noi theo;

Người HT hình thành VHNT thông qua hàng trăm hoạt động tương tác hàng ngày với CB, GV, HS, PH và cộng đồng;

Chú ý đến nhu cầu của GV và nhu cầu của SV;

Người HT xác lập cơ chế đánh giá, thi đua khen thưởng (đúng người, đúng việc); Phong cách lãnh đạo dân chủ, tăng cường đối thoại, cùng tham gia, phân công trách nhiệm rõ ràng;

Khả năng biết lắng nghe của HT nuôi dưỡng bầu không khí tâm lý cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau ở nơi làm việc

Trang 38

Hoạt động quản lý – lãnh đạo nhà trường của người HT là một hoạt động mang tính toàn diện, quán xuyến tất cả các phương diện của một nhà trường, từ kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường, đội ngũ CB, GV, hoạt động dạy học –giáo dục,… cho đến cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, mối quan hệ nhà trường với cộng đồng Do đó, xây dựng VHNT cũng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý, lãnh đạo nhà trường của người HT nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường

1.5.2 Nội dung xây dựng văn hóa nhà trường cao đẳng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

1.5.2.1 Xây dựng các giá trị cốt lõi của nhà trường trong bối cảnh mới

GV trong nhà trường mong muốn nhất

Hiệu trưởng cần phải nhận ra đâu là những giá trị văn hóa đích thực, cốt lõi có tính đặc trưng của nhà trường đang tồn tại tạo nên sự khác biệt về bản sắc với các trường khác để nuôi dưỡng vun trồng

Những giá trị văn hóa không phải cố định, bất biến, nó có thể thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của xã hội (có tính định kỳ, có thời hạn ) vì vậy HT phải luôn vun trồng những giá trị văn hóa nhà trường

Trang 39

HT cùng giáo viên hiện thực hóa các giá trị này trong các giao tiếp ứng xử hàng ngày, trong quá trình xây dựng mục tiêu giáo dục, kế hoạch năm học, quá trình đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

Các bước xác định các giá trị cốt lõi của nhà trường:

Bước 1: cung cấp thông tin về các giá trị đã có trong nhà trường

Bước 2: Nêu 1 số giá trị được cho là quan trọng nhất

Bước 3: Đọc lên từng giá trị một và ghi vào bảng hoặc 1 tờ giấy lớn

Bước 4: Xem các giá trị nào gần giống nhau hoặc nằm trong một giá trị khác thì gạch bỏ

Bước 5: Phát cho mỗi người 5 mẩu giấy (có chữ) và họ tích (√) vào 5 giá trị mà họ cho là quan trọng nhất

Bước 6: Tổng hợp kết quả và đếm 5 giá trị được chọn nhiều nhất

Bước 7: Chia nhóm 5 người, thảo luận về ý nghĩa 5 giá trị đã được nhiều người chọn

Hệ thống các giá trị cốt lõi của nhà trường Việt Nam liên quan đến sự tôn trọng người thầy với “tôn sư trọng đạo”, nhấn mạnh “tiên học lễ, hậu học văn” Hơn nữa con người Việt Nam vốn trọng tình nghĩa, dung dị, ôn hoà vì thế những giá trị như “đoàn kết”, “hợp tác”, “chia sẻ” luôn được đề cao

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, giá trị cốt lõi của văn hóa quản lý nói chung, văn hóa quản lý vận dụng trong nhà trường nói riêng là coi trọng con người, kết hợp đức trị với pháp trị để duy trì sự ổn định, hướng tới sự hài hòa và phát triển bền vững Những giá trị được nhiều nhà trường lựa chọn như “sáng tạo”, “đổi mới”,

“tiên phong” thể hiện khát vọng vươn lên của thầy và trò trong nhà trường

1.5.2.2 Thiết lập các chuẩn mực đạo đức về văn hoá mạng và văn hoá công nghệ

Internet không chỉ là môi trường công nghệ, môi trường kinh doanh hay liên kết mà Internet còn là môi trường văn hóa, giáo dục rất quan trọng, ảnh hưởng tới việc hình thành nhân cách và góp phần định hình văn hóa nhân loại trong tương lai Đây còn là một điều kiện quan trọng để tăng cường tính công khai, minh bạch, góp phần bảo đảm quyền dân chủ - tự do, quyền con người,

Trang 40

quyền công dân trong một Nhà nước pháp quyền tiến bộ - tất cả quyền lực thuộc

về nhân dân Do đó, thiết lập các chuẩn mực đạo đức về văn hóa mạng và văn hoá công nghệ và xây dựng môi trường Internet có văn hóa và giàu tính nhân văn

là điều chúng ta phải cùng nhau hướng tới

Cán bộ GV, công nhân viên trong nhà trường cùng HS, SV chung tay xây dựng môi trường Internet tinh khiết và trong sạch Không truyền đưa, phát tán các thông tin độc hại, các thông tin chưa được kiểm chứng, không có nguồn gốc đáng tin cậy; không dùng ngôn ngữ dung tục làm tầm thường hóa con người trong các bài viết, tranh ảnh, hay bình luận, trao đổi trên mạng Mọi người cần nâng cao trách nhiệm, không tiếp tay cho tội phạm công nghệ, không phát tán virus, không tham gia vào các hoạt động tấn công, khủng bố thông tin trên mạng, không sử dụng Internet để phát tán những thông tin bịa đặt, phản cảm nhằm vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, thương hiệu; gieo rắc tư tưởng, tổ chức các hoạt động khủng bố, phá hoại… Chúng ta không chỉ nêu cao trách nhiệm, làm tốt ở trong nhà trường, trong

xã hội mà cần tham gia vận động bạn bè thế giới qua kết nối Internet hưởng ứng sự kiện này

Không thể cô lập, tách rời con người trong thời đại ngày nay khỏi mạng internet, vì vậy, cách duy nhất giải quyết vấn đề trên cũng giống như toàn cầu hóa

là sử dụng văn hóa như một màng lọc để ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực, tiếp thu những ảnh hưởng tích cực

Nhà trường cần phải giáo dục sinh viên của họ thành những công dân có trách nhiệm cao khi sử dụng mạng xã hội nói riêng và Internet nói chung Họ biết đưa thông tin, hình ảnh, số liệu một cách có ý thức, có trách nhiệm và chia sẻ thông tin, hình ảnh, số liệu cũng với ý thức và trách nhiệm cao Các “công dân mạng” cần học cách cùng nhau đấu tranh vì lẽ phải, công bằng và những giá trị cao đẹp để thiết lập, duy trì và phát triển môi trường Internet văn minh ở Việt Nam

Những chuẩn mực đạo đức về văn hoá mạng, văn hoá công nghệ cần được thể chế hoá vào trong những nội quy, quy định của nhà trường, đưa vào tiêu chí đánh giá khen thưởng hay trách phạt đối với giảng viên và học sinh, sinh viên Nó

Ngày đăng: 29/03/2019, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w