1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kì đề 6 luật hình sự 2

11 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm tội làm chết người nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.” Mặt khách quan của tội phạm: - Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

2 Giả sử A mới 15 tuổi thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự không? 3

3 Dựa vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm hãy xác định tội

phạm do A thực hiện là loại CTTP gì?

4

4 Giả sử chiếc mày cày đang đậu ở ven đường làng và A có hành vi

nêu trên thì tội danh của A có thay đổi không? Tại sao?

5

ĐỀ BÀI

Thấy chiếc máy cày nhà ông H đang đậu trước sân, do hiếu kỳ nên A đã leo lên, nổ máy chơi Không ngờ máy nổ, A lung túng gạt cần số làm máy cày chuyển động Cạnh đó có một đám trẻ con đang chời bắn bi không để ý và có 2

em bị máy cày cán chết

Trang 2

1 Hãy định tội danh cho A (2 điểm)

2 Giả sử A mới 15 tuổi thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự không? (2 điểm)

3 Dựa vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm hãy xác định tội phạm do A thực hiện là loại CTTP gì? (1 điểm)

4 Giả sử chiếc mày cày đang đậu ở ven đường làng và A có hành vi nêu trên thì tội danh của A có thay đổi không? Tại sao? (2 điểm)

Một số từ ngữ viết tắt:

BLHS: Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

CTTP: Cấu thành tội phạm

TNHS: Trách nhiệm hình sự

1 Hãy định tội danh cho A

A phạm tội vô ý làm chết người theo Điều 98 BLHS.

Điều 98 BLHS quy định: “1.Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù

từ sáu tháng đến năm năm.

Trang 3

2 Phạm tội làm chết người nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Mặt khách quan của tội phạm:

- Hành vi khách quan của tội phạm:

Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận

Ở đây cần chú ý: Hành vi vi phạm những quy tắc an toàn thuộc một số lĩnh vực cụ thể đã được quy định ở những điều luật riêng nên không còn là hành

vi khách quan của tội vô ý làm chết người mà là hành vi khách quan của những tội phạm khác

Trong trường hợp này, A đã có hành vi vi phạm quy tắc an toàn Mặc dù không biết điều khiển máy cày nhưng do hiếu kỳ nên A vẫn leo lên máy cày, nổ máy chơi Không ngờ máy nổ, A lúng túng gạt cần số làm máy cày chuyển động

và đã gây ra cái chết cho 2 đứa trẻ

- Hậu quả của tội phạm:

Hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả chết người Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Trong trường hợp này, hậu quả là máy cày cán chết hai đứa trẻ

- Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm :

QHNQ giữa hành vi vi phạm và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu TNHS về hậu quả chết người đã xảy ra, nếu hành vi vi phạm của họ đã gây ra hậu quả này hay nói cách khác là giữa hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có QHNQ với nhau

Ở đây, hành vi vi phạm của A và hậu quả 2 đứa trẻ bị chết có mối quan hệ nhân

Trang 4

quả với nhau Chính hành vi vi phạm của A đã làm chiếc máy cày chuyển động

và cán chết 2 đứa trẻ

Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý Có thể là lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô

ý vì cẩu thả Trong tình huống này, lỗi của A là lỗi vô ý vì cẩu thả A không thấy trước được hậu quả chết người mà hành vi của mình gây ra, A chỉ do hiếu kỳ mà lên nổ máy chơi mặc dù với địa vị của mình A phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội này là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định

Do đề bài không đề cập đến tuổi và năng lực TNHS của A nên trong trường hợp này mặc nhiên coi rằng A là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định

Hình phạt:

Điều Luật quy định hai khung hình phạt :

- Khung cơ bản có mức phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm

- Khung tăng nặng có mức phạt tù từ 3 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp làm chết nhiều người

Như vậy, hành vi của A thỏa mãn các dấu hiệu CTTP được quy định tại

Điều 98 BLHS về tội vô ý làm chết người.

2 Giả sử A mới 15 tuổi thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Giả sử A mới 15 tuổi thì A không phải chịu TNHS

Giải thích:

Khoản 3 Điều 8 BLHS qui định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm

gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà

Trang 5

mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân, hoặc tử hình”

Theo như phân tích ở câu trên, A phạm tội vô ý làm chết người theo Điều

98 BLHS

Điều 98:” Tội vô ý làm chết người

1 Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2 Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Trong trường hợp này, A đã làm chết 2 đứa trẻ (nhiều người) nên A phạm

tội thuộc khoản 2 Điều 98 về Tội vô ý làm chết người: “2 Phạm tội làm chết

nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Như vậy, căn cứ theo khoản 3 Điều 8 BLHS, tội vô ý làm chết người thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 98 BLHS có mức cao nhất của

khung hình phạt là mười năm tù nên nó thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng

Khoản 2 Điều 12 BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định:

“Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Trong trường hợp này, A mới 15 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng nhưng do lỗi vô ý (đã phân tích ở mặt chủ quan ở câu 1) Vì vậy, có thể khẳng định A mới

15 tuổi thì không phải chịu TNHS

3 Dựa vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm hãy xác định tội phạm do A thực hiện là loại CTTP gì?

Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức

Trang 6

- CTTP vật chất là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

- CTTP hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Việc xây dựng loại tội nào có CTTP cơ bản là CTTP vật chất hay là CTTP hình thức là xuất phát từ cơ sở khách quan sau:

- Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà đòi hỏi phải có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì CTTP thường được xây dựng là CTTP vật chất

- Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định thì CTTP thường được xây dựng là CTTP hình thức

Tội phạm do A thực hiện là tội vô ý làm chết người Tội vô ý làm chết người là tội phạm có cấu thành vật chất Vì:

Mặc dù điều luật không quy định dấu hiệu thuộc mặt khách quan nhưng

có thể thấy hành vi khách quan của tội phạm là hành vi vi phạm quy tắc an toàn

Đó là những quy tắc nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người

Điều đầu tiên thấy rằng điểm khác nhau giữa CTTP vật chất và CTTP hình thức ở chỗ nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Vì vậy, khi xác định loại CTTP của một tội phạm nào đó cần xem xét hậu quả có phải dấu hiệu bắt buộc của CTTP hay không Xét CTTP cơ bản của tội vô ý làm chết người, có thể thấy điều luật qui định hậu quả là chết người và phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra Ngoài ra, có thể đưa ra một số lập luận khác giải thích cho nhận định trên Đó là:

Trang 7

- Bản thân của hành vi vi phạm quy tắc an toàn chưa thể hiện đầy đủ được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà đòi hỏi phải có hậu quả chết người nữa

- Những tội phạm có hậu quả khó xác định thường được qui định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Hậu quả của tội vô ý làm chết người không phức tạp

và nhìn chung là không khó xác định trong từng trường hợp cụ thể

Như vậy, tội phạm do A thực hiện là loại tội phạm có CTTP vật chất

4 Giả sử chiếc mày cày đang đậu ở ven đường làng và A có hành vi nêu trên thì tội danh của A có thay đổi không? Tại sao?

Giả sử chiếc máy cày đang đậu ở ven đường làng và A có hành vi nêu trên thì tội danh của A không thay đổi

Giải thích:

Giả sử chiếc máy cày đang đậu ở ven đường làng và A có hành vi nêu trên thì hành vi đó của A có khả năng cấu thành một trong ba tội sau:

- Điều 98 BLHS về tội vô ý làm chết người

- Điều 99 BLHS về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề

nghiệp hoặc quy tắc hành chính

- Điều 202 BLHS về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ

Xét mặt chủ quan của 3 tội này: Lỗi của người phạm tội đều là lỗi vô ý Xét mặt khách quan của tội phạm: ở đây A do vi phạm quy tắc an toàn Tức là mặc dù không biết điều khiển máy cày nhưng do hiếu kỳ nên A vẫn leo lên máy cày, nổ máy chơi nên gây ra cái chết cho 2 nạn nhận chứ A không vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính nên A không phạm tội theo

quy định tại Điều 99 BLHS

Như vậy A có thể phạm một trong hai tội, đó là tội vô ý làm chết người

theo Điều 98 BLHS hoặc tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202BLHS

Trang 8

Xét chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS phải là người điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ Đó là “người điểu khiển xe cơ giới, xe thô sơ,

xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ” Trong đó, xe cơ giới “gồm

xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”; xe thô sơ “gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy),

xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự; xe máy chuyên dùng “gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp

và các loại xe đặc chủng khác nhau sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh

có tham gia giao thông đường bộ.” (Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008) Từ

sự phân loại trên có thể thấy máy cày thuộc loại xe máy chuyên dùng Như vậy,

A đều thỏa mãn dấu hiệu chủ thể tội phạm của cả hai tội

Vấn đề còn có nhiều tranh cãi là đường làng có phải đường bộ không? Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, năm

2000 thì ven có nghĩa là phần đất chạy dọc theo sát một bên VD: ven sông, ven đê…Tức chiếc máy cày vẫn nằm bên ngoài đường làng Thứ hai, điều quan trọng nhất để khẳng định tội của A không đổi đó là A không trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, A không hề biết điều khiển máy cày như thế nào, mục đích A trèo lên chiếc máy cày không phải để điều khiển mà chỉ do hiếu

kỳ, tò mò thể hiện rất rõ ở chuỗi các hành vi của A, từ hành vi leo lên, nổ máy chơi, không ngờ máy nổ đến hành vi lúng túng nên đã gạt nhầm cần số và đã gây ra cái chết cho hai em Như vậy, có thể thấy A không phạm tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS mà vẫn phạm tội vô ý làm chết người theo Điều 98 BLHS

Kết luận: Tội danh của A không thay đổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập I-II, Nxb CAND, Hà Nội, 2011

Trang 9

2 Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự (Phần chung), Nxb ĐHQG, Hà Nội, 2005

3 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999

4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009

5 Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb CAND, Hà Nội, 2008

6 TS Trần Minh Hưởng, Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (thực hiện từ 01/01/2010), Nxb Lao động, Hà Nội, 2009

7 Đinh Văn Quế (Thạc sĩ luật học, Tòa án nhân dân tối cao), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam, (Bình luận chuyên sâu), tập 1, Nxb TPHCM, Hà Nội, 2002

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w