Biết: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện
Trang 1MỤC LỤC
ĐỀ BÀI 2
1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực 3
2 Biết: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.” Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 6
3 Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao? 10
4 Phân tích các căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty A 12
Nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty A là hợp pháp, hãy xác định giá trị bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm mà công ty B phải chịu?12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2ĐỀ BÀI TM2.NT2 - 2
Tháng 1/2012, giám đốc công ty cổ phần A ký hợp đồng mua 1000 tấn gạo (giá: 10.000 đồng/kg) với giám đốc công ty cổ phần B Đến thời hạn giao hàng, công ty B không giao được hàng cho công ty A Do đó, công ty A không thực hiện được hợp đồng với đối tác và bị đối tác phạt vi phạm 200 triệu đồng Công ty A gửi thông báo yêu cầu công ty B bồi thường thiệt hại 500 triệu đồng và chịu phạt 8% giá trị hợp đồng nhưng công ty B không chấp thuận Công ty A quyết định khởi kiện ra Tòa án
1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực
2 Biết: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.” Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
3 Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao?
4 Phân tích các căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty A
Nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm của công ty A là hợp pháp, hãy xác định giá trị bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm mà công ty B phải chịu?
Trang 3BÀI LÀM
1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực.
Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động trung tâm trong giao lưu thương mại,
có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và mua bán hàng hóa trong thương mại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước cũng như phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia Quan hệ mua bán hàng hóa được thể hiện dưới hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự ràng buộc về mặt pháp lí giữa các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa, đảm bảo cho cam kết giữa các chủ thể được thực hiện trên thực tế Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận của các bên đều được pháp luật thừa nhận mà chỉ có những thỏa thuận tuân theo quy định của pháp luật mới có hiệu lực pháp luật Luật Thương mại 2005 không
có quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng mua bán có hiệu lực Vì vậy, khi xem xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, cần dựa trên các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật dân sự 2005 Theo điều 122 BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật Nếu thiếu một trong bốn căn cứ trên, giao dịch dân sự bi coi là vô hiệu Căn cứ vào quy định của điều 122 BLDS 2005và các quy định có liên quan, có thể xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể để
thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn hoạt động mua bán, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là các thương nhân Khi tham gia hoạt động mau bán nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng kí kinh
Trang 4doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật Như vậy, trong tình huống này, một điều kiện
để hợp đồng mua bán gạo giữa công ty A và công ty B có hiệu lực là cả công ty A và công ty B phải có đăng kí kinh doanh gạo.
Thứ hai, đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm
quyền Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán, theo quy định tại điều 145 BLDS, khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được hợp đồng đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận Bên đã giao kết hợp đồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho bên kia để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì hợp đồng đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ với bên được đại diện nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên đã giao kết hợp đồng với mình, trừ trường hợp bên đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện
Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều cấm
của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không
bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào từng giai đoạn của nền kinh tế, xuất phát từ yêu cầu quản lí nhà nước mà những hàng hóa bị cám kinh doanh được pháp luật quy định một cách phù hợp Vì vậy, đối tượng của hợp đồng phải là những hàng hóa được pháp luật cho phép trao đổi, mua bán … vào thời điểm giao kết
Thứ tư, hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng
theo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng đảm bảo sự thỏa thuận cảu các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng tới những lợi ích chính đáng của các bên đồng thời không xâm hại đến các lợi ích mà pháp luật bảo vệ Theo điều 389 BLDS quy định, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán
Trang 5phải tuân thủ theo những nguyên tắc: tự do giao kết; không trái pháp luật và đạo đức
xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí hợp tác, trung thực và ngay thẳng những hành
vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán không có hiệu lực
Thứ năm, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Để hợp đồng
mua bán có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luật thừa nhận Theo điều 24 luật thương mại 2005, hợp đồngmua bán hàng hóa được thể hiện bang lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được thành lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Như vậy, hình thức của hợp đồng chỉ
là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định Trường hợp các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật bắt buộc hợp đồng đó phải tuân thủ về hình thức thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu khi dược kí kết
Ngoài ra, luật thương mại còn có một quy định riêng về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài như chủ thể bên Việt Nam phải là thương nhân được phép hoạt động thương mại trực tiếp với người nước ngoài, hàng hóa phải là hàng hóa được phép mua bán theo quy định của pháp luật nước bên mua và nước bên bán; hợp đồng phải lập thành văn bản
2 Biết: Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận trọng tài như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.” Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận rằng: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bằng trọng tài thương mại theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành” Có thể đưa ra khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua
bán gạo nói trên là có hiệu lực Ta căn cứ vào các yếu tố sau:
Trang 6Một thỏa thuận trọng tài được coi là có hiệu lực khi nó không thuộc trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được qui định tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại năm
2010:
“1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
2 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.”
Hay nói một cách khác, một thỏa thuận trọng tài được coi là có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện về:
-Thẩm quyền của trọng tài: : Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được
bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận Nó còn đòi hỏi phải đáp ứng điều kiện về thẩm quyền của trọng tài Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 có qui định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài như sau:
“1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài."
Dựa vào thông tin mà tình huống đưa ra, có thể thấy rằng đây là tranh chấp xảy ra giữa hai công ty cổ phần liên quan tới hợp đồng mua bán gạo, như vậy đây là loại
Trang 7tranh chấp được qui định tại khoản 1 Điều 2 nói trên, tức là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại Như vậy, thỏa thuận trọng tài của hai bên đưa ra
đã đáp ứng điều kiện về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại
-Hình thức của thỏa thuận trọng tài: Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể
hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương mại Điều
16 Luật trọng tài thương mại năm 2010 có qui định về hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại như sau:
“Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản…”
Đối chiếu với qui định trên của pháp luật, có thể thấy trong tình huống trên, công ty A
và công ty B đã kí hợp đồng với công ty B, trong hợp đồng lại có thỏa thuận trọng tài,
từ đó suy ra thỏa thuân trọng tài giữa công ty A và công ty B đã được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng, và dưới dạng văn bản- như vậy là hoàn toàn phù hợp với qui định của pháp luật
-Năng lực chủ thể của các bên xác lập thỏa thuận trọng tài: Có thể nói năng lực
chủ thể là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm khi tiến hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên không có năng lực chủ thể sẽ khiến điều khoản này vô hiệu Chủ thể kí kết hợp đồng mua bán gạo (trong đó có điều khoản về thỏa thuận trọng tài) là hai giám đốc của công ty cổ phần A và B Theo qui định của Luật doanh nghiệp 2005, thì giám đốc của công ty cổ phần là người đại diện hợp pháp của công
ty, có đầy đủ thẩm quyền trong việc nhân danh công ty kí kết các hợp đồng với các chủ thể khác Như vậy thỏa thuận trọng tài trên cũng đã đáp ứng được điều kiện về năng lực chủ thể của bên xác lập thỏa thuận trọng tài
- Điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể: Thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị
pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là
sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Trong tình huống trên, hai bên công ty A và công ty B khi giao kết hợp đồng dựa trên sự thỏa thuận, tức cả hai
Trang 8bên đã cùng tự nguyện, không bên nào áp đặt ý chí cho bên nào, cũng như không có yếu tố lừa dối, cũng ép, nên điều kiện trên đã được đáp ứng
-Không vi phạm điều cấm của pháp luật: hợp đồng mua bán trên hoàn toàn phù
hợp với qui định của pháp luật
Như vậy, có thể đưa ra kết luận, thỏa thuận trọng tài giữa hai bên công ty A và B
có hiệu lực
Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Hiệu lực thỏa thuận trọng tài không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, mà còn là căn cứ pháp lý để dựa vào đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận Pháp luật các nước nói chung và Việt Nam nói riêng cũng đều dành cho thỏa thuận trọng tài sự quan tâm đặc biệt, thể hiện ở việc trong các đạo luật về trọng tài thường có một chương riêng quy định về thỏa thuận trọng tài Đặc biệt, Luật trọng tài thương mại 2010 đã có những qui định hợp lí
và phù hợp với pháp luật cũng như trọng tài quốc tế khi đã khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về các tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài:
Khoản 4,Điều 10, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 có qui định :“không xác định rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp” Luật trọng tài thương
mại 2010 đã bỏ quy định này Có thể thấy đây là quy định không hợp lý và không phù hợp với pháp luật và thực tiễn trọng tài quốc tế Nguyên tắc giải quyết bằng trọng tài
là phải dựa trên ý chí của các bên Vì vậy, bằng việc dẫn chiếu đến Trọng tài, các bên
đã có chủ ý và thể hiện ý định đưa ra giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, các bên đã diễn đạt chưa chuẩn xác tên một tổ chức trọng tài cụ thể Do đó, trong mọi trường hợp, khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài, pháp luật trọng tài các nước đều ưu tiên giải quyết bằng Trọng tài Với quy định này
sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp
Trang 9Ngoài ra, liên quan đến vấn đề hiệu lực thỏa thuận trọng tài Điều 19, Luật trọng
tài thương mại cũng quy định : "Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài" Điều đó có nghĩa, ngay
cả khi hợp đồng chính có sự thay đổi nhưng việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng phương thức trọng tài thì sự thay đổi đó cũng không ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài và trọng tài hoàn toàn có thể giải quyết tranh chấp của các bên khi hợp đồng vô hiệu hoặc các điều khoản khác vô hiệu
Qua những qui định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của trọng tài, có thể nói luật đã đưa ra những qui phạm tương đối phù hợp với thực tế và đã góp phần giải quyết tranh chấp bằng trọng tài một cách có hiệu quả Qui định của pháp luật vừa tôn trọng ý chí tự do chủ thể của các bên, lại vừa tạo ra một hành lang pháp lí tương đối chặt chẽ cho các bên thực hiện nghiêm túc, từ đó làm cho thỏa thuận trọng tài có hiệu lực
3 Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao?
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc
sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài
Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS 2004 thì tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 4 nhóm: (1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (được liệt kê từ điểm a đến điểm o khoản 1 Điều 29); (2) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
Trang 10nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (có thể tất cả hoặc một trong các bên có đăng ký kinh doanh hoặc các bên đều không có đăng ký kinh doanh) được quy định tại khoản 2 Điều 29; (3) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty được quy định tại khoản 3 Điều 29; (4) các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định được quy định tại khoản 4 Điều 29 Như vậy, đối với tình huống đề bài đặt ra là tranh chấp về hợp đồng mua bán 1000 tấn gạo phát sinh giữa hai công ty có ĐKKD – công ty A và công ty B thì đây nằm trong phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam
Tuy nhiên theo điều 317 Luật thương mại 2005, một vụ tranh chấp thương mại sau khi sử dụng các biện pháp thương lượng hoặc tự hòa giải mà vẫn không đưa ra được phương án giải quyết thì hai bên có quyền lựa chọn đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án (khoản 3) Như vậy, các bên có quyền lựa chọn cho mình hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp với sự thỏa thuận và nguyện vọng của hai bên
Trường hợp thứ nhất, nếu như trong hợp đồng giữa công ty A và công ty
B có thỏa thuận trọng tài: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này được giải quyết bởi trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” thì theo Điều 6 Luật trọng tài Thương mại 2010: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý… ”
Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa công ty A và công
ty B trong tình huống này Có nghĩa là Tòa án phải từ chối thụ lý đơn khởi kiện của công ty A khi có yêu cầu
Trường hợp thứ hai, nếu như trong hợp đồng giữa công ty A và công ty B không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài xác lập giữa hai bên thuộc các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại Điều 18 Luật trọng tài
Thương mại 2010: “1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm