Quan niệm về cổ đông thiểu số Không giống như các loại hình doanh nghiệp khác, vốn điều lệ của CTCP được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và người sở hữu cổ phần được gọi là
Trang 1ĐỀ BÀI SỐ 07:
Tìm hiểu vấn đề bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số ( ít vốn, nhỏ lẻ ) với các nộidung sau:
1. Quan niệm về cổ đông thiểu số
2. Các văn bản pháp luật có quy định về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
3. Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
4. Sừu tầm và phân tích một vụ việc cụ thể liên quan đến quyền lợi của cổ đông thiểu số
MỞ ĐẦU
Ngày nay, trên thế giới cũng như Việt Nam, sự phát triển của các loại hình doanhnghiệp đã thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào kinh doanh, đặc biệt làcác doanh nghiệp có phát hành cổ phiếu (chỉ có ở công ty cổ phần) và niêm yết cổ phiếutrên thị trường chứng khoán (TTCK) Tên gọi cổ đông là tên gọi đặc trưng của các chủ
sở hữu phần vốn góp trong công ty cổ phần, chứ không gọi là thành viên góp vốn nhưtrong công ty TNHH Dựa vào số cổ phần sở hữu trong công ty cổ phần nhiều hay ít mà
cổ đông đươc chia thành cổ đông đa số (chiếm nhiều vốn, tập trung) và cổ đông thiểusố(CĐTS) (ít vốn, nhỏ, lẻ) Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, từ khi Luậtcông ty năm 1990 ra đời, sau đó là Luật doanh nghiệp năm (LDN) 1999, rồi đến LDNnăm 2005 và Luật chứng khoán (LCK) năm 2006 Mô hình CTCP ở Việt Nam đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ, với một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng làhướng đến và duy trì việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là CĐTS Trong đó, sựcông bằng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông là vấn đề được các nhà làm luậtđặc biệt quan tâm Tuy nhiên trên thưc tiễn cũng như dưới góc độ lý luận vấn đề bảođảm sự công bằng giữa các cổ đông, đặc biệt là quyền lợi của CĐTS còn nhiều bất cập,gây bức xúc, nhức nhối, làm nản lòng các nhà đầu tư gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sự lành mạnh của môi trường kinh doanh và hiệu quả của việc huy động nguồn vốn cho
sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, nhóm chúng em đã chọn đề tài tìm hiểu vấn đề
Trang 2bảo vệ quyền lợi CĐTS qua bốn nội dung để làm bài tập nhóm, với hi vọng sẽ giúp chochúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này, đây là một đề tài đang được mọi người rất quan tâmđặc biệt là các nhà đầu tư Trong khuôn khổ bài viết, nhóm chúng em sẽ chỉ đề cập đếnvấn đề bảo vệ quyền lợi của CĐTS trong CTCP được quy định trong LDN 2005, Luậtchứng khoán năm 2006 và một số văn bản pháp luật qua 4 nội dung sau:
NỘI DUNG
1. Quan niệm về cổ đông thiểu số
Không giống như các loại hình doanh nghiệp khác, vốn điều lệ của CTCP được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông(khoản 1, Điều 77 và khoản 11, Điều 4 LDN 2005) Như vậy, cũng xuất phát từ địa vịpháp lý là người đồng chủ sở hữu công ty, nhưng trong CTCP thì người sở hữu phần vốngóp trong công ty lại được gọi là cổ đông chứ không phải là thành viên góp vốn nhưtrong công ty TNHH Đây cũng là khái niệm đặc trưng, duy nhất chỉ có ở loại hìnhdoanh nghiệp CTCP
Trong CTCP, cổ đông được phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào loại cổ
phần mà cổ đông đó nắm giữ Theo quy định của LDN 2005, CTCP bắt buộc phải có
cổ phần phổ thông, ngoài ra CTCP còn có thể có các loại cổ phần ưu đãi như cổ phần ưuđãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần kháctheo quy định của Điều lệ công ty Nếu dựa vào tiêu chí “loại cổ phần” nêu trên thì cổđông sẽ được chia ra thành cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi (Điều 78 LDN 2005).Tuy nhiên dưới góc độ thực tiễn, người ta thường quan tâm đến tiêu chí tỷ lệ cổ phần mà
cổ đông sở hữu để phân loại cổ đông hơn Theo tiêu chí này, thì cổ đông sẽ được chiathành cổ đông sở hữu nhiều vốn hay còn gọi là cổ đông lớn và cổ đông ít vốn hay còngọi là cổ đông thiểu số Việc xác định cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn không có ý nghĩa khigóp vốn, mà chỉ có ý nghĩa khi các cổ đông thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình
Trang 3CĐTS là khái niệm trên thực tế còn tồn tại rất nhiều tên gọi khác nhau Đặt trong mốiquan hệ tương quan với cổ đông sở hữu nhiều vốn, thì người ta có thể gọi cổ đông sởhữu ít vốn là cổ đông “ít vốn”, cổ đông “nhỏ” hay CĐTS Sở dĩ có nhiều cách gọi khácnhau như vậy là do sự phong phú của tiếng việt, tuy nhiên, chúng ta không cần phảithống nhất tên gọi, vì dù được gọi như thế nào thì chúng vẫn mang một ý nghĩa giốngnhau.
Trước đây, theo quy định tại Điều 2, Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về
chứng khoán và TTCK, thì “Cổ đông thiểu số là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có
quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” Như vậy, khái niệm CĐTS được quy định rất
rõ ràng, một cổ đông được gọi là CĐTS khi cổ đông đó sở hữu dưới 1% cổ phiếu của tổchức phát hành Tuy nhiên, nghị định này đã hết hiệu lực, cho đến nay, khi ban hànhLuật, nghị định mới các nhà làm luật cũng đã lãng quên khái niệm này
Như vậy cho đến nay, về mặt pháp luật thực định chúng ta chưa có một định nghĩa
về CĐTS, tuy nhiên dưới góc độ pháp lý, chúng ta có thể tiếp cận định nghĩa này trong
mối quan hệ với định nghĩa về “cổ đông lớn” Định nghĩa về cổ đông lớn hiện nay có
hai văn bản luật trực tiếp điều chỉnh là Luật các tổ chức tín dụng 1997 và LCK 2006
Theo quy định tại khoản 6, Điều 20, Luật các tổ chức tín dụng “Cổ đông lớn là cá nhân
hoặc tổ chức sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của một tổ chức tín dụng” Cũng tương tự như vậy, khoản 9, Điều 6
LCK 2006 quy định “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở
lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành” Như vậy, cả Luật các tổ
chức tín dụng và LCK đã đưa ra một tỷ lệ chính xác là 10% và 5% để phân định ranhgiới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong CTCP Và liệu có thể hiểu theo cáchhiểu thông thường để gọi loại cổ đông còn lại ở đây là những CĐTS hay cổ đông nhỏcho phù hợp với mối quan hệ của cặp phạm trù lớn – nhỏ được hay không?
Xét về mặt thực tiễn, CĐTS không có khả năng chi phối đến công ty, không được ápđặt quan điểm của mình trong đường lối, chính sách phát triển công ty, không được nắmquyền điều hành công ty Thế nên, nếu tiếp cận thuật ngữ CĐTS qua khái niệm “cổ
Trang 4đông lớn” chỉ về vấn đề nắm giữ số lượng vốn điều lệ của CTCP là chưa đủ Ví dụ: 1CTCP có 51 thành viên, 1 thành viên nắm giữ 10% vốn điều lệ, 50 người còn lại mỗingười nắm giữ 2% vốn điều lệ Thành viên nắm giữ 10% vốn điều lệ hoàn toàn được coi
là cổ đông lớn Tuy nhiên, nếu 50 người còn lại tập chung tạo thành nhóm cổ đông thì họ
sẽ có khả năng chi phối cao đối với công ty, họ có thể thông qua mọi quyết định củacông ty Như vậy, những người nắm giữ tỉ lệ cổ phần thấp đã gián tiếp điều hành công ty,còn người nắm giữ 10% cổ phần lại trở nên “lép vế” do bị hạn chế khả năng chi phốicông ty
Vì vậy, không thể đưa ra định nghĩa về CĐTS chỉ dựa trên một tỷ lệ sở hữu cổ phầnnhất định mà khi đề cập đến vấn đề này, bên cạnh việc xem xét ở góc độ tỷ lệ cổ phần
mà cổ đông sở hữu, cần phải xem xét dưới cả góc độ khả năng chi phối công ty của cổđông Cụ thể là phải xem xét đến vị trí, vai trò, khả năng của cổ đông trong việc quyếtđịnh hay ảnh hưởng đến các chính sách, kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển củacông ty và biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất của công ty
là ĐHĐCĐ Hay nói cách khác, khi đưa ra khái niệm CĐTS cần phải dựa vào đồng thờihai tiêu chí là: (1) tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong công ty và (2) các mối quan
hệ quyền lực trong công ty, nghĩa là khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát
công ty của cổ đông Bởi lẽ, “nếu không tính đến khả năng kiểm soát công ty thì bản
thân số lượng cổ phần không thể xác định được vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số” 1 Trên thực tế, khả năng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soátcông ty của cổ đông là phụ thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ trongcông ty Theo đó, cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phần càng cao trong công ty thì khả năng chiphối tới quá trình quản lý, kiểm soát công ty càng cao và ngược lại Chính vì vậy mà
“nếu cổ đông nhỏ không bị chèn ép bởi những cổ đông lớn thì bản thân phần vốn góp ít
ỏi trong công ty cũng sẽ làm cho họ bị hạn chế về quyền lợi, đặc biệt là quyền quyết
1 Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2008), “Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần – So sánh giữa pháp luật Việt Nam
và pháp luật Vương Quốc Anh”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật TP HCM, tr 12.
Trang 5định và quyền hưởng lợi tức” 2 Điều đó cũng có nghĩa là khi những CĐTS liên kết lạivới nhau tạo thành nhóm cổ đông và thực thi được các quyền của nhóm cổ đông, thì khinày, cổ đông sở hữu ít vốn sẽ không còn được xem là CĐTS vì họ đã gián tiếp thôngqua nhóm cổ đông để tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát công ty.
Như vậy, dưới cả góc độ thực tiễn và pháp lý, cổ đông thiểu số được hiểu là những cổđông sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần trong CTCPa và bị hạn chế về khả năng quản lý,cũng như kiểm soát các hoạt động trong CTCP
2. Các văn bản pháp luật có quy định về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật nước ta chưa có văn bản cụ thể nào quy định
về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, qua tìm hiểu nhóm chúng em thấy các vănbản pháp luật có quy định bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số bao gồm:
Thứ nhất là Bộ LDN năm 2005, trong bộ luật này đã dành hẳn 1 chương (chương
IV từ Điều 77 đến Điều 129 ) để quy định về CTCP, trong đó có các quy định về quyền
và nghĩa vụ của các cổ đông trong CTCP như CĐ phổ thông (Điều 79,80), cổ đông ưuđãi biểu quyết (Điều 81), cổ đông ưu đãi cổ tức (Điều 82), cổ đông ưu đãi hoàn lại(Điều 83), quy định về cơ cấu, tổ chức và quản lý của CTCP với tư cách là cổ đông làđồng chủ sở hữu tài sản của công ty, CĐTS sở hữu cổ phần tương ứng với phần vốn gópcủa mình LDN đã quy định về quyền lợi của CĐTS cũng như quyền lợi của các cổđông khác như quyền tham gia vào quản lý công ty, tham gia dự họp Đại hội đồng cổđông, tham gia giám sát kiểm sát hoạt động của CTCP, tham gia các giao dịch
Thứ hai là Bộ luật chứng khoán (LCK) năm 2006 Luật này quy định về hoạt động
chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứngkhoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán
2 Lê Văn Qua (2008), “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần”, Khoá luận Cử nhân Luật,
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 9.
Trang 6Thứ ba là để gỡ bỏ những rào cản nhằm mục tiêu gia nhập WTO, Việt Nam đã chấp
nhận hạ tỷ lệ triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ hợp lệ và thông qua các quyết định của cơquan này từ 65% và 75% xuống chỉ còn 51% cho phù hợp với pháp luật quốc tế Những
cam kết nói trên được thể hiện tại đoạn 502 và đoạn 503, “Báo cáo của Ban Công tác
về việc Việt Nam gia nhập WTO” Để thực thi cam kết này, Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 về phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTOcủa Việt Nam Theo quy định của Nghị quyết này thì các cam kết nêu trên của Việt Nam
sẽ được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong mọi ngành nghề, lĩnh vực
Thứ tư là Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 ban hành điều lệ mẫu cho
các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/ trung tâm giao dịch chứng khoán
Thứ năm là Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 hướng dẫn về việc công bố
thông tin trên TTCK, thì công ty đại chúng, công ty niêm yết có nghĩa vụ công bố đầy
đủ, chính xác và kịp thời thông tin định kỳ và bất thường về tình hình hoạt động, sảnxuất, tài chính và tình hình quản trị công ty cho cổ đông và công chúng; công bố thôngtin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn, giao dịch cổ phiếu quỹ, giao dịch cổ phiếucủa cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng; hay về các giao dịchchào mua công khai
Thứ sáu là Khoản 4, Phần IV Thông tư 09/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày
15/01/2010 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên TTCK và Công văn số582/UBCK-TT của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) ngày 14/04/2009 vềcông bố thông tin của cổ đông nội bộ khi thực hiện giao dịch cổ phiếu của công ty niêmyết cũng quy định việc các cổ đông nội bộ khi thực hiện các giao dịch cổ phiếu vớinhững người có liên quan phải công bố thông tin
3 Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số
Trang 71 Quyền tham gia quản lí công ty
a Quyền tham dự họp và bầu cử tại buổi họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)
Để đảm bảo quyền tham dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông thiểu số LDN 2005 đã đặt
ra điều kiện để tiến hành một cuộc họp ĐHĐCĐ đó là khi số lượng cổ đông đến dự họpđạt tỷ lệ đại diện cho ít nhất 65 % tổng số cổ phần có quyền biểu quyết (khoản 1 Điều
102 LDN) Với quy định này, các cổ đông lớn không thể tùy tiện tổ chức các cuộc họpĐHĐCĐ mà bỏ mặc cổ đông thiểu số, họ muốn tiến hành được cuộc họp thì bắt buộcphải có sự tham gia của cổ đông thiểu số trong giới hạn chừng mực nhất định Hay nóicách khác thông qua quy định này cổ đông thiểu số sẽ được các cổ đông lớn tôn trọnghơn
b Quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, baogồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết Theo đó, các đối tượng có thẩm quyền triệutập ĐHĐCĐ gồm có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và cổ đông hoặc nhóm cổ đông(Điều 97 LDN) Trong cơ chế này, pháp luật đã rất chú trọng đến việc bảo vệ cổ đôngthiểu số khi xây dựng chế định thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ của nhóm cổ đông.Khoản 2 và khoản 3 Điều 79 LDN quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn ít nhất 6 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơnquy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ trong ba trường hợp:
+ Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của ngườiquản lí hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao
+ Nhiệm kì của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị mớichưa được bầu thay thế
Trang 8+ Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty
Ngoài ra, nhóm cổ đông thiểu số còn có thể tự mình đứng ra triệu tập họp ĐHĐCĐ
theo quy định tại khoản 6 Điều 97 LDN : “Trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập
họp Đại hội cổ đông theo quy định tại khoản 5 Điều này thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 Luật này đã yêu cầu có quyền thay thế Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông theo quy định của luật này Trong trường hợp này, cổ đông hoặc nhóm cổ đông triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông
có thể đề nghị cơ quan đăng kí kinh doanh giám sát việc triệu tập và tiến hành họp nếu xét thấy cần thiết”
Như vậy, trong trường hợp Ban kiểm soát không triệu tập họp ĐHĐCĐ theo quyđịnh tại khoản 5 Điều 97 LDN thì nhóm cổ đông thiểu số có quyền triệu tập họpĐHĐCĐ Thật vậy, có thể thấy đây là một điểm khá tiến bộ của Luật doanh nghiệp năm
2005 so với các quy định của pháp luật Việt Nam trước đó trong việc bảo vệ quyền lợicủa cổ đông thiểu số
c Quyền biểu quyết và việc bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua các nghị quyết, quyết định của ĐHĐCĐ
Để hạn chế việc lạm dụng quyền lực chi phối các quyết định của ĐHĐCĐ và việcchèn ép, gây bất lợi cho cổ đông thiểu số, khoản 3 Điều 104 LDN đã quy định về tỷ lệthông qua quyết định của ĐHĐCĐ Theo đó, quyết định của ĐHĐCĐ được thông quatại cuộc họp phải được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất
cả các cổ đông dự họp chấp thuận, riêng đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số
cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chứclại, giải thể công ty, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50 % tổng giátrị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty thì phải được số cổ
Trang 9đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấpthuận Việc LDN quy định như vậy là nhằm hạn chế khả năng thông qua quyết định củaĐHĐCĐ mà không cần đến sự biểu quyết của các cổ đông thiểu số, qua đó bảo vệquyền biểu quyết của cổ đông thiểu số.
Bên cạnh đó, khi tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ nhóm cổ đông thiểu số có quyền kiếnnghị vấn đề đưa vào chương trình họp ĐHĐCĐ (theo quy định tại khoản 2 Điều 99LDN) Đây là một quy định nhằm mục đích bảo vệ cổ đông thiểu số, giúp họ có tiếngnói của mình trong cuộc họp quan trọng nhất trong công ty cổ phần Bằng quy định này,
cổ đông thiểu số có thể đưa những nội dung, vấn đề họ quan tâm hoặc có sự ảnh hưởngđến quyền lợi của họ vào cuộc họp ĐHĐCĐ đề bàn bạc, thống nhất và thông qua đó, cổđông thiểu số có thể bảo vệ được quyền lợi của mình trong một giới hạn chừng mựcnhất định
d Quyền tham gia ứng cử, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 79 LDN cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữutrên 10 % tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một
tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điểu lệ công ty có quyền: “ Đề cử người vào Hội đồng
quản trị và Ban kiểm soát (nếu có)”.
Ngoài ra điểm b khoản 4 Điều 79 LDN quy định:“Căn cứ vào số lượng thành viên
Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề
cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử”.
Trang 10Như vậy, có thể thấy mặc dù cổ đông thiểu số cũng có quyền tham gia ứng cử, đề cửngười vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhưng ở trong chừng mực nào đó quyềnlợi này của cổ đông thiểu số vẫn bị hạn chế Đó là trong trường hợp số ứng cử viênđược cổ đông thiểu số đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theoquyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị,Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử.
Thứ nhất, về nghĩa vụ công bố thông tin: theo quy định của LDN 2005, thì công bố
thông tin là nghĩa vụ của doanh nghiệp trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đồngthời, người quản lý trong CTCP còn có nghĩa vụ thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xáccho công ty về các doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc cóphần vốn góp, cổ phần chi phối
Bên cạnh đó, pháp luật về chứng khoán quy định một cách rõ ràng và cụ thể về vấn
đề này Theo quy định tại Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 hướng dẫn vềviệc công bố thông tin trên TTCK, thì công ty đại chúng, công ty niêm yết có nghĩa vụ
Trang 11công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin định kỳ và bất thường về tình hình hoạtđộng, sản xuất, tài chính và tình hình quản trị công ty cho cổ đông và công chúng; công
bố thông tin về giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn, giao dịch cổ phiếu quỹ, giao dịch cổphiếu của cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng; hay về các giaodịch chào mua công khai Ngoài ra, công ty niêm yết còn có nghĩa vụ phải công bố kịpthời và đầy đủ các thông tin khác, nếu các thông tin đó có khả năng ảnh hưởng đến giáchứng khoán và ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Đặc biệt Bộ luật Hình sự
1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 đã bổ sung thêm một chế tài hình sự đối vớingười thực hiện hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạtđộng chứng khoán
Như vậy, pháp luật hiện hành đã quan tâm rất nhiều đến việc minh bạch TTCK vàchú trọng xây dựng các chế tài nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm, nhằm mụcđích bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư nói chung cũng như những CĐTS nói riêng.Bởi trên thực tế, các CTCP không bao giờ tự nguyện công bố thông tin hoặc công bốthông tin một cách trung thực, việc công bố thông tin của doanh nghiệp còn mang nhiềutính hình thức và đối phó, hầu hết các thông tin quan trọng đều bị cổ đông lớn che dấu
để sử dụng cho mục đích tư lợi riêng, gây ra những thiệt hại đáng kể cho các CĐTS
Thứ hai, về quyền được trích lục văn bản, tài liệu của công ty: theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 79 LDN thì cổ đông thiểu số còn có quyền: “ Xem xét và trích lục
sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát”.
Thật vậy, việc quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi vì thông qua đó cổ đôngthiểu số có thể kiểm tra, giám sát những thông tin, các quyết định của người quản lícông ty, kịp thời phản ánh những sai lệch trong thông tin mà công ty công bố và từ đó
có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình
Trang 12ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nguồn vốn của họ.
Dự liệu được các bất lợi cho CĐTS phát sinh từ giao dịch tư lợi của người quản lý,pháp luật đã đặt ra một số công cụ pháp lý nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lựccủa người quản lý để thực hiện các giao dịch tư lợi Theo đó, LDN 2005 quy định cụ thểcác hợp đồng, giao dịch có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản doanhnghiệp được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất phải được ĐHĐCĐ thông qua, còn đốivới các giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% sẽ thuộc thẩm quyền của HĐQT3 Đồng thời,theo quy định tại các Điều 118 và Điều 120 LDN 2005, thì các hoạt động, giao dịchgiữa công ty với cổ đông, người đại diện uỷ quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số
cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; giữa công ty với
3 Khoản 2 và khoản 3, Điều 120 LDN 2005.