1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

( 8 điểm ) TIỂU LUẬN bài tập tình huống nhóm thương mại 2 theo hợp đồng, công ty a phải thực hiện việc bán sữa chua do công ty b sản xuất với giá thàn

12 407 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ theo quy định tại Điều 167 Luật thương mại 2005, bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài - Nội dung của h

Trang 1

ĐỀ BÀI: TM2.NT2 - 3

Tháng 11 năm 2011, giám đốc công ty cổ phần A ký hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa với giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên B Theo hợp đồng, công ty

A phải thực hiện việc bán sữa chua do công ty B sản xuất với giá thành sản phẩm do công ty B ấn định Thời hạn đại lý là 3 năm từ ngày hợp đồng có hiệu lực

1 Xác định các điều kiện chủ thể để hợp đồng đại lý có hiệu lực (Nêu rõ ngành nghề kinh doanh mà công ty A và công ty B phải đăng ký)

2 Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A Thỏa thuận này của các bên có phù hợp quy định của pháp luật về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa không? Vì sao?

3 Một khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty A bị ngộ độc Công ty A hay công ty B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng?

4 Tháng 3 năm 2013, công ty A nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua của công ty C Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công ty B và công ty C không? Vì sao?

Theo đề nghị của công ty C, công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B Em hãy nhận xét về hành vi nói trên của công

ty A

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát chung về đại lý thương mại

Trang 2

1.1 Khái niệm đại lý thương mại

“Đại lý thương mại là là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại

lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”

(Điều 166 Luật thương mại 2005)

Theo Điều 169 Luật thương mại 2005, các hình thức đại lý là:

- Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý

- Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định

- Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý

tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý

- Các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận

I.2 Đặc điểm đại lý thương mại

- Quan hệ đại lý phát sinh giữa bên giao đại lý và bên đại lý Căn cứ theo quy định tại Điều 167 Luật thương mại 2005, bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài

- Nội dung của hoạt động đại lý bao gồm việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý và giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý với bên thứ ba theo yêu cầu của bên giao đại lý

Để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý được quyền tự do lựa chọn bên thứ ba và nhân danh chính mình khi giao kết và thực hiện hợp đồng cho bên giao đại lý

- Trong đại lý mua bán hàng hóa, bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền giao cho bên đại lý (Điều 170 Luật thương mại 2005) Khi thực hiện hoạt động đại lý,bên đại lý không phải bên mua hàng của bên giao đại lý mà chỉ là người

Trang 3

nhận hàng để tiếp tục bán cho người thứ ba Chỉ khi hàng hóa được bán, quyền sở hữu hàng hóa mới chuyển tử bên giao đại lý cho bên thức ba

- Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng đại lý Hợp đồng đại lý được giao kết giữa bên giao đại lý và bên đại lý Hợp đồng đại lý phải được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

II Giải quyết tình huống

1 Xác định các điều kiện chủ thể để hợp đồng đại lý có hiệu lực (Nêu rõ ngành nghề kinh doanh mà công ty A và công ty B phải đăng ký).

Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng đại lý giao kết giữa bên giao đại lý và bên đại lý Theo quy định tại Điều 167 Luật thương mại 2005 thì bên giao đại lý và bên đại lý tham gia quan hệ đại lý thương mại đều phải là thương nhân,

cụ thể:

“1 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ.

2 Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng

để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.”

Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức

kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” Như vậy, thương nhân có thể là cá nhân hoặc

pháp nhân được thành lập hợp pháp Và một chủ thể muốn trở thành thương nhân phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại Hoạt động thương mại

là hoạt đông nhằm mục đích sinh lời bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời

khác (Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005).

Thứ hai, thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa

chính mình và vì lợi ích của bản thân mình

Trang 4

Thứ ba, thương nhân phải thực hiện các hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp

thường xuyên nhằm tạo ra những thu nhập chính cho thương nhân

Thứ tư, thương nhân phải có năng lực hành vi hành vi thương mại, có nghĩa rằng

chủ thể đó phải có khả năng bằng những hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý thương mại

Thứ năm, thương nhân phải có đăng kí kinh doanh Đây là một yêu cầu bắt buộc đối

với cá nhân tổ chức muốn trở thành thương nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam

Bên đại lý, bên giao đại lý có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài Trong trường hợp, hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được kí hợp đồng đại lý bán hàng hóa tại nước ngoài hoặc làm đại lý cho thương nhân nước ngoài sau khi được Bộ Công thương cho phép

Luật quy định chủ thể của hợp đồng đại lý là thương nhân nhưng không quy định cụ thể các thương nhân trên có đăng kí kinh doanh ngành nghề như thế nào Tuy nhiên dựa trên các nguyên tắc chung về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 thì các bên kí kết hợp đồng đại lý thương mại phải có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Cụ thể, bên đại lý nhân danh chính mình giao dịch với bên thứ ba để mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại nên bên đại lý phải có đăng kí kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa ghi trong hợp đồng Việc “có đăng kí kinh doanh phù hợp” sẽ tạo tư cách chủ thể hợp pháp để bên đại lý thực hiện việc bán hàng, cung ứng dịch vụ hoặc mua hàng nhằm thu lợi nhuận Bên giao đại lý là nhà sản xuất hàng hóa có nghĩa vụ giao hàng hoặc tiền cho bên đại lý thì phải là thương nhân được sản xuất hàng hóa đó hoặc được kinh doanh hàng hóa đó Điều này được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của bên giao đại lý

Trong tình huống trên, công ty A kí hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa với công ty

B và theo như hợp đồng thì công ty A phải thực hiện việc bán sữa chua do công ty B sản xuất, có nghĩa là B là bên giao đại lý còn công ty A là bên đại lý tiêu thụ sản phẩm của công ty B Để hợp đồng đại lý giữa công ty A và công ty B có hiệu lực thì cả A và

Trang 5

B đều phải là thương nhân Theo tình huống, công ty A là công ty cổ phần và công ty

B là công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên Căn cứ theo quy định tại Điều 38 và Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên là những loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và đáp ứng các điều kiện để trở thành thương nhân như đã phân tích ở trên Như vậy, công ty A và công ty

B đã thỏa mãn điều kiện là thương nhân trongquan hệ đại lý thương mại theo quy định của Luật thương mại 2005 Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 07/2001/TTLT/BKH-TCTK của Bộ kế hoạch và đầu tư – Tổng cục thống kê về Hướng dẫn ngành, nghề kinh doanh sử dụng trong đăng ký thì tại Phụ lục II có đề cập đến danh mục ngành, nghề kinh doanh sử dụng trong đăng kí kinh doanh Theo đó thì việc Công ty B sản xuất sữa chua sẽ phải đăng kí kinh doanh mặt hàng mà công ty kinh doanh, cụ thể là Ngành Sản xuất sản phẩm bơ, sữa mã số kinh doanh 152 với Nghề là sản xuất các loại sữa chua

mã số kinh doanh 15223 - 152230 Công ty A muốn làm đại lí mua bán hàng hóa cho Công ty B thì Công ty A phải đăng kí kinh doanh Ngành Đại lý mã số kinh doanh 511

và Nghề Đại lý mua bán hàng hóa mã số kinh doanh 5113

2 Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công

ty A Thỏa thuận này của các bên có phù hợp quy định của pháp luật về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa không? Vì sao?

Khẳng định: Thỏa thuận giữa công ty A và công ty B trong hợp đồng đại lý mua

bán hàng hóa là thỏa thuận trái với quy định của pháp luật về hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa Điều khoản này sẽ bị vô hiệu trong quá trình hai bên thực hiện hợp

đồng

Luật thương mại 2005 đề cao sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên trong việc giao kết hợp đồng Tuy nhiên, sự tự do ý chí của các chủ thể phải trong khuôn khổ quy định của pháp luật và mọi thỏa thuận trái pháp luật của các bên đều vô hiệu Trong tình huống, công ty A và công ty B ký kết hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa và đã có thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A Điều khoản này được thỏa

Trang 6

thuận nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu và trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa từ bên giao đại lý sang cho bên đại lý khi bên giao đại lý đã giao hàng hóa cho bên đại lý theo hợp đồng đại lý

Tuy nhiên, Điều 170 Luật thương mại 2005 quy định: “bên giao đại lý là chủ sở

hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lý” Quy định này có hiệu lực đối với

mọi quan hệ đại lý và các bên của hợp đồng đại lý có nghĩa vụ phải tuân thủ Nếu trong hợp đồng đại lý không có thỏa thuận về quyền sở hữu hàng hóa thì khi có tranh chấp xảy ra, Điều 170 Luật thương mại 2005 sẽ được áp dụng Nếu trong hợp đồng đại lý có bao gồm nội dung này thì mọi thỏa thuận phải phù hợp với Điều 170 Luật thương mại

2005 Mọi thỏa thuận trái với quy định này đều vô hiệu, không có hiệu lực thi hành Như vậy, khác với quan hệ mua bán hàng hóa có sự chuyển giao quyền sở hữu, trong quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, bên giao đại lý chỉ giao hàng hóa cho bên đại

lý bán hàng mà không chuyển quyền sở hữu cho bên đại lý Hàng hóa vẫn thuộc quyền

sở hữa của bên giao đại lý và bên đại lý có nghĩ vụ phải bảo quản Khi bên đại lý giao kết thực hiện hợp đồng với bên thứ ba, quyền sở hữu sẽ được chuyển từ bên giao đại lý sang cho bên thứ ba Với tư cách là chủ sở hữu của hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa của mình cũng như phải gánh chịu mọi rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chịu mọi trách nhiệm với bên thứ ba về chất lượng của hàng hóa (trừ trường hợp hàng hóa bị hư hỏng do lỗi bảo quản của bên đại lý) Đây là đặc điểm làm cho hợp đồng dại lý mua bán hàng hóa hoàn toàn khác hợp đồng mua bán hàng hóa, nhất là hợp đồng mua sỉ để bán lẻ

Như vậy, thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A là thảo thuận không phù hợp với quy định của pháp luật về đại lý mua bán hàng hóa, cụ thể là Điều 170 Luật thương mại 2005 Việc thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho công ty A đã làm thay đổi bản chất quan hệ giữa công ty A và công ty B Lúc này, quan hệ giữa công ty A và công ty B là quan hệ mua bán hàng hóa chứ không phải là quan hệ đại lý mua bán hàng hóa, hợp đồng giữa công ty A với công ty B không còn là hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa

Trang 7

3 Một khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty A bị ngộ độc Công ty A hay công ty B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng?

Trước hết, ta xác định lý do dẫn đến thiệt hại cho khách hàng là do chất lượng sữa chua không đảm bảo, song trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ thuộc về người có lỗi trong việc hàng hóa không đảm bảo chất lượng, dẫn đến những tổn hại về sức khỏe và vật chất của khách hàng Để xác định yếu tố lỗi, yếu tố vi phạm pháp luật, cần xem xét đến trách nhiệm của bên giao đại lý và bên đại lý Khoản 2 Điều 173 Luật thương mại

2005 quy định về nghĩa vụ của bên giao đại lý: “ chịu trách nhiệm về chất lượng hàng

hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ”.

Như vậy, bên giao đại lý - công ty B có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, sở dĩ như vậy vì hàng hóa thuộc sở hữu của công ty

B nên tất cả vấn đề liên quan đến hàng hóa mà nhất là chất lượng hàng hóa thì công ty

B phải là bên có trách nhiệm đầu tiên và trước hết Tính chất chủ sở hữu được áp dụng tuyệt đối Tuy nhiên, khoản 5 Điều 175 Luật thương mại 2005 cũng quy định bên đại

lý có nghĩa vụ “bảo quản hàng hóa sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi

giao đối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp

có lỗi do mình gây ra” Theo quy định này thì bên đại lý phải có trách nhiệm bảo quản

hàng hóa của bên giao đại lý Nếu có bất kỳ vấn đề nào về chất lượng hàng hóa do lỗi của bên đại lý thì bên đại lý sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi khách hàng yêu cầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Như vậy, bên giao đại lý và bên đại lý đều có trách nhiệm đối với chất lượng hàng hóa đã bán cho khách hàng Do đó, khách hàng có cơ sở để khởi kiện đối với cả hai bên Tuy nhiên, đối với tình huống trên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng thuộc về công ty A hay công ty B ta cần chứng minh yếu tố lỗi của cả hai bên:

Trường hợp 1: Nếu tại thời điểm công ty B giao hàng cho công ty A hàng hóa bảo

đảm chất lượng như bên công ty B công bố tuy nhiên trong quá trình bảo quản hàng

Trang 8

hóa công ty A không tuân thủ theo hướng dẫn của công ty B nên khi hàng hóa được bán cho khách hàng đã không còn đúng tiêu chuẩn về chất lượng như đã công bố Trong trường hợp này bên đại lý – công ty A sẽ liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa mặc dù hàng hóa không thuộc sở hữu của bên công ty A Như vậy,

công ty A và công ty B đều phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng.

Trường hợp 2: Nếu công ty A đã tuân thủ theo đúng hướng dẫn của công ty B về

bảo quản chất lượng hàng hóa nhưng hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng không đảm chất lượng thì công ty B phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý

mua bán hàng hóa Như vậy, công ty B phải chịu trách nhiệm bồi hường thiệt hại

cho khách hàng.

Trường hợp 3: Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường thiệt

hại cho bên thứ ba thì làm theo thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng

4 Tháng 3 năm 2013, công ty A nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua của công ty C Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công ty B và công ty C không? Vì sao?

Theo đề nghị của công ty C, công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B Em hãy nhận xét về hành vi nói trên của công ty A

a) Tháng 3 năm 2013, công ty A nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua của công ty C Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công ty B và công ty C không? Vì sao?

Khẳng định: Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công ty B và công ty C, vì:

Trước hết, căn cứ theo các dữ kiện của đề bài và theo quy định tại khoản 2 Điều

169 Luật thương mại 2005, ta xác định hợp đồng đại lý giữa công ty A và công ty B không phải là hợp đồng đại lý độc quyền

Điều 174 Luật thương mại 2005 quy định quyền của bên đại lý:

“Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có các quyền sau đây:

Trang 9

1 Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 175 của Luật này;”

Theo quy định này, bên giao đại lý và bên đại lý có quyền thỏa thuận việc bên đại

lý có được giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý hay không Nếu không có thỏa thuận từ trước, bên đại lý đương nhiên có quyền giao kết hợp đồng đại

lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, chỉ ngoại trừ trường hợp quy định tại khoản 7

Điều 175 LTM 2005: “ Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ

được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó.” Theo quy định này thì

bên đại lý có nghĩa vụ chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định

Hàng hóa trong tình huống là sữa chua, đây là mặt hàng khá thông dụng và pháp luật hiện hành không có quy định hạn chế về việc bên đại lý chỉ được làm đại lý bán sữa chua cho một hãng sản xuất sữa chua Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Luật thương mại 2005, việc công ty A có quyền giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý hay không sẽ do công ty A và công ty B thỏa thuận Nếu các bên không có thỏa thuận hạn chế quyền này thì công ty A đương nhiên có quyền giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua với công ty C

b) Theo đề nghị của công ty C, công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B Em hãy nhận xét về hành vi nói trên của công ty A.

Đối với tình huống trường hợp này, ta cần chia ra làm hai trường hợp Cụ thể như sau:

Trường hợp 1: Trong hợp đồng đại lý giữa công ty A và công ty B có thỏa thuận về

vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý, thì việc giải quyết vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý giữa công ty A và công ty B sẽ dựa trên sự thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng

Trang 10

- Nếu thỏa thuận có nội dung như một trong hai bên được đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý và không phải bồi thường thì trong trường hợp này công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B là không

có căn cứ, là trái với sự thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, công ty B sẽ không phải bồi thường cho công ty A

- Nếu trong hợp đồng đại lý có thỏa thuận nội dung như hai bên không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong mọi trường hợp và mà không kèm theo bất

cứ điều kiện gì khác, bên nào vi phạm bên đó sẽ phải bồi thường cho bên kia, thì việc yêu cầu bồi thường của công ty A đối với công ty B cũng không có cơ sở, và bên công

ty B sẽ là chủ thể có quyền yêu cầu công ty A bồi thường chứ không phải là ngược lại

Trường hợp 2: Nếu hai bên không có thỏa thuận về việc đơn phương chấm dứt hợp

đồng thì sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật, cụ thể là áp dụng Điều 177 Luật thương mại 2005:

“1 Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.

2 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại

lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý

đó

Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý.

3 Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình

đã làm đại lý cho bên giao đại lý.”

Ngày đăng: 25/03/2019, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w