1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm thương mại đề tình huống trọng tài thương mại

17 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 120,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG...2 1.Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực...2 2.Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên v

Trang 1

MỤC LỤC I.MỞ ĐẦU 2

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 2

1.Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực 2 2.Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 5 3.Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao? 10 4.Phân tích các căn cứ pháp lý để xác định tính hợp pháp của yêu cầu bồi thường thiệt hại

và phạt vi phạm của công ty A và xác định giá trị bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm mà công ty B phải chịu? 11

II KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

I MỞ ĐẦU.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Song cùng với đó là các quan hệ thương mại ngày càng trở nên

đa dạng và phức tạp hơn Chính vì vậy, tranh chấp thương mại là điều không thể tránh khỏi.Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại là vấn đề vô cùng phức tạp do đó việc lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp hợp lý là một vấn

đề có ý nghĩa quyết định trong việc đảm bảo thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển thuận lợi Trên thực tế, tòa án là cơ quan có đủ chức năng để thực hiện những cơ sở pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp nói chung Song các đặc tính gay gắt, phức tạp và sòng phẳng của các hoạt động thương mại thì bên cạnh tòa án còn có những biện pháp giải quyết tranh chấp khác Một trong những biện pháp đó là “Trọng tài thương mại” Để phân tích rõ về vấn về này, nhóm chũng

em xin lựa chọn đề bài số 02

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.

1 Phân tích các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực.

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng Tuy nhiên,thỏa thuận đó chỉ có hiệu lực khi tuân theo những quy định của pháp luật Luật thương mại 2005 (LTM) không có quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng mua bán có hiệu lực Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, cần dựa trên những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật dân sự 2005 (BLDS) Căn cứ vào quy định của Điều 122 BLDS và các quy định có liên quan,

có thể xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, năng lực chủ thể để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mua

bán hàng hóa là: có điều kiện thành lập hợp pháp; có nội dung đăng ký kinh

Trang 3

doanh của thương nhân Đối với việc mua bán những dịch vụ, ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì các chủ thể phải có giấy phép hành nghề kinh doanh Như vậy,các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn hợp đồng mua bán, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là các thương nhân Khi tham gia hợp đồng mua bán nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng

ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật

Thứ hai, theo quy định của BLDS 2005 đại diện hợp pháp bao gồm đại diện

theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Điều 140 BLDS) Khái niệm đại diện theo ủy quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 142

BLDS như sau: “Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ

quyền giữa người đại diện và người được đại diện” Đại diện hợp pháp của chủ

thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc là đại diện theo ủy quyền Đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán, theo quy định tại Điều 145 BLDS, khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán, sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được hợp đồng đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận Bên đã giao kết hợp đồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho bên kia

để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không có trả lời thì hợp đồng đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ với bên được đại diện nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên đã giao kết hợp đồng với mình, trừ trường hợp bên đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện

Trang 4

Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều cấm

của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng Nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận, thống nhất Để hợp đồng có hiệu lực và có khả năng thực hiện, pháp luật quy định mục đích, nội dung của hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào từng giai đoạn của nền kinh tế, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước

mà những hàng hóa bị cấm kinh doanh được pháp luật quy định một cách phù hợp Vì vậy, đối tượng của hợp đồng phải là những hàng hóa được pháp luật cho phép trao đổi, mua bán… vào thời điểm giao kết

Thứ tư, hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng

theo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng đảm bảo nguyên tắc tự nguyện xuất phát từ quyền tự do ký kết hợp đồng và sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng tới những lợi ích chính đáng của các bên đồng thời không xâm hại đến các lợi ích mà pháp luật cần bảo

vệ Theo Điều 389 BLDS quy định, việc giao kết hợp phải tuân theo những nguyên tắc: tự do giao kết không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hành vi cưỡng ép,

đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng… là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán vô hiệu

Thứ năm, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Để hợp đồng

mua bán có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luật thừa nhận Theo Điều 24 LTM, hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được thành lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Như vậy, hình thức của hợp

Trang 5

đồng chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật có quy định Bên cạnh pháp luật quy định với một số hợp đồng lập thành văn bản phải công chứng như: một số hợp đồng cho thuê, mua bán, …có đối tượng là quyền sử dụng đất, bất động sản,

Ngoài ra, LTM còn có một quy định riêng về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài như chủ thể bên Việt Nam phải là thương nhân được phép hoạt động thương mại trực tiếp với người nước ngoài; hàng hóa phải là hàng hóa được phép mua bán theo quy định của pháp luật nước bên mua và nước bên bán; hoạt động mua bán phải lập thành văn bản

Như vậy, một hợp đồng mua bán hàng hóa được có hiệu lực pháp luật khi tuân thủ các quy định có hiệu lực của pháp luật Tuy nhiên, việc LTM không quy định

cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã tỏ ra những bất cập nhất định Khi xem xét tính có hiệu lực của hợp đồng này phải xem xét trên cơ sở BLDS Nhưng điều kiện chủ thể của giao dịch dân sự lại không phản ánh được đặc trưng quan hệ thương mại

2 Hãy nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nói trên và bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

Nhận xét về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo.

Theo các quy định tại chương II của LTTM năm 2010 quy định về thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo nêu trên là có hiệu lực

Điều 18 LTTTM quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi:

“1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng

tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trang 6

2 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.”

Theo quy định này thì có thể thấy thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo trên không thuộc các trường hợp vô hiệu Cụ thể:

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài thương mại trên được thực hiện giữa công ty A và

công ty B để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán gạo giữa hai công ty Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại vì vậy mà tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán gạo giữa hai công ty A và công ty

B thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại (Khoản 1 điều 2 LTTTM)

Thứ hai, Điều 16 Luật TTTM quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài: “Thỏa

thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng” Thỏa thuận trọng tài phải được

xác lập dưới dạng văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản Theo quy định này thì thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo đã thỏa mãn điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài, cụ thể là thỏa thuận này đã được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng mua bán gạo Thứ ba, hai người ký kết hợp đồng mua bán gạo trên đều là giám đốc của hai công ty Mà theo quy định tại Điều 95 của Luật doanh nghiệp 2005 thì giám đốc

có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần và theo Điều 116

Trang 7

Luật doanh nghiệp quy định về điều kiện của giám đốc công ty và quyền, nghĩa

vụ giám đốc công ty thì có căn cứ cho rằng họ có thẩm quyền và có năng lực hành vi dân sự để ký kết hợp đồng mua bán gạo trên Và thỏa thuận trọng tài trên

về việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng mua bán gạo giữa công ty

A và công ty B nên không vi phạm điều cấm của pháp luật

Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

So với các quy định về hiệu lực của thỏa thuận trong tài trong pháp lệnh trọng tài thương mại ( PL TTTM) thì các quy định về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong LTTTM đã có những điểm mới, khắc phục được những hạn chế của các quy định cuả PL TTTM

Khoản 6 Điều 18 LTTTM đã đưa ra quy định mới về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Theo đó, thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi vi phạm điều cấm của pháp luật Pháp lệnh đã không quy định vấn đề này Với bản chất là thỏa thuận trọng tài được xem như hợp đồng BLDS 2005 đã quy định vi phạm điều cấm của pháp luật là một trong những trường hợp làm hợp đồng vô hiệu Vì vậy,

mà việc bổ sung này là cần thiết

PLTTTM ghi nhận trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi “thỏa thuận trọng

tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung” Theo quy định này thì pháp luật yêu cầu trong thỏa thuận trọng

tài phải có sự rõ ràng về đối tượng là đối tượng tranh chấp và tổ chức trọng tài Bởi trên thực tế áp dụng quy định này đã nảy sinh nhiều vướng mắc, quy định này đã hạn chế việc sử dụng trọng tài giải quyết tranh chấp Đây chỉ là sự thiếu sót của các bên trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài, ý chí của các bên vẫn mong muốn đưa tranh chấp ra giải quyết trọng tài Pháp luật đã lấy thiếu sót của các bên trong việc trong việc không chỉ đích tên tổ chức trọng tài hoặc ghi tên tổ

Trang 8

chức trọng tài không chính xác, không đầy đủ và vô hiệu hóa ý chí sử dụng trọng tài Như vậy, sự không rõ ràng thỏa thuận trọng tài đã loại trừ quyền giải quyết của trọng tài, mặc dù đây chỉ là sơ suất của các bên trong quá trình xác lập Vô hình chung đã phá vỡ sự thỏa thuận tự nguyện đã có giữa các bên Khắc phục hạn chế này, quy định này đã không được tiếp tục ghi nhận trong LTTTM Mà LTTTM cho phép các bên thỏa thuận lại trong trường hợp không thỏa thuận rõ tên tổ chức trọng tài Trong trường hợp không thỏa thuận được thì bên khởi kiện

có quyền tự do lựa chọn tổ chức trọng tài mag mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 5 Điều 43 LTTTM) Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp

Tuy nhiên, các quy định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài trong LTTTM vẫn chưa khắc phục hoàn toàn các hạn chế của các quy định trong PL TTTM cụ thể: LTTTM vẫn giữ căn cứ làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu như PL TTTM

Khoản 2 Điều 18 LTTTM quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi “Người xác

lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” Như

vậy, giống như pháp lệnh, Luật không hề đề cập đến hậu quả pháp lý của việc không có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cũng như không hề ghi nhận

nguyên tắc “mặc nhiên ủy quyền” Vì vậy, vấn đề này sẽ áp dụng quy định tại

Điều 145 và Điều 146 BLDS 2005 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền xác lập, thực hiện và hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi đại diện Trên thực tế đã việc tòa án hủy quyết định trọng tài do người ký kết thỏa thuận không có thẩm quyền riễn ra rất nhiều Đã có nhiều trường hợp một bên vì muốn trốn tránh trách nhiệm mà cố tình viện lý do này để yêu cầu hủy quyết định trọng tài giải quyết không có lợi cho mình, mặc dù trước đó đã công nhận hiệu lực của thỏa thuận

Trang 9

trọng tài Do đó cần quy định cụ thể, rõ ràng hậu quả của việc ký kết thỏa thuận trọng tài không đúng thẩm quyền trong pháp luật về trọng tài

Chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài là một vấn đề quan trọng bởi không phải bất kỳ ai cũng có thể ký kết thỏa thuận trọng tài Theo quy định của BLDS 2005 thì đối với cá nhân năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là hai khái niệm khác nhau, phát sinh ở những thời điểm khác nhau Mọi cá nhân đều

có năng lực pháp luật dân sự nhưng không phải ai cũng có năng lực hành vi dân

sự Đối với pháp nhân, pháp nhân tham gia vào quan hệ pháp luật như một chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác, cho nên pháp nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi Nhưng khác với năng lực chủ thể của cá nhân, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân phát sinh đồng thời và tồn tại tương ứng cùng với thời điểm thành lập và đình chỉ pháp nhân Như vậy, khi không có năng lực pháp luật dân sự thì đương nhiên pháp nhân sẽ không có năng lực hành vi dân sự Vì vậy, khi xem xét năng lực chủ thể như một điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài nên xem xét năng lực của cá nhân trực tiếp ký kết thỏa thuận trọng tài lẫn năng lực chủ thể của pháp nhân Thay vì “một bên ký

kết thỏa thuận trọng tài” trong pháp lệnh, Luật đã thay bằng cụm từ “người xác

lập thỏa thuận trọng tài” Tuy nhiên, quy định như luật vẫn không đề cập đến

năng lực dân sự của pháp nhân, trong khi trên thực tế cũng có xảy ra trường hợp

này Còn vấn đề nữa là cụm từ “theo quy định của Bộ luật dân sự” quy định trên

được hiểu là đối với người nước ngoài là một bên trong vụ tranh chấp trọng tài giải quyết, năng lực của người đó sẽ được giải quyết theo pháp luật Việt Nam Trong khi đó năng lực hành vi của một người thường được xác định theo pháp

luật của nước đó mang quốc tịch Theo nhóm, nên quy định là “một bên xác lập

thỏa thuận trọng tài không có năng lực dân sự” Với cách quy định như vậy sẽ

bao quát hơn vì nó bao gồm cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Trang 10

3 Tòa án có thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A không? Vì sao?

Trả lời: Tòa án không thể thụ lý đơn khởi kiện của công ty A

Giải thích:

Theo quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trong trường

hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa

án thì Tòa án phải từ chối thụ lí, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Như vậy, có hai trường

hợp Tòa án được thụ lý đơn khởi kiện của công ty A Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài giữa công ty A và công ty B không thuộc hai trường hợp trên

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài vô hiệu (Điều 18 LTTTM) Tuy nhiên, như đã

phân tích ở trên, thì thỏa thuận trọng tài giữa công ty A và công ty B có hiệu lực

Vì vậy trong tình huống nêu trên thì Tòa án không có thẩm quyền giải quyết đơn khởi kiện của công ty A

Thứ hai, “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Hiện nay, chưa có 1

văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng theo quy định tại Điều 43 LTTTM năm 2010 thì xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận

không thể thực hiện được như sau:.

“3 Trường hợp các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài khác; nếu không thỏa thuận được, thì có quyền khởi kiện ra Tòa án

để giải quyết.

4 Trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w