1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật(9đ)

17 182 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam chúng ta cũng không đứng ngoài vòng quay đó, với mong muốn tạo ra một môi trường sống bình đẳng cho NKT như những cá nhân khác trong xã hội, pháp luật NKT đã ghi nhận khá nhiều

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU……… NỘI DUNG

I> KHÁI QUÁT CHUNG

1> Khái niệm người khuyết tật và các nguyên tắc cơ bản……….

1.1> Khái niệm: ……… 1.2> Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật………

2> Nội dung nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử………….

II> QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC GHI NHẬN NGUYÊN TẮC NÀY.

1> Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc 1948……… 2>Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia năm 1944… 3>Công ước của quốc tế về quyền của NKT năm 2006……… 4> Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT……… III> LIÊN HỆ THỰC TIỄN

1>Thành tựu đạt được……… 2> Những tồn tại……… 3>Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc………

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đang ngày càng được xem xét dưới góc độ quyền của con người Tư tưởng cơ bản của luật nhân quyền, dưới góc độ lấy nhân phẩm là vấn đề cốt lõi, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và

có phẩm giá Điều này thể hiện một chân lý rất đơn giản nhưng cũng rất quan trọng rằng người nào cũng là con người Tương ứng với quyền của từng cá nhân, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người Cách nhìn này đã tạo ra những chuyển biến lớn trong luật pháp quốc gia

và quốc tế Việt Nam chúng ta cũng không đứng ngoài vòng quay đó, với mong muốn tạo ra một môi trường sống bình đẳng cho NKT như những cá nhân khác trong xã hội, pháp luật NKT đã ghi nhận khá nhiều nguyên tắc cơ bản trong Luật NKT,trong đó quan trọng và hơn hết đó chính là Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT, đây là nguyên tắc mang tính chất nền tảng cho sự phát triển toàn diện của người khuyết tật Xuất phát từ mục tiêu đó, thông qua đề

tài: ““ Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật Nguyên tăc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật Việt Nam Liên hệ với thực tiễn” Em xin trình bày một số những nội dung cơ bản

như sau:

Trang 3

NỘI DUNG

I> KHÁI QUÁT CHUNG

1> Khái niệm người khuyết tật và các nguyên tắc cơ bản.

1.1 Khái niệm:

Đặt ra khái niệm NKT là cơ sở pháp lí quan trọng đê công nhận ai là NKT, và được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc tất yếu vào ục tiêu và Luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Do vậy, đã không có một khái niệm chung về NKT giữa các nước.Hiện nay có rất nhiều quan điểm về NKT, tuy nhiên hiện có 2 quan điểm chiếm ưu thế đó là quan điểm định nghĩa NKT dưới góc độ y tế và quan điểm NKT dưới góc độ xã hội Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đồng ý với quan điểm thứ hai và Việt Nam chúng ta cũng vậy, đó là nhìn nhận NKT dưới góc độ xã hội

Theo Điều 1 Luật khuyết tật Việt Nam “ Là những người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tất khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”

Dưới góc dộ khoa học, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất

về NKT như sau: “ NKT là người bị khiếm khuyết một phần hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của NKT vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với các chủ thể khác”.

Qua khái niệm này nổi lên 3 nội dung quan trọng đó là:

- NKT không xem xét đến nguyên nhân của khuyết tật;

- Nhận dạng những khiếm khuyết của cơ thể;

- Gặp cản trở, khó khăn trong những hoạt động xã hội so với những người khác

1.2> Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật

Dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật được hiểu là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình ban hành, thực thi, áp dụng, bổ sung pháp luật Với tư cách là thành viên của ILO và tham gia ký công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, pháp luật Việt Nam cần phải

Trang 4

và bước đầu nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong công ước Song khác với một số nước, luật khuyết tật Việt Nam năm 2010 không có điều luật cụ thể về các nguyên tắc Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp luật đã được ban hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật người khuyết tật như sau

- Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật

- Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử

- Tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội

- Đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật

- Đảm bảo hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật liên quan mật thiết đến khải niệm nhân phẩm Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho rằng tất cả mọi người dù họ có sự khác nhau về thể lực, trí lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau ( Điều 1 tuyên ngôn nhân quyền 1948, Tuyên bố của tổ chức Lao động quốc tế 1944) Vì vậy, họ có quyền được đối xử công bằng và không bị phân biệt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Công ước về quyền của người khuyết tật 2006 cũng đã ghi nhận nguyên tắc này Pháp luật các nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau cũng đã quy định vấn đề này trong các văn bản luật Về phương diện pháp lý, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử có thể được tiếp cận với các khía cạnh khác nhau trong pháp luật và dẫn đến các hậu quả không giống nhau Mặt khác, để có cơ sở xác định một hành vi có phải là bình đẳng hay phân biệt đối xử với người khuyết tật hay không cần có các tiêu chí xác định mang tính pháp lý được cơ quan có thẩm quyền quy định

Như vậy, một cách chung nhất, nguyên tắc bình đẳng ở đây được hiểu là

sự ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, làm việc; chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công,… của người khuyết tật trong mọi hoàn cảnh Tuy nhiên, nguyên tắc này không có nghĩa là bằng nhau hoặc và như nhau Người khuyết tật gặp phải những dạng tật khác nhau và mức độ khuyết tật không giống nhau cần phải được sự đảm bảo khác nhau Tương tự, việc ngăn cấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho mọi hình thức phân biệt là trái pháp luật

Trang 5

II> QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC GHI NHẬN NGUYÊN TẮC NÀY.

1: Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc 1948.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của

con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng

12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp Bản Tuyên ngôn đã được dịch

ra ít nhất 375 ngôn ngữ Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Thế chiến thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong

đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng Nó bao gồm 30 điều

đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II Năm 1966, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế

Đây là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này

là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do

cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và

ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế

Điều 1 đã quy định “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.”

Trang 6

2: Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia năm 1944.

Tuyên bố Philadelphia được thông qua tại Hội nghị Lao động Quốc tế tổ

chức năm 1944, trong đó chỉ rõ: “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, hoặc giới tính đều có quyền được mưu cầu một cuộc sống vật chất đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và đảm bảo nhân phẩm, trong điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng…” Trong một khuyến nghị

đầu năm 1944 liên quan đến các dịch vụ việc làm, bao gồm cả đào tạo nghề và định hướng việc làm, ILO đề xuất rằng, bất kỳ khi nào có thể, người khuyết tật cần được đào tạo cùng với những người khác, được làm việc trong cùng điều kiện và được trả cùng mức lương; đồng thời cần tiếp tục việc đào tạo cho đến khi người khuyết tật có đủ khả năng kiếm được việc làm trong lĩnh vực hoặc các ngành nghề mà họ đã được đào tạo ILO kêu gọi sự bình đẳng về cơ hội nghề nghiệp cho người lao động khuyết tật và khuyến khích áp dụng các chính sách việc làm ưu tiên nhằm tăng cường việc làm cho người khuyết tật nặng Nguyên tắc đối xử bình đẳng đã được nêu rõ trong phần đầu của chương này Tuyên bố của Tổ chức Lao động Quốc tế tại Philadelphia (1944) đã khẳng định mọi con người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, giới tính, đều có quyền được mưu cầu sự đầy đủ về vật chất và phát triển về tinh thần trong điều kiện tự do, bảo đảm nhân phẩm, bảo đảm kinh tế và bình đẳng về cơ hội Điều này có nghĩa là tất cả mọi người, kể cả nam và nữ, cần được đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng để tham gia các hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động Như vậy liệu có thể không tính đến những sự khác biệt? Không thể, mà ngược lại, nhiều người cho rằng người mang những dị biệt mà vì nó họ phải chịu những bất lợi cần phải được đối xử theo cách riêng nhằm bù đắp lại cho họ những bất lợi mà sự dị biệt gây ra cho họ Nguyên tắc bình đẳng, cũng như một sản phẩm mà nguyên tắc này đem lại là việc cấm phân biệt đối xử, có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong luật pháp

3: Công ước của quốc tế về quyền của NKT năm 2006.

Sau sáu năm với tám phiên họp, toàn thể đại biểu các quốc gia thành viên do

ủy ban đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc triệu tập để đóng góp xây dựng cho dự thảo, ngày 13/12/2006, tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc, toàn thể đại biểu đã nhất trí thông qua Công ước về quyền của NKT Đây

Trang 7

là một văn bản quy phạm pháp luật quốc tế đầu tiên của xã hội loài người, khẳng định mọi tiếp cận của NKT đều dựa trên quyền của NKT được quy định trong Công ước Công ước còn nhằm thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo NKT được hưởng đầy đủ và bình đẳng tất cả quyền con người và quyền tự do cơ bản, đồng thời, thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của NKT Ngày 22/10/2007, Việt Nam

đã ký cam kết tham gia Công ước về quyền của NKT Đến nay, Công ước đã được 136 quốc gia ký kết và 41 quốc gia phê chuẩn Như vậy, kể từ ngày 03/5/2008, Công ước đã có hiệu lực trên toàn hành tinh ở Việt Nam, các cơ quan, tổ chức hữu quan đang tích cực chuẩn bị đề án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn Công ước này Công ước quốc tế về quyền của NKT dành Điều 27 để quy định rõ quyền làm việc của

NKT: "Các quốc gia thành viên công nhận quyền được làm việc của NKT, trên

cơ sở bình đẳng với người khác; trong đó bao gồm cả quyền có cơ hội kiếm sống bằng một công việc được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trong thị trường lao động và môi trường làm việc mở, hòa nhập và dễ tiếp cận đối với NKT."

4: Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT.

Bắt đầu với Điều 50 của Hiến pháp năm 1992, tất cả công dân Việt Nam đều được bảo đảm quyền xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị Hiến pháp Việt Nam hơn nữa cũng nêu rằng NKT, người già, người cơ cực và trẻ em mồ côi

“được nhà nước bảo trợ” Những luật này gồm:

- Luật người khuyết tật 2010;

- Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989;

- Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 1999;

- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1999;

- Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;

- Luật Giáo dục năm 2005, Luật Đào tạo dạy nghề 2006, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật thể dục thể thao năm 2006, Luật Giao thông đường bộ năm 2008

- Luật lao động;

- NĐ28/2010/NĐ- CP;

Trang 8

Thêm vào những luật này, các bộ ngành khác nhau của chính phủ Việt Nam

đã triển khai ít nhất là 20 chỉ thị, nghị định và những quyết định khác nhau liên quan đến khuyết tật trong những lĩnh vực như lao động và việc làm, dạy nghề, giao thông dễ tiếp cận, tiêu chuẩn xây dựng các công trình nhà ở và các tòa nhà thương mại, chính sách phúc lợi xã hội, đào tạo giáo viên và thể thao

III> LIÊN HỆ THỰC TIỄN

1: Thành tựu đạt được

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thực tiễn áp dụng pháp luật NKT trên thực tế hiện nay, chúng ta thấy rằng một vấn đề khá nổi cộm đó là về cơ bản thì pháp luật cũng đã có những đảm bảo tốt nhất cho NKT để họ có thể dễ dnagf thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, để họ có thể hòa nhập đực cộng đồng theo nghiên cứu đánh giá gần đây cho thấy, trên tất cả cac phương diện về

y tế, giáo dục, chăm são sức khỏe, giao thông…thì quyền lợi của NKT được nâng lên từng ngày, các hiện tượng phân biệt đối xử ít xả ra trên thực tế hơn

Về Y tế: theo đánh giá của Bộ Y tế, hiện nay mạng lưới phục hồi chức

năng trong toàn quốc đang được củng cố và hoàn thiện Các bệnh viện, khoa và các cơ sở phục hồi chức năng từng bước hiện đại hóa để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người bệnh Công tác phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp sớm, phục hồi chức năng cho người khuyết tật được đẩy mạnh, nâng cao chất lượng trên cơ sở cung cấp đa dạng các hình thức phục hồi chức năng, thay đổi tích cực nhận thức của cộng đồng đối với người khuyết tật để người khuyết tật không cảm thấy mặc cảm trong xã hội Theo số liệu của Bộ LĐ, TB và XH, mới có khoảng 50,35%

số hộ có người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ y tế, trong đó 38,17% được khám, chữa bệnh miễn phí và 45,43% được cấp BHYT Qua những con số minh chứng ở trên có thể giúp cho chúng ta thấy được sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta tới sức khỏe của NKT là vô cùng nhiều Nhà nước ta đã có những chính sách thích hợp để NKT có thể tiếp cận được mọt cách tốt nhất các dịch vụ ý tế, để họ được đảm bảo quyền lợi của mình giống như nhưng con người bình thường khác Một thông tin gần đây nhất cho

thấy, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức Hội thảo giới thiệu tài liệu Hướng dẫn công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm xóa bỏ kỳ thị và phân biệt

Trang 9

đối xử liên quan đến người khuyết tật Thông qua đó, tài liệu đã định hướng các

nội dung chính trong công tác thông tin, giáo dục và truyền thông nhằm giảm thiểu sự phân biệt đối xử kỳ thị liên quan tới người khuyết tật thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, các hoạt động giáo dục truyền thông khác

Có thể nói đây là hoạt động hết sức bổ ích và Chính phủ ta đã đề ra, nó giúp cho NKT được hòa nhập cộng đồng một cách tôt nhất

Về

dịch vụ, vui chơi, giải trí thì người khuyết tật đặc biệt nặng được:

Để đảm bảo quyền lợi cho NKT trong khi tham gia các dịch vụ về vui chơi, giải trí, thể dục thể taho, du lịch, Nhà nước ta đã có những chính sách hỗ trợ giúp cho NKT được tiếp cận gần hơn đôi với những dịch vụ công như thế này

- Miễn giá vé dịch vụ tối thiểu là 50% khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch tại các cơ sở văn hóa, thể thao như: Bảo tàng, di tích văn hóa - lịch sử, thư viện và triển lãm; nhà hát, rạp chiếu phim; các cơ sở thể thao khi diễn ra các hoạt động thể dục, thể thao trong nước; các cơ sở văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch khác

- Giảm tối thiểu 50% giá vé, giá dịch vụ khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch tại các cơ sở văn hóa, thể thao

- Miễn giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông bằng xe buýt; được giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông trên các tuyến vận tải nội địa bằng các phương tiện sau: Giảm tối thiểu 15% đối với máy bay; giảm tối thiểu 25% đối với tàu hỏa, tàu điện, tàu thủy, xe ôtô vận tải khách theo tuyến cố định Thực tế cuộc sống đã chứng minh, NKT luôn khát khao sự vươn lên để hòa nhập, nhiều người trong số họ đã làm cho xã hội thay đổi cách nhìn nhận mình một cách bình đẳng như những người bình thường Họ có thể làm được nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ về họ, thậm chí họ có thể làm được những điều mà người lành lặn không ngờ tới Rất nhiều tấm gương sáng, giàu nghị lực

đã vượt lên khó khăn mà sự khuyết tật mang lại, để thành công trên nhiều lĩnh vực: học tập, lao động sản xuất, thể thao, văn hóa nghệ thuật Không chỉ tự vươn lên, rất nhiều người khuyết tật còn giúp người đồng cảnh cùng vươn lên có được cuộc sống tốt đẹp hơn Dự án nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức đảng, nhà nước và cộng đồng về các nguyên nhân và hình thức khác nhau của sự

Trang 10

kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật cũng như những tác động tiêu cực của chúng đến kinh tế, xã hội; xây dựng năng lực cho các tổ chức này thông qua việc xây dựng và tập huấn sử dụng bộ công cụ giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến khuyết tật; nâng cao quyền năng của NKT và hướng dẫn họ tham gia vào xã hội thông qua nâng cao nhận thức về khả năng và quyền bình đẳng của họ

Pháp luật đã được xây dựng để làm sao đưa ra được những phương thức giáo dục phù hợp nhất, để một mặt, đảm bảo phù hợp với tâm lý, thái độ, tình cảm của người khuyết tật, mặt khác từng bước phá bỏ rào cản hội nhập để từ đó đưa những người khuyết tật và xã hội đến gần nhau hơn, để người khuyết tật được cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ đầy đủ hơn trong cuộc sống Thực tế chứng minh rằng, chất lượng giáo dục hiện nay đối với NKT được nâng lên rõ rệt, nhiều trường học dành riêng cho NKT được đầu tư xây dựng về cả phương tiện

kỹ thuật dạy hoc, vừa đảm bảo cả điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất để học sinh

KT có thể tiếp cận một cách dễ dàng

Qua nghiên cứu và tìm hiểu cho thấy, hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội, có rất nhiều các trường mầm non, trường THCS, THPT và thậm chí là cả các trường đại học, cao đẳng, số lượng học sinh, sinh viên KT tham gia học ngày càng tăng và chất lượng dạy học cũng từng bước được đảm bảo Một ví dụ điển hình trên thực tế cho thấy: Trường Phổ thông cơ sở (PTCS) Xã Đàn là trường chuyên biệt trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, được thành lập từ năm 1977 Trước năm 1998, trường PTCS Xã Đàn chỉ nhận chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng và dạy nghề cho học sinh khiếm thính trên địa bàn Thủ Đô

Từ năm 1998, để tạo môi trường hoà nhập cho học sinh khuyết tật, trường PTCS

Xã Đàn đã tuyển sinh các lớp mầm non, tiểu học và THCS bình thường Đây là môi trường giáo dục thân thiện và nhân văn, vừa mang lại lợi ích cho trẻ khuyết tật cũng như học sinh bình thường.Từ những năm tháng khó khăn trước đây cũng như hiện nay, trường PTCS Xã Đàn luôn luôn là một trong những trường hàng đầu về giáo dục trẻ khuyết tật của Thủ Đô và cả nước

Hiện nay trường PTCS Xã Đàn đang chăm dạy 400 học sinh, trong đó có gần 50% học sinh khiếm thính và một số học sinh kèm theo những tật chứng

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w