1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích nguyên tắc bình đẳng , không phân biệt đối xử vớingười khuyết tật trong pháp luật quốc tế và việc cụ thể hoá trong pháp luật Việt Nam

13 75 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 180,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế nêu trên, em xin nghiên cứu đề bài số 2: “1.Phân tích nguyên tắc bình đẳng , không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và việc cụ thể hoá trong pháp

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam , Nhà nước luôn coi con Người là mục tiêu và động lực của sự nghiệp phát triển đất nước Viêc quan tâm đên đời sống vật chất và tinh thần của nhóm người dễ tổ thương mà trong đó người khuyết tật (NKT)

là một trong những ưu tiên hang đầu nhằm phát triển mạng lưới án sinh xã hội của Việt Nam Xuất phát từ tư tưởng mỗi một con người đều có quyền hưởng và cần được quan tâm và tôn trọng như nhau Đây chính là nguyên tắc bình đẳng trong nhiều văn bản pháp luật của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế Nhà nước Việt Nam luôn khuyên khích, tạo điều kiện thuận lợi cho NKT thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoác, xã hội vf pháp huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham

gia các hoạt động xã hội Từ thực tế nêu trên, em xin nghiên cứu đề bài số 2:

“1.Phân tích nguyên tắc bình đẳng , không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và việc cụ thể hoá trong pháp luật Việt Nam.

2 Tìm một tình huống cụ thể về người khuyết tật Qua đó phân tích chế độ của họ trong lĩnh vực giáo dục.”

NỘI DUNG

I Phân tích nguyên tắc bình đẳng , không phân biệt đối xử với người khuyết tật.

1 Trong pháp luật quốc tế

Một cách chung nhất, nguyên tắc bình đẳng được hiểu là sự ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc làm, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công của NKT trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, bao gồm bình đẳng trên danh nghĩa, bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về kết quả Nguyên tắc này xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể họ khác nhau về thể lực, trí lực và các đặc điểm khác nhau đều có giá trị và tầm quan trọng khác nhau Mỗi một con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận

sự quan tâm và tôn trọng như nhau Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được nghi nhận tại Điều 5 và Điều 12 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 Theo đó:

ĐIỀU 5 – bình đẳng không phân biệt đối xử

Trang 2

đều bình đẳng trước pháp luật và trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ và được hưởng những lợi ích của pháp luật một cách bình đẳng

mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

2 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết nghiêm cấm tất cả các hành vi phân biệt đối xử đối vì lý do khuyết tật và đảm bảo người khuyết tật được bảo hộ tích cực bằng luật pháp khỏi sự phân biệt đối xử vì bất kỳ lý

do nào.

3 .

ĐIỀU 12 – được thừa nhận bình đẳng trước pháp luật

1 Các Quốc gia thành viên của Công ước này tái khẳng định rằng người khuyết tật có quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất kỳ nơi nào.

2 Các Quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận người khuyết tật có

được hưởng năng lực pháp lý trong tất cả các mặt của cuộc sống trên cơ sở bình đẳng như những người khác.

3 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý.

4… ”

Pháp luật các nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau cũng đã quy định vấn đề này trong các văn bản pháp luật Về phương diện pháp lý, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử có thể được tiếp cận với các khía cạnh khác nhau trong pháp luật và dẫn đến các hậu quả không giống nhau Các quốc gia trên thế giới có luật pháp chung về chống phân biệt đối

xử áp dụng cho mọi công dân, trong đó có đề cập người khuyết tật, ví dụ: Canada – Luật nhân quyền năm 1985; Namibia – Luật về việc làm ưu đãi năm 1998… Các quốc gia có luật pháp về chống phân biệt đối xử chỉ áp dụng với người khuyết tật, ví dụ: Hoa Kỳ - Luật người khuyết tật năm 1990, Costa Rica – Luật 7600 về cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật năm 1996; Ghana – Luật về người khuyết tật năm 1993; Việt Nam – Luật Người khuyết tật 2010…

Mặt khác để có cơ sở xác định một hành vi có phải là bình đẳng hoặc phân biệt đối xử với người khuyết tật hay không cần có các tiêu chí xác định mang tính pháp lý được cơ quan có thẩm quyền quy định Theo đó, trong

Trang 3

Công ước về quyền của Người khuyết tật 2006 quy định tại Điều 2 : “… Phân biệt đối xử do bị khuyết tật có nghĩa là bất cứ hình thức phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào do bị khuyết tật, có mục đích hay ảnh hưởng làm giảm hay hủy bỏ sự công nhận, thụ hưởng, thực hiện trên cơ sở bìn đẳng với những người khác, tất cả các quyền con người và tự do cơ bản về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hay bất cứ lĩnh vực nào khác Nó bao gồm tất cả các hình thức phân biệt đối xử, bao gồm cả việc từ chối không tạo ra

sự điểu chỉnh hợp lý”

Nguyên tắc bình đẳng với NKT cũng như một sản phẩm của nguyên tắc này đem lại là việc cấm phân biệt đối xử với NKT, được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong luật pháp, khẳng định sự bình đẳng với NKT trên danh nghĩa, về cơ hội cũng như bình đẳng về kết quả Sự bình đẳng của NKT được thể hiện qua các hoạt động nâng cao nhận thức của NKT và về NKT trong cộng đồng NKT được chăm sóc y tế đầy đủ và bình đẳng như những người bình thường khác Đặc biệt, NKT cần có chuyên gia về phát hiện, can thiệp sớm, có cán bộ y tế có chuyên môn về khuyết tật NKT cần được phục hồi chức năng với chương trình phục hồi chức năng mang tầm cỡ quốc gia, trong đó khuyến khích NKT và gia đình họ tham gia phục hồi chức năng Các dịch vụ hỗ trợ bao gồm phát triển và cung cấp các thiết bị trợ giúp

để tăng mức độ độc lập của họ trong cộng đồng đồng thời phát triển và cung cấp lực lượng phiên dịch viên theo nhu cầu của NKT (có thể miễn phí hoặc giá rẻ) Khả năng tiếp cận môi trường vật chất (nhà ở, công trình công cộng), đảm bảo các tổ chức của NKT được tham gia trong các chương trình hoạch định xây dựng đồng thời tiếp cận thông tin liên lạc (bao gồm thông tin về quyền và dịch vụ, chương trình sẵn có dành cho họ ở mọi giai đoạn được trình bày dưới hình thức mà NKT có thể tiếp cận được) Khuyến khích các phương tiện truyền thông giúp các dịch vụ tiếp cận được với NKT; đảm bảo giáo dục NKT trong môi trường hỗn hợp, không biệt lập NKT; thực thi quyền của NKT trong lĩnh vực việc làm, duy trì thu nhập và an sinh xã hội Cuộc sống gia đình và vẹn toàn cá nhân được đảm bảo, NKT không bị phân biệt đối xử trong quan hệ tình dục, hôn nhân, gia đình, làm cha mẹ…

Trang 4

2 Trong pháp luật Việt Nam

Bên cạnh các quy định của pháp luật quốc tê, pháp luật về người khuyết tật Việt Nam cũng tiếp thu ghi nhận và nội luật hoá nguyên tắc này Tại Việt Nam, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT được thể hiện xuyên suốt từ Pháp lệnh Người tàn tật năm1998 đến Luật NKT năm 2010, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng như nhiều văn bản liên quan khác Tất cả đều khẳng định NKT cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản như những công dân khác như quyền chính trị (quyền được ứng cử, bầu cử, tham gia quản lý Nhà nước, xã hội, thảo luận các vấn đề chung của Nhà nước và địa phương…), kinh tế (tự do kinh doanh, lao động ), giáo dục (được học tập, nghiên cứu khoa học )…Trong thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về NKT, triển khai nhiều chương trình, đề án hỗ trợ NKT

và huy động tối đa sự tham gia của xã hội vào trợ giúp NKT hòa nhập cộng đồng và phát triển

Luật NKT được Quốc hội ban hành vào ngày 17/6/2010 có hiệu lực từ ngày 1/11/2011 đánh dấu một bước lớn trong việc hỗ trợ pháp lý cho NKT ở Việt Nam Thông tin, truyền thông, giáo dục nhằm thay đổi thái độ và hành

vi về vấn đề khuyết tật, chống kỳ thị và phân biệt đối xử NKT là một trong những nội dung quan trọng được đưa vào Luật Có thể nói từ khi Luật NKT

2010 ra đời, địa vị pháp lý và xã hội của NKT đã được nâng lên đáng kể, mang lại ý nghĩa về mặt pháp lý, xã hội cũng như kinh tế Về pháp lý, pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT là một trong những nguyên tắc cơ bản, các văn bản khi ban hành phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc trên Đây có thể coi là hành lang pháp lý

để các chủ thể khi tham gia quan hệ xã hội phải tuân thủ Về xã hội, nguyên tắc này góp phần giúp NKT vượt qua mặc cảm tự ti để hoà nhập và cuộc sống, để họ thấy họ được công nhận như những công dân bình thường, được hưởng các quyền và cũng phải thực hiện nghĩa vụ như mọi công dân khác

Trang 5

Nguyên tắc bình đẳng bình đẳng, không phân biệt đối xử NKT được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2, Điều 4 và khoản 1 Điều 14 Luật người khuyết tật năm 2010 Theo đó:

“ Điều 2 Giải thích từ ngữ

3 Phân biệt đối xử người khuyết tật là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khuyết tật vì lý do khuyết tật của người đó…

Điều 4 Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật

1 Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:

a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;

c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; d)

2 Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.

Điều 14 Những hành vi bị nghiêm cấm

1 Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật…

Nguyên tắc bình đẳng được cụ thể hoá trong pháp luật Việt Nam trong các mặt sau:

2.1 Trong chế độ chăm sóc sức khơe người khuyết tật

Luật Người khuyết tật và Nghị định 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ thể hiện chính sách của nhà nước chăm lo sức khỏe đối với người khuyết tật

Về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú, Trạm y tế cấp xã triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật Đối với cơ sở khám, chữa bệnh phải thực hiện biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật Tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật; xác định khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp Người khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh

Trang 6

2.2 Về bảo trợ xã hội

Người khuyết tật có quyền được hưởng bảo trợ xã hội không có sự phân biệt theo tiêu chí nào Nguyên tắc thực hiện quyền hưởng bảo trợ xã

hội đối với người khuyết tật không có sự phân biệt theo tiêu chí nào cũng

chính là nội dung nguyên tắc cơ bản của Luật an sinh xã hội Theo đó, mọi

thành viên xã hội bị khuyết tật đều có quyền hưởng bảo trợ xã hội mà không

có sự phân biệt về địa vị, kinh tế, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội,… Nói các khác, rủi ro khuyết tật không loại trừ ai với tư cách là thành viên trong cộng đồng bất kể họ có sức khỏe, kinh tế hay công việc vì vậy sự phân biệt theo tiêu chí nào để loại bỏ quyền hưởng bảo trợ xã hội của người

khuyết tật đều là bất hợp lý Theo đó thì mức trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng.

2.3.Trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, việc làm

Trong giáo dục, theo quy định của pháp luật người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định về độ tuổi của giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh, được miễn giảm một số môn học; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo và các khoản đóng góp khác…bên cạnh

đó người khuyết tật còn được cung cấp các phương tiện tài liệu trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng bảng chữ nổi Braille theo tiêu chuẩn quốc gia

(Điều 27 Luật người khuyết tật)

Mục tiêu của dạy nghề nói chung là nâng cao năng lực thực hành nghề, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm được việc làm Tuy nhiên đối với việc dạy nghề cho người khuyết tật, do đặc điểm đặc thù của đối tượng này nên mục tiêu của dạy nghề không chỉ dừng lại ở việc giúp họ có năng lực thực hành nghề nghiệp phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm việc làm ổn định cuộc sống mà còn giúp họ hòa nhập vào cộng đồng.(Điều 32 Luật người khuyết tật)

Trang 7

Không phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm đối với người khuyết tật, cơ sở của nguyên tắc này chính là xuất phát từ vấn đề về quyền con người Người khuyết tật cũng là con người nên họ cũng có quyền được đối

xử bình đẳng và công bằng như những người khác ở mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực việc làm (Điều 33 Luật người khuyết tật) Người sử dụng lao động thường không muốn nhận người lao động là người khuyết tật, bởi họ cho rằng năng suất lao động của người khuyết tật không cao, thấp hơn so với người không khuyết tật Hơn nữa, trong một số trường hợp, người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất cũng như điều kiện lao động cho người khuyết tật hơn những người lao động không khuyết tật Dó đó, việc phân biệt đối xử đối xử đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm là vấn đề khó tránh khỏi trong thực tiễn sử dụng lao động

2.4 Hoạt động xã hội đối với người khuyết tật

a Đối với hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch.

Điều 36 khoản 1 và 3 Luật người khuyết tật xác định nhà nước và xã hội tạo điều kiện để người khuyết tật được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch cũng như tạo điều kiện đẻ họ phát triển tài năng, năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật và thể thao hoặc tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, luyện tập và thi đấu thể thao

b Đối với việc sử dụng công trình, dịch vụ công công.

Nhằm đảm bảo các công trình xây dựng nói chung nhà chung cư và công trình công cộng nói riêng có đủ điều kiện cho người khuyết tật tiếp cân

và sử dụng , nghĩa là công trình đó tạo dựng được môi trường kiến trúc mà người khuyết tật có thể đến và sử dụng được các không gian chức năng trong công trình; Bộ xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình.Theo Quy chuẩn xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành năm

2002, các loại công trình phải đảm bảo cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng gồm: công trình y tế, cơ quan hành chính các cấp (trụ sở Uỷ ban nhân dân, tòa án, viện kiểm sát ), các công trình giáo dục, công trình thể thao, công trình văn hóa, công trình dịch vụ công cộng (khách sạn, nhà ga xe lửa,

Trang 8

bến xe, bưu điện, trung tâm thương mại, chợ ), nhà chung cư, đường và vỉa

II Tìm một tình huống cụ thể về người khuyết tật Qua đó phân tích chế

độ của họ trong lĩnh vực giáo dục.

cô học trò khuyết tật đặc biệt Đinh Phương Nam (cựu học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định)-tân sinh viên Bách khoa đã mở thành công trang sách ước mơ giảng đường đại học của mình Cuối năm lớp

9, Phương Nam mắc phải căn bệnh u tủy sống, can thiệp phẫu thuật cắt bỏ khối u đã khiến đôi chân của em trở nên “im lặng” Em phải ra vào bệnh viện thường xuyên để điều trị Chính vì vậy, việc học của em bị gián đoạn Phương Nam phải nghỉ học hai năm để ở nhà chữa bệnh Nhưng rồi em vẫn quyết định thi vào trường chuyên Lê Hồng Phong Những ngày đầu đi học lớp 10, gia đình đã quyết định thuê nhà trọ gần trường để em thuận tiện hơn trong việc di chuyển Nhờ quyết tâm ấy, ba năm học cấp ba Phương Nam luôn đạt thành tích học tập xuất sắc Dù quyết tâm rất cao trong việc học tập nhưng Phương Nam vẫn rất mặc cảm vì khuyết tật của mình Sự tảo tần chăm sóc, động viên của mẹ cùng niềm tin, hy vọng, kiên trì của bố đã giúp Phương Nam tự tin mở ra cánh cửa mới cho tương lai mình Phương Nam là trường hợp khuyết tật thuộc diện xét tuyển thẳng vào Trường ĐHBK Hà Nội Em Phương Nam là trường hợp khuyết tật đầu tiên được xét tuyển thẳng vào Trường có điểm thi tổ hợp môn xét tuyển cao và thành tích học bạ cấp ba của em cũng rất xuất sắc Ngoài ra, em Phương Nam cũng có thể đăng kí để xét học bổng và hỗ trợ tài chính của Trường dành cho sinh viên

có hoàn cảnh đặc biệt

* Phân tích chế độ được hưởng trong lĩnh vực giáo dục

Người khuyết tật cũng có nhu cầu học tập để có kiến thức như những người bình thường khác Nhưng vì bị khiếm khuyết nên việc học của họ trở nên khó khăn hơn người bình thường và các khiếm khuyết này rất đa dạng cho nên như cầu học tập của mỗi người là khác nhau Do đó cần tạo điều kiện cho người khuyết tật thực hiện quyền học tập của mình, không mang tính chất bất bình đẳng và phân biệt đối xử Học văn hoá của người khuyêt

Trang 9

tật được quy định trong Luật người khuyết tật đồng thời cũng đã được quy định trong Thông tư liên tịch số 42/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/3/2014 Thông tư liên tịch này quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật, bao gồm: ưu tiên nhập học và tuyển sinh; miễn, giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục; chính sách về học phí; chính sách về học bổng và hỗ trợ phương tiện,

đồ dùng học tập Ngoài ra còn có Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học

2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021

Đối với đại học, cao đẳng Người khuyết tật đặc biệt nặng được xét

tuyển thẳng vào đại học, cao đẳng Hiệu trưởng các trường căn cứ kết quả học tập ở phổ thông của học sinh (học bạ), tình trạng sức khỏe và yêu cầu

của ngành đào tạo để xem xét và quyết định tuyển thẳng vào học Người

khuyết tật nặng được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng khi đăng kí xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Việc đánh giá kết quả giáo dục của người khuyết tật được thực hiện theo nguyên tắc động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của người học

Ngoài ra người khuyết tật còn được miễn, giảm một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục Điều 3, thông tư liên tịch 42 TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC quy định như sau:

“1 Người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập học theo chương trình giáo dục chung Trường hợp người khuyết tật không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục chung, người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong Kế hoạch giáo dục cá nhân.”

Về chính sách học bổng và hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập, Liên

Trang 10

sở giáo dục được hưởng học bổng mỗi tháng bằng 80% mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ Người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp được cấp học bổng 10 tháng/năm học; người khuyết tật thuộc đối tượng được hưởng chính sách đang học tập tại cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập được cấp học bổng 9 tháng/năm học Người khuyết tật thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang học tại các cơ sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí để mua sắm phương tiện, đồ dùng học tập với mức 1.000.000 đồng/người/năm học

Bên cạnh đó, người khuyết tật học tại các cơ sở giáo dục được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định Trong nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định tại Khoản 2 Điều 7:

“Điều 7 Đối tượng được miễn học phí

2 Trẻ em học mẫu giá và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế

…”

KẾT LUẬN

Trong thực tế, người khuyết tật (NKT) chưa thể hòa nhập tốt với xã hội, nguyên nhân chính nằm ở sự kỳ thị, phân biệt đối xử với họ Ðể thay đổi nhận thức, thái độ ứng xử của cộng đồng đối với vấn đề NKT không phải là điều đơn giản, mà đòi hỏi những cố gắng to lớn từ tất cả các thành phần xã hội Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử người khuyêt tật

đã ghi nhận trong pháp luật quốc tế Pháp luật Việt Nam đã và đang nội luật hóa nguyên tắc này Nhà nước đã ban hành các chính sách hỗ trợ NKT được đối xử bình đẳng và hoà nhập với cộng đồng, điều này được thể hiện qua các mặt như về bảo trợ xã hội cho NKT, về vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho NKT, chế độ giáo dục, dạy nghề, việc làm cho họ cũng như trong các hoạt động xã hội Bên cạnh đó các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội cần phát huy vai trò của mình trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về người khuyết

Ngày đăng: 10/06/2019, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w