1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết

17 281 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 108,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nguyên tắc bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau hoặc như nhau.. không được vào làm việc... Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định cu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang:

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2

1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc 2

2 Nội dung của nguyên tắc 3

3 Ý nghĩa của nguyên tắc 6

II VIỆC CỤ THỂ HÓA NGUYÊN TẮC TRONG PHÁP LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM 6

1 Về vấn đề chăm sóc sức khỏe 8

2 Về giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật 9

3 Về hoạt động xã hội đối với người khuyết tật 10

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 12

1 Thực tiễn áp dụng 12

1.1 Những thành tựu đạt được 12

1.2 Những hạn chế 15

2 Một số biện pháp nhằm đưa các quy định của nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật vào đời sống 16

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Với tư cách là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sống xã hội, người khuyết tật có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã có cái nhìn và cách tiếp cận hoàn toàn tiến bộ về người khuyết tật và ở Việt Nam ta cũng vậy Nhưng trên thực tế để người khuyết tật được bảo đảm quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử thì pháp luật của mỗi quốc gia cần phải có những quy định cụ thể dựa trên nguyên tắc nhất định về vấn đề này Để có thể thấy được nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật và việc áp dụng trong thực tiễn ra sao? bài viết sau đây sẽ tập

trung đi sâu tìm hiểu đề tài: Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật Nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật Liên hệ với thức tiễn

NỘI DUNG

I CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật liên quan mật thiết đến khái niệm nhân phẩm Nguyên tắc này xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể khác nhau về trí lực, thể lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau Mỗi con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận sự quan tâm và tôn trọng như

nhau Theo như Điều 1 của Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 thì: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi

Trang 3

con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.”

Tuyên bố của Tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia năm 1994 cũng đã khẳng định mọi con người không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, giới tính, đều có quyền được mưu cầu sự đầy đủ về vật chất và phát triển về tinh thần trong điều kiện tự do, đảm bảo nhân phẩm, bảo đảm kinh tế và bình đẳng về cơ hội Điều này có nghĩa là, tất cả mọi người, kể cả nam và nữ, cần được đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng để tham gia các hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động

Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 cũng ghi nhận nguyên tắc này, cụ thể được quy định tại Điều 5 của Công ước: Các quốc gia thành viên công nhận tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tuân theo pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ, được hưởng lợi từ pháp luật một cách bình đẳng mà không bị phân biệt đối xử; Các quốc gia thành viên phải ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử do bị khuyết tật và đảm bảo tất cả người khuyết tật được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng và hiệu quả chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử; Và theo Điều 12 của Công ước thì: Các quốc gia tham gia tái khẳng định rằng người khuyết tật có quyền được công nhận ở tất cả mọi nơi là những con người trước pháp luật; Các quốc gia tham gia sẽ công nhận người khuyết tật có năng lực pháp lí, trên cơ sở bình đẳng như công dân khác, trong tất cả các mặt của đời sống; tiến hành các biện pháp thích hợp để người khuyết tật có thể tiếp cận tới những hỗ trợ mà họ cần khi thực thi năng lực pháp lí của họ;

2 Nội dung của nguyên tắc

Nguyên tắc bình đẳng, cũng như một sản phẩm mà nguyên tắc này đem lại là việc cấm phân biệt đối xử, có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong luật pháp

Trang 4

Bình đẳng trên danh nghĩa: Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong hoàn cảnh như nhau cần được đối xử giống nhau Quan điểm này thường không tính đến sự khác biệt và bất lợi của từng cá nhân và hoàn cảnh cứ như thể những yếu tố này không có liên quan gì Trong khi không cho phép đối xử người này hơn hoặc kém người kia, người ta lại không đặt ra về quy định phải có những điều chỉnh và cải thiện cần thiết Do vậy, quan điểm này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng là người khuyết tật

Bình đẳng về cơ hội: Khái niệm này quy định về sự bình đẳng trong cơ hội chứ không nhất thiết phải là bình đẳng về kết quả Cách nhìn này, thừa nhận vai trò quan trọng của những khác biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận diện những rào cản bên ngoài mà người khuyết tật gặp phải có thể cản trở họ tham gia vào xã hội Định kiến và môi trường không tiếp cận đều được coi là những vật cản đối với sự tham gia toàn diện vào đời sống xã hội của người khuyết tật Theo cách nhìn nhận này, tình trạng khuyết tật không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở cho vấn đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường vật thể để tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận và hòa nhập cùng xã hội

Bình đẳng về kết quả: Là sự đảm bảo các kết quả là như nhau đối với tất cả mọi người Nếu nhìn nhận sự bình đẳng theo góc độ này, sự khác biệt giữa các cá nhân và các nhóm đối tượng sẽ được thừa nhận Ví dụ, phải tính đến các chi phí thêm mà người lao động khuyết tật phải chi trả trong khi xem xét việc họ có nhận được tiền lương bằng mọi người hay không Khái niệm này có một số nhược điểm, nó không chỉ rõ trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự bình đẳng thực sự về kết quả thuộc về

ai – Nhà nước, khu vực tư nhân hoặc cá nhân nào đó Ngoài ra, còn một điểm không rõ trong cách nhìn nhận này là người ta có thực sự hiểu rõ giá trị của

Trang 5

một cá nhân hay không khi tìm cách để chứng minh rằng anh ta đã không làm

ra được kết quả như những người khác

Các hình thức phân biệt đối xử cũng được phân loại thành: Phân biệt đối xử trực tiếp; Phân biệt đối xử gián tiếp; Gây phiền nhiễu; Chỉ đạo và khuyến khích phân biệt đối xử (1) Dù ở hình thức phân biệt đối xử nào cũng đều thể hiện một sự kì thị đối với người khuyết tật, gây khó khăn cho họ trong việc tiếp cận mọi khía cạnh của đời sống xã hội và đặc biệt là vấn đề việc làm

Nhìn chung nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được hiểu là sự ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc làm; chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công của người khuyết tật trong mọi điều kiện, hoàn cảnh Tuy nhiên, nguyên tắc bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau hoặc như nhau Người khuyết tật gặp phải những dạng tật khác nhau và mức độ khuyết tật không giống nhau cần phải được sự đảm bảo khác nhau, ví dụ: Một người khuyết tật đặc biệt nặng cần phải có sự bảo trợ hoàn toàn của xã hội, trong khi một người bị khuyết tật nhẹ thì không cần phải như vậy Và việc ngăn vấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho mọi hình thức phân biệt là trái pháp luật, ví dụ: Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động phải có những kĩ năng và trình độ cần thiết mà công việc hoặc môi trường công việc đòi hỏi và những yêu cầu này là chính đáng

Do đó, dẫn đến khả năng loại trừ một số người khuyết tật khỏi danh sách người tham gia làm việc nhưng những trường hợp như vậy khồng được coi là phân biệt đối xử Chẳng hạn: Một doanh nghiệp vận tải tuyển nhân viên lái

xe, lái tàu; một công ty vệ sĩ tuyển nhân viên, khi đó họ sẽ đưa ra những tiêu chuẩn về hình thức, sức khỏe, chiều cao, phản xạ, dẫn đến người khuyết tật (vận động, khiếm thị ) không được vào làm việc Những yêu cầu trong

1 () Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, ILO, 2006, tr 28-29

Trang 6

trường hợp như trên là hợp pháp và đúng mức, do vậy nó đơn thuần là yêu cầu mang tính nghề nghiệp và không bị coi là phân biệt đối xử

Như vậy, có thể thấy nội dung của nguyên tắc nhằm hướng đến hai yếu tố chính Thứ nhất là khẳng định sự bình đẳng của người khuyết tật với xã hội Thứ hai là khẳng định sự bình đẳng giữa người khuyết tật với nhau, nhưng sự bình đẳng không có nghĩa là ngang bằng, như nhau mà tùy thuộc vào mức độ khuyết tật khác nhau mà họ sẽ nhận được sự bảo đảm khác nhau

3 Ý nghĩa của nguyên tắc

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử là nguyên tắc rất quan trọng, là kim chỉ nam cho việc ban hành các quy định liên quan đến quyền của người khuyết tật, đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện Qua đó thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước, xã hội với người khuyết tật

Nguyên tắc này không chỉ thể hiện sự quan tâm đặc biệt của pháp luật tới những người khuyết tật, mà còn là sự dăn đe, giáo dục tất cả mọi người cần có ý thức đề cảm thông với những người khuyết tật Cần có cách nhìn khác đối với những người khuyết tật, và từ đó lựa chọn cách ứng xử phù hợp đối với họ Đồng thời đây cũng là đảm bảo pháp lý quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc khác như nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật và nguyên tắc tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội…

II VIỆC CỤ THỂ HÓA NGUYÊN TẮC TRONG PHÁP LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM

Việt Nam là quốc gia có số lượng và tỷ lệ người khuyết tật cao trên thế giới Mức độ tôn trọng, bảo vệ, chăm sóc, hỗ trợ và đào tạo cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng là những tiêu chí quan trọng để đánh giá tính chất nhân văn của một xã hội Giống như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam, người khuyết tật được hưởng tất cả các quyền công dân cơ bản như những

Trang 7

người bình thường, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa trên tình trạng khuyết tật của họ Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng quy định những đối xử ưu đãi với người khuyết tật nhằm bù đắp những thiệt thòi của họ, cũng như để bảo đảm sự bình đẳng thực về các quyền và cơ hội với mọi công dân,

cụ thể: Điều 67 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) nêu rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” Để khuyến khích sự tôn trọng và những hoạt động bảo vệ, chăm

sóc, giúp đỡ người khuyết tật, nhà nước Việt Nam đã quyết định lấy ngày 18 tháng 4 hàng năm là Ngày người khuyết tật Việt Nam

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật là nguyên tắc quan trọng nhất, bao quát nhất và được cụ thể hóa trong hầu hết các lĩnh vực được ghi nhận tại pháp luật người khuyết tật Theo quy định

tại khoản 1 Điều 2 người khuyết tật được hiểu là: “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Điều 4 Luật người khuyết tật năm 2010 quy định: “1 Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau:

a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;

b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;

c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;

d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2 Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật” Và theo quy định tại khoản 1, 2 và 6 Điều 14 Luật người khuyết tật thì

Trang 8

pháp luật: Nghiêm cấm những hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật; nghiêm cấm những hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật và các hành vi cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của người khuyết tật

Như vậy, điều trước tiên pháp luật muốn ghi nhận một cách chung nhất về vấn đề quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, qua đó khẳng định rằng người khuyết tật cũng như mọi công dân bình thường đều hưởng những quyền

cơ bản và thực hiện những nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước và xã hội, được tạo những cơ hội, điều kiện để phát triển một cách toàn diện Dưới đây là khái quát các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về những quyền đặc thù của người khuyết tật được quy định trong Luật người khuyết tật và một số văn bản pháp luật khác có liên quan

1 Về vấn đề chăm sóc sức khỏe

Xuất phát từ những vấn đề về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, cùng với mong muốn bảo đảm cho người khuyết tật được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe một cách bình đẳng như những người khác, các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đã quy định cụ thể chế độ này trong hệ thống pháp luật nước mình, theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật người khuyết

tật: “Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp.” Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết

tật bao gồm tổng thể các quy định về quyền của người khuyết tật được nhà nước, cộng đồng xã hội thực hiện các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng nhằm giúp người khuyết tật ổn định sức khỏe, vượt qua khó khăn của bệnh, tật, vươn lên hòa nhập cộng đồng Tùy thuộc vào từng đối tượng, dạng tật hoặc nhu cầu của người khuyết tật mà pháp luật quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được thực hiện khác nhau, theo đó người khuyết tật được hưởng một hoặc nhiều chế độ trong quá trình chăm sóc sức khỏe

Trang 9

2 Về giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật

Thứ nhất, về giáo dục đối với người khuyết tật có thể được thực hiện ở

nhiều hoạt động, dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau song hoạt động chủ yếu vẫn là hoạt động học tập Vì vậy, nói đến giáo dục đối với người khuyết tật dưới góc độ pháp luật chính là đề cập vấn đề học tập của người khuyết tật như quyền được tham gia học tập của người khuyết tật, các phương thức giáo dục đối với người khuyết tật, các cơ sở giáo dục người

khuyết tật Điều 27 Luật người khuyết tật quy định: “1 Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng của người khuyết tật.

2 Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.

3 Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo chuẩn quốc gia.” Điều 10 Luật giáo dục năm 2005 cũng quy định: Nhà nước

ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình, bổ sung cho Điều 10, Điều 63 Luật giáo dục nêu rõ: Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật nhằm giúp các đối tượng này phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, hòa nhập với cộng đồng

Trang 10

Thứ hai, về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật, pháp luật

người khuyết tật quy định: Nhà nước bảo đảm điều kiện để người lao động được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác (khoản 1 Điều 32 Luật người khuyết tật); được tạo điều kiện để phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật (khoản 1 Điều 33 Luật người khuyết tật) Các cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật về vấn đề dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật, phải đối xử bình đẳng về cơ hội việc làm cho người khuyết tật như những người lao động khác mà không được phân biệt đối xử Tại Mục III, chương XI Bộ luật lao động cũng có những quy định nhằm bảo đảm quyền lợi cho người khuyết tật như: quy

định tại khoản 4 Điêu 125 Bộ luật lao động: “Thời giờ làm việc của người tàn tật không được quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần ” và Điều 127

cũng quy định: Cấm sử dụng người tàn tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc ban đêm; Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động là người tàn tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại

3 Về hoạt động xã hội đối với người khuyết tật

Để đảm bảo việc thưởng thức hoặc tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí như những hoạt động xã hội mang tính tinh thần nhằm giải tỏa những căng thẳng, áp lực trong cuộc sống làm việc hoặc cuộc sống sinh hoạt của người khuyết tật, pháp luật một mặt thừa nhận quyền tham gia của họ trên

cơ sở bình đẳng như những người bình thường, mặt khác có các hoạt động, biện pháp phù hợp để hỗ trợ người khuyết tật thực hiện quyền của mình, trong đó có việc đảm bảo tiếp cận với môi trường vật chất như các công trình, dịch vụ công cộng, giao thông, thông tin, truyền thông

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w