1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật

15 601 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 310,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tiếp cận: Theo quy định của Luật NKT Việt Nam 2010 thì “ Tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin CNTT, dịch vụ

Trang 1

Đề 10: Phân tích nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật Nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật Liên hệ với thực tiễn

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Dưới góc độ lí luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật được hiểu

là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình ban hành, thực thi, áp dụng, sửa đổi và

bổ sung pháp luật Với tư cách là thành viên của ILO và đã tham gia kí công ước về quyền của NKT, pháp luật Việt Nam đã bước đầu nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Công ước Trong đó có nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ

và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật

Vậy nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật là gì? Nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật Việt Nam? Và thực tiễn áp dụng nguyên tắc? Trong phạm vi bài luận

em xin chọn đề tài số 10 để thực hiện nhằm làm rõ về những vấn đề này

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

- Khái niệm NKT chính là cơ sở pháp lý để công nhận ai là NKT và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan Trong lịch sử phát triển của vấn đề, quan niệm của thế giới về NKT cũng có những sự thay đổi nhất định theo thời gian Theo quy định của pháp luật Việt Nam khái niệm NKT cũng có sự thay đổi, tiếp cận theo hướng phù hợp với quan điểm hiện nay của thế giới về NKT, đó là tiếp cận về khái niệm NKT dưới góc độ xã hội Cụ thể theo quy định của Luật NKT năm 2010 thì quan điểm về Người tàn tật (theo pháp lệnh về người tàn tật năm 1998) đã được thay thế bằng NKT

Theo đó, theo “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ

thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.

- Tiếp cận: Theo quy định của Luật NKT Việt Nam 2010 thì “ Tiếp cận là việc người

khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin (CNTT), dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng” (Khoản 8 Điều 2 – Giải thích từ ngữ)

- Sự điều chỉnh hợp lý: Theo quy định tại đoạn 4 Điều 2 Công ước về quyền của NKT

thì sự “Điếu chỉnh hợp lý” có nghĩa là sự điều chỉnh và sửa đổi cần thiết và phù hợp

Trang 2

mà không tạo ra một gánh nặng quá sức hay bất cân đối, ở những nơi cần thiết trong những trường hợp cụ thể, để đảm bảo người khuyết tật có thể thụ hưởng hay thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng như những người bình thường khác”.

- Pháp luật quốc tế: Nội dung của nguyên tắc này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 4 Điều 2, Điều 3, Điều 9 và Điều 13 Công ước của Liên hợp quốc (UN) về quyền của NKT năm 2006

- Luật Việt Nam: Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện trong các văn bản pháp lý chuyên ngành về NKT, Luật NKT năm 2010 và Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật Việt Nam và một số văn bản pháp

lí chuyên ngành khác điều chỉnh vấn đề liên quan đến NKT

thể hóa nội dung của nguyên tắc này trong pháp luật Việt Nam.

Tham gia vào các hoạt động xã hội là một trong những quyền cơ bản của con người trong đó có người khuyết tật Tuy vậy, vì tình trạng do khuyết tật gây ra dẫn đến hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của NKT vào các hoạt động xã hội trên cơ

sở bình đẳng với các chủ thể khác là rất hạn chế Vì vậy để đảm bảo quyền của NKT trong việc tiếp cận với các hoạt động xã hội thì vào năm 2006 UN đã ghi nhận một cách cụ thể quyền này trong nguyên tắc chung của Công ước về quyền của người khuyết tật Cụ thể:

Theo quy định tại đoạn 4 Điều 2 Công ước về quyền của NKT thì sự “Điếu chỉnh

hợp lý” có nghĩa là sự điều chỉnh và sửa đổi cần thiết và phù hợp mà không tạo ra một gánh nặng quá sức hay bất cân đối, ở những nơi cần thiết trong những trường hợp cụ

thể, để đảm bảo người khuyết tật có thể thụ hưởng hay thực hiện quyền con người

và các quyền tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng như những người bình thường khác”

Đồng thời nguyên tắc này - nguyên tắc tiếp cận cũng được ghi nhận tại khoản 3 Công ước của UN về quyền của NKT - nguyên tắc chung

Bên canh đó, theo quy định tại khoản 1 Điêu 4 Công ước quy định về nghĩa vụ

chung thì theo đó “Các quốc gia thành viên nỗ lực hết mình để đảm bảo cho việc thực

thi đầy đủ mọi quyền và tự do cơ bản của con người cho NKT và không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lí do khuyết tật Để làm được điều đó các quốc gia thành viên

Trang 3

sẽ: (a) Thực hiện tất cả các biện pháp hành chính, lập pháp và các biện pháp khác để thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này”

Như vậy, với việc được ghi nhận một cách chính thực và cụ thể trong nội dung của Điều ước quốc tế Quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật đã trở thành một trong những tư tưởng và nền tảng chỉ đạo cho hệ thống pháp luật của các quốc gia là thành viên của điều ước khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến NKT, trong đó có pháp luật Việt Nam

Từ khi thành lập năm 1945, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm Luật Lao động, Luật Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em, Pháp lệnh về người tàn tật,v.v qua đó, tạo nên một môi trường pháp lý thuận lợi cho người khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật cơ hội được sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản và tham gia các hoạt động kinh tế Từ đó, số lượng người khuyết tật được nhận trợ giúp xã hội, chỉnh hình phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe miễn phí và chữa bệnh, đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm gia tăng nhanh chóng

Tuy nhiên, vẫn còn những yếu kém trong chính sách công ở cả cấp trung ương và địa phương:

• Thiếu một bộ luật đảm bảo các quyền lợi đầy đủ cho người khuyết tật

• Vẫn còn chưa có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật và chính sách liên quan

• Một số hướng dẫn thực hiện vẫn còn mơ hồ và không được cung cấp kịp thời để thực hiện các văn bản pháp luật và chính sách liên quan

• Công tác vận động chưa được thực hiện thường xuyên và cần đầu tư về chất lượng, đặc biệt ở cấp cơ sở

• Số trẻ khuyết tật có thể tới trường là rất hạn chế

• Hầu hết các địa điểm và phương tiện công cộng không thuận tiện cho người khuyết tật tiếp cận và sử dụng

• Năng lực của các nhà hoạch định chính sách cần được cải thiện nhằm tăng cường

sự phối hợp, tính hiệu quả và minh bạch

Cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức trong nước và quốc tế trong

đó có Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Hội trợ giúp Người khuyết tật

Trang 4

Việt Nam (VNAH), Ban Điều phối Các hoạt động Hỗ trợ Người khuyết tật Việt Nam (NCCD), rất nhiều nỗ lực và chương trình nhằm đẩy mạnh cải cách pháp luật và chính sách có ảnh hưởng đến người khuyết tật đã được thực hiện

Kết quả là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA) đã hoàn tất việc soạn thảo Luật quốc gia đầu tiên về người khuyết tật và Quốc Hội đã thảo luận và phê duyệt năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Người khuyết tật Việt Nam

Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 định nghĩa:

"Tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, CNTT, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng ” (Khoản 8 Điều 2 Luật NKT)

Theo đó, theo quy định của pháp luật Việt Nam nội dung nguyên tắc tiếp cận dành cho người khuyết tật được tập trung vào các lĩnh vực chính và đươc ghi nhận tại các văn bản pháp lý khác nhau nhằm đảm bảo một cách tối ưu quyền đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật Cụ thể

2.1.1 Nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông tiếp cận.

a Nhà chung cư, công trình công cộng tiếp cận đối với NKT:

Nhà chung cư, công trình công cộng tiếp cận đối với NKT để NKT có thể tiếp cận

sử dụng có nghĩa là công trình đó được tạo dựng môi trường kiến trúc mà NKT có thể tiếp cận đến và sử dụng không gian chức năng trong công trình

Hiện nước ta đã có đầy đủ các hệ thống quy chuẩn quốc gia cho việc xây dựng nhà chung cư, công trình công cộng đảm bảo cho NKT tiếp cận như Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2002, TCXDVN 264 : 2002, TCXDVN 265 : 2002, TCXDVN

266 : 2002 Đây là các văn bản quy định chi tiết các yêu cầu kĩ thuật tối thiểu buộc phải thuân thủ khi xây dựng công trình nhằm đảm bảo NKT có thể tiếp cận và sử dụng

Ví dụ: Trong một khu chung cư phải có số lượng căn hộ không dưới 5% tổng số căn hộ đẩm bảo để NKT có thể tiếp cận và sử dụng, nếu trong tòa nhà không đặt thang máy thì căn hộ dành cho NKT phải bố trí ở tầng trệt…., với trụ sở cơ quan hành chính, thư viện… phải bố trí đường dốc ở chỗ ra vào, chỗ ngồi cho NKT…

Và theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật NKT 2010 và Điều 52 khoản 1 điểm d Luật xây dựng năm 2006 thì việc đảm bảo các tiêu chuẩn và quy chuẩn nêu trên chính

là cơ sở pháp lý để phê duyệt thiết kế, tiến hành xây dựng và nghiệm thu công trình Đồng thời theo quy định tại điều 40 của luật NKT văn bản pháp lí này cũng không điều này phải thực hiện ngay trong một hai ngày đối với các chủ công trình mà Điều 40

Trang 5

Luật NKT và Điều 13 Nghị định 28/2012 đã đưa ra lộ trình thực hiện thành các giai đoạn (đến 2020 và 2025) với từng loại công trình cụ thể

Điều này vừa đảm bảo sự tiếp cận đối với NKT vừa đảm bảo “sự điều chỉnh hợp lí” theo Công ước về quyền của NKT năm 2006 của UN, đó là sự sửa đổi cần thiết và phù hợp mà không tạo ra gánh nặng quá sức hay mất cân đối, ở những nơi cần thiết trong những trường hợp cụ thể để đảm bảo NKT có thể thụ hưởng hay thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng như những người bình thường khác

b Giao thông tiếp cận:

Quyền được đi lại là một trong những quyền cơ bản của con người Cũng như đối với mọi công dân khác, giao thông là nhu cầu đi lại, sinh hoạt, làm việc và kiếm sống của người khuyết tật Ngoài ra, giao thông còn là một trong những cầu nối giúp người khuyết tật có thể hòa nhập cộng đồng và là một trong những phương tiện thể hiện

quyền bình đẳng của người khuyết tật trong xã hội Trong giao thông, tiếp cận nói đến

sự đến được nơi cần tới một cách dễ dàng Giao thông tiếp cận là hệ thống giao thông công cộng được hoàn thiện theo hướng xoá bỏ tối đa các rào cản để mọi người tham gia giao thông được dễ dàng, thuận tiện

Cũng giống như những người bình thường khác NKT có thể tham giao giao thông dưới nhiều hình thức và bằng các phương tiện khác nhau Vì vậy, ở từng hình thức và với từng phương tiện pháp luật đều có quy định đảm bảo sự tiếp cận của NKT Cụ thể:

- Việc đi bộ của NKT: Về mặt thiết kế của cơ sở hạ tầng phải đảm đảm bảo việc đi lại an

toàn, thuận tiện cho NKT Đường bộ phải đảm bảo các tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 265:2002 đường phố và hè phố - nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo cho NKT tiếp cận, sử dụng do Bộ giao thông vận tải ban hành Ví dụ: Đường dành cho người đi bộ phải hạn chế nắp hố ga, cây cổ thụ… Ngoài lắp đặt tín hiệu đèn giao thông, biển báo, biển chỉ dẫn nên có thêm các tín hiệu âm thanh hoặc chữ nổi Barille để chỉ dẫn người khiếm thị khi qua đường…

- Việc sử dụng phương tiện giao thông cá nhân của NKT:

Nhằm đảm sự an toàn của NKT khoản 1 Điều 41 Luật NKT xác định phương tiện giao thông cá nhân do NKT sử dụng phải đảm bảo quy chuẩn kĩ thuật quốc gia và phù hợp với điều kiện sức khỏe của người sử dụng Phương tiện đòi hỏi có giấy phép điều khiển thì NKT được học và cấp giấy phép điều khiển đối với phương tiện của họ NKT

có nhu cầu được tạo điều kiện trong việc học để cấp bằng lái xe Khi có nhu cầu học tập trung NKT có thể đăng kí học với cơ sở đào tạo và được miễn toàn bộ hoặc giảm học phí theo quy định của pháp luật

- Việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng của NKT:

Trang 6

Phương tiện giao thông công cộng mà NKT có thể sử dụng là xe buýt, tàu hỏa, máy bay…

Về mặt thiết kế, phương tiện giao thông công cộng để NKT có thể tiếp cận sử dụng phải đáp ứng quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về giao thông tiếp cận do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành Ví dụ: Trong lĩnh vực đường sắt, theo quyết định 21/2006/QĐ-BGTVT ngày 4/5/2006 thì các toa xe khách có xét đến việc tiếp cận sử dụng cho NKT phải có thiết bị đưa xe lăn lên, xuống toa xe khách…

Về cơ sở hạ tầng: phải đảm bảo tính đồng bộ, hỗ trợ NKT tiếp cận dễ dàng các phương tiện giao thông công cộng Ví dụ: điểm đầu, cuối, điểm dừng và nhà chờ xe buýt phải được xây dựng theo TCXDVN 264:2002 và TCXDVN 265:2002 Tại các vị trí này phải xây dựng lối lên xuống và vị trí dành riêng cho NKT…

Ngoài ra, khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, NKT được ưu tiên mua vé, giúp đỡ, sắp xếp chỗ ngồi thuận tiện Theo quy định tại khoản 3 Điều 41 Luật NKT 2010 và Điều 12 Nghị định 28/2012 thì Người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng được miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông bằng một

số phương tiện giao thông công cộng theo quy định của Chính phủ

c Truyền thông và công nghệ thông tin tiếp cận (Điều 43 Nghị định 28/2012):

Truy cập thông tin và CNTT, truyền thông tạo ra nhiều cơ hội cho mỗi người nói chung và NKT nói riêng Với NKT CNTT không chỉ giúp họ tăng khả năng phục hồi, khắc phụ khiếm khuyết của mình Bên cạnh CNTT thì các phương tiện truyền thông còn giúp cung cấp cho NKT thông tin từ mọi mặt của đời sống, nâng cao chất lượng cuôc sống

Xuất phát từ vai trò đó của CNTT và truyền thông, khoản 1 và 4 Điều 43 Luật NKT

và Điều 5 Luật CNTT đã có những quy định cụ thể về chính sách miễn giảm thuế, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi…cho các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ NKT tiếp cận CNTT và truyền thông; hỗ trợ việc thu thập, biên soạn chữ nổi Baraille dành cho NKT… Cùng với đó Bộ thông tin và truyền thông còn ban hành thông tư 28/2009/TT-BTTTT quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ

hỗ trợ NKT tiếp cận sử dụng CNTT và truyền thông Ban hành kèm theo thông tư này

là “Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ NKT tiếp cận, sử dụng CNTT và truyền thông” Theo

đó, các tiêu chuẩn hỗ trợ NKT tiếp cận, sử dụng CNTT và truyền thông được quy định

áp dụng theo hai hình thức: bắt buộc và khuyện nghị áp dụng Ví dụ: các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, phân phối, bán lẻ thiết bị viễn thông bắt buộc phải sắp xép kí

tự số , kĩ tự chữ và kĩ tự trên máy để giúp NKT tiếp cận và sử dụng điện thoại

Với truyền thông, để NKT có thể tiếp cận thông tin đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực hiện chương trình phát song có phụ đề tiếng việt và ngôn ngữ kí hiệu dành cho NKT (Điều 43 khoản 2 Luật NKT)

Trang 7

2.1.2 Dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng:

Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao và giải trí và du lịch (VH-TD-TT-GT-DL) có vai trò to lớn đối với NKT Tuy vậy, do những hạn chế mà các khiếm khuyết gây ra cho NKT dẫn đến việc tham gia, hưởng thụ của NKT là không đơn giản Trên cơ sở đó, Công ước của UN về quyền của NKT năm 2006 đã cụ thể hóa nội dung nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận của NKT dưới các góc độ VH-TD-TT-GT-DL tại Điều 30 khoản 1(1) của Công ước Theo đó, Công ước đã xác định các quốc gia thành viên cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích và thúc đẩy NKT tham gia một cách đầy đủ nhất vào các hoạt động thể thao, đảm bảo NKT tiếp cận được với các địa điểm du lịch, thể thao và giải trí

Là một trong những thành viên của Điều ước Việt Nam cũng có những quy định pháp luật quốc gia phù hợp để đảm bảo thực hiện cam kết này Khoản 1 và 3 Điều 36 Luật NKT đã nội luật hóa nội dung của nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng tiếp cận dưới những góc độ VH-TD-TT-GT-DL để NKT Theo đó, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để NKT tiếp cận hưởng thụ VH-TD-TT-GT-DL cũng như tạo điều kiện để phát triển tài năng, năng khiếu

Để NKT có thể tiếp cận với các hoạt động VH-TD-TT-GT-DL pháp luật Việt Nam xác định nhiều biện pháp đa chiều cần được thực hiện

Theo quy định tại Điều 36 khoản 1 và 4 Luật NKT thì nhà nước hỗ trợ hoạt động VH-TD-TT-GT-DL phù hợp với đặc điểm của NKT Ví dụ trong lĩnh vực thể thao nhà nước khuyến khích đầu tư và tổ chức, cá nhân than gia phát triển thể dụng, thể thao quần chúng, tạo điều kiện cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền thể dụng thể thao để nâng cao sức khỏe, vui chơi, giải trí

1 Điều 30 Tham gia đời sống văn hóa, vui chơi, giải trí và thể thao.

Các quôc gia thành viên công nhận NKT có quyền tham gia trên cơ sở bình đẳng với mọi người khác vào đời sống văn hóa, và áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo NKT:

a Được tiếp cận các tài liệu về văn hóa dưới hình thức tiếp cận được với NKT

b Được tiếp cận các chương trình truyền hình, phim, sân khấu và các hoạt động văn hóa khác qua các hình thức tiếp cận được với NKT

c Được tiếp cận các cơ sở biểu diễn, hay cung cấp dịch vụ, phí dịch vụ nhà hát, bảo tang, rạp chiếu phim, thư viện và các dịch vụ du lịch…

Trang 8

Hỗ trợ hoạt động thiết kế, chế tạo và sản xuất dụng cụ, thiết bị phục vụ hoạt động VH-TD-TT-GT-DL phù hợp với NKT để NKT tham gia vào các hoạt động này (Điều

14 khoản 4 Luật thể dục thể thao năm 2006)

Bảo đảm các cơ sở vật chất và chế độ, chính sách cho vận động viên thể thao khuyết tật vận động

Miễn, giảm giá vé và giá dịch vụ đối với NKT đặc biệt nặng và nặng khi sử dụng một số dịch vụ VH-TD-TT-GT-DL

Cơ sở VH-TD-TT-GT-DL là các đơn vị trực tiếp thực hiện các loại hình hoạt động VH-TD-TT-GT-DL Theo quy định tại Điều 38 Luật NKT và Luật thể dục thể thao, để đảm bảo sự tiếp cận của NKT trong các lĩnh vực này thì các cơ sở trên đây phải có trách nhiệm:

Đầu tư cơ sơ vật chất, tạo điều kiện thuận lợi, bố trí nhân lực, phương tiện công cụ

hỗ trợ để NKT tham gia các hoạt động TT-GT-DL, khi NKT tham gia VH-TD-TT-GT-DL và để NKT tham gia các hoạt động VH-TD-VH-TD-TT-GT-DL

Thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất chưa đảm bảo điều kiện tiếp cận đối với NKT Các điều kiện tiếp cận được quy định tại bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn công trình

do Bộ xây dựng ban hành

Dụng cụ, trang thiết bị phục vụ co hoạt động VH-TD-TT-GT-DL phải đảm bảo an toàn, thuận tiện và phù hợp với đặc điểm của NKT để NKT có thể tiếp cận một cách tối ưu

c Biện pháp tổ chức:

Việc tổ chức các hoạt động lớn như đại hội thể thao NKT toàn quốc, giải thi đấu thể thao… phải được tổ chức phù hợp với đặc điểm à nhu cầu của NKT cũng như điều kiện kinh tế - xã hội ở từng thời điểm

Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy mặc dù Luật NKT năm 2010 của Việt Nam không có điều luật quy định cụ thể về các nguyên tắc nói chung cũng như nguyên tắc quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật nói riêng giống như Công ước của UN về quyền của NKT năm 2006 Tuy nhiên, với tư cách là thành viên của Công ước, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để thực thi cam kết của mình

Bên cạnh đó, với những nội dung đã phân tích ở trên chúng ta có thể kết luận Thứ nhất, quyền của NKT được đảm bảo không phải thuần túy là sự xác định nghĩa vụ của

Trang 9

nhà nước và các chủ thể liên quan hay việc cung cấp cho họ các nhu cầu vật chất, chăm sóc…

Thứ hai, tiếp cận ở đây là thông qua các quy định của pháp luật tạo điều kiện cho NKT cơ hội, điều kiện tiếp cận mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội: Đào tạo, việc làm, giao thông, nhà ở, công trình công cộng… trên cơ sở đó họ tự định đoạt các quyền và nghĩa vụ của công dân của mình Đồng thời điều chỉnh các hành vi tương ứng của xã hội liên quan đến vấn đề này

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng ranh giới giữa nhu cầu, mong muốn và điều kiện đáp ứng; giữa tiếp cận và khả năng; giữa nhu cầu, sự ưu đãi và phân biệt đối xử … là rất mong manh Chẳng hạn quy định về giảm giờ làm việc cho NKT trong Bộ luật lao động về hình thức là bảo vệ, ưu đãi họ những thực tế lại là rào cản trong quá trình tìm việc của NKT Hay một số nước đưa vào trong luật về chỉ định chỉ tiêu việc làm bắt buộc cho NKT nếu không sẽ bị phạt một khoản tiền nhất định nhằm bảo vệ việc làm cho NKT Nhưng có nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là biện pháp đối xử ưu đãi tạm thời

để nâng cao vị thế của người ít có vị thế, cơ hội tiếp cận việc làm Sẽ là tốt hơn nếu có các ưu đãi về tài chính khuyến khích người sử dụng lao động tạo nhiều cơ hội cho NKT tiếp cận việc làm Như vậy, điều quan trọng của nguyên tắc này không phải là pháp luật quy định bao nhiêu quyền và phúc lợi cho NKT mà là xã hội sẽ ứng xử như thế nào để NKT bằng các khả năng và hành vi của mình thực hiện các quyền của họ với tư cách các quyền con người

III. Liên hệ với thực tiễn.

thông tiếp cận.

Nếu so sánh với pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 mà ở đó mới chỉ có quy định chung chung, khó xác định trách nhiệm của cơ quan đơn vị thì ở Luật NKT năm 2010 trách nhiệm của các chủ thể (phê duyệt thiết kế, thực hiện việc xây dựng, cải tạo hoặc nâng cấp, nghiệm thu công trình ) khi công trình được xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp Cùng với quy định về lộ trình quy định này tạo bước đột phá trong việc xóa

bỏ rào cản về vật chất, xã hội đối với NKT để họ có điều kiện tiếp cận và tham gia vào các hoạt đông xã hội Quy định này của Luật NKT năm 2010 không chỉ thể hiện sự nội luật hóa Điều ước quốc tế vào thực tiễn cơ sở hạ tầng của Việt Nam mà quy định này của Luật NKT còn đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng tiếp cận của và nguyên tắc điều chỉnh hợp lý (như đã phân tích ở trên)

Hiện nay, khi lộ trình đến ngày 01 tháng 01 năm 2020 và ngày 01 tháng 01 năm

2025 đối với các đối tượng là nhà chung cư, công trình công cộng theo quy định tại

Trang 10

khoản 1 và 2 Điều 40 Luật NKT (Luật NKT có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2011 – mới có hiệu lực) chưa đến chúng ta chưa có cơ sở dữ liệu để đánh giá về kết quả của lộ trình ấy Vì vậy, chúng ta được phép hi vọng vào những kết quả sẽ đạt được khi những

lộ trình này đến hạn Và chỉ có thời gian mới trả lời được những câu hỏi cho kết quả của vấn đề

Về hiện tại, hiện nay tại Việt Nam đã có một số căn hộ chung cư, siêu thị đảm bảo

sự tiếp cận cho NKT, trong đó có thể kể đến như grand palace, Vincom… còn lại phần lớn công trình mới xây dựng ở nước ta chưa quan tâm hoặc chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng của người khuyết tật Đây chính là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực và những đóng góp của họ đối với xã hội (Trong khi đó,

số người này chiếm tỉ lệ khá lớn so với tổng số dân: khoảng 8%, tương đương với 6,5 triệu người)

Qui chuẩn áp dụng đối với việc xây dựng mới và cải tạo công trình công cộng, nhà

ở, chung cư, đường và hè phố, đặc biệt là những công trình công cộng như nhà văn hóa, sân vận động, bệnh viện, trường học, siêu thị, nhà bảo tàng, trụ sở cơ quan, công trình giao thông để người khuyết tật được tiếp cận, sử dụng Dựa vào các qui chuẩn này, cơ quan chức năng xem xét thẩm định, cấp phép dự án xây dựng công trình mới, xem đó là một trong những tiêu chuẩn bắt buộc

Tuy nhiên, trên thực tế còn nhiều chủ đầu tư chưa quan tâm vấn đề này Lý do chính

là họ e ngại sẽ làm tăng giá thành xây dựng công trình, họ chưa ý thức được công trình của mình phải được tiếp cận, sử dụng bởi nhiều đối tượng, kể cả những người khuyết tật, những người già cả mà hệ vận động thị giác, thính giác bị thoái hóa, khiếm khuyết Bên cạnh đó các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cũng chưa có biện pháp chế tài cụ thể cũng là một trong những nguyên nhân của tình trạng này

Ống chờ xe buýt ở Curitiba , Brazil

Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia thực hiện giao thông tiếp cận cho NKT

Ví dụ tại Brazil, Curitiba là một thành phố cam kết sử dụng giao thông tiếp cận được Tiêu biểu nhất cho phương tiện giao thông tiếp cận ở đây là hệ thống ống chờ xe buýt

Ngày đăng: 30/01/2016, 04:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w