Nội dung nguyên tắc Phân biệt đối xử là hành động đặt một người vào thế bất lợi bằng cách đối xử với họ khác với những người khác hoặc bằng cách áp dụng quy tắc như nhau cho tất cả mọi n
Trang 1MỤC LỤC
Đặt vấn đề ………
Nội dung ……….
I Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật ………
1 Cơ sở pháp lý ………
2 Nội dung nguyên tắc ………
3 Ý nghĩa nguyên tắc ………
II Sự cụ thể của nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật người khuyết tật ………
1 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về địa vị pháp lý ………
2 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về chăm sóc sức khỏe ………
3 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về giáo dục, dạy nghề và việc làm ………
4 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về các hoạt động xã hội ………
III Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật và một số kiến nghị nâng cao thực hiện nguyên tắc trên ………
1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật ………
2 Một số kiến nghị nâng cao thực hiện nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật ………
Kết thúc vấn đề ………
Danh mục tài liệu tham khảo ………
Trang 2 3
3 3 3 4 5 5 6 6 9
11 11
14 15 16
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể nói mối liên hệ giữa khuyết tật, nghèo đói và tình trạng bị cô lập với
xã hội là không thể phủ nhận và vẫn đang diến ra Nguyên nhân chính xuất phát tới tính trạng trên là do sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật Ngày nay, các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đang ngày càng được xem xét dưới góc độ quyền của con người, lấy nhân phẩm là vấn đề cốt lõi, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và có phẩm giá Tương ứng với quyền của từng cá nhân, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người Cách nhìn này đã tạo ra những chuyển biến lớn trong luật quốc tế pháp và pháp luật quốc gia trong đó có Việt Nam
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc xem xét, phân tích nguyên tắc bình đẳng
và không phân biệt đối xử với người khuyết tật và sự ghi nhận của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện nguyên tắc là việc hết sức cần thiết và quan trọng, là cơ
sở để người khuyết tật thực hiện quyền của mình, hòa nhập với cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống Do kiến thức và kinh nghiệm của em còn hạn chế nên trong bài làm còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô xem xét, góp ý đề bào làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG
I Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử
1 Cơ sở của nguyên tắc
Nguyên tắc bình đẳng liên quan mật thiết đến khái niệm nhân phẩm Nguyên tắc này xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể họ khác nhau về trí lực, thể lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau Mỗi một con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận sự quan tâm và tôn trọng như nhau Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật được xây dựng dựa trên ba văn bản pháp lý sau:
- Tuyên ngôn thế giới của Liên hợp quốc về quyền con người năm 1948.
Tại Điều 1 Tuyên ngôn này quy định “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền ”
- Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia được thông qua
tại Hội nghị Lao động Quốc tế tổ chức năm 1944, trong đó chỉ rõ: “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, hoặc giới tính đều có quyền được mưu cầu một cuộc sống vật chất đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và đảm bảo nhân phẩm, trong điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng…” Điều này có nghĩa là tất cả mọi người, kể cả người khuyết tật, cần được
đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng để tham gia các hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động
- Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 ghi nhận nguyên tắc
này tại Điều 5 và Điều 12 của công ước
2 Nội dung nguyên tắc
Phân biệt đối xử là hành động đặt một người vào thế bất lợi bằng cách đối
xử với họ khác với những người khác hoặc bằng cách áp dụng quy tắc như nhau cho tất cả mọi người nào đó bị chối bỏ cơ hội hoặc nhận ít quyền lợi hơn, hay
như trong công ước về quyền của người khuyết tật nêu: “ phân biệt đối xử là cách đối xử bất công hoặc không chịu áp dụng những thay đổi theo như bạn cần
vì bạn là người khuyết tật”, và theo khoản 3 điều 2 luật người khuyết tật về giải thích từ ngữ có quy định: “3 Phân biệt đối xử với người khuyết tật là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khuyết tật vì lý do khuyết tật của họ”
Trang 4Thông qua các định nghĩa về phân biệt đối xử, có thể hiểu nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử của luật người khuyết tật được hiểu là sự bình đẳng ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc làm; chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công cộng của người khuyết tật trong mọi điều kiện, hoàn cảnh
Mặc dù nguyên tắc không phân biệt đối xử ghi nhận sự ngang nhau về tiếp cận các hoạt động của người khuyết tật nhưng nguyên tắc bình đẳng trên không
có nghĩa là bằng nhau, như nhau Người khuyết tật gặp phải những dạng tật khác nhau và mức độ khuyết tật không giống nhau cần được sự đảm bảo khác nhau Ví dụ: Một người bị khuyết tật vận động được nhà nước cung cấp xe lăn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, còn đối với một người bị khuyết tật nhìn được nhà nước cung cấp sách có chữ nổi tạo thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin
Việc ngăn cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật không có nghĩa là quy cho mọi hình thức phân biệt là trái pháp luật Ví dụ: Pháp luật lao động quy định cấm người sử dụng lao động làm thêm giờ đối với người khuyết tật Đây là một hình thức phân biệt tuy nhiện không được coi là phân biệt đối xử mà đó là sự
ưu tiên của người sử dụng lao động đối với người khuyết tật hay các nhà tuyển dụng có một số yêu cầu đặc thù mà người khuyết tật không thể đáp ứng được để làm việc Những yêu cầu trong các trường hợp trên được coi là hợp pháp và phù hợp với người khuyết tật, nó là những yêu cầu mang tính nghề nghiệp và là tiền
đề để thực hiện các hoạt động khác cho người khuyết tật như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề hay các hoạt động xã hội đối với người khuyết tật
3 Ý nghĩa của nguyên tắc
Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử là nguyên tắc rất quan trọng, là kim chỉ nam cho việc ban hành các quy định liên quan đến quyền của người khuyết tật, đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện Qua đó thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước, xã hội với người khuyết tật
Nguyên tắc này không chỉ thể hiện sự quan tâm đặc biệt của pháp luật tới những người khuyết tật, mà còn là sự răn đe, giáo dục tất cả mọi người cần có ý thức để cảm thông với những người khuyết tật Cần có cách nhìn khác đối với những người khuyết tật, và từ đó lựa chọn cách ứng xử phù hợp đối với họ Đồng thời đây cũng là đảm bảo pháp lý quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc khác như nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật và nguyên tắc tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội…
Trang 5II Sự cụ thể của nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử trong pháp luật người khuyết tật.
1 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về địa vị pháp lý.
Tại khoản 1 điều 5 công ước về quyền của người khuyết tật đã nêu rõ:
“Quốc gia thành viên công nhận rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
và có quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được hưởng lợi ích của pháp luật một cách bình đẳng, không có sự phân biệt nào” Như vậy, công ước về quyền của
người khuyết tật đã ghi nhận sự bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội của người khuyết tật với những cá nhận khác trong xã hội Theo đó, người khuyết tật là công dân và bình đẳng với mọi người trước pháp luật, họ được thực hiện các quyền và chịu nghĩa vụ trước nhà nước và pháp luật, được nhà nước và pháp luật bảo vệ, được hưởng lợi ích của nhà nước và pháp luật một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử
Cùng với sự ghi nhận của công ước, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến
Pháp- đạo luật tối cao đã ghi nhận: “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” ( điều 52- hiến pháp) và “ nhà nước bảo đảm các quyền của công dân”.
Theo đó, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận sự bình đẳng, không phân biệt của các
cá nhân trước pháp luật trong đó có người khuyết tật
Song song với các quy định của hiến pháp về bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội, Luật người khuyết tật đã quy định trực tiếp và cụ thể hơn
sự bình đẳng của người khuyết tật với mọi người về địa vị xã hội Tại điều 4 quy
định: “Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật: 1 Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.2 Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật” Việc tham gia bình đẳng vào các hoạt
động xã hội được hiểu trên nhiều lĩnh vực như: hoạt động chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm hay tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch…
Trang 6Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã ghi nhận sự bình đẳng về địa
vị pháp lý Theo đó, pháp luật cũng ghi nhận sự tham gia các hoạt động chính trị, của người khuyết tật cũng như các công dân khác như quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội ( điều 53- hiến pháp), quyền bầu cử, ứng cử ( điều 54- hiến pháp), quyền khiếu nại, tố cáo ( điều 74- hiến pháp)… và các quyền lợi khác đối với công dân trong các pháp luật chuyên ngành nhằm đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị pháp lý Tuy nhiên, với mỗi người khuyết tật, tùy theo năng lực cá nhân để tham gia các hoạt động trên một cách phù hợp và hiệu quả nhất
Ngoài quy định trên, luật người khuyết tật còn nghiêm cấm hành vi “kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật” ( khoản 1- điều 14 luật người khuyết
tật) Quy định này là sự quy định trách nhiệm của xã hội đối với người khuyết tật trong việc bảo đảm thực hiện bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội
2 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về chăm sóc sức khỏe.
Chăm sóc sức khỏe là một trong các hoạt động quan trọng để đảm bảo sự
tồn tại của mỗi cá nhân Tại điều 61- hiến pháp ghi nhận: “ công dân được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” Theo quy định, mọi công dân bao gồm cả người
khuyết tật được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe Người khuyết tật được hưởng các chế độ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe như mọi người về việc khám bệnh, chữa bệnh cũng như các biện pháp chăm sóc khác
Các cơ sở y tế trên phạm vi cả nước đều có trách nhiệm thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật Một người khuyết tật bất kỳ, không vì sự khuyết tật trên cơ thể mà bị các cơ sở y tế, từ chối việc khám, chữa bệnh Đồng thời sự bình đẳng trong việc chăm sóc sức khỏe còn thể hiện thông qua được hưởng chính sách bảo hiểm y tế như với các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội trong việc cung cấp các dịch vụ y tế trong chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận của nhà nước
Việc pháp luật người khuyết tật ghi nhận trách nhiệm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là một biện pháp bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong việc chăm sóc sức khỏe được thực thi trên thực tiễn
3 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về giáo dục, dạy nghề
và việc làm.
Trang 73.1Trong lĩnh vực giáo dục
Theo điều 59 hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “ học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” và tại khoản 1 điều 63 luật giáo dục
2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: “Nhà nước thành lập và khuyến khích các tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người tàn tật, người khuyết tật nhằm giúp các đối tượng này phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, hòa nhập cộng đồng” Với các quy định trên người khuyết tật có quyền được
giáo dục, học tập, không bị phân biệt đối xử Mọi người khuyết tật đều được tham gia các hoạt động giáo dục, được tham gia học các bậc của giáo dục từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học tại tất cả các cơ sở đào tạo không phân biệt cơ sở giáo dục chuyên biệt, cơ sở giáo dục không chuyên biệt, trong đó giáo dục tiểu học cũng là giáo dục phổ cập đối với người khuyết tật Ví dụ: Em Trần Mạnh Linh (sinh năm 2004) bị khuyết tật vận động, em tham gia học tập tại trường tiểu Tiến Lộc ( huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) với sự quan tâm của bạn bè và các thầy cô giáo trong nhà trường.(1)
Tuy nhiên, ngoài các quy định về hoạt động giáo dục nói chung ( giáo dục văn hóa), người khuyết tật còn được tham gia các hoạt động giáo dục chuyên biệt
và giáo dục hòa nhập Các biện pháp giáo dục trên chỉ được áp dụng đối với người khuyết tật, song nó không phải là sự phân biệt, đối xử mà là biện pháp bảo đảm sự công bẳng, bình đẳng cho người khuyết tật, là tiền đề giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng và tham gia vào các hoạt động khác như mọi cá nhân trong xã hội
3.2Trong lĩnh vực dạy nghề.
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học ( khoản 1 điều 5 luật dạy nghề) Tại khoản 1 điều 32 luật người khuyết tật quy định cụ thể: “ Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực hình đẳng như những người khác” và tại khoản 4 điều 7 luật dạy nghề 2006 quy định về chính sách dạy nghề: “ Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật, trẻ em mồ côi không
(1) http://www.nghilucsong.net/
Trang 8nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp”.
Như vậy, thông qua các quy định trên quá trình học nghề của người khuyết tật cũng được áp dụng tương tự như đối với mọi cá nhân học nghề tại các
cơ sở đào tạo nghề khác nhau Bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong học nghề không chỉ thể hiện qua việc người khuyết tật được học nghề ở các trung tâm đào tạo mà còn thể hiện ở chương trình đào tạo lý thuyết cũng như thực hành giống với những người khác Tuy nhiên, dựa vào khả năng tiếp cận và sức khỏe, người khuyết tật có thể lực chọn các chương trình phù hợp
để quá trình học nghề đạt hiệu quả cao nhất Ví dụ: Anh Nguyễn Văn Cương bị khuyết tật vận động, là học viên cơ khí cắt- hàn tại trường dạy nghề 19/5 ( huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) Trong quá trình học nghề, anh được học đầy đủ các chương trình như với những người khác, đồng thời anh được nhà trường và giáo viên dạy nghề quan tâm, chỉ bảo nhiệt tình trong quá trình học tập.(2)
Ngoài các quy định về quyền được bình đẳng, không phân biệt đối xử trong học nghề, pháp luật còn quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong việc đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong việc dạy nghề đối với người khuyết tật như: trách nhiệm nhận người khuyết tật vào học nghề, trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ học nghề, trách nhiệm đảm bảo điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật… Các quy định này là hành lang pháp lý quan trọng để thực thi nguyên tắc trên thực tế
3.3 Trong lĩnh vực việc làm
Việc làm đối với người khuyết tật là một vấn đề hết sức quan trọng, nó không chỉ là hoạt động tạo thu nhập cho người khuyết tật mà nó còn giúp người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng, tự tin trong cuộc sống và góp phần phát huy nguồn nhân lực cho xã hội Do vậy, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối
xử với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm là nguyên tắc chủ chốt
Xuất phát từ vấn đề quyền con người được pháp luật quôc tế ghi nhận, nguyên tắc trên đã được pháp luật sớm ghi nhận trong các văn bản quy phạm Tại
điều 55 hiến pháp đã ghi nhận: “ lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”, khoản 1 điều 5 bộ luật lao động quy định “Mọi người đều có quyền làm việc, tự
(2) http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/cung-suy-ngam/tr-giup-ng-i-khuy-t-t-t-1.292688
Trang 9do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” và khoản 1 điều 125 bộ luật lao động: “ Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người khuyết tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người khuyết tật…” Như vậy lao động và tìm kiếm việc làm là quyền của mọi công dân
trong đó có người khuyết tật, không một cá nhân, tổ chức nào được phép phân biệt, đối xử với người khuyết tật trong việc làm
Để cụ thể hơn quy định của hiến pháp và quyền được làm việc của người khuyết tật, tại khoản 1, khoản 2 điều 33 luật người khuyết tật quy định chi tiết:
“1 Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật 2 Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật” và khoản 3 điều 125 bộ luật lao động quy định : “Chính phủ quy định về tỷ lệ lao động là người tàn tật đối với một số nghề và công việc mà doanh nghiệp phải nhận…” Thông qua các quy
định của pháp luật, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm thể hiện ở việc người khuyết tật và người không khuyết tật đều được đối xử bình đẳng về việc làm, cơ hội tìm kiếm việc làm cũng như quá trình duy trì, bảo đảm việc làm đó
Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm việc làm cũng như làm việc, các quy định của pháp luật về giảm giờ làm cho người khuyết tật, cấm làm thêm giờ đối với người khuyết tật hay các yêu cầu tuyển dụng… không được coi là phân biệt đối xử với người khuyết tật mà đó là các biện pháp phù hợp với người khuyết tật trong các hoạt động khác
4 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về các hoạt động xã hội.
4.1 Trong hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch đối với người khuyết tật.
Hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch có vai trò to lớn đối với người khuyết tật Để thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử với người
khuyết tật tại khoản 1 và khoản 3 điều 36 luật người khuyết tật đã xác định: “Nhà
Trang 10nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù hợp với đặc điểm của người khuyết tật; tạo điều kiện để người khuyết tật được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch” và “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho người khuyết tật phát triển tài năng, năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật
và thể thao; tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, tập luyện, thi đấu thể thao”.
Theo đó, mọi người khuyết tật đều được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giải trí, thể thao, du lịch, không phục thuộc vào điều kiện và mức độ dạng tật Ví dụ: Những người khuyết tật tham gia Para games, em Phương Anh bị xương thủy tinh tham gia cuộc thi Vietnam’s Got Talent…
Ngoài các quy định trong luật người khuyết tật, trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, giải trí, thể thao, du lịch nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử với người khuyết tật còn được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: luật thể dục thể thao, chỉ thị số 03/2007/CT- UBTDTT của ủy ban thể dục, thể thao… Như vậy, bằng việc xây dựng các quy phạm pháp luật trong việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí, du lịch đã giúp người khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ xã hội và tạo điều kiện để người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng
4.2 Trong hoạt động sử dụng công trình công, dịch vụ công cộng
Việc tiếp cận và sử dụng các công trình, dịch vụ công cộng là vấn đề quan trọng đối với người khuyết tật Người khuyết tật có thể hòa nhập với công đồng hay không phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động này Do vậy, trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về luật xây dựng 2003, luật giao thông đường bộ 2008, luật đường sắt, luật công nghệ thông tin và các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa nguyên tắc trên
Với các hoạt động trong sử dụng công trình và dịch vụ công cộng, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được thể hiện bởi nội dung mọi người khuyết tật đều có quyền tiếp cận, sử dụng các công trình và dịch vụ công cộng Một người không vì bị khuyết tật mà không được sử dụng các dịch vụ trên Đồng thời việc pháp luật quy định các ưu tiên trong lĩnh vực này không được coi là phân biệt đối xử mà đó là các quy định phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện các quyền và khả năng sử dụng các hoạt động dịch vụ đó
Như vậy, bằng việc quy định cụ thể các quyền của người khuyết tật và trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong bảo đảm thực hiện quyền của người