1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng thương mại quốc tế

6 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 69,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đềTrong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề lựa chọn hình thức hợp đồng sẽ giúp cho các thương nhân không còn tỏ ra lúng túng hay khúc mắ

Trang 1

MỤC LỤC

I Hình thức của hợp đồng

2

II Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng trong thương mại quốc tế 2

1 Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng theo Công ước Viên về mua

2 Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng theo Nguyên tắc hợp đồng

I Thực tiễn lựa chọn hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế 4

1 Pháp luật các quốc gia trên thế giới về vấn đề hình thức hợp đồng 4

2 Pháp luật Việt Nam về vấn đề hình thức hợp đồng 5

A Kết luận

5

Trang 2

A Đặt vấn đề

Trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề lựa chọn hình thức hợp đồng sẽ giúp cho các thương nhân không còn tỏ ra lúng túng hay khúc mắc khi tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chính vì lý do này, nhóm chúng em xin lựa chọn đề

tài: “Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng thương mại quốc tế” làm đề tài

nghiên cứu.

B Giải quyết vấn đề

I Hình thức của hợp đồng

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết được nội dung của giao dịch kinh doanh đã xác lập

Hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, văn bản (và các hình thức có giá trị pháp lý tương đương như điện tín, telex và các thức khác) nào hoặc các hành

vi cụ thể Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thể.

II Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng trong thương mại quốc tế

1 Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng theo Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG)

a Nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng

Nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng được thể hiện rõ ràng ngay trong Điều 11 của Công ước Viên năm 1980:

Điều 11: “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân theo một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng”.

Trang 3

b Ngoại lệ của nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng

Ngoại lệ của nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 12 và Điều 96 Công ước Viên năm 1980:

- Điều 12: “Bất kỳ quy định nào của Điều 11, Điều 29 hoặc phần II của Công ước này cho phép hợp đồng mua bán, việc thay đổi hoặc đình chỉ hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên hoặc đơn chào hàng và chấp nhận đơn chào hàng hay bất kỳ sự thể hiện ý định nào của các bên được lập và không phải dưới hình thức văn bản mà dưới bất kỳ hình thức nào sẽ không được áp dụng khi

dù chỉ một trong số các bên có trụ sở thương mại đặt ở nước là thành viên của Công ước mà nước đó đã tuyên bố bảo lưu theo Điều 96 của Công ước này Các bên không được làm trái với điều này hoặc sửa đổi hiệu lực của Điều 12 này”.

- Điều 96: “Nếu luật pháp của một quốc gia thành viên quy định hợp đồng mua bán phải được ký kết hay xác nhận bằng văn bản thì quốc gia đó có thể bất

cứ lúc nào tuyên bố chiếu theo Điều 12, rằng mọi quy định của các Điều 11, 29 hay của phần thứ hai Công ước này cho phép một hình thức khác với hình thức văn bản cho việc ký kết, sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng mua bán, hay cho mọi chào hàng hay chấp nhận chào hàng hay sự thể hiện ý định nào khác sẽ không

áp dụng nếu chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia”.

1 Vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng theo Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC)

a Nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng

Điều 1.2 của PICC 2004 nêu rõ việc giao kết hợp đồng không yêu cầu các

bên phải tuân theo bất kỳ hình thức nào, theo đó “không một chi tiết nào của PICC 2004 yêu cầu một hợp đồng, tuyên bố hay bất kỳ hành vi nào khác phải được giao kết hay chứng minh bằng một hình thức đặc biệt Sự tồn tại của chúng

có thể được chứng minh bằng bất kỳ hình thức nào, kể cả bằng nhân chứng”.

b Ngoại lệ của nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức hợp đồng

Trong mối liên hệ với Điều 1.4 của PICC 2004, nguyên tắc tự do về hình thức giao kết hợp đồng tại Điều 1.2 có thể bị hạn chế bởi các quy định riêng của pháp luật quốc gia hoặc các văn bản pháp luật quốc tế có yêu cầu cụ thể về hình

Trang 4

thức hợp đồng, theo đó “ Bộ Nguyên tắc này không hạn chế việc áp dụng những quy phạm bắt buộc, có nguồn gốc quốc gia, quốc tế hay siêu quốc gia, được áp dụng trên cơ sở các quy phạm của tư pháp quốc tế liên quan”.

Bên cạnh đó, PICC 2004 còn cho phép các bên có thể thỏa thuận hình thức cụ thể cho việc giao kết, sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt hợp đồng, cho bất

kỳ tuyên bố hay hành vi đơn phương nào mà các bên có thể đưa ra trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng hoặc trong bất kỳ tình huống nào khác, thể hiện trong các điều khoản 2.1.13, 2.1.17 và 2.1.18:

- Điều 2.1 13 (Giao kết hợp đồng phụ thuộc vào sự thỏa thuận về một số

vấn đề liên quan đến hình thức hợp đồng) :“Trong các cuộc đàm phán, khi một bên yêu cầu việc giao kết hợp đồng phụ thuộc vào thỏa thuận về một số vấn đề liên quan đến nội dung hoặc hình thức, thì hợp đồng sẽ chỉ được giao kết nếu các bên đạt được thỏa thuận về những vấn đề này.”.

- Điều 2.1.17 (Điều khoản về tính toàn bộ) :“Một hợp đồng giao kết bằng văn bản có một điều khoản quy định rằng hợp đồng bao gồm toàn bộ tất cả những điều kiện mà các bên đã thỏa thuận không thể bị bác bỏ hoặc bổ sung bằng việc đưa ra những tuyên bố hoặc thỏa thuận trước đó Tuy nhiên, những tuyên bố hoặc thỏa thuận này vẫn có thể được sử dụng để giải thích hợp đồng.”.

- Điều 2.1.18 (Điều khoản sửa đổi bằng hình thức đặc biệt): “Hợp đồng bằng văn bản có một điều khoản quy định rằng mọi thay đổi hay thỏa thuận chấm dứt hợp đồng nào đều phải được thực hiện dưới một hình thức nhất định, thì không thể thay đổi hay chấm dứt hợp đồng bằng hình thức khác Tuy nhiên, một bên có thể mất quyền viện dẫn quy định này nếu thái độ bên đó đã khiến cho bên kia hành động theo một cách hợp lý.”.

I Thực tiễn lựa chọn hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế

1 Pháp luật các quốc gia trên thế giới về vấn đề hình thức hợp đồng

Tuy Pháp luật Quốc tế đã có những quy định về vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng nhưng mỗi quốc gia có một cách tiếp cận khác nhau về hình thứ hợp đồng Sau đây là một vài ví dụ:

Trang 5

- Luật bán hàng của Vương quốc Anh cho phép hợp đồng có thể được giao kết bằng văn bản hoặc thỏa thuận bằng miệng hoặc một phần của hợp đồng được thỏa thuận bằng miệng, một phần văn bản hoặc có thể suy đoán căn cứ vào hành vi của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

- Theo pháp luật Hoa Kỳ, một số loại hợp đồng nhất định phải giao kết bằng văn bản, trong đó có hợp đồng về hàng hóa, mà việc cung cấp hàng hóa đó không thể diễn ra trong vòng một năm kể từ ngày xác lập hợp đồng, các hợp đồng có giá trị từ 500 đô la Mỹ trở lên, các hợp đồng khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

- Bộ Luật Dân sự Liên Bang Nga quy định: hợp đồng có thể được xác lập dưới bất kỳ hình thức nào, trừ trường hợp pháp luật quy định một hình thức nhất định đối với hợp đồng đó Nếu các bên đồng ý giao kết hợp đồng dưới hình thức thỏa thuận đã được xác định đối với hợp đồng, thậm chí pháp luật không đòi hỏi một hình thức như vậy đối với hợp đồng đó Hình thức viết của hợp đồng có thể được xác định thông qua hoàn thành tài liệu có chữ kỹ của các bên, và cũng có thể bằng cách trao đổi các văn bản bằng thư điện tử, thư tín, thư đánh máy, điện thoại, các hình thức điện tử hoặc các hình thức thông tin khác

2 Pháp luật Việt Nam về vấn đề hình thức hợp đồng

Pháp luật Việt Nam bắt buốc hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương Hình thức

có giá trị tương đương bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử), và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 27, khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005).

A Kết luận

Việc tìm hiểu cụ thể về vấn đề tự do lựa chọn hình thức hợp đồng sẽ giúp cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tránh mắc phải những khó khăn, vướng mắc do thiếu hiểu biết, đồng thời giúp cho những nhà làm luật nhanh chóng hoàn thiện pháp luật về điều chỉnh hình thức hợp đồng

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thu Trang, Khóa luận tốt nghiệp: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, 2010.

2 Nguyễn Thị Tú Quyên, Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”, Hà Nội, 2011

3 Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb Tư pháp, Trường Đại học Luật

Hà Nội, 2006.

4 Textbook International Trade and Business Law, Hanoi Law University, the People’s public security publishing house, Hanoi, 2012.

5 Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG).

6 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC).

7 Luật Thương mại Việt Nam 2005.

8 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005.

Đường link tham khảo:

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4021

http://luatminhgia.vn/Quyen-tu-do-giao-ket-hop-dong-o-Viet-Nam-ly-luan-va-thuc-tien-newsview-274-548.aspx

http://luatkhaiphong.com/Phap-Luat-ve-Hop-dong/Ky-nang-soan-thao-hop-dong-trong-thuong-mai-1859.html

Ngày đăng: 25/03/2019, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w