Trong điều kiện tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết mọi hoạt động của doanh nghiệp DN, từ đầu tư, sản xuất, tiêu thụ, phân phối đến việc thực hiện các hoạt động thư
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay, các loại hợp đồng thương mại đóng một vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường của nước ta Trong điều kiện tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết mọi hoạt động của doanh nghiệp (DN), từ đầu tư, sản xuất, tiêu thụ, phân phối đến việc thực hiện các hoạt động thương mại ở trong nước hay với các đối tác nước ngoài… đều phải thông qua việc giao kết và thực hiện hợp đồng Tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng (GKHĐ) thương mại quốc tế là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với các chủ thể kinh doanh nói chung và doanh nghiệp nói riêng Qua đó, nhóm em xin làm rõ thêm về
vấn đề này trong Bài tập số 2: Vấn đề tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng thương mại
quốc tế.
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
Hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thể, nhưng không phải tất cả những thỏa thuận giữa các chủ thể đều là hợp đồng Sự thỏa thuận chỉ có thể trở thành hợp đồng khi ý chí của các chủ thể được thể hiện (trong sự thỏa thuận) phù hợp với “ý chí thực” của
họ Như vậy, tự do GKHĐ là nguyên tắc cơ bản của GKHĐ nói chung Theo đó, dù thiết lập quan
hệ hợp đồng trong lĩnh vực nào (dân sự, thương mại hay lao động), các chủ thể đều được tự do về mặt ý chí, không có chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để bắt buộc hay ngăn cản chủ thể khác GKHĐ Quyền tự do hợp đồng được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: (i) quyền được tự do bình đẳng, tự nguyện GKHĐ , (ii) quyền được tự do lựa chọn đối tác GKHĐ, (iii) quyền được tự do thỏa thuận nội dung GKHĐ, (iv) quyền được tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện, (v) quyền được tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng
Trong các hợp đồng thương mại quốc tế, nguyên tắc tự do lựa chọn đối tác GKHĐ là một nguyên tắc hết sức quan trọng: “Thương nhân có quyền tự do quyết định ai là người họ sẽ bán hàng và cung cấp dịchvụ của mình và ai là người họ muốn mua hàng và nhận cung cấp dịch vụ cho mình, cũng như họ có thể tự do thoả thuận những điều khoản của từng giao dịch cụ thể Đó là nền tảng của trật tự kinh tế quốc tế mang tính cạnh tranh và theo định hướng thị trường mở.”1
Pháp luật dân sự, thương mại và lao động chỉ quy định điều kiện các chủ thể được quyền giao kết các loại hợp đồng: đối với cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (Điều
1 Điều 1.1 Những nguyên tắc cơ bản trong hợp đồng thương mại quốc tế Viện Thống nhất Tư pháp Quốc
tế, viết tắt theo tiếng Pháp là UNIDROIT.
Trang 214, 15 BLDS 2005); đại diện của pháp nhân (Điều 91 Bộ luật Dân sự 2005) người đại diện pháp luật của pháp nhân (khoản 4 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2005), thương nhân (khoản 1, Điều 6 Luật Thương Mại 2005), người sử dụng lao động và người lao động (khoản 1, 2 Điều 3 Bộ luật Lao Động 2012) Hệ thống pháp luật hiện hành không quy định cá nhân nào, pháp nhân nào, hay thương nhân nào, người sử dụng lao động hay người lao động nào được quyền GKHĐ với nhau Đây chính là sự thể hiện tôn trọng quyền được lựa chọn đối tác GKHĐ cho các chủ thể kinh doanh
Có thể thấy, trong việc kí kết hợp đồng thương mại quốc tế, nguyên tắc tự do lựa chọn đối tác GKHĐ được thể hiện rất rõ nét và ở mức độ cao hơn nguyên tắc tự do ý chí trong việc lựa chọn đối tác GKHĐ trong nước Nếu như trong ký kết hợp đồng thương mại trong nước có chủ thể là “ thương nhân (bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có Đăng kí kinh doanh), cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại” (Điều 2 Luật Thương Mại 2005) thì trong hợp đồng thương mại quốc tế, chủ thể hợp đồng là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế , là các bên, người bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Vì thế phạm vi lựa chọn đối tác trong hợp đồng thương mại quốc tế rộng hơn các giao dịch trong nước Điều này tạo điệu kiện thuận lợi cho các chủ thể, đặc biệt là các thương nhân có khả năng chủ động trong việc thiết lập các giao dịch nhằm phục vụ hoạt động ngoại thương của mình
Quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ trong thương mại quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh, bởi lẽ, họ sẽ lựa chọn đối tác nào để giao kết phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: văn hóa ứng xử của đối tác, khả năng, kinh nghiệm kinh doanh của đối tác, uy tín của đối tác, các điều kiện lợi ích kinh tế phát sinh từ sự thương thảo hợp đồng… Quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ giữa các bên được thực hiện khá phổ biến, rộng rãi, các bên GKHĐ đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về quyền năng này trong phạm vi có thể
II. Thực tiễn của vấn đề tự do lựa chọn đối tác GKHĐ thương mại quốc tế:
Trong thực tiễn, quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ thương mại quốc tế được thực hiện rất phổ biến, rộng rãi, đặc biệt trong xu thế tự do hóa thương mại như hiện nay, khi các quốc gia
đã có các “sân chơi chung” lớn như WTO, ASEAN,… việc lựa chọn đối tác GKHĐ ngày càng được mở rộng Các bên chủ thể GKHĐ đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về quyền năng này trong phạm vi có thể, thể hiện rõ nhất là các bên lợi thế trong hợp đồng sẽ có sự lựa chọn đối tác
Trang 3yếu thế hơn để lấn át ý chí khi GKHĐ với mục đích tìm lợi ích cao nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng với đối tác đó Ví dụ như hành vi của thương nhân mua ép giá nông dân, ngư dân đối với hàng nông sản hoặc hải sản khi trúng mùa Hoặc các chủ thể GKHĐ cũng có thể lựa chọn những đối tác thích hợp với ngành nghề kinh doanh của mình để nâng cao chất lượng sản phẩm,
ví dụ việc thương nhân xuất khẩu hàng may mặc được tự do lựa chọn một đối tác sản xuất, gia công hàng may mặc có uy tín chất lượng để GKHĐ gia công hàng may mặc xuất khẩu Tự do lựa chọn đối tác GKHĐ sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể lựa chọn được những thị trường có tiềm năng, những đối tác nhiều tiềm năng, có uy tín chất lượng mà họ muốn giao kết cùng Hơn nữa, việc tự do lựa chọn đối tác góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, giúp các doanh nghiệp cũng như các quốc gia nói chung đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường, tìm được những đối tác phù hợp với mình, ví dụ như: với lợi thế về vị trí địa lí, cùng các ưu đãi thuế quan của ASEAN, tổ chức này đang là đối tác thương mại lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô và gạo Việc GKHĐ với các thành viên ASEAN ngày càng mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội và tiềm năng lớn
Vì tính chất mở rộng của các giao dịch thương mại quốc tế, vấn đề tự do GKHĐ càng phát triển hơn bao giờ Việc lựa chọn cho mình một đối tác giao dịch thương mại ngoài quốc gia trở nên trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn với các doanh nghiệp Với phạm vi rộng và số lượng khổng lồ các giao dịch thương mại quốc tế đang diễn ra hàng ngày, việc điều chỉnh và quản lý các giao dịch này là rất khó khăn đối với các cơ quan luật pháp Việc tự do lựa chọn đối tác cũng mang đến nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với mỗi doanh nghiệp Đặc biệt, việc tìm hiểu khi đàm phán, GKHĐ với đối tác vượt phạm vi biên giới quốc gia đòi hỏi các doanh nghiệp phải thật tỉnh táo, cẩn thận trong các quan hệ làm ăn của mình, bởi các hợp đồng giao dịch thương mại nội địa vốn
đã dễ xảy ra xung đột huống hồ là các hợp đồng giao dịch quốc tế khi hệ thống pháp luật và các tập quán thương mại ở mỗi quốc gia là khác nhau Thực tế cho thấy đã có nhiều trường hợp các bên GKHĐ với nhau và tiến hành các hoạt động kinh doanh, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy ra, một trong hai bên đối tác lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thu lợi riêng cho mình Chẳng hạn, nếu 1 bên đối tác ký kết hợp đồng chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh và quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh có phát sinh tranh chấp, mà đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp họ vẫn chưa hoàn tất thủ tục pháp lý đó để thực hiện phần việc đã thoả thuận trong hợp đồng, thì hợp đồng kinh doanh này bị coi là vô hiệu toàn bộ Lúc này, người thiệt hại sẽ là người kinh doanh hợp pháp, nhưng trong trường hợp này người kinh doanh hợp pháp sẽ không có căn cứ để yêu cầu bên đối tác kinh doanh thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết
Trang 4Quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh, bởi lẽ, họ sẽ lựa chọn đối tác nào để giao kết phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: văn hóa ứng xử của đối tác, khả năng, kinh nghiệm kinh doanh của đối tác, uy tín của đối tác, các điều kiện lợi ích kinh tế phát sinh từ sự thương thảo hợp đồng… Chủ thể kinh doanh chỉ cần căn cứ vào các quy định pháp luật tương ứng với nội dung hợp đồng ký để thỏa thuận, tuân thủ khi ký kết và thực hiện
III. Hạn chế của vấn đề tự do lựa chọn đối tác GKHĐ thương mại quốc tế:
Trong thực tiễn, quyền tự do bình đẳng GKHĐ đã không được thực hiện ở một số lĩnh vực nhất định, điển hình nhất là các hợp đồng cung cấp, các dịch vụ công từ các chủ thể là các công ty nhà nước độc quyền phân phối các dịch vụ như điện, nước, điện thoại chủ thể giao kết là người dân sử dụng các dịch vụ này thì bị ép ký kết các hợp đồng mẫu đã được soạn sẵn (không được thay đổi) thậm chí gây thiệt hại cho người sử dụng cũng không có điều khoản để bồi thường như việc các công ty cung cấp điện tự động ngắt điện làm hư hỏng các thiết bị điện hoặc hư các sản phẩm đang được sản xuất chưa thành phẩm… Hơn hết, trong thương mại quốc tế khi lựa chọn đối tác nhằm mua bán các mặt hàng mà nhà nước độc quyền phân phối như xăng dầu, các chủ thể chỉ có sự lựa chọn duy nhất là GKHĐ với các doanh nghiệp nhà nước độc quyền kinh doanh trên những mặt hàng đó Ví dụ : một doanh nghiệp của Nhật Bản muốn mua dầu thô từ Việt Nam chỉ
có thể kí hợp đồng mua bán dầu thô với tập đoàn dầu khí Việt Nam Petrolimex chứ không có bất
cứ sự lựa chọn nào khác Bên cạnh đó, pháp luật quốc tế hiện nay chỉ đặt ra điều kiện đối với các chủ thể được quyền giao kết các loại hợp đồng mà không quy định rõ chủ thể nào được phép GKHĐ với nhau nhằm thể hiện sự tôn trọng quyền được lựa chọn đối tác GKHĐ
KẾT LUẬN
Qua phần phân tích ở trên, ta có thể thấy việc tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng thương mại quốc tế ngày càng trở thành một vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, việc giao dịch thương mại không chỉ liên quan giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau mà giữa quốc gia này với quốc gia khác Do vậy, quyền tự do giao kết hợp đồng nói chung và tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng sẽ góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế và tạo ra một thị trường rộng lớn hơn
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hanoi Law University, Textbook International Trade and Business Law, People’s
Public Security Publishing House, Hanoi, 2012.
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, Nhà xuất bản
Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2013.
3 Bộ luật dân sự năm 2005.
4 Luật thương mại năm 2005.
5 Bộ luật Lao Động 2012, có hiệu lực từ ngày 01/05/2013.
6 Thạc sĩ Phan Thông Anh, Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam – Lý luận
và thực tiễn, website: www.nclp.org.vn.