Trong trường hợp của đề bài thì hành vi giết người của A không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS, cho nên có thể khẳng định rằng, với hành vi của mình, A đã phạm phả
Trang 1Bài 5
A và B là vợ chồng Dù đã có chồng nhưng B vẫn lén lút sống chung với C (ng yêu cũ của B) như vợ chồng Biết chuyện, hai bên gia đình đã khuyên B chấm dứt quan hệ với C nhưng B vẫn lén lút quan hệ với C nhiều lần nữa nên A rất tức giận Một hôm B đi hẹn hò với C A không tin nên chạy ra đường cách nhà 200 mét thì thấy H nhưng mà A lại tưởng là C Quá tức giận kẻ đã quyến rũ
vợ mình, A nhặt một khúc gỗ bên lề đường to bằng cổ tay, dài 60 cm phang mạnh mấy nhát vào đầu H khi thấy nạn nhân gục ngã A mới dừng tay bỏ đi Giám định Pháp y kết luận: nạn nhân chết do bị đánh vỡ đầu Do không biết mặt C nên A đã đánh nhầm người
BÀI LÀM
1.Định tội cho hành vi của A trong vụ án trên?
Căn cứ vào các tình tiết của đề bài, ta có thể khẳng định A đã phạm phải
tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS Hành vi của A đã mang đầy
đủ các dấu hiệu pháp lý của tội danh trên:
Về mặt khách thể: LÀ quan hệ nhân thân cụ thể là quyền sống, quyền
được tôn trọng và bảo vệ tính mạng Trong tình huống này, hành vi của A đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của H được pháp luật bảo vệ
trong tình huống này, đối tượng tác động của tội phạm chính là H
Về mặt khách quan: Trong tình huống đề bài có tình tiết như sau: “A nhặt
một khúc gỗ bên lề đường to bằng cổ tay, dài 60 cm phang mạnh mấy nhát vào đầu người ngồi trên xe máy (mà A nghĩ là C) khi thấy nạn nhân gục ngã A mới dừng tay bỏ đi”, theo đó hành vi phang mạnh mấy nhát vào đầu H chính là hành
vi bằng hành động nhằm làm cho H chấm dứt cuộc sống
Tiếp theo, Xét trên thực tế của tình huống, ta thấy hậu quả xảy ra đó chính
là cái chết của H: “Giám định Pháp y kết luận: nạn nhân chết do bị đánh vỡ đầu”
Cuối cùng là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả
Theo đề bài: “Giám định Pháp y kết luận: nạn nhân chết do bị đánh vỡ đầu”
Trang 2Theo đó, nguyên nhân dẫn đến cái chết của H là do chính hành vi dùng khúc gỗ phang mạnh mấy nhát vào đầu H gây nên chứ không phải bất kì nguyên nhân nào khác
Do vậy, hành vi của A hoàn toàn thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan
của tội giết người
Về mặt chủ quan: Trong trường hợp này, lỗi của A được xác định là lỗi cố
ý trực tiếp Về lí trí, A nhận thức rõ dùng khúc gỗ phang mạnh mấy nhát vào đầu
H có thể khiến H chết Về ý chí, thì từ hành vi A dùng khúc gỗ phang mạnh mấy nhát vào đầu H khi thấy nạn nhân gục ngã A mới dừng tay bỏ đi thì có thể thấy A mong muốn hậu quả chết ng phát sinh Do đó, có thể khẳng định lại một lần nữa, lỗi của A chính là lỗi cố ý trực tiếp, điều này hoàn toàn thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội giết người
Về mặt chủ thể: Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Trong trường hợp của A, A là người đã kết hôn (đã có vợ là B) cho nên đương nhiên A đã đạt độ tuổi luật định và có đầy
đủ năng lực TNHS Như vậy, dấu hiệu về mặt chủ thể của tội giết người A cũng thỏa mãn
Trong trường hợp của đề bài thì hành vi giết người của A không thuộc các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS, cho nên có thể khẳng định rằng, với hành vi của mình, A đã phạm phải tội giết người được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS
Trong trường hợp này ta dễ gây hiểu lầm rằng A đã phạm phải tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 95 BLHS Giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh được hiểu là hành vi giết người trong tình trạng không tự chủ, không kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính người phạm tội hoặc đối với người thân của người phạm tội Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng nói ở đây có thể CTTP hoặc cũng có thể không hoặc chưa đến mức
Trang 3CTTP Nhưng dù ở trường hợp nào thì hành vi đó cũng phải có tính chất là trái pháp luật nghiêm trọng
Qua tình tiết của đề bài, ta có thể nhận thấy mặc dù A có sự đè nén về tâm lý, có sự tức giận lâu dài, tuy nhiên, hvi sống chung như vợ chồng của C với B không phải là hành vi có tính chất trái pháp luật nghiêm trọng Hơn nữa, A chưa xác nhận rõ ràng cụ thể đối tượng là ai, như thế nào, mà đã có hành động như vậy thì không thể là do tinh thần bị kích động mạnh mà chỉ là phản ứng thái quá của
A, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là dẫn đến cái chết của H Do đó, việc xác định tội danh đối với A là tội giết người được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS là hoàn toàn hợp lý
2.Giả thiết rằng khi thấy H (mà A tưởng là C) A phang bừa vào người H Nếu thực tế H chỉ bị thương tích (tỉ lệ thương tật là 45 %) thì tội danh của A là gì? Tại sao? Nếu thực tế H bị chết thì tội danh của A là gì? Tại sao?
2.1.Nếu thực tế H chỉ bị thương tích (tỉ lệ thương tật là 45 %) thì tội danh của A là gì? Tại sao?
Nếu thực tế H chỉ bị thương tích (tỉ lệ thương tật là 45%) thì tội danh của
A sẽ là tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS Hành vi của A mang đầy đủ các dấu hiệu pháp lí của tội danh này
Về mặt khách quan: Trước hết hành vi khách quan của tội này là những
hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Cụ thể, A dùng khúc gỗ nhặt được bên lề đường phang bừa vào người H Hành vi này hoàn toàn có khả năng gây ra thương tích và làm tổn hại cho sức của H
Tiếp theo, CTTP tội này đòi hỏi dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc.
Hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân từ 11% trở lên là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này hoặc dưới tỷ lệ đó nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS Trong giả thiết được nêu, hành vi của A đã gây ra thương tích cho H với tỉ lệ thương tật là 45%
Trang 4Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích hoặc tổn
thương khác cũng là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Hành vi của A chứa đựng khả năng thực tế gây ra thương tích cho H Hành vi dùng vật thể cứng là khúc gỗ như
mô tả phang vào người của H mà A thực hiện là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thương tích cho H, chứ không phải bất kì hành vi nào khác gây nên
Thêm nữa, việc xác định công cụ và phương tiện phạm tội cũng rất quan
trọng trong việc định tội danh và khung hình phạt đối với tội này Trong trường hợp này, A đã dùng khúc gỗ bên lề đường to bằng cổ tay, dài 60 cm để thực hiện tội phạm, và việc sử dụng khúc gỗ này được coi là dùng hung khí nguy hiểm phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 104
"Dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS Như vậy, hành vi của A hoàn toàn thỏa mãn các dấu hiệu về mặt khách
quan của tội cố ý gây thương tích
Về mặt chủ quan: Lỗi của A là lỗi cố ý gián tiếp, Ta có thể thấy, A nhận
rõ hành vi phang bừa của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể thấy được hậu quả gây ra cho H là nhẹ thì gây thương tích, nặng thì có thể làm nạn nhân tử vong, hành vi của A là nhằm một mục đích khác Đó là thỏa mãn cơn tức vì lòng gen tuông đồng thời cũng là để dằn mặt kẻ quyến rũ vợ mình Chính để đạt được mục đích này mà A đã chấp nhận hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra A tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình mà A đã thấy trước Việc không mong muốn hậu quả xảy ra ở đây được thể hiện qua chi tiết A đã phang bừa vào người H (mà A tưởng là C) Điều này thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội này về lỗi là lỗi cố ý
Về mặt chủ thể: Chủ thể của tội này có thể là bất kì người nào có năng lực
TNHS và đạt độ tuổi luật định Theo đó, thì dấu hiệu này A cũng thỏa mãn như
đã phân tích ở câu 1
Do vậy, dựa vào phân tích về các dấu hiệu pháp lý trên đây, tất cả đều
thỏa mãn CTTP tội cố ý gây thương tích Bên cạnh đó, tỉ lệ thương tích A gây ra cho H là 45% và việc sử dụng khúc gỗ mà A nhặt được như mô tả được coi là
Trang 5dùng hung khí nguy hiểm Do đó, nếu thực tế H chỉ bị thương tích (tỉ lệ thương tật là 45%) thì tội danh của A là tội cố ý gây thương tích được quy định tại khoản
3 Điều 104 BLHS
2.2.Nếu thực tế H bị chết thì tội danh của A là gì? Tại sao?
Nếu thực tế H bị chết thì tội danh của A sẽ là tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS Hành vi của A mang đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội danh này
Trước hết là hành vi khách quan, việc A dùng khúc gỗ nhặt được như mô
tả phang vào người H, hậu quả là H đã chết Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả ở đây chính là hành vi phang vào người H của A gây nên cái chết cho H chứ không phải bất kì hành vi nào khác Điều này thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội giết người
Tiếp theo, về mặt chủ quan, lỗi của A là lỗi cố ý gián tiếp như phân tích ở
trên Điều này thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội giết người về lỗi là lỗi
cố ý
Các dấu hiệu khác của tội giết người A đều thỏa mãn như phân tích ở câu
1 Chính vì vậy, theo giả thiết nếu thực tế H chết thì tội danh của A được xác định là tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS
3 Có ý kiến cho rằng A phạm hai tội; Thứ nhất: Tội vô ý làm chết người (đối với H) vì H không phải là người mà A muốn giết, A đã có sự sai lầm về đối tượng; Thứ hai: Tội giết người chưa đạt (đối với C) vì C mới là người mà
A muốn giết nhưng C đã không bị chết Anh (chị) hãy phân tích ý kiến này là đúng hay sai và giải thích rõ tại sao?
Với ý kiến cho rằng A phạm hai tội: thứ nhất: Tội vô ý làm chết người
(đối với H) vì H ko phải là người A muốn giết, A đã có sự sai lầm về đối tượng; thứ hai: Tội giết người chưa đạt (đối với C) vì C mới là người mà A muốn giết nhưng C đã ko bị giết, nhóm xin đưa ra quan điểm như sau:
Khi xem xét các tình tiết của vụ việc có thể thấy, bản thân A đã có sự
nhầm lẫn về đối tượng Đối tượng mà A muốn hướng đến là C chứ không phải H,
Trang 6nhưng khách thể mà A xâm hại là quyền sống của mỗi cá nhân, đây là một trong các quyền cơ bản, quan trọng được pháp luật bảo vệ, cho nên, việc A có sai lầm
về đối tượng vẫn không làm ảnh hưởng gì về TNHS được đặt ra đối với A
Thứ nhất, cho rằng A phạm tội vô ý làm chết người (đối với H) vì H ko
phải là người mà A muốn giết, A đã có sự sai lầm về đối tượng là sai
Vì vô ý làm chết người được hiểu là hành vi nguy hiểm được thực hiện vì
quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã gây hậu quả làm chết người khác mặc dù người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra Đồng thời xét về mặt chủ quan thì người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả
Trong trường hợp trên, lỗi của A đối với cái chết của H (mà A nhầm
tưởng là C) là lỗi cố ý trực tiếp Bản thân A là người có đầy đủ năng lực TNHS,
có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì hơn ai hết A phải biết khi sử dụng gậy phang vào đầu nạn nhân thì tỷ lệ gây chết là rất cao Với khả năng nhận thức của mình buộc A phải biết rằng “đầu” là bộ phận có vai trò quan trọng đối với cơ thể mỗi con người, đây là nơi chứa não – là cơ quan có chức năng tiếp nhận và xử lý thông tin và rất dễ bị tổn thương khi có tác động mạnh Việc dùng
gỗ to bằng cổ tay, dài 60 cm phang mạnh mấy nhát vào đầu của H đã thể hiện sự quyết liệt trong việc thực hiện hành vi của A Khi thực hiện hành vi đó, A phải nhận thức được tính chất nguy hiểm và hậu quả gây chết người sẽ xẩy ra tuy nhiên do mong muốn nạn nhân chết nên A vẫn thực hiện hành vi đến cùng Trên thực tế, A chỉ dừng tay khi thấy nạn nhân gục ngã, vậy giả như nạn nhân còn những biểu hiện của sự sống thì chắc hẳn A đã chưa dừng tay tại đó
Mặt khác, việc các nhà làm luật quy định các dấu hiệu phạm tội của một
tội phạm cụ thể không thể dựa vào mong muốn của người phạm tội, mà nó phải
là những hành vi sẽ xẩy ra trên thực tế Hay khi người phạm tội có những hành vi thỏa mãn những dấu hiệu được các nhà làm luật quy định thì buộc họ phải chịu TNHS về tội phạm đó, tất nhiên lỗi của người phạm tội sẽ được đánh giá thông qua chính hành vi của họ Quay trở về vụ án, như đã phân tích A có lỗi cố ý trực
Trang 7tiếp đối với cái chết của H, tuy cái chết của H xuất phát từ sự sai lầm về đối tượng nhưng trên thực tế hành vi của mình A đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS như đã phân tích ở câu 1 và hành vi của A đã thể hiện lỗi cố ý trực tiếp một cách rõ ràng về hậu quả chết người gây ra đối với nạn nhân Do đó, không thể quy kết A phạm tội vô ý đối với cái chết của H vì H không phải là người mà A muốn giết
Thứ hai, không thể cho rằng A giết người chưa đạt (đối với C) vì C mới
là người mà A muốn giết nhưng C đã không chết Trong mối quan hệ hành vi giữa A và C chưa có bất kì một sự xâm phạm nào xẩy ra, việc này xuất phát từ sự nhầm lẫn về đối tượng tác động của A Bản thân C chưa chịu bất kì một tổn hại nào từ hành vi của A gây ra Khi xem xét đến các giai đoạn thực hiện tội phạm, các nhà làm luật đánh giá theo căn cứ hành vi của người phạm tội diễn ra trên thực tế tác động đến đối tượng tác động cụ thể Đối chiếu với tình tiết của vụ án,
A đã có sự nhầm lẫn về đối tượng tác động nên đã có hành vi xâm hại đến quyền sống của H mà trong thâm tâm A vẫn nghĩ rằng nạn nhân đó là C Như vậy, A thực hiện hành vi giết H trong giai đoạn đã hoàn thành do trên thực tế hành vi của
A đã thỏa mãn đầy đủ những dấu hiệu của tội giết người (Điều 93 BLHS) Còn đối với C, người may mắn thoát chết trong vụ án này trên thực tế không bị tác động bởi hành vi của A, quyền sống của C không bị xâm hại nên không thể đặt ra việc xác định tội của A theo “giết người chưa đạt (đối với C)”
Mặt khác, nếu đối chiếu các tình tiết của vụ án trên với quy định của Điều
18 BLHS về phạm tội chưa đạt ta có thể nhận thấy nhiều điều vô lý Điều 18 quy
định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện
được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội”, căn cứ
vào đó có ba dấu hiệu để xác định trường hợp phạm tội chưa đạt như sau:
Dấu hiệu thứ nhất: Người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm Sự bắt
đầu này thể hiện ở chỗ: Người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan được
mô tả trong cấu thành tội phạm Đối chiếu với vụ án, hành vi của A đã thỏa mãn những dấu hiệu được mô tả trong CTTP quy định tại Điều 93 tuy nhiên đối tượng
Trang 8mà y gây án lại là H, người mà y nhầm tưởng là C Do đó, trên thực tế C không
bị xâm hại bởi chính hành vi của A, hay những hành vi do A gây ra không có ý nghĩa về mặt pháp lý đối với C
Dấu hiệu thứ hai: Người phạm tội không thực hiện tội phạm đến cùng (về
mặt pháp lý), nghĩa là hành vi của họ chưa thỏa mãn các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan) của CTTP Trong trường hợp này, C chưa chết, tuy nhiên, do nhầm lẫn đối tượng mà A chưa có hành vi gì tác động đến C nên không thể nói hành vi của A không thỏa mãn hết các dấu hiệu (thuộc về mặt khách quan) của CTTP
Dấu hiệu thứ ba: Người phạm tội không thực hiện được tội phạm đến
cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ Đối chiếu với trường hợp phạm tội của A, khi quá tức giận kẻ đã quyến rũ vợ mình nên A đã dùng gậy phang vào đầu nạn nhân, và A mong muốn có hậu quả chết người xẩy ra mà nạn nhân không ai khác là C – người có quan hệ bất chính với vợ mình Tuy nhiên, việc C không chết không phải là do “nguyên nhân nằm ngoài ý muốn của A” mà nguyên nhân này xuất phát từ phía bản thân A, do A đã có sự sai lầm về đối tượng tác động, A đã không xác minh rõ ràng
Cho nên cả 3 dấu hiệu về giai đoạn phạm tội chưa đạt không thỏa mãn
với hành vi của A đối với C, vì vậy không thể kết luận A phạm tội giết người chưa đạt (đối với C) vì C mới là người mà A muốn giết những C đã không chết
Chính vì vậy, việc đưa ra ý kiến cho rằng A phạm hai tội; Thứ nhất: Tội
vô ý làm chết người (đối với H) vì H không phải là người mà A muốn giết, A đã
có sự sai lầm về đối tượng; Thứ hai: Tội giết người chưa đạt (đối với C) vì C mới
là người mà A muốn giết nhưng C đã không bị chết, là hoàn toàn sai, không có căn cứ pháp lý Với quan điểm vẫn không thay đổi, như đã phân tích ở câu 1, A
đã phạm phải tội giết người quy định tại khoàn 2 Điều 93 BLHS chứ không phải bất kì tội danh nào khác